+Trả Lời Chủ Đề
kết quả từ 1 tới 3/ Tổng số 3

Ðề tài: Học hạnh Tứ Vô của Tam Giáo

  1. #1
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar
    Học hạnh Tứ Vô của Tam Giáo

    Thánh
    Giáo Thiêng Liêng thường nhắc nhở người Thiên ân hướng Đạo, chức sắc, chức việc
    trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cần phải học hạnh Tứ Vô
    của Tam Giáo Đạo Tổ truyền dạy :

    Chúng ta cố gắng học hỏi cho
    thấu suốt lý Đạo, hầu thực hành cho đúng Thánh Ý để xứng đáng trở nên hàng môn
    sanh của Đức Chí Tôn Thượng Đế, phục vụ trọn vẹn cho cơ phổ độ kỳ ba.

    Hai
    chữ Tứ Vô dịch xác nghĩa là bốn cái
    KHÔNG. Thử xét qua Tam Giáo Đạo Tổ dạy
    như thế nào qua tài liệu chúng ta học hỏi được ở kinh điển Thánh Ngôn, Thánh
    Giáo.

    1. Phật Giáo dạy 4 cái Vô,
    theo thiển kiến của chúng tôi là: vô thường, vô tướng, vô pháp và vô
    ngã.

    2. Lão Giáo dạy 4 cái Vô là :
    vô vi, vô công, vô kỷ, vô danh.

    3. Nho Giáo dạy 4 cái Vô là : vô ý, vô
    tất, vô cố, vô ngã.

    Dưới đây chúng tôi xin dẫn chứng từng đoạn
    :

    1. Vô thường : Phật cho rằng cõi thế
    gian vật chất hữu hình hữu tướng này đều là vô thường, chợt có rồi chợt không,
    đều là giả tạm, không bền bỉ lâu dài cho đến xác thân con người cũng không thọ
    quá 100 năm, chỉ có Chơn Như Bản thể hay Phật Tánh mới trường tồn vĩnh
    cửu,
    hà tất phải bám víu vô ích vào cái vô thường này làm gì.


    2. Vô Tướng, Phật Giáo sở dĩ dạy
    Vô Tướng là không nên chấp hình danh âm thinh sắc tướng, vì Phật cho rằng thế
    gian này là nơi tạm gởi, vốn không có chi là thật, vì sắc tức thị không, mà
    không tức thị sắc
    (Kinh Kim Cang). Hữu hình hữu hoại là lẽ hằng thường xưa
    nay.

    Phật cũng đã dạy : Nhược dĩ dụng sắc tướng kiến Ngã, dụng âm thinh
    cầu Ngã, thị nhơn hành tà Đạo, bất năng kiến Như Lai. Tạm dịch : Nếu dùng âm
    thinh sắc tướng cầu thấy Ta, đó là tà Đạo, không thấy được Phật Như
    Lai.


    Phật dạy phải trừ tứ tướng (Kinh Kim Cang) là Ngã
    tướng, Nhơn tướng, Chúng sanh tướng và Thọ giả tướng.
    Người tu vào hàng
    Thượng thừa, cũng như hàng chức sắc đã xuất gia hiến thân hành đạo được khuyên
    hãy diệt Tam Tâm (Tâm quá khứ, Tâm hiện tại và tâm tương lai ) và trừ tứ tướng
    nói trên. Khương Tử Nha phạt Trụ phò Châu, cởi con thú Tứ Bất Tướng là dụng ý
    chỉ đó để nhắc nhở người sứ mạng Thiên ân đừng nên chấp tướng, mới thành công,
    tròn nhiệm vụ.

    Nói đến Vô Pháp, ta nhớ lại tâm ấn của Phật Tổ
    truyền cho đệ Nhứt Tổ Ma Ha Ca Diếp. Trong hội Linh Sơn, khi Ngài cầm cánh hoa
    sen đưa lên, cả tăng chúng đều ngẫn ngơ, chỉ có Ngài Ca Diếp chúm chím cười
    (niêm hoa vi tiếu). Phật bảo :

    “Ta có Chánh pháp nhãn tạng. Niết Bàn diệu tâm, Pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập
    văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay Ta giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn
    giữ chánh pháp này truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-Nan” và
    Ngài ban ân cho bài kệ pháp này :
    ´Pháp bổn pháp vô pháp
    Vô pháp pháp
    diệt pháp
    Kim phó vô pháp thời
    Pháp pháp hà tằng pháp.
    Tạm dịch
    :
    Pháp gốc pháp không pháp
    Pháp không pháp cũng pháp
    Nay khi trao
    không pháp
    Mỗi pháp đâu từng pháp
    .

