+Trả Lời Chủ Đề
kết quả từ 1 tới 3/ Tổng số 3

Ðề tài: Tìm Hiểu Thánh Lễ Phật Mẫu & Hội Yến ...

  1. #1
    Tham gia ngày
    Jan 2006
    Bài viết
    379
    ThachKhe's Avatar
     

    “Thưa quý huynh tỷ và các bạn, sau khi đọc bài thuyết trình của giáo sư Ngọc Trường Thanh (do Vongmotangsao giới thiệu) – Thạch Khê đọc và cảm nhận được những đạo lý sâu xa của bài viết,  Thạch Khê mạo muội đăng lại một lần nữa  - Tuy bài viết hơi dài, nhưng bài viết thật sự cần thiết để lớp trẻ chúng ta tìm hiểu & nghiên cứu !!!”



    TÌM HIỂU ĐẠO LÝ


    THÁNH LỄ PHẬT MẪU


    VÀ LỄ HỘI YẾN DIÊU TRÌ CỦA ĐẠO CAO ĐÀI


      Giáo Sư : Ngọc Trường Thanh



       Sống trong thời đại văn minh vật chất đang cuồn cuộn dâng cao, đa phần nhơn sanh đang đắm chìm trong mọi thú vui của thể xác, phần Tâm hồn dường như đã lãng quên hoặc chối bỏ. Thành trì đạo đức tinh thần gần như bị sụp đổ, tội ác xã hội càng ngày càng phát triển, Ngọn Đèn Chân Lý đang bị lu mờ trước phong ba bão tố. Một vài Tia Lửa Tâm Linh dẫu còn được thắp sáng, nhưng cũng phải ẩn tàng trong Tịnh Đường Mật Thất, vì Thượng Đế đã xa người. Người đâu còn thích nghe Đạo đức tu hành nữa. Các tôn giáo có còn tồn tại cũng chỉ là hình thức lễ bái cúng tế theo tập quán thông thường mà thôi.


       Nay nhân dịp Lễ Kỷ Niệm Vía Phật Mẫu Diêu Trì, tôi tin tưởng ngày lễ trọng đại này, người đạo hữu Cao Đài không thể quên được, vì là ngày tưởng nhớ đến “Mẹ Linh Hồn” của chúng ta, nên tôi có bài thuyết trình này để làm của lễ hiến dâng cho Đức Mẹ, tỏ lòng hiếu kính tôn vinh Đức Mẹ Từ Tôn của đứa con sùng Đạo, Đồng thời cũng có dịp trao đổi, gởi gấm thâm tình của tôi với tất cả đạo tâm nam nữ xa gần.


       Chúng ta đã gọi cuộc lễ này là Kỷ Niệm Vía Đức Phật Mẫu Diêu Trì, và các Đấng Tiên – Phật nơi Diêu Trì Cung, nhân buổi lễ hôm nay tôi muốn nêu lên các câu hỏi:



    1 - Đức Phật Mẫu Diêu Trì là ai?


    2 - Cuộc lễ Hội Yến Diêu Trì xuất xứ từ đâu?


    3 - Bữa tiệc Hội Yến diễn ra như thế nào? Và ý nghĩa Bàn Đào Hội Yến là gì?



       Nếu chúng ta hành lễ mà không tìm biết ý nghĩa của cuộc lễ là điều thiếu sót quan trọng.


       Như chúng ta cảm nhận Đức Mẹ Vô Cực Đại Từ Tôn trên tinh thần là Đấng Hoá Sanh dưỡng dục muôn loài vạn vật, là Đức Mẹ Tối Cao của toàn thể nhơn loại.


       Đạo Cao Đài hình dung bằng hình tượng: Thái – Cực là Cha, là Thầy, Vô – Cực là Mẹ, Cha sinh Mẹ dưỡng. Thái – Cực Vô – Cực biến sanh hai khí Âm và Dương. Hai Khí này vận hành thuận nghịch, luân chuyển, đun đẩy, hoà hiệp nhau mà sinh thành thiên hình vạn tượng bao la trong Trời Đất. Có điều chúng ta không khỏi thắc mắc danh từ Vô – Cực (0) là cái Chân Không mà sao lại sanh hoá kỳ diệu như vậy?


