"BÁT NHÃ CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG"
VÔ TRÍ DIỆC VÔ ĐẮC, BẤT SANH BẤT DIỆT"

Đây đều là những từ ngữ Phật Giáo. Hai câu này nếu luận thì cả ngàn trang sách cũng hẳn chưa hết ý. Khaitam thì không có khả năng luận chứng, nhưng sanh chúng tầm đạo thì phải nương vào Pháp mà hành. Nên khaitam chỉ xin diễn đôi dòng theo nghĩa đen tóm gọn, còn tuỳ thuộc vào mỗi người sẽ CẢM va ĐẠT theo mỗi trình độ của mình. Nói như vậy khong có ý khaitam cao sieu gì cả, khaitam là phàm phu tục tử, là người trí kép, hiểu nông giữa biển Đạo Pháp bao la mà thôi.

"Chiếu kiến" nghĩa là "thấy toàn", là "soi sáng", là "tỏ ngộ", là "thông đạt", là "minh kiến". Thấy ở đây, không phải thấy bằng con mắt với 2 tròng trắng +2 tròng đen. Người chết cũng vẫn có những thứ đó, người sống cũng có thứ đó nhưng cái thấy ấy chỉ là "phàm kiến", không phải là "thánh kiến" của Đạo Pháp muốn nói. Đọc kinh thì cầu lý để hiểu hành sự. Có câu lục căn tiếp xúc với lục trần sanh ra lục thức. Đó là cội sanh khổ đau.

Nếu muốn chiếu kiến ngũ uẩn giai không thì phải dùng cái trí thanh, trí thanh ấy Phật Đạo gọi là TRÍ BÁT NHÃ, hay BÁT NHÃ TRÍ. Trí này không phải là trí của nhà toán học, nhà vật lý học, không phải là tiến sĩ tâm lý học, không phải là tiến sĩ thần học, tiến sĩ tôn giáo học lý luận bằng cái thấy của phàm tâm, tục trí. Bát Nhã trí là Trí của Phật, soi sáng mười phương. Theo cái thiển học của khaitam thì con người cần quán chiếu mà khơi lên TRÍ BÁT NHÃ. Nếu để làm như thế nghĩa là "quán" và hiểu cái "không" và sống trong cái "không" phải bằng tâm Bát Nhã hay là dụng trí Bát Nhã mà hành, tức là tri kiến trong tuệ giác của sự sáng suốt thực sự. Phật bảo quán Không để tìm tự tánh. Tự Tánh vốn là vô. Tánh vô nhưng lại là hữu diệu. Tánh không sanh cũng chẳng bị diệt khi nào, nghĩa là Đặc Tánh Vô Thường nhưng hằng hữu vì theo như Kinh Bát Nhã ám chỉ rằng chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng thêm, chẳng bớt, "không trí cũng không đắc". Bát Nhã Kinh dùng tự "không để phủ định tất cả nhằm biểu thị rằng cái Chơn Như hằng Bất Biến, không sanh, không diệt, tức trong diệt đã có sanh, trong sanh đã có diệt. Diệt thì sanh ngay lúc diệt, nên không thêm, không bớt. Ấy là Tự Tánh Như Lai. Về phương diện khác thì, chữ "không" trong trong Kinh cũng lại ám chỉ rằng, cái không để phủ định tất cả, phủ định để rốt ráo nhấn mạnh cái mặt đối lặp của nó trùng duyên ngay ấy, để rồi chúng sanh thấy để thấy 5 uẩn đều là không. Một góc nhìn khác, Phật dạy học về quán chỉ Không, tức là chúng ta cần tập tánh không không, đừng nhiễm, xem các sự điều là hư vô, ảo ảnh, tất cả đủ duyên hợp, hợp rồi tan. Đó là nguyên lý bất dịch để thấy, quán chiếu bằng Bát Nhã trí, nhằm cho tâm thanh, trí định, gom thần, tụ khí. Nếu con, chấp trước, nghĩ sau thì khí hao, thần tán mà không làm cho Diệu Tánh được hiện lộ minh quang.

Còn hành thì phải định căn trên Trí Huệ ấy, tức là Bát Nhã trí - nghĩa gốc của Bát nhã chuyên chỉ cho loại trí tuệ đặc biệt, phát sinh từ công hạnh tu hành theo pháp quán không mà chứng đắc tức là loại trí tuệ thanh tịnh của chư Phật vừa rỗng lặng vừa suốt soi, nhờ đó mà quán chiếu được thật tướng của các pháp và thấy rõ các pháp là không có tự tánh. Ðây không phải là loại trí tuệ thế trí biện thông ngôn từ siêu đẳng thế gian, chỉ có chứng ngộ mới có thể biết mùi của nói. Lý thuyết thì cần phân minh cho rõ để hành giả nương học mà hiểu vậy.

Phật nói vô trí cũng vô đắc, không sanh không diệt vì vạn hữu là tự tính luôn như thế, nào có sanh đâu mà có diệt. Nhưng kỳ thực, sự hiện hữu là mặc nhiên như thế. Thử định hiểu Linh Hồn tròn vuông ra sao?

Sự phủ định để thấy được cái bản chất nguyên thuỷ vĩnh toàn của vạn hữu.

Khaitam xin chúc anh chi em vui và an lạc trong tinh thần phục sự Đạo mà sáng ngộ thêm mãi trên con đường về.