I - Tinh thần phá chấp của Cao Đài :

Cao Đài là một Tôn Giáo mang sắc thái phá chấp triệt để.
Một Tôn Giáo được khai sinh bởi Đấng Tạo Hóa trọn lành, với mục đích
cứu rỗi toàn nhân loại trong thời Hạ Nguơn mạt pháp mà cũng là thời kỳ
rực sáng của nền văn minh khoa học.Tinh thần phá chấp nằm trọn vẹn ý
nghĩa trong lời dạy "Cao Đài không phải Cao Đài, chính thị Cao Đài " Đức Thượng Đế mở Đạo, tạm mượn cái hữu hình để dạy nhơn sanh lần lần trở về cái vô hình. Ngài dạy trong Đại Thừa Chơn Giáo :

"Đạo
Thầy bắt đầu do chỗ hữu hình mà truyền bá, rồi lần lần mới dẹp hết chỗ
hữu hình mà đi đến chỗ Vô Vi, là cơ siêu phàm nhập Thánh
".

Ngài lại dạy trong phẩm Trung Thừa Chơn Giáo :

"Hôm
nay Thầy chuyển lập Tam Kỳ Phổ Độ để chan hưng chánh lý đồng nguyên, để
xóa bỏ những khía cạnh ngã chấp, sắc màu mà cùng hiệp phần tinh ba cổ,
kim, trên lập trường duy nhất. Nghĩa là xóa bỏ cái dị mà đem cái đồng
giữa các sắc giáo để làm phương định cứu thế kỳ Ba
".

Từ
khi khai Đạo cho đến nay, Thánh ngôn, Thánh giáo rất nhiều, ngoài những
lời dạy rõ ràng đơn giản, trực tiếp, dễ hiểu. Các Đấng Thiêng Liêng còn
dùng những lời giáo hóa hàm ẩn ý nghĩa sâu xa qua phương thức , dụng sự
cầu lý, bắt chúng ta phải chiêm nghiệm, tìm tòi mới thế được cái nghĩa
lý sâu sắc rốt ráo.
Trước hết, như đối với biểu tượng Thiên Nhãn, ngoài ý nghĩa Đức Chí Tôn đã dạy rõ
"Thầy đâu có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con, nên chi thờ Thiên Nhãn là thờ Thầy .

Thầy có dạy trước :

Nhãn thị chủ Tâm,
Lưỡng quang chủ tể,
Quang thị Thần.
Thần thị Thiên,
Thiên giả ngã giả
.

Nhãn
là cửa trái tim con người. Trái tim ý là Tạo hóa, tức là Thần , mà Thần
là cái lý Hư Vô, Lý Hư Vô ý là Trời vậy", ý nghĩa lại còn mang tính ẩn
dụ. Mắt là bộ phận trọng yếu của cơ thể con người mà ai cũng có. Hình
tượng con mắt không thể làm nên sự phân biệt. Con người dù Đông hay
Tây, dù kim hay cổ, dù cao quí hay thấp hèn đều được Tạo Hóa phân chia
đồng đều hai con mắt.
Giáo hóa loài người bằng biểu tượng chưa đủ, đức Thượng Đế còn nhắc nhở nguồn gốc ban sơ con người qua Vũ Trụ quan Cao Đài:

" Con là một Thiêng Liêng tại thế,
Cùng với Thầy đồng thể Linh Quang
".
...................
Tinh thần phá chấp Cao Đài còn được thể hiện qua đường lối, tôn chỉ :

" Chính mình Thầy đến chốn Nam Bang,
Mượn đất đem gieo mối Đạo vàng ;
Tưới nước vun phân Nho, Thích, Lão,
Nâng cành sửa lá Pháp hòa Tăng
".

Và "Thầy
dụng huyền linh điển đến trần gian trong Hạ Nguơn mạt kiếp nầy để độ
rỗi con cái trở về bổn nguyên Đại Đạo. Thầy sắp một thực tướng Tam Giáo
cho các con hiểu rõ vạn giáo trên thế gian đồng nhất lý
".