       Ta nên hiểu Vô – Cực là Hư Vô Chi Khí nó chất chứa vàn vàn muôn muôn Nguyên Chất, hay Linh Khí của Vũ Trụ mà mắt thường chúng ta không thể thấy đặng, ví như bầu Khí Quyển Địa Cầu vận chuyển hằng ngày ta đâu có thấy. Các Từ Trường Địa Cầu đang hoạt động ta cũng không thấy, cho đến Hơi Thở vô ra hằng ngày của chúng ta để sống, ta cũng không hay biết, Khí ấy từ đâu có? Huống hồ tìm biết Đức Phật Mẫu Diêu Trì là một danh từ trừu tượng, là điều vô cùng khó khăn.


       Nếu nói: Đức Phật Mẫu Diêu Trì không có, tại sao các tôn giáo và người đời từ xưa đến nay đã đặt ra nhiều tên để tôn xưng như: Địa Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Phật Mẫu, Thiên Hậu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Mẹ Linh Hồn, …


       Kinh Bát Nhã có câu: " Sắc tức thị không, không tức thị sắc – Sắc bất dị không, không bất dị sắc", nghĩa là: Sắc uẩn chẳng khác gì Chân Không, Chân Không chẳng khác gì Sắc uẩn – Sắc uẩn tức là Chân Không, Chân Không tức là Sắc uẩn.


       Kinh Bát Nhã nói Ngũ uẩn là năm thứ uẩn như:



    1 - Sắc là hình tướng màu sắc.


    2 - Thọ là chịu nhận.


    3 - Tưởng là tưởng nghĩ.


    4 - Hành là làm, là hành động.


    5 - Thức là biết, là phân biệt.


       Năm thứ uẩn này chất chứa, dấu cất sâu kín trong lòng đều là không thiệt, nên Kinh nói: "Ngũ uẩn giai không".


       Nhưng cái Chân Không ấy Đạo gọi là Khí Hư Vô, nó rất cần thiết và quan trọng cho sự sống của muôn loài vạn vật biết bao. Nhờ cái Khí ấy mà muôn loài được sống, vạn vật diễn tiến vô cùng kỳ diệu, biến hóa vô cùng kỳ ảo. Cho nên Dịch Học đặt ngôi Vô – Cực là nguyên nhân khởi đầu của Vũ – Trụ, mà Vô – Cực cũng gọi là Thái – Cực ( Vô – Cực nhi Thái – Cực ) mới biến sanh Lưỡng Nghi, Tứ Tượng và Bát Quái …


       Đạo nào buổi khai nguyên cũng cùng một Chân Lý, nay ta dựa vào Kinh Dịch để tìm hiểu căn nguyên của Vũ – Trụ. Ta thấy Vũ – Trụ gồm có hai thể: Đó là Thần và Khí. Thần là Đại Linh Quang – Đại Trí Tuệ, là Tiên Thiên Khí, người đời hình tượng hoá thành Ông Trời hay Thượng Đế – Thiên Đế – Ngọc Đế ... Còn thể Khí tức là Khí Kim Quang – Linh Khí – Khí Sống – Hậu Thiên Khí, Đạo Cao Đài hình tượng hóa thành Phật Mẫu Diêu Trì.


       Đức Phật Mẫu Diêu Trì là Người tạo ra tất cả những gì là hữu hình, tất cả những gì là sản phẩm của hóa hợp, đều bắt nguồn từ sự tạo sanh của Đức Mẹ, hay là quẻ Khôn trong Dịch. Phật Mẫu Diêu Trì hóa ra Khí. Chất Lỏng, Chất Đặc biến thành Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất và Tinh Tú… Mẹ nắn ra thân người, cầm thú, cây cỏ, sắt đá, vạn vật chúng sanh, nói chung là tất cả Ngũ hành: Kim – Mộc – Thủy – Hoả – Thổ đều do Đức Phật Mẫu Diêu Trì tạo thành.