    Cái Vô thứ tư của Phật dạy là
    Vô Ngã. Vô Ngã tức là không chấp cái bản ngã, cái phàm ngã, cái ta giả
    chớ không phải cái Chơn Ngã, hoặc Phật Tánh hay Thiên Tánh của Trời phó
    ban cho con người khi vào cõi tục, mượn xác phàm làm nơi tạm trú để học hỏi, tu
    luyện nơi cõi phàm trần này, Phật dạy diệt bỏ cái phàm ngã của con người, chớ
    không phải cái Chơn Ngã là cái “duy Ngã độc tôn” chỉ có cái Chơn Ngã đó
    mới thật là đáng tôn vinh cao thượng.

    Vào cõi tục, cái Chơn Ngã Thiên phú
    đó, bị lục căn của phàm thế sanh ra lục dục, lục trần để cho thất tình sai
    khiến nên Chơn Ngã bị muội mê
    , phàm ngã chế ngự làm cho con người trở nên
    độc tôn, độc tài, độc đoán, chỉ còn biết có mình là hay, là giỏi, là đúng, không
    còn biết có người hay hơn, giỏi hơn mình, nên dễ bị sai lầm, lạc lối gây điều
    tội lỗi. Nên Phật thường dạy phải hồi quang phản chiếu, hướng về nội tâm để quán
    xét tâm mình, mới thấy được cái Chơn Tâm, Chơn tánh, Chơn ngã (kiến tánh) của
    mình.

    3. Sang qua Tứ Vô của Đạo Lão là : Vô vi, vô
    công, vô kỷ, vô danh
    .

    Đức Lão Tử là Ông Tổ của Đạo Vô Vi “
    Đạo thường vô vi nhi vô bất vi” Đạo của
    Trời đất thường không làm, mà không có cái gì không làm, nhưng làm một cách tự
    nhiên, làm một cách vô danh không nêu danh tánh, không cho ai biết mình làm, làm
    một cách vô công, không kể công ơn, không cần cho ai biết mình làm, làm một
    cách Vô kỷ, không chịu để lại dấu vết, tiếng tăm, làm một cách âm thầm,
    không khoe khoang, biểu diễn rình rang. Vi vô vi, sự vô sự, vị vô vị, là hành
    cái Đạo Vô vi
    , sự việc gì xảy đến cũng vô tâm, để tâm trống không, an nhiên
    bất động, nếm cái mùi vị chơn không thanh thoát mà người thường không thể
    thưởng thức được.

    4. Đến Tứ Vô của Nho Giáo thì Đức Khổng Tử có dạy
    : Tử tuyệt tứ là Vô ý, vô tất, vô cố, vô
    ngã.
    Đời của Đức Khổng Tử không bao giờ lầm lỗi 4 điều này
    :

    a. Một là vô ý, nghĩa là không
    có đặt sẵn trước cái ý riêng của mình vào việc sắp làm.

    b. Hai là vô tất, là không quyết chắc hẳn hoàn tất
    việc của mình làm là chắc chắn được, bởi vì cái ý chí bất định đó thường hay
    trái với thời thế và Đạo lý tự nhiên.

    c. Ba
    là vô cố,
    cái bịnh câu nệ, cố chấp bằng một phương pháp chết cứng,
    bởi vì cái nết cố chấp ấy thường hay trái với lẽ biến thông viên
    hoạt.

    d. Bốn là Vô ngã là đừng
    chấp cái ta của mình. Chỉ biết có một mình ta là tốt là đúng là hay,
    không chịu cho ai hơn ta, hoặc vì lợi ích riêng ta, thuận theo ý kiến ta thì ta
    mới chấp thuận, tất nhiên trái với nhơn tình, không thuận nhơn tâm, nghịch thiên
    lý. Đó là một cái bịnh tai hại nhứt trong 4 cái bịnh mà Đức Khổng Tử triệt
    đầu, triệt vĩ, quán thỉ quán chung.


