+Trả Lời Chủ Đề
kết quả từ 1 tới 4/ Tổng số 4

Ðề tài: Đức Tin và Đạo Tâm trước ngã ba đường?

  1. #1
    Tham gia ngày
    Jan 2007
    Bài viết
    2
     Tiểu đệ xin đưa ý kiến: tại sao đạo CAO ĐÀI lại thờ Thiên Nhãn? Các nền Tôn Giáo như Nho Giáo thì thờ Đức Phật Thích Ca , Thánh Giáo thì thờ Chúa Jesu Chirst, vậy còn Giáo Chủ của Đạo Cao Đài đâu mà sao không thờ?

  2. #2
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar

    Nguyên văn bởi ductin85
     Tiểu đệ xin đưa ý kiến: tại sao đạo CAO ĐÀI lại thờ Thiên Nhãn? Các nền Tôn Giáo như Nho Giáo thì thờ Đức Phật Thích Ca , Thánh Giáo thì thờ Chúa Jesu Chirst, vậy còn Giáo Chủ của Đạo Cao Đài đâu mà sao không thờ?
    Giáo Chủ đạo Cao Đài là ai vậy?

  3. #3
    Tham gia ngày
    Nov 2006
    Bài viết
    505
    Tien Duc's Avatar

     Chào bạn Đứctin85, Nho Giáo thì thờ các đức Khổng, Mạnh chớ không phải Phật Thích Ca. Nhưng trong đạo Cao Đài thì đức Chí Tôn dạy thờ đức Khổng Tử.


    Giáo chủ Đạo Cao Đài là ai? Mời bạn ôn lại đoạn Thánh Giáo sau:


    Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát


    Giáo Đạo Nam Phương.


    Vốn từ trước Thầy lập ra Ngũ Chi Đại Đạo là :


           Nhơn Đạo,


          Thần Đạo,


          Thánh Đạo,


          Tiên Đạo,


          Phật Đạo.


    Tùy theo phong hóa của nhân lọai mà gầy Chánh giáo, là vi khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn lọai duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.


    Còn nay thì nhơn lọai hiệp đồng, Càn-Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn lọai nghịch lẫn nhau; nên Thầy mới nhứt định qui nguyên phục nhựt Lại nữa trước Thầy lại giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh giáo mà làm ra phàm giáo. Thầy lấy làm đau đớn, hằng ngày gần trót mười ngàn năm, nhân lọai phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A-Tỳ.


    Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa. Nhưng mà buộc phải lập Chánh thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng Đảo.....


     Chẳng một ai dưới thế này còn đặng phép nói rằng thế quyền Thầy mà trị phần hồn của nhơn lọai. Ai có đức hạnh lớn thì mới ngồi đặng địa vị của Thầy ban thưởng.....


    Trích Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I, 1972 của Tòa Thánh Tây Ninh, trang 16.


    Giáo chủ có nhiều nghĩa, nhưng trong phạm vi chủ đề này nếu bạn hiểu Giáo Chủ là người sáng lập ra một tôn giáo thì giáo chủ đạo Cao Đài là đức Thượng Đế tá danh là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát tới mở Cao Đài giáo tại Việt Nam thâu nhận các tiền bối chúng ta như quý Ngài Ngô Văn Chiêu, Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung, v.v.. Các vị này đã được chính đức Cao Đài thiên phong, ban cho các phẩm trong Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài để thay mặt đức Chí Tôn mà hướng dẫn nhơn sanh. Chính đức Cao Đài đã hướng dẫn các tiền bối từ cách tịnh luyện, cách trấn thần, cách thờ phượng, cách lạy lấy dầu, thỉnh kinh nơi đâu, may thiên phục cho các chức sắc, hướng dẫn các tiền bối học cách dùng cơ bút để Ơn Trên (Bát Quái Đài) về dạy Đạo, hướng dẫn lập Tòa Thánh Tây Ninh nơi đâu, kích thước ra sao, ban Pháp Chánh Truyền, dạy chư tiền bối làm Tân luật dâng cho đức Lý Giáo Tông, v.v.