       Kinh Phật Mẫu có câu:


    " Càn Khôn sản xuất hữu hình


    Bát Hồn vận chuyển hoá thành chúng sanh"


       Thần là Thượng Đế là Khí Tiên Thiên, tác động vào Khí Hậu Thiên là Phật Mẫu Diêu Trì, tức là Thần vận dụng Khí để tạo thành Vũ – Trụ. Thượng Đế là nguồn sanh hóa ra tất cả những gì mà ta gọi là Linh Lực, Thần Lực, Động Lực, Năng Lực… Nó biểu hiện dưới dạng thức vận động, Hấp Dẫn Lực, Từ Điển Lực, Thần Kinh Lực.


       Tiên Thiên và Hậu Thiên hay Càn và Khôn tác động với nhau mà thành Trời – Đất, vạn vât, cho nên Dịch nói "Nhất Âm Nhất Dương Chi Vị Đạo”.


       Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế Bửu Cáo có câu:


    "Tiên Thiên Hậu Thiên


    Tịnh Dục Đại Từ Phụ


       Nghĩa là Khí Tiên Thiên và Khí Hậu Thiên lặng lẽ âm thầm nuôi nấng muôn loài vạn vật ấy là Đại Từ Phụ.


       Bây giờ tôi muốn hạ thấp tầm nhận thức về Thượng Đế – Đấng Cha Trời và Phật Mẫu Diêu Trì – Bà Mẹ Đất để chúng ta dể cảm nhận. Dịch có hai Khí Âm và Dương, Âm tượng quẻ Khôn chỉ cho Địa Mẫu ( Mẹ Đất ), Dương quẻ Càn tượng Cha Trời.


       Càn Dương bao giờ cũng tác động mạnh mẽ khắp Vũ – Trụ để gây mầm sanh, trong khi Khôn Âm lặng lẽ hóa thành tất cả những gì Dương đã biến sanh có nghĩa là Trời Cha ban rải sanh khí khắp trong vạn vật, gây tạo phần vô hình thuộc phần Thần – Khí. Còn Mẹ Đất thì tạo hình vạn vật thành hình thể, cũng như tinh thần của đứa con là của Cha mà hình hài cốt nhục của đứa con là của Mẹ. Xem đó thì biết sự sanh thành của Trời Đất, Trời thì tạo Sanh, Đất thì hóa Thành, cho nên người đời gọi Trời – Đất là "Đấng Tạo Hoá”. Càn – Khôn đều có đủ bốn đức Nguyên – Hanh – Lợi – Trinh, nhưng vì bản chất của Âm Khôn là Nhu Thuận, nên chỉ thừa thuận với Càn vì vậy mà Trái Đất phải vận hành theo quỹ đạo Mặt Trời không giờ phút sai lệch. Đó là Đức tính Nhu Thuận và Lợi Trinh của quẻ Khôn hay là Mẹ Địa Cầu.


       Hôm nay chúng ta tưởng niệm "Công Đức Sanh Thành" của Mẹ, tất nhiên phải nghiên cứu tu học theo Đức tính của Mẹ Khôn. Dịch nói: “ Địa Thế Khôn Quân Tử Dĩ Hậu Đức Tải Vật”.


       Xem quẻ Khôn thấy 6 hào đều là Âm, từ trên xuống dưới từng lớp chồng nhau, tượng như Đất dày mà chứa đựng tất cả vạn vật dù xấu hay tốt, sạch hay dơ, thiện hay ác, không có giống gì ở trên Đất mà Mẹ Đất lại chối từ. Ấy là Đức Từ Bi Quảng Đại của Khôn, Khôn lại còn có Đức Tín Thành, chúng ta trồng thứ gì trên Đất được thứ ấy, gieo giống gì được giống ấy, Nhân nào thì có Quả ấy không bao giờ dối gạt, dù con người Thiện hay Ác, Chánh hay Tà, Mẹ đều mở rộng lòng thương chở che dung chứa chẳng từ một ai. Đức bao dung của Khôn thật vô cùng vĩ đại.