    Chúng ta vừa dượt sơ qua bốn cái
    hạnh tứ vô của Tam Giáo Đạo Tổ, bây giờ chúng ta thử soát lại, Cao Đài Giáo có
    dạy cái gì có thể gọi là tứ vô không ?


    Đức Đại Tiên Lý Thái Bạch, kiêm
    Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có dạy :
    Cao Đài
    không Cao Đài, chính thị là Cao Đài
    . Không là Tây Ninh (1) không là
    BếnTre(2) không là Tiên Thiên(3) không là Truyền giáo (4). Cao Đài là Cao Đài
    thế thôi ! Chơn lý tự nó phủ nhận Chơn lý”.

    Cao Đài là Đại Đạo chủ
    trương Vạn Giáo Nhứt Lý, Tam giáo qui
    nguyên
    , (Gia Tô Giáo đã nằm trong Thánh Đạo) và Ngũ Chi Phục Nhứt, hà
    tất lại còn phân biệt chi này, phái nọ đóng khung hạn hẹp trong Phái
    Chi.

    Những ai còn kỳ thị, rẽ chia là chưa thấu triệt giáo lý Đại Đạo,
    chưa thấm nhuần tôn chỉ cao thượng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là cứu rỗi tất cả
    toàn thể nhơn loại cho đến đứa hài nhi còn nằm trong bụng mẹ (Chiêu Kỳ Trung độ
    dẫn hoài sanh (TNHT)

    Trong 4 cái Vô của Tam Giáo truyền dạy cho môn sanh,
    cái điểm rốt ráo giống nhau của Tam Giáo là Vô Ngã. Cái phàm ngã của con người
    nặng tợ núi Thái Sơn. Núi Thái Sơn còn dời được, còn cái phàm ngã, cái ta lại
    còn nặng gấp hàng muôn vạn lần, muốn diệt trừ nó, thật khó khăn vô cùng. Mà hễ diệt được phàm tâm thì Thánh tâm, Đạo tâm mới phát
    triển, Thiên lý mới lưu hành được.


    Đối với Đạo gia, trên đường
    luyện Đạo tu Đơn, tánh mạng song tu, cái khó khăn nhứt là luyện kỷ, nên thường
    tâm niệm để dằn lòng câu :“luyện kỷ tối nan, luyện
    đan thậm dị
    ”.

    Tạm dịch : luyện cái Ta cho được thuần thành
    đạo đức, chơn như thật khó khăn vô cùng, chớ luyện đơn thật quá dễ dàng
    . Mà
    luyện kỷ cốt là luyện đơn, luyện đặng kim đơn hành giả còn sân si, dục vọng bọc
    phá thì đơn dược phải tiêu tan theo mây khói
    , công phu mấy mươi năm đều tiêu tan
    ra mây khói.

    Thái Sơn tuy nặng, nặng còn dời
    Chỉ tại xác phàm khổ
    lắm ơi
    Đến được không tìm ra lối thoát
    Trăm năm muôn kiếp chịu luân
    hồi

    Đông Phương Lão Tổ

    Và đến thời kỳ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ này,
    Đức Lý Giáo Tông cũng vẫn khuyên hãy luyện sao cho được cái bửu bối “ Vong
    Ngã
    ” mới thực hiện được cơ tận độ kỳ ba của Đức Chí Tôn Thượng
    Đế.

    Ngài dạy : “Muốn thế Thiên hoằng Đạo, phương pháp duy nhứt là phải
    vong ngã. Có vong ngã mới có vị tha, có vị tha mới hết lòng tận độ. Người
    sứ mạng Thiên ân chiến thắng được khi nào làm cho kẻ thù trở nên thân, người
    ghét trở nên bạn. Có như thế mới vĩnh cửu trường tồn trong lòng người Thiên ân
    sứ mạng, phàm nhân trở nên Thánh nhân trên con đường tận độ”.

    CT

  2. #2
    Tham gia ngày
    Apr 2006
    Bài viết
    12
     

    Thưa chư huynh, đệ thấy bài viết sau đây trên: http://www.duongsinh.net


    rất hay , có bàn về Vô, Ngã, Vô Tướng, vô cầu.... Của quý huynh bên Phật Giạo Lại thấy huynh viết bài " Tứ Vô của Tam Giáo" nên bèn trích lên cho quý huynh đoc. Nếu như vậy là không đúng đệ xin nhận sự khuyển trách của  các huynh trượng, bởi đệ thiết nghĩ, cái gì hay thì tham khảo vây.