    Và vì đức Chí Tôn tá danh là Cao Đài là Hư Vô Chi Khí nên đã thị hiện Thiên Nhãn cho đức Ngô để rồi sau này đức Ngô mới hướng dẫn lại cho những người sau thờ Thiên Nhãn tượng trưng cho đức Cao Đài Thượng Đế. Và Thiên Nhãn cũng là bí pháp luyện đạo của Cao Đài giáo.


    Tiến Đức


  4. #4
    Tham gia ngày
    Apr 2006
    Bài viết
    85
     

    Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ
    Tòa Thánh Tây Ninh


    ************************


     


    Ý Nghĩa Thờ Thiên Nhãn


     


                              - NM - TV Nhóm  Nghiên Cứu Tôn Giáo Cao Đài


    - Trích dẫn từ tư liệu của Nhóm Nghiên Cứu Cao Đài


     



    Thiên Nhãn là Mắt Trời.


    Thờ Thiên Nhãn tức là thờ Trời.


     


    Thiên Nhãn: thánh tượng của đạo Cao Đài


     


     


    Trên Quả Càn Khôn, Ðức Chí Tôn bảo vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên ngôi sao Bắc Ðẩu, tức nhiên Ðức Chí Tôn ngự tại ngôi Bắc Ðẩu.Biểu tượng Thiên Nhãn của Ðạo Cao Ðài, tức của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, có một ý nghĩa vô cùng cao cả và đặc sắc, mà bất cứ một nền tôn giáo nào trên thế giới hiện nay đều không có được.


     


    I. Nguồn gốc Thiên Nhãn


    Người môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn là Ngài Ðốc Phủ Ngô văn Chiêu, trong lúc Ngài đang làm Quận Trưởng quận Phú Quốc tỉnh Hà Tiên, vào Khoảng đầu năm 1921, Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài phải tìm một dấu hiệu chi riêng biệt để thờ kỉnh. Ngài Ngô văn Chiêu bạch với Ðức Chí Tôn chọn dấu hiệu chữ Thập ( + ).


     


    Ðức Chí Tôn giáng cơ đáp : Chọn chữ Thập cũng được, song đó là dấu hiệu của một nền tôn giáo đã có rồi (Thiên Chúa Giáo), phải suy nghĩ để tìm ra một dấu hiệu mới khác, sẽ có Ðức Chí Tôn giúp sức.


    Ngài Ngô văn Chiêu xin hoãn lại một tuần lễ để suy nghĩ tìm tòi. Mãn tuần lễ rồi mà Ngài vẫn chưa tìm ra.


     


    Thế rồi một hôm, vào ngày 13-3-Tân Dậu (dl 20-4-1921), lúc 8 giờ sáng, Ngài đang ngồi trên chiếc võng ở mái hiên sau dinh quận, suy nghĩ vẩn vơ, bỗng Ngài thấy xuất hiện một CON MẮT thật lớn, hào quangg chiếu diệu, cách chỗ Ngài ngồi chừng vài ba thước. Con Mắt ấy đầy đủ thần quang nhìn thẳng vào mặt Ngài, làm Ngài sợ hãi, lấy 2 bàn tay che mặt lại không dám nhìn, chừng được nửa phút, Ngài lại mở mắt ra nhìn thử thì lại thấy CON MẮT ấy rực rỡ hào quangg hơn nữa. Ngài bèn chấp tay lại, vái rằng : " Bạch Tiên Ông ! Ðệ tử biết rõ huyền diệu của Tiên Ông, xin Tiên Ông đừng làm vậy sợ lắm ! Nếu Tiên Ông bảo thờ như vậy thì xin cho biến mất tức thì." Ngài khấn xong thì Con Mắt từ từ lu dần rồi biến mất.Tuy vậy, Ngài Ngô văn Chiêu vẫn chưa thiệt tin, nên chưa vẽ Con Mắt để thờ.Cách vài ngày sau, Ngài lại thấy Thiên Nhãn xuất hiện y như lần trước. Ngài lại vái cùng Tiên Ông xin vẽ Thiên Nhãn để thờ thì Thiên Nhãn cũng lu dần rồi biến mất. (Ngài Ngô văn Chiêu lúc đó gọi Ðức Chí Tôn là Tiên Ông).