       Công đức của Địa Mẫu vô cùng to tát như vậy nên Kinh Phật Mẫu có câu:


    "Càn Khôn Tạo Hoá Sánh Tài


    Nhứt Triêu Nhứt Tịch, Kỉnh Bài Mộ Khang"


       Công sanh thành dưỡng dục bảo đảm hình hài và sự sống của muôn loài vạn vật, cái ân cao trọng ấy sánh bằng công Tạo Hóa ra Càn Khôn Thế Giới, cho nên mỗi buổi mai, buổi chiều ta đến viếng Đức Mẹ như Mẫu Thân của chúng ta vậy.


       Trên đây đã giải thích rõ Đức Phật Mẫu là ai? Và công đức của Người chúng ta cũng đã hiểu được phần nào.



    Nay tìm hiểu tiếp đầu tiên Lễ Vía Phật Mẫu xuất xứ tại đâu?



       Đầu tiên lập Đạo ở Tây Ninh là do Cửu Vị Tiên Nương và Phật Mẫu giáng cơ dạy các bậc đệ tử ban đầu như các Ngài: Phạm Công Tắc, Nguyễn Trung Hậu, Cao Huỳnh Cư, Trương Hữu Đức, thủ chấp Huyền Cơ Diệu Bút mà lập thành hình thể Đại Đạo, cho nên tại Tây Ninh có Đền Thờ Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Có kinh Cúng Phật Mẫu Chơn Kinh và Kinh Xưng Tụng Công Đức Người.


       Từ khi Đạo khai đến nay, vì nạn phân chia chi phái, nên các Hội Thánh coi theo Kinh Thiên Thế Đạo mà tổ chức lễ, chưa có dịp nghiên cứu kỹ, nên mỗi nơi tổ chức lễ có khác nhau.


       Đọc Kinh Phật Mẫu, chúng ta thâm cứu thấy Kinh có chứa "Bí Pháp Ẩn Tàng" trong đó, thử trích một câu để phân tích:


    "Thập thiên can bao hàm vạn tượng


    Tùng địa chi hóa trưởng Càn – Khôn"


       Ta hãy tìm hiểu, Thập thiên can là gì? Do đâu mà có? Có phải do Ngũ Hành biến sanh không? Mộc thì có Can Giáp Ất, Hỏa có Can Bính Đinh, Thổ có Can Mậu Kỷ, Kim có Can Canh Tân, Thuỷ có Can Nhâm Quý. Mỗi Hành đều có chứa đủ Âm Dương. Mượn số học để gọi: Nhứt Lục Thuỷ, Nhị Thất Hoả, Tam Bát Mộc, Tứ Cửu Kim, Ngũ Thập Thổ, đây là lý số chứa trong bản đồ Lạc Thơ, mà Lạc Thơ là Bức Tâm Thơ Huyền Khí của Phật Mẫu Diêu Trì.


       Thập Nhị chi do đâu mà có? Có phải do Lục Khí mà sanh ra 12 chi không? Lục Khí biến sanh 12 chi tượng là 12 giờ hay 12 tháng.



     



    1.    Chi Dần, Mẹo là tháng Giêng, tháng Hai – Khí Quyết Âm Phong Mộc làm chủ.


    2.    Chi Thìn, Tuất tháng Ba, tháng Tư – Khí Thiếu Âm Quân Hoả làm chủ.


    3.    Ngọ, Mùi, tháng năm, tháng sáu – Khí Thiếu Dương Tướng Hỏa làm chủ.


    4.    Chi Thân, Dậu, tháng Bảy, tháng Tám – Khí Thái Âm Thấp Thổ làm chủ.


    5.    Chi Tuất, Hợi, tháng Chín, tháng Mười – Khí Dương Minh Táo Kim làm chủ.


    6.    Tý, Sửu, tháng mười một, tháng chạp – Khí Thái Dương Hàn Thuỷ làm chủ. Mỗi vận có 72 ngày, năm vận có (72x5) 360 ngày. Mỗi Khí có 60 ngày, sáu Khí có (60x6) 360 ngày.