Đưa
ra tôn chỉ nầy là Đức Chí Tôn muốn loài người biết bỏ cái tâm phân biệt
về Tôn giáo, để thế Tôn giáo chỉ là phương tiện và Đạo mới là cứu cánh,


"Tôn giáo là con thuyền đưa khách, mà Đạo là bến đỗ. Các con thuyền sau cùng cũng xuôi về bến đỗ ".

Nhìn
sang cứu cánh của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, con người có mặt trên cõi đời
là để thực hiện một nhiệm vụ,một Thiên ý : Đó chính là định mệnh cao
đẹp của loài người. Đức Lê Đại Tiên đã nhắc nhở :

" Tu là học để làm Trời,
Phải đâu muôn kiếp làm người thế gian
".

Muốn
đạt được sự giải thoát của phần tâm linh nơi cõi hư vô hằng sống, con
người phải thực hành được sự phá chấp nơi thế giới hữu hình nầy, tức là
xóa bỏ những ranh giới của sự dị đồng phân biệt, là điều kiện để xây
dựng xã hội đại đồng. Như vậy, phá chấp là tiền đề của tình đại đồng
nhân loại, là cứu cánh của Tam Kỳ Phổ Độ, là sự thể hiện cao độ tinh
thần phá chấp.

Đức Chí Tôn còn muốn con cái của Ngài coi sự phá
chấp như lời Kinh Nhựt Tụng qua câu nguyện thứ ba trong bài Ngũ Nguyện
mà tín đồ Cao Đài đọc sau mỗi thời cúng : "Tam Nguyện xá tội đệ tử ".
Là người phàm tục, không ai tránh khỏi lầm lẫn tội tình và ai cũng muốn
được tha thứ. Vậy thì mỗi người muốn được tha thứ phải rộng lượng bao
dung, thứ tha người khác như lời đức Như Ý Đạo Thoàn :

" Tam nguyện xá tội bản thân,
Khoan dung phá chấp cõi trần vô minh
".

II - Thế nào là phá chấp ?

1 .-Tính tương đối Nhị Nguyên :

Hai chữ phá chấp vừa là Danh từ, vừa là Động từ. Phá : đánh đổ, cởi bỏ, triệt tiêu ; chấp thì buộc ràng, câu nệ, giữ lại. Phá chấp
: đánh đổ sự câu nệ do bởi cái Ta, cởi bỏ những buộc ràng về mặt tinh
thần, dẹp bỏ sự cố chấp do bởi tâm vướng mắc của con người đối với sự
vật, sự kiện .
Đơn giản là như vậy, nhưng vấn đề không phải chỉ dừng
lại ở đây. Vì chúng ta Đấng sống trong cõi Nhị Nguyên, một nơi mà bat
cứ sự vật nào cũng có hai mặt mâu thuẩn đối đi nhau, thiếu một, cái còn
lại mất đi ý nghĩa. Có âm mới có dương, có xấu mới có tốt, có ác mới có
thiện. Không thể có một sự tuyệt đối nơi thế giới hữu hình, hữu hoại
nầy. Ngay cả tội ác trên thế gian cũng có công dụng của nó. Như lời đức
Như Đạo Thoàn dạy Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo năm Bính Thìn 1976 :

"
quan nầy được hoàn thành một trụ sở uy nghi trang trọng thế nầy, đều là
nhờ ở công quả nhiệt thành tâm Đạo của chư hiền đệ hiền muội đã bỏ hết
bao nhiêu thì giờ vui chơi lạc thú ngoài đời, để đóng góp vào công cuộc
tạo nên những nền tảng để Phổ Độ nhơn sanh quay về đường ngay nẻo
chánh, tránh khỏi đọa lạc trầm luân. Trong khi đó, những người khác lại
cũng khổ, cũng lo âu canh trường thao thức để xâu xé giết chóc lẫn
nhau. Hai con người, hai tác dụng cái nào Tạo Hóa cũng chấp nhận cả.
chấp nhận để trên cân công bình thưởng phạt
"