    Ai tụng ? (09/08/2006)









    Ai tụng?
    -Chào chú Ba Gàn
    -Xin kính chào cụ Tưởng Vậy.

          Thưa cụ theo kinh nghiệm riêng của cụ, thì người tu thiền và tu khí công có nên tụng kinh hay không?


    -        Thông thường thì người tu tịnh độ mới tụng kinh còn người tu thiền thì chỉ hành thiền quán tâm, trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật. Còn người tu mật tông và khí công thì tam mật tương ưng, dùng khế ấn thần chú và linh phù để thông công hiệp nhất với Như lai.


    -        Mô Phật! . . .Còn đối với cụ thì như thế nào?


    -        Đối với ta vấn đề không ở chỗ ấy.


    -        Vậy ở chỗ nào?


    -        Ở chỗ ai là người tụng.


    -        Lẽ dĩ nhiên người đang chuông mõ và phát âm lời kinh là người tụng.


    -        Không hẳn thế. Nếu không chánh niệm và tỉnh giác. Nếu không vô cầu, vô tướng, vô ngã, khi hành trì, thì “Cái Tôi” của người ấy đang tụng chứ không phải người ấy tụng.


    -        Thế nào là chánh niệm khi tụng kinh?


    -        Trụ tâm vào kinh chứ không khởi niệm.


    -        Trụ tâm vào kinh có phải là tìm hiểu ý nghĩa của kinh để làm theo?


    -        Không phải vậy, nếu làm vậy thì tâm bị duyên theo kinh, không định được. Việc tìm hiểu ý nghĩa của kinh để sống và làm theo là cần thiết nhưng không phải trong lúc tụng kinh.                     


    -        Thế nào là tỉnh giác khi tụng kinh?


    -        Cơ thể thì đang tụng kinh. Còn mình là cái người đang nhận biết việc tụng kinh.


    -        Xin cụ nói rõ hơn.


    -        Vừa tụng phải vừa nhận biết tỉnh giác toàn bộ quá trình hành công. Âm thanh tụng, vẻ mặt, tư thế, nghi thức. . .v.v. . .Nếu thấy mất điều hoà trang nghiêm thanh tịnh thì lập tức phải điều chỉnh. Nó thực sự là một bài tập để người tu rèn luyện khả năng, trong cuộc sống nói và làm mà không xa rời thế tịnh.


    -        Chứ không phải tụng kinh nào thì phải quán tưởng hình ảnh vị Phật ấy sao?


    -        Niệm danh hiệu Phật và quán tưởng hình ảnh của Ngài là điều cần thiết nhưng không phải trong lúc tụng kinh. Vì như vậy là bị duyên theo Phật sắc tướng.


    -        Vậy đối tượng của nhận biết khi tụng kinh là ngay chính thân tâm người tụng.


    -        Mô Phật đúng vậy.


    -        Vậy hoá ra tụng kinh cũng chính là đang hành thiền.


    -        Đúng vậy. Đối với ta tụng kinh chính là thiền động.


    -        Thưa cụ thế nào là vô cầu khi tụng kinh?


    -        Vô cầu là tụng kinh không nhằm xin Như lai và thiêng liêng ban phát ân huệ cho mình. Vì làm như vậy hoá ra đang làm tăng trưởng cái tâm tham dục của người tu. Như người mẹ thương con tự biết cách săn sóc cho con mình. Như Lai cũng vậy Ngài sẽ tự biết cách chăm sóc đàn con của mình.


    -        Thế nào là vô tướng khi tụng kinh?


    -        Không nô lệ cho những nghi thức lễ bái quì lạy phức tạp. Cốt sao luôn điều hoà trang nghiêm thanh tịnh là được. Bởi vì các nghi thức ấy đều do tâm trí người đời sau đặt ra. Và mỗi vị thầy lại tự đặt ra nghi thức riêng cho môn phái mình.


    -        Thế nào là vô ngã khi tụng kinh?


    -        Dùng con tim để đồng cảm và rung động, không dùng cái đầu để phán xét. Do dùng con tim nên vượt qua mọi khái niệm gọi là “Phi khái niệm” Do không dùng cái đầu nhị nguyên nên mọi định kiến chấp trước, mọi sở tri kiến đều gãy đổ. Do vậy gọi là giải thoát gọi là tự do (Moska).