       Khí vận tuy bất bình đẳng, nhưng đồng gặp nhau trong một ước số là 360 ngày. Do Khí vận mà sanh ra bốn mùa: Xuân, Hạ Thu, Đông.


       Tám Tiết: Lập Xuân, Xuân Phân, Lập Hạ, Hạ Chí, Lập Thu, Thu Phân, Lập Đông, Đông Chí. Ta gọi là Tứ Lập, Nhị Chí, Nhị Phân.


       Hai bốn Khí:





    -         Lập Xuân, Vũ Thuỷ, Kinh Thập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ.


    -         Lập Hạ, Tiểu Mãn, Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử.


    -         Lập Thu, Xử Thử, Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng.


    -         Lập Đông, Tiểu Tiết, Đại Tiết, Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn.


       Lục Khí còn tạo ra mỗi năm có Sáu Khí: Phong (gió), Hàn (lạnh), Thử (nắng), Thấp (ẩm ướt), Táo (khô ráo), Hỏa (nóng).


       Năm Hành ở dưới đất là Thập Can lại đặt lên Trời thành Thiên Can.


       Sáu Khí ở trên trời biến thành 12 chi lại đặt xuống Đất thành Địa Chi.


       Cái Lý Trời cao phải hạ mình xuống thấp, Đất thấp phải chuyển nghịch lên trời, cũng như Lửa phải để dưới, Nước phải để trên mới thành hữu dụng, đó là Pháp "Thuỷ Hỏa Ký Tế" chỗ này có tu Tâm Pháp mới ngộ.


       Ta thấy Trời – Đất cũng phải tùng luật tự nhiên của Âm – Dương Ngũ Hành mới hóa trưởng Càn – Khôn đặng.


       Đọc một câu kinh, buộc ta phải tìm hiểu Đạo Pháp ẩn tàng trong đó.



    Hội Yến Diêu Trì là sao?



       Dưới đây tôi xin giải thích phần Tướng Pháp và Tâm Pháp về Lễ Hội Yến Diêu Trì. Theo lời Ngài Chánh Phối Sư Ngọc Quế Thanh kể:


       "Khi xây dựng Đền Phật Mẫu xong, Cửu Nương về dạy: Nhằm vào ngày Rằm tháng 8 Hội Thánh phải tổ chức Lễ Hội Yến Diêu Trì có Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương về dự, mừng cơ Đạo đã thành hình thể. Đức Hộ Pháp và các Ngài trong Hội Thánh không biết tổ chức và đãi tiệc như thế nào? Nên cầu các Vị Tiên Nữ đến dạy.


       Đàn Cơ dạy: phải có một cái bàn hình bầu dục đem đặt giữa Đền Thờ Phật Mẫu, đặt một cái ghế trang nghiêm để rước Mẹ giá lâm ngự tiệc, ghế này để trong nhìn ra. Trên bàn có đủ lễ phẩm , Rượu, Hoa, Trà, Quả, có đủ Ngũ Quả và các thứ vật phẩm để ăn. Bên phía tay trái của Phật Mẫu nơi bàn tiệc có để ba cái Đẩu để cho ba vị chức sắc ngồi: Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh, trên bàn có để ba cái chén và ba đôi đũa. Bên phía mặc Phật Mẫu cũng để chín cái ghế để cho chín Vị Tiên Nương ngồi dự tiệc, trên bàn cũng sắp chín cái chén và chín đôi đũa, bên hữu, bên vô cùng nhau dự tiệc ăn uống như thật vậy. Trong bữa tiệc có Ngũ Quả và Rượu Nho là lễ phẩm đặc biệt. Theo tôi hiểu, Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương, mượn bày bữa tiệc giả hình để chỉ truyền Pháp Luyện Khí – đem bữa tiệc đối chiếu với bản thân người, cái bàn hình bầu dục là Vòng "Khí Tiểu Châu Thiên" trong ta, phía trước bụng là Mạch Nhâm, thuộc Âm chủ phần Huyết, Đức Thượng Phẩm là biểu trưng Ngôi Thần, Hộ Pháp Ngôi Khí, Thượng Sanh Ngôi Tinh. Từ Thần xuống Khí đến Tinh phải qua ba cấp. Đến Hạ Điền thì Tinh Hóa Khí, Khí chuyển ra phía sau Mạch Đốc, nhờ chín Cô Tiên Nương hướng dẫn về với Phật Mẫu Diêu Trì, đây là nói: Tinh đã luyện thành Khí đủ năng lực thông qua Cửu Khiếu về với Bầu Khí Diêu Trì là Bản Nguyên của Khí, là vùng Huyệt Bách Hội nơi bộ đầu, Ao Liên Trì ở Hạ Điền là nơi chứa Tinh, Ao Diêu Trì ở Thượng Điền là nơi chứa Khí, trên dưới gặp nhau, Mẹ – Con sum hiệp một Nhà, Con đã được về với Mẹ Diêu Trì thì còn gì hạnh phúc bằng.