     


    Ngài Ngô văn Chiêu, căn cứ vào 2 lần chứng nghiệm đó, hoàn toàn tin tưởng nơi Ðức Chí Tôn, nên Ngài vẽ Thiên Nhãn như đã thấy để thờ Ðức Chí Tôn.


    Vào tháng Giêng năm Giáp Tý (1924), khi Ngài Ngô văn Chiêu đứng tại Dinh Cậu Phú Quốc nhìn ra biển khơi vào lúc Mặt Trời sắp lặn, Ngài bỗng thấy Thiên Nhãn hiện ra rực rỡ hào quangg trên một ngôi sao, kế dưới là Mặt Trăng lưỡi liềm, và trên mặt biển là Mặt Trời, sắp theo một sổ dọc thẳng đứng, và mặt biển là một đường nằm ngang.


    Hình ảnh rực rỡ và đẹp đẽ nầy, Ngài Ngô văn Chiêu ghi nhớ và Ngài họa hình giống y như vậy để thờ : Bên dưới là mặt biển nằm ngang, bên trên là Nhựt, Nguyệt, Tinh Thiên Nhãn, tạo thành một sổ thẳng đứng.


    Ðến ngày 29-6-Giáp Tý (dl 30-7-1924), Ngài Ðốc Phủ Ngô văn Chiêu được Chánh quyền Pháp đổi về làm việc ở Sài gòn, Ngài cũng đem Thiên Nhãn về Sài gòn để thờ nơi nhà Ngài cư ngụ.


    Mặt khác, vào giữa năm1925, Ðức Chí Tôn độ được nhóm Công chức Xây bàn ở Sài gòn gồm quí Ông : Cao quỳnh Diêu, Cao quỳnh Cư, Phạm công Tắc, Cao hoài Sang, và kế đó độ thêm Ngài Lê văn Trung;


     


    “ Ðức Chí Tôn bảo quí vị nầy hãy vẽ hình Thiên Nhãn để thờ Ðức Chí Tôn. Lúc đó là đầu năm 1926.Quí Ông rất phân vân, không biết vẽ thế nào, vì biểu tượng Thiên Nhãn thật vô cùng mới lạ. Từ trước tới giờ, người Việt Nam chỉ biết thờ tượng Phật, tượng Thánh, tượng Thần, chớ chưa hề biết thờ Thiên Nhãn.”


     


    Ðức Chí Tôn biết các Ông đang phân vân, nên giáng cơ dạy quí Ông đến nhà của Ông Ðốc phủ Ngô văn Chiêu để Ông Chiêu chỉ cho cách thờ, và dặn mang Ðại Ngọc Cơ theo để Chí Tôn giáng cơ dạy việc.Thế là do lịnh dạy của Ðức Chí Tôn, Quí Ông tìm đến nhà Ngài Ngô văn Chiêu, được Ngài Chiêu hướng dẫn cách thờ phượng Ðức Chí Tôn bằng biểu tượng Thiên Nhãn với đầy đủ chi tiết, và sau đó quí Ông phò loan cầu Chí Tôn. Ðức Chí Tôn giáng dạy quí Ông hợp tác với Ngài Ngô văn Chiêu để chuẩn bị Khai Ðạo, và nhận Ngài Chiêu làm Anh Cả.Nguồn gốc thờ Thiên Nhãn của Ðạo Cao Ðài phát tích từ đó.


     


    Thật ra, biểu tượng Thiên Nhãn tượng trưng Ðấng Thượng Ðế, không phải hoàn toàn mới lạ đối với nhơn loại, vì từ thời Thượng cổ, dân Ai Cập, dân Do Thái ở Phi Châu, dân Pérou ở nam Mỹ Châu, đã biết vẽ hình Thiên Nhãn ngự trên Kim Tự Tháp để thờ Ðấng Thượng Ðế.