Khác với
sự phá chấp tuyệt đối nơi cõi nhất nguyên. Tất cả chỉ có một. Không còn
gì để chấp nên không có gì để phá. Phá chấp nơi cõi thế gian nầy có sự
chọn lựa ẩn tàng, tức là vừa phá mà vừa chấp, vừa bỏ đi, cũng vừa giữ
lại. Phá bỏ cái xấu để chấp trì cái tốt, đối với bản thân con người vốn
tiềm ẩn hai cái Ta: Một Chơn Ngã, một Phàm Ngã.
Do đó vừa phải
triệt tiêu cái tính chấp ngã , đồng thời cũng bắt cái ta vào trong nề
nếp, kỷ luật. Nói dễ hiểu hơn, đuổi đi cái Ta cao ngạo, ích kỷ, nhưng
cũng buộc cái Ta vào đạo đức, công bằng, vị tha, Bác Ái. Bởi vì sự phá
chấp không đồng nghĩa với vô kỷ luật, phóng túng. Các nhà tâm lý học
cũng đưa phương châm :"Phải biết trọng cái Tôi tốt đẹp, đừng chiều theo
cái Tôi yếu đuối ".
Đứng về mặt xã hội, con người là một phần tử,
một thành viên của cộng đồng. Cho nên con người không thể tách rời xã
hội. Do đó, không thể dùng danh từ phá chấp để vượt ra ngoài những
khuôn khổ, qui phạm của xã hội, mà phải hòa mình vào dòng xã hội đang
luân lưu tức là phải chấp nhận những qui tắc, lề lối chung của cộng
đồng, nhứt là với chủ trương Cao Đài là nhập thế. Tu với Cao Đài không
phải là độc thiện kỳ thân, từ bỏ cuộc đời, chối từ cuộc sống chung của
đồng bào, đồng chủng, mà tìm nơi ẩn mình ở chốn thâm sơn cùng cốc,
ngược lại còn phải giúp đỡ người khác cùng tu như lời đức Vạn Hạnh
Thiền Sư,

"Trong thời buổi Hạ Nguơn nầy Đại Đạo Tam
Kỳ Phổ Độ chủ trương không những chỉ có tu thân độc thiện mà thôi, mà
phải song hành độ tha nữa. Điều đó chư đạo hữu tất cả hiểu rõ lắm rồi .
Như
vậy không có lý do nào để khước từ nhiệm vụ hành đạo hữu vi, để trở về
chốn thâm sơn cùng cốc mà an dưỡng thân trần sớm tối tụng kinh, niệm kệ
mà ngắm nhìn thế sự dẫy đầy những đau khổ, những hoạn nạn, những nghèo
đói, những dốt nát, những vô minh, những đủ thứ của kiếp người xa đạo,
xa nguyên bổn của con người
".

2.- Là Vong kỷ Vị tha :

Trong
ý nghĩ đó, phá chấp không phải là vì thế cuộc đời đầy dẫy vô minh tội
lỗi, không phải vì thế con người đọa lạc xu xa, trong khi bản thân mình
đã giác ngộ nên không thể chấp nhận rồi rời xa, đứng bên lề cuộc đời,
mặc cho thế sự đắm chìm đau khổ.
Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo cũng đã dạy :

"Khêu
tỏ lý đồng nguyên và qui nguyên, khai sáng tâm linh, đưa con người lên
tầm vóc Đại Đạo, ngước mắt nhìn lên bầu Trời to rộng, vượt trùng dương
Trời nước bao la chấp cánh bay bổng khắp báon phương Trời để phục vụ
nhơn loại, phụng sự Thiên cơ, phụng sự Đại Đạo, làm theo lòng Trời Đất
".