       Đây là Pháp Luyện Tinh Hoá Khí, Pháp này chia hai phần gọi là "Tiền Tam Tam, Hậu Cửu Khiếu". Trước bụng là "Tiền Tam Tam" là Ba Tiêu: Thượng Tiêu, Trung Tiêu, Hạ Tiêu, là ba lò Lửa. Ba nhân ba là chín số (3x3 =9), biểu trưng Cửu Phẩm Liên Hoa hay Tam Thừa Cửu Phẩm trong Cửu Trùng Đài. Hậu Cửu Khiếu là đằng sau có Chín Lỗ Khiếu chạy dài theo đường Mạch Đốc, biểu trưng cho chín Vị Tiên Nương, mỗi Vị đều có tên và một bài thơ để khi dâng lễ phẩm đồng nhi thài.


       Dưới đây là tên của chín Cô Nữ Tiên và mỗi Cô có một bài thơ:


     


    THI


    Cửu Phẩm Hiên Viên thọ sắc Thiên
    Thiên Thiên cửu phẩm
    đắc Đạo Huyền
    Huyền Hư tác thế Thần Tiên Nữ
    Nữ hảo thiện c
    ăn đạt Cửu Thiên


    1- Cô Hoa


    Hoa thu ủ như màu thẹn nguyệt
    Giữa thu ba e tuyết
    Đông về
    Non sông trải cánh Tiên lòe
    Mượn câu thi hứng vui
    đề ch
    ào nhau.


    2 – Cô Cẩm


    Cẩm tú văn chương là khách Đạo
    Thi Thần – Tửu Thánh vấn thuỳ nhân
    Tuy mang lấy tiếng hồng quần
    Cảnh Tiên còn mến cõi trần anh thư.


    3 – Cô Gấm


    Gấm lót ngõ chưa vừa gót ngọc
    Vàng treo nhà ít học không ưa
    Đợi trông nho sĩ tài vừa
    Đằng Giao cỡi Phụng mới vừa Tiên thi.


    4 – Cô Tuyến


    Tuyến đức năng thành Đạo
    Quảng trí
    đắc cao quyền
    Biển mê lắc lẻo con thuyền
    Chở che khách tục Cửu Tuyền ng
    ăn sông


    5 – Cô Liễu


    Liễu yểu điệu còn ghen nét đẹp
    Tuyết trong ngần khó phép so thân
    Hiu hiu nhẹ gót thoát trần
    Đài Sen mấy lượt gió Thần đưa hương.


    6 – Cô Huệ


    Huệ ngào ngạt đưa hơi vỗ điệu
    Đấng t
    ài ba chẳng thiếu tư phong
    Nương mây như thả cánh hồng
    Tiêu diêu phất Phướn cõi Tòng
    đưa Ti
    ên.


    7 – Cô Lễ


    Lễ bái thường hành Tâm đạo khởi
    Nhân từ tái thế, tử vô ưu
    Ngày xuân gọi thế hảo cầu
    Tr
    ăm duy
    ên phước tục khó bù buồn Tiên.


    8 – Cô Hớn


    Hồ Hớn hoa sen trắng nở ngày
    Càng gần hơi
    đẹp lại càng say
    Trêu tr
    ăng hằng thói dấu mây
    Cợt mây tránh chức Phật Đài thêm hoa.