     


    II. Ý nghĩa thờ Thiên Nhãn


     


    Ðức Chí Tôn dạy rằng :


    " Tại sao Thầy lại biểu các con tạo hình Thiên Nhãn mà thờ, không dạy thờ hình tượng như các tôn giáo khác ?Thầy vốn là Hư Vô chi Khí, không giống cái chi hết. Các con chớ tạo hình Thầy mà thờ. Trời là Lý, thì Lý ấy rất thông linh bao quát Càn khôn Thế giới. Thầy đâu phải có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con. Nên chi, thờ Thiên Nhãn là thờ Thầy."


     


    Thờ Thiên Nhãn bao gồm nhiều ý nghĩa siêu việt, xin nêu ra sau đây :


     


    a) Ý nghĩa về hình thể :


    1. Tiên Nho thường nói : Hoàng Thiên hữu Nhãn, hay trong dân gian cũng thường nói : Trời cao có mắt, để chỉ rằng Ông Trời, tức là Ðấng Thượng Ðế, nhìn thấy rõ tất cả những hành vi thiện ác của khắp chúng sanh, dầu bộc lộ ra ngoài hay giấu giếm kín đáo bên trong, Mắt Trời đều thấy rõ hết thảy, để khen thưởng hay xử phạt một cách công bình. Do đó, trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế có câu : Càn kiện cao minh,


    Vạn loại thiện ác tất kiến.


    Nghĩa là : Càn là Trời, ngôi Càn mạnh mẽ, cao tột, sáng tỏ,  Ắt hẳn thấy rõ điều thiện và ác của muôn loài vật.Thờ Thiên Nhãn với con mắt mở, để chúng ta luôn luôn nhớ rằng, bất cứ ta làm việc gì, Trời đều thấy rõ, không thể giấu giếm, cũng không thể sau nầy chối cãi được.


     


    2. Vẽ MỘT con Mắt để thờ, mà không vẽ 2 con Mắt (một cặp) là bởi vì 1 là số khởi thủy của Càn khôn Vũ trụ và vạn vật (theo Dịch học) : 1 sanh 2, 2 sanh 3, 3 sanh vạn vật. Tức là Nhứt bổn tán Vạn thù, Vạn thù qui Nhứt bổn. Cho nên, số 1 là gốc, lại là số Dương, mà Ðức Chí Tôn làm Chủ Dương quang, thì rất hợp lẽ. Số 1 cũng chỉ ngôi Thái Cực, là ngôi độc nhứt trong Càn Khôn Vũ trụ.


     


    3. Vẽ Con Mắt bên TRÁI để thờ, chớ không phải vẽ Con Mắt bên Mặt, bởi vì bên Trái thuộc về Dương, bên Mặt thuộc về Âm, nên khi vào Thánh Thất quì cúng Ðức Chí Tôn, phái Nam quì bên Trái của Ðức Chí Tôn; phái Nữ quì bên Mặt của Ðức Chí Tôn (Nam tả Nữ hữu). Do đó, Con Mắt Trái tượng trưng Ðức Chí Tôn và Ðức Chí Tôn chưởng quản Khí Dương quang.


     


    4. Thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa Ðại đồng. Bất cứ sắc dân nào, dân tộc nào cũng biết vẽ Con Mắt để thờ, và vẽ hình Con Mắt không có tánh cách phân biệt chủng tộc, nên có tính chất chung hết, tức là Ðại đồng. Như chúng ta thấy, Phật giáo vẽ hình Ðức Phật Thích Ca với hình dáng là người Ấn Ðộ; Thiên Chúa giáo vẽ hình Ðức Chúa Jésus với hình dáng là một người Do Thái; do đó có tánh cách phân biệt về dân tộc, về quốc gia, là thờ người ngoại quốc, . . . . Vẽ hình Con Mắt mà thờ thì tránh được các sự phân biệt vừa nêu trên. Vả lại, Ðức Chí Tôn là Ðại Từ Phụ của toàn nhơn loại, chớ đâu phải của riêng một sắc dân nào. Khi thờ Con Mắt là Ðức Chí Tôn muốn cho nhơn loại không còn phân biệt nhau về quốc gia hay dân tộc, nhìn nhau đều là anh em một nhà, con chung của Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc lãnh sứ mạng của Thượng Ðế để thực hiện sự Ðại đồng trên toàn thế giới.