Đây
chính là hình ảnh tiêu biểu cho tinh thần phá chấp của môn đệ đức Chí
Tôn. Chỉ khi nào con người diệt bỏ được sự chấp ngã, loại trừ cái Ta
cao như núi Thái Sơn với dẫy đầy tự ái, ngao mạn để tâm linh được khai
mở, để phóng tầm mắt xuyên suốt Vũ Trụ bao la, mới có thể chấp cánh bay
bổng khắp báon phương Trời để làm tròn sứ mạng Thiêng Liêng là giúp đời,
đem gieo hạt giống Đạo trong khắp cùng nhân loại, cho loài người tìm
thế sự cứu rỗi của Đấng trọn lành .
Trong ý nghĩa đó, phá chấp chính
là sự vong kỷ vị tha. Nói một cách thực tế, con người phải đặt quyền
lợi của tập thể, của xã hội, của đồng bào, đồng chủng lên trên quyền
lợi cá nhân.

3.- Là cởi bỏ mọi câu nệ về hình danh sắc tướng :

Mặt
khác, phá chấp còn là sự cởi bỏ mọi câu nệ về hình thức, sắc tướng bên
ngoài. Ta đã biết cuộc đời chỉ là giả tạm, không có gì vĩnh cửu và con
người vì chạy theo vật chất, hình danh mà lần lần bỏ quên phần đạo đức.
Con người càng văn minh , càng coi trọng phần hình thức mà quên rằng bề
ngoài chỉ là lớp vỏ che đậy, phần bên trong mới là đáng kể. Trong Đại
Thừa Chơn Giáo Thầy dạy :

Cõi vật chất hiện tiền thế đó,
Vật sắp bày nhưng có mà không ;
Nó mau hư nát lẹ làng,
Chẳng chi bền bỉ vững vàng đặng lâu .

Chính vì "chiếc áo không làm nên Thầy tu" cho nên trong Đại Thừa Chơn Giáo Đức Chí Tôn đã nhắc nhở :

Tu hành giữ mực thường thôi,
Đừng bày vẽ lắm rồi bôi lem đầy ;
Các con biết được Đạo Thầy,
Đạo Thầy không chịu cho ai biết mình.
Ở ăn như thể thường tình,
Lo tu luyện Đạo sửa mình tinh ba ;
Tu không biểu mặc đồ dà,
Cạo râu thí phát bỏ nhà lìa con ...


Chúng
ta bỏ đi quan niệm hẹp hòi, lạc hậu, rằng tu là phải mặc thế nầy thế
nọ, hoặc tu phải làm thế nầy thế kia, cốt để phân biệt với người đời.
Còn đối với tha nhân, chúng ta khi thực hành sứ mạng độ người tu học,
không nên bắt buộc những điều kiện khó khăn gây trở ngại cho người. Đức
Thượng Đế cũng đã dạy rất rõ ràng :

" Đạo
Thầy đương thời phôi phai hoằng hóa Phổ Độ chúng sanh, bất luận là
người nào, nước nào tu theo cũng đặng. Chớ các con dùng cái hình thức
bề ngoài mà truyền bá cho sở hạp với phong tục của các con sao đặng.
Thí dụ như Nước không biết cúng kiến, thờ phượng, các con ép buộc người
ta phải thờ phượng, cúng kiến y như các con mới chịu truyền Đạo cho thì
trái hẳn với phong tục nước người, nó không khứng chịu, mà nó không
khứng chịu thì các con không khứng chỉ truyền ắt chúng sanh phải chịu
luân hồi trả quả mãi
".

4.- Phá chấp là giải thoát - là chấp nhận mọi hoàn cảnh cuộc đời :

Ngoài
ra, phá chấp còn mang ý nghĩa giải thoát, là sự chấp nhận mọi hoàn cảnh
cuộc đời một cách an nhiên tự tại. Người ta thường nói, đời là dâu bể
để chỉ sự thay đổi, biến chuyển vô lường của cuộc sống thế gian, bởi do
tính vô thường giả tạm. Một đêm sáng ngày ruộng dâu biến thành biển cả,
thậm chí ngày nay không cần phải qua một đêm mà chỉ trong chốc lát, như
trường hợp Tỉnh Đồng Tháp mới đây mà chúng ta đã biết. Chỉ có một tiếng
đồng hồ trước sau, mà đất liền, nhà cửa, tài sản và cả sinh mạng con
người đã biến thành sông nước, cũng như những cuộc động đất ở các nước
trên thế giới ngày nay, chỉ trong một vài phút đồng hồ là đã chôn hằng
biết bao nhiêu tài sản và sinh mạng con người. Cho nên người tu hành
cần phải phá chấp tức là bình thản nhận mọi nghịch cảnh đau buồn, mất
mát cũng như không, quá vui mừng sung sướng trước những sự thành công
thắng được .....
Đức Vạn Hạnh Thiền Sư đã dạy