    9 – Khiết


    Khiết sạch duyên trần vẹn giư
    Bạc Liêu ngôi cũ còn lời
    Chính chuyên buồn chẳng trọn
    đời
    Thương người noi
    Đạo, Phật Trời cũng thương.


    (...)


     


    ------------------------------------------------------------ ------------


    (...)* Đây là phần tóm lược theo ý chủ quan của ThachKhe để mọi người dễ theo dõi (ngắn lại) - nếu quý huynh tỷ và các bạn muốn đọc tiếp xin xem bài gởi của VongMotAnhSao trong mục : Hội Yến Diêu Trì Cung.

         

  2. #2
    Tham gia ngày
    Oct 2006
    Bài viết
    3.036
    Một bài viết rất cao sâu. Tuy nhiên có vài điểm cần trao đổi thêm (vì người gởi đã lược bớt bản gốc) cho nên có thể vì thế không còn sát ý của tác giả.



    1."Tiên Thiên và Hậu Thiên hay Càn và Khôn tác động với nhau mà thành Trời – Đất, vạn vât, cho nên Dịch nói "Nhất Âm Nhất Dương Chi Vị Đạo”."



    Nếu nói Vô Cực hay Khôn là HẬU THIÊN thì e rằng không được sát với định nghĩa về Tiên Thiên và Hậu Thiên. Tiên Thiên là trạng thái trước khi có Càn Khôn vũ trụ (nói gọn là trời đất) và Hậu Thiên là trạng thái sau khi đã phân lập thành Càn Khôn vũ trụ.



    Theo nguyên lý Dịch học: Vô Cực sinh Thái Cực, TC sinh Lưỡng Nghi, LN sinh Tứ Tượng, TT sinh Bát Quái và Ngũ Hành. Sau đó mới biến hóa ra Càn Khôn vũ trụ.



    Tứ Tượng được tượng trưng bằng hình chữ thập với điểm trung ương là HÒANG CỰC. Từ đây mới sanh Ngũ Hành và Bát Quái Tiên Thiên, Bát quái Hậu thiên để tạo nên vạn vật.



    Vậy thì khi nói Đức Mẹ Vô Cực là hậu thiên thì không được chính xác với luận lý dịch học !!!



    Và nếu là hậu thiên thì đức Mẹ phải có hình hài nhưng vì là Hư Vô Chi Khí như Đức Chí Tôn nên chúng ta đâu có biết hình dáng Đức Mẹ. Vì thế chỉ thờ Mẹ qua dòng chữ VÔ CỰC TỪ TÔN hay DIÊU TRÌ KIM MẪU.(Nếu thờ hình tượng Đức Cửu Thiên Huyền Nữ để thay thế thì cũng không chính xác. Vì như thế thì cũng như thờ Đức Hồng Quân Lão Tổ mà nói là Ngọc Hòang Thượng Đế.)



    2. "Đầu tiên lập Đạo ở Tây Ninh (sau khi lập đền Phật mẫu) là do Cửu Vị Tiên Nương và Phật Mẫu giáng cơ dạy các bậc đệ tử ban đầu như các Ngài: Phạm Công Tắc, Nguyễn Trung Hậu, Cao Huỳnh Cư, Trương Hữu Đức, thủ chấp Huyền Cơ Diệu Bút mà lập thành hình thể Đại Đạo"



    Chúng ta xem lại trong ĐẠO SỬ XÂY BÀN của bà C Q Cư (Hương Hiếu) thì thấy rõ buổi lễ tiếp đón Đức Mẹ và Cửu Vị Tiên Nương hôm đó (14 rạng rằnm tháng 8 Ất Sửu 1925) tại Sài Gòn (chứ không phải ở Tây Ninh) chỉ có 4 vị là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hòai Sang và bà Cư mà thôi. Bà Cư làm vai trò phục vụ bàn tiệc cho 3 ông tiếp đải. Nếu không như thế thì sẽ mâu thuẩn với đọan: "nơi bàn tiệc có để ba cái Đẩu để cho ba vị chức sắc ngồi: Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh,"



    Còn Đền Phật Mẫu mấy chục năm sau ở Tòa Thánh Tây Ninh mới được xây dựng (thật ra cũng chỉ mới là Báo Ân Từ mà thôi)



    Qua đây cho thấy SỰ PHẢN BIỆN CHO MỖI BÀI LÀ RẤT HỮU ÍCH để rộng đường học hỏi cho mọi người nhất là các bạn trẻ.