     


    b) Ý nghĩa theo Thiên Chúa Giáo :


     


      Thiên Chúa giáo có một quyển sách tựa là : "Catéchisme Album " (Giáo lý Cương yếu) do nhà xuất bản Saint JosephParis phát hành, nơi trang đầu tiên có in hình Thiên Nhãn (L'Oeil de Dieu) và chú thích như vầy : " Dieu est esprit, il ne peut être vu de nos yeux, ni, par conséquent, représenté sur une image. C'est OEIL, vous rappelle que Dieu est le souveraine intelligence, qu'il sait tout et voit tout.


    On l'encadre le Soleil, car Dieu est le Vrai Soleil qui éclaire et réchauffe tout et porte la vie partout. Dieu est la Lumière Éternelle."


    Tạm dịch : Thượng Ðế là Ðấng thiêng liêng, đôi mắt trần của chúng ta không thể thấy được Ngài, vì thế, không thể mô tả Ngài bằng một hình ảnh.  Thiên Nhãn nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng : Thượng Ðế là Ðấng Toàn Tri, Ngài biết tất cả và thấy tất cả. Người ta vẽ chung quanh Thiên Nhãn những tia sáng của Mặt Trời, bởi vì Thượng Ðế là ngôi Dương chơn thật, soi sáng và sưởi ấm vạn vật và mang đến sự sống khắp nơi. Thượng Ðế là Ánh sáng vĩnh cửu.


    c) Ý nghĩa thiêng liêng : Về ý nghĩa thiêng liêng của Thiên Nhãn, Ðức Chí Tôn có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau : TNHT. I. 12 : " Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng CON MẮT mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh :


    Nhãn thị chủ tâm,


    Lưỡng quang chủ tể,


    Quang thị Thần,


    Thần thị Thiên,


    Thiên giả Ngã giã.


    Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Ðại bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp TINH KHÍ đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Các con nhớ nói vì cớ nào thờ CON MẮT Thầy cho chư Ðạo hữu nghe. . . . . . .  Phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật từ ngày Ðạo bị bế, thì Luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản THẦN, không cho hiệp cùng TINH, KHÍ. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con đắc đạo. Con hiểu "Thần cư tại nhãn". Bố trí cho chư Ðạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên, Phật do yếu nhiệm là tại đó."


     


    III. Giải thích 5 câu chữ Nho về Thiên Nhãn


    Xin chép lại 5 câu chữ Nho giải thích Thiên Nhãn :


    Nhãn thị chủ tâm,


    Lưỡng quang chủ tể,


    Quang thị Thần,


    Thần thị Thiên,


    Thiên giả Ngã giã.


     


    Giải nghĩa từng chữ :


     


    Câu 1 : Nhãn thị chủ tâm. Nhãn : Con mắt. Thị : Ấy là


    Chủ : Làm chủ. Tâm : Cái Tâm. - Cái Tâm của con người là Linh hồn, cũng gọi là Tiểu hồn, Tiểu Linh quang, và con người là Tiểu Thiên Ðịa hay Tiểu Thượng Ðế. - Cái Tâm của Trời là Ðại hồn, là Ðại Linh quang, và Trời là Ðại Thiên Ðịa, thường gọi là Thượng Ðế.


     


    Câu 2 : Lưỡng quang chủ tể. Lưỡng : Hai. Quang : Ánh sáng. - Ðối với Trời, Lưỡng quang là Âm quang và Dương quang, đó cũng gọi là Lưỡng Nghi. - Ðối với con người, Lưỡng quang là 2 Khí : Khí Âm và Khí Dương trong cơ thể con người. Chủ : Làm chủ. Tể : Ðứng đầu. Chủ tể, cũng đọc là Chúa tể là đứng đầu cai trị tất cả.