"Người
tu hành vào hàng Đại Thừa chấp trì quyền pháp để thực hiện sứ mạng
Thiêng Liêng thì luôn luôn phải tu tánh luyện mạng cho thuần thục chơn
chất, phải giữ lòng thanh tịnh như như. Dầu đứng trước muôn ngàn ngoại
cảnh đổi thay cũng đừng để lòng xao động. Luôn luôn diệt trừ phiền não,
chấp trước , để không vui, không buồn , không nhơn, không ngã, không
bạn, không thù, không tà không chánh, không thị phi ân oán
".

Đạt
được sự phá chấp trong ý nghĩa nầy, người tu phải tìm được sự giải
thoát trên bước đường Thiên Đạo Đại Thừa như lời đức Như Ý Đạo Thoàn
Chơn Nhơn :

"... Giải thoát mọi ràng
buộc, phá hết mọi sự chấp ngã, chấp nhơn, chấp Đạo, chấp Pháp, Tất cả
đều "KHÔNG" mới là giải thoát . Đứng trước một xa hội tao loạn, người
giải thoát phải tự giải thoát cái tao loạn ở tâm mình để biến hoàn cảnh
hiện tại tao loạn trở thành an nhiên. Đó là giải thoát.

Đứng
trước vật chất vinh hoa phú quí, danh lợi dẫy đầy sáng chói, người tu
học Thiên Đạo Đại Thừa phải nhắm vào sự sáng chói của Tâm, sự tịch mịch
của Tâm, như núi Thái Sơn sừng sững trước gió loạn sấm chớp.


vào cảnh vinh sang phú túc nệm ấm chăn êm mà Tâm vẫn an nhiên thanh
tịnh như ngồi trên nệm cỏ bồ, như uống nước trong veo, như ăn những quả
đào ngon ngọt, không thể tâm động vì có đó mà phải tha thiết, vì mất đó
mà phải rối loạn, đó là một giải thoát nữa.

Đứng
trước nghịch cảnh trái ngang, nhưng tâm vẫn thể như ngồi trên bàn
thạch, hoặc ở chỗ thanh thoát bao la để biến hoàn cảnh y như gió
thoảng, như mây bay tụ tan không ngừng nghỉ, đó cũng là phương giải thoát .


vào hoàn cảnh bị động, vì các lý do sống còn, nhưng tâm vẫn an nhiên
thanh thản để sáng suốt giải quyết mọi vấn đề như cá trong nước, như
rồng trong mây, có thể hoà hợp tâm linh trong Vũ Trụ cho tâm khỏi giao
động mới hòa mình với nếp sống hiện tại, từ việc to tát đến việc nhỏ
nhen vẫn là một con số không trong cái có, đó là phương giải thoát ".
------------

Thi Bài :
Cơ chuyển thế Hạ Nguơn mở Đạo,
Lượng Chí Tôn hoài bão nhân sanh ;
Pháp môn Phổ Độ thực hành,
Là đường siêu thoát tâm linh dễ dàng.
Không chỉ việc đăng đàn thuyết giảng,
Hay riêng lo thăng giáng hỏa hầu ;
Giữ tâm thanh tịnh vô cầu,
Không hề chấp trước việc nào chẳng hay.
Đạo Trời Đất đêm ngày vận chuyển,
Máy hành tàng diễn tiến Vô Vi ;
Làm lành giữ Đạo kiên trì,
ích nhân lợi vật gặp thì biến thông.
...............................
Quảng Đức Chơn Tiên

------------
 Thuyết minh :
Hồng-Phúc