    -        Đấy là về tịnh độ và thiền. Còn về mật tông và khí công thì có nên tụng kinh hay không? Hay chỉ cần kiết ấn trì chú vẽ linh phù thông công với thiêng liêng?


    -        Đối với mật tông và khí công vấn đề “Ai là người tụng kinh?” lại càng rõ ràng hơn?


    -        Xin cụ nói rõ hơn?


    -        Không phải cái thân hữu lậu cái miệng máu thịt của người ấy đang tụng. Mà là thể Bodhisattwa của người ấy đang tụng. Nghĩa là năng lượng kết hợp với thể xác tuỳ theo cái duyên “kinh” mà hiển thị thành lời tụng và nghi thức.


    -        Mô Phật!. . .Đó là tính Mật. Còn tính thiền ở chổ nào?


    -        Thể xác với năng lượng thì biểu thị qua lời tụng và động tác nghi thức. Còn người tu chính là cái người đang nhận biết, đang qui định phạm trù chánh niệm để năng lượng hiển thị theo, đang nhận biết chiều biến dịch của năng lượng để nương theo phát âm lời kinh và chuyển động tạo thành các nghi thức lễ lạy.


    -        Thưa cụ làm sao biết một buổi hành trì như vậy có kết quả?


    -        Tụng kinh theo phương pháp của Mật tông và khí công gọi là có kết quả khi qua đấy người tu tăng cường được sức khoẻ, trí tuệ và tính từ bi của con nhà Phật. Còn ngay trong lúc trì tụng, năng lượng và âm vực của lời kinh sẽ tác động đến người nghe khiến họ có các biểu hiện của trạng thái đắc khí. Đó là: Các biểu hiện giải toả stress như khóc, mỉm cười, hay chuyển động nhẹ bằng năng lượng. . . . .


    -        Thưa cụ như vậy một vị huynh khí công có thể tụng kinh thay cho phát công mà người tập vẫn đắc khí và tập thiền động được.


    -        Đúng vậy!. . . .


    -        Thưa cụ rât cảm ơn cụ về những lời chỉ dạy hôm nay.


    -        Mô Phật ta tưởng vậy chứ chưa chắc đã vậy. Chỉ là kinh nghiêm của riêng mình. Nếu ông muốn áp dụng thì hãy tác bạch với chư tăng và chư thiện tri thức để các Ngài ấy có lời chỉ dẫn chính thức.


     


    Tưởng Vậy/9/8/2006


  3. #3
    Tham gia ngày
    Oct 2006
    Bài viết
    3.036

    Để chuẩn bị cho Khai Minh Đại Đạo, Chư vị Tiền Khai Đại Đạo đã soạn tờ Phổ Cáo Chúng Sanh hầu phổ biến 10 điểm căn bản của giáo lý Cao Đài. Khi phê duyệt và cho phép in, Đức Chí Tôn nhấn mạnh chỉ được in bằng "chữ quốc âm".


    Trước đó Đức Chí Tôn đã dạy: "... nhìn quốc âm, tiếng An Nam làm chánh tự mà lập Đao."


    Do đó, Tam Kỳ Phổ độ này "Pháp âm" của các cựu giáo ít có hiệu quả vì "Thiên Đình đã đánh tản Thần" (TNHT)


    Vì thế mà 1 phần không thể thiếu của pháp môn Cao Đài là phải tụng kinh "tứ thời". Tất nhiên phải ráng làm sao "vô ngã khi tụng kinh".


Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Quyền hành Giáo tông ĐĐTKPĐ qua Kinh Dịch
    Bởi Trung ngôn trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 23
    Có Bài Mới: 05-10-2009, 01:09 AM
  2. Quyền hành Giáo tông qua Kinh Dịch
    Bởi Trung ngôn trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 9
    Có Bài Mới: 02-07-2009, 01:49 AM
  3. Học và hành theo Thánh Giáo
    Bởi Nhan Nai trong mục Câu chuyện lý thú Đại Đạo
    Replies: 2
    Có Bài Mới: 25-07-2007, 07:04 AM
  4. TIN LIÊN GIAO HÀNH ĐẠO tháng 3 Đinh Hợi
    Bởi Đạt Tường trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 28
    Có Bài Mới: 20-05-2007, 01:28 AM