    Câu 3 : Quang thị Thần. Quang : Ánh sáng. Thị : Ấy là. Thần : Chơn linh, một trong Tam bửu (Tinh, Khí, Thần). - Ðối với Thượng Ðế, Thần là Ðại hồn. - Ðối với con người, Thần là Tiểu hồn.


     


    Câu 4 : Thần thị Thiên. Thần : Chơn linh. Thị : Ấy là. Thiên : Trời. - Ðối với Trời, Thiên là Thượng Ðế, Ðại Vũ trụ. - Ðối với con người, Thiên là Tiểu Thượng Ðế, Tiểu Vũ trụ.


     


    Câu 5 : Thiên giả Ngã giã. Thiên : (đã giải nơi câu 4). Giả : Ấy là. Ngã : Ta. Giã : Vậy. Thường viết là Dã, dùng đặt ở cuối câu, nghĩa là : Vậy. Câu "Thiên giã Ngã dã" giống như câu " Nhân giả Nhơn dã" ( ), nghĩa là: Lòng Nhân ấy là đạo làm Người vậy.


    Năm câu chữ Nho mà Ðức Chí Tôn dạy về THIÊN NHÃN, có thể được giải thích theo 2 trường hợp :


    - Giải thích theo Ðại Thiên Ðịa (Ðại Vũ trụ, Ðại Linh quang, Ðại hồn, Thượng Ðế). [Trời]


    - Giải thích theo Tiểu Thiên Ðịa (Tiểu Vũ trụ, Tiểu Linh quang, Tiểu hồn, Tiểu Thượng Ðế). [Người]


     


    a) Giải thích theo Ðại Thiên Ðịa (Trời) :


    Câu 1 : Nhãn thị chủ Tâm : Nhãn ở đây là Thiên Nhãn tượng trưng Thượng Ðế. Tâm ở đây là Tâm của Thượng Ðế, tức là Ðại Linh quang, Ðại hồn. Nhãn thị chủ Tâm : Thượng Ðế là chủ của Ðại Linh quang.


     


    Câu 2 : Lưỡng quang chủ tể : Lưỡng quang là Âm quang và Dương quang. Chủ tể là Chúa tể, cai trị tất cả.


    Lưỡng quang chủ tể : Dương quang và Âm quang làm chúa tể, cai trị tất cả. Bởi vì Dương quang và Âm quang ấy chính là của Ðại Từ Phụ và Ðại Từ Mẫu, phối hợp để sanh hóa Càn khôn Vũ trụ và vạn vật.


     


    Câu 3 : Quang thị Thần : Quang nầy là Ðại Linh quang, Thần nầy là Ðại hồn.  Quang thị Thần : Ðại Linh quang ấy là Ðại hồn của Thượng Ðế.


     


    Câu 4 : Thần thị Thiên : Ðại hồn ấy là Trời,Thượng Ðế


     


    Câu 5 : Thiên giả Ngã giã : Thượng Ðế ấy là TA vậy. (TA là tiếng tự xưng của Ðức Chí Tôn). Do đó, thờ Thiên Nhãn chính là thờ Trời, thờ Ðấng Thượng Ðế, thờ Ðấng Ðại Từ Phụ đã sanh hóa CKVT và toàn cả chúng sanh.


     


    b) Giải thích theo Tiểu Thiên Ðịa (Người) :


    Con người do Thượng Ðế tạo ra, hễ Trời có gì thì con người có nấy, cho nên mới gọi con người là Tiểu Thiên Ðịa, Tiểu Thượng Ðế, Tiểu hồn, Tiểu Linh quang.


     


    Câu 1 : Nhãn thị chủ Tâm : Nhãn ở đây là Nhơn nhãn, con mắt của Người, tượng trưng con người. Tâm ở đây là lương tâm của con người, tức là Tiểu hồn, Tiểu Linh quang. Nhãn thị chủ Tâm : Con người làm chủ cái Tâm của mình, tức là làm chủ Tiểu Linh quang (Chơn linh) của mình.