    (viết sau khi xem trong đêm khuya ở VN vì chưa ngủ được sau khi đi dự lễ Hội Yến Bàn Đào về)


  3. #3
    Tham gia ngày
    Jan 2006
    Bài viết
    133
     

              Đạt Tường thân mến!


               Đạo Trưởng Ngọc Trường Thanh thuyết trình bài này với Mục Đích nói lên Ý Nghĩa Ngày Lễ Phật Mẫu Diêu Trì đồng thời qua đó Đạo Trưởng gíải mã cho chúng ta thấy sự mầu nhiệm ẫn vi trong buổi Lễ Hội Yến chứ không chú trọng vào vấn đề lịch sử. Tuy nhiên không phải vì thế mà Đạo Trưởng Phớt lờ đi nơi bày sắp buổi Yến Tiệc ấy. Đạt Tường nên xem kỹ lại nội dung của buổi tiệc sẽ rõ. Riêng vongmotanhsao có đôi lời: Nhìn về thời gian lịch sử thì buổi tiệc nhằm ngày 1 tháng  9 năm Ất  Sửu (1925) chỉ là buổi tiệc giữa người học Đạo với các vị Tiên Phật (mặc dù đó là Cửu Vị Tiên Nương và Đức Mẹ Diêu Trì) chứ chưa phải là buổi Yến Tiệc thực sự của các Ngài Hộ Pháp, Thượng Sanh, Thượng Phẩm cùng với Cửu Vị Tiên Nương và Phật Mẫu Diêu Trì (Bởi mỗi danh xưng của các Ngài ẫn chứa một Ý Nghĩa sâu xa). Còn Đạt Tường cho các Ngài Phạm Công Tắc, Cao Huỳnh Cư, Cao Hoài Sang (Có thêm Ngài  Nguyễn  Trung Hậu ) lúc ấy là Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh thì chưa hẳn như vậy. Bởi trong thời gian đó các Ngài chưa chính thức là  môn đệ của Đức Thượng Đế, vì ngày “Vọng Thiên Cầu Đạo của các Ngài là ngày mồng 1 tháng 11 năm 1925 như thế thì không thể xem buổi lễ này là buổi lễ Hội Yến Diêu Trì Được. Trong lịch sử Cao Đài Phần Phổ Độ của Soạn Giả Đồng Tân có đoạn:” Đêm ấy gọi là đêm “Phó Yến Diêu Trì” mãi hiện nay tại Tòa Thánh Tây Ninh vẫn còn giữ thông lệ ấy” có thể đây là sự nhầm lẫn của người viết sử!?(Trang47) Vì Khi xây xong Báo Ân Từ để thờ Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương thì các vị thiết một bửa tiệc gọi là “Hội Yến Diêu Trì” theo sự chỉ dẫn của ơn trên để cảm tạ Từ Ân của Mẹ.


     

     Thân ai!

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Tìm Hiểu Nhân sinh quan Phật giáo
    Bởi Qui Khong trong mục Cao Đài và Tôn giáo
    Replies: 2
    Có Bài Mới: 16-05-2008, 04:56 AM
  2. Tìm Hiểu Về Nam Bình Phật Tổ
    Bởi hien hoa trong mục Câu chuyện lý thú Đại Đạo
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 04-05-2007, 12:57 PM
  3. Hướng đến Thánh Lễ Phật Mẫu & Hội Yến ...
    Bởi vongmotanhsao trong mục Hội yến Diêu Trì Cung
    Replies: 1
    Có Bài Mới: 26-09-2006, 10:38 AM