     


    Câu 2 : Lưỡng quang chủ tể : Lưỡng quang ở đây là 2 Khí Dương và Âm trong cơ thể con người. Nếu 2 Khí nầy điều hòa thì thân thể con người khỏe mạnh; nếu 2 khí không điều hòa, hoặc là Dương thạnh Âm suy hay Âm thạnh Dương suy thì con người bị đau ốm, bịnh hoạn; nếu khí Dương tuyệt thì cơ thể phải chết. Lưỡng quang chủ tể : 2 Khí Âm Dương trong con người là chúa tể, vì nó định được sự sống chết, sự khỏe mạnh hay đau yếu của thân thể con người.


     


    Câu 3 : Quang thị Thần : Quang ở đây là Tiểu Linh quang, Thần là Linh hồn của con người, tức là Tiểu hồn.


    Quang thị Thần : Tiểu Linh quang ấy là Tiểu hồn của con người.


     


    Câu 4 : Thần thị Thiên : Thần là Tiểu hồn, Thiên ở đây là Tiểu Thiên Ðịa, Tiểu Thượng Ðế.  Thần thị Thiên : Tiểu hồn ấy là Tiểu Thượng Ðế.


     


    Câu 5 : Thiên giả Ngã giã : Thiên là Tiểu Thượng Ðế, Ngã là ta, là con người. Thiên giả Ngã giã : Tiểu Thượng Ðế ấy là ta vậy. Về ý nghĩa của chữ " THẦN" : Khi hiến lễ dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn : Tam Bửu là : Bông, Rượu, Trà, tượng trưng Tinh, Khí, Thần.


    Tinh là Thể xác,


    Khí là Chơn thần,


    Thần là Chơn linh, Linh hồn.


    Trong phép Luyện đạo, luyện cho Tinh, Khí, Thần hiệp nhất : Trong trường hợp nầy thì :TINH là chất tinh túy của thể xác tạo ra để lưu truyền nòi giống. Phải Luyện Tinh hóa Khí.KHÍ là chất bổ dưỡng do chất Tinh biến thành để nhờ máu luân chuyển đem đi nuôi các tế bào của cơ thể cho tươi nhuận, nhứt là nuôi các tế bào não cho thông minh sáng suốt, có đầy đủ sự tốt đẹp. Ðó là Luyện Khí hiệp Thần.THẦN là Chơn thần của con người. Khi trí não của con người đầy đủ sự thông minh sáng suốt thì phát huệ, tạo được Chơn thần nhẹ nhàng tinh tấn. Nhưng phải Luyện Thần huờn Hư, nghĩa là luyện cho Chơn thần được huyền diệu, có thể xuất nhập thể xác tùy theo ý muốn, để có thể vân du lên các cõi Trời, tiếp xúc với các Ðấng thiêng liêng. Luyện được như vậy, gọi là Luyện Tinh, Khí, Thần hiệp nhất, đắc đạo tại thế.


     


    Như vậy, chữ THẦN có 2 nghĩa : Linh hồn hay Chơn thần tùy theo trường hợp.  Cho nên, thờ Thiên Nhãn cũng còn là thờ Chơn thần : "Thần cư tại Nhãn". Nên Ðức Chí Tôn dạy rằng : Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Ðạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp cùng TINH, KHÍ, đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ siêu phàm nhập Thánh. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con


     


    - NM - Tư liệu Xuất bản & phát hành từ Tòa Thánh Tây Ninh


Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Biết trước mà không làm gì được
    Bởi dtcl trong mục Gặp gỡ, Giao lưu
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 15-05-2009, 11:28 PM
  2. Tín hữu trẻ trước v/đ giữ “Luật-Quy-Giới”
    Bởi nguoihocDao trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 4
    Có Bài Mới: 06-10-2008, 09:01 AM
  3. Trứng gà hay con gà đến trước?
    Bởi DangVo trong mục Giải trí, đố vui
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 16-09-2007, 12:35 PM