NGÀI GIÁO SƯ: NGỌC LUYỆN THANH


Vốn là người học nhiều hiểu rộng, Ngài thông thạo các ngoại ngữ Anh, Phap, Nhật, Hán. Ngoài việc dịch cuốn “ Lược sử Cao Đài” ra Anh ngữ, còn vô số những tài liệu và những bài nghiên cứu, sưu khảo về triết học, Đạo học Đông Tây đăng khắp các báo Đạo – Đời, nhất là các bài báo: Cao Đài Gíao Lý, Đại Đồng, Nhân Sinh, Đại Đạo Nguyệt San, Nhân Hòa, Phụng Sự, Tin Đạo… Những bài diễn văn, thuyết Đạo và những bài giáo lý, tài liệu phổ tế, tài liệu Hạnh Đường của Ngài rất phong phú, dồi dào.

Đặc biệt tập khảo cứu về nền tảng các Tôn Gíao trên thế giới.
Sau ngày đi cải tạo về ( 1981) Ngài được mời tham gia tổ dịch thuật của một cơ quan văn hóa của Thành Phố, chuyên phiên dịch các sách báo và tài liệu ngoại ngữ về văn sử để sử dụng trong nước.
Đời Ngài là cả một kho sử liệu và giai thoại, xin đơn cử vài câu chuyện thuở Ngài mới nhập Đạo để thấy được bản lĩnh và ý chí của một bậc Hướng Đạo có tâm trường:

1. Câu chuyện ăn chay
Vì Ngài là con một, lại là Trưởng tộc nên cụ Bà muốn Ngài phải lập gia đình để có con nối dõi tông đường. Vì thế, khi Ngài theo bạn và tỏ ý ham chuyện tu hành thì nhất định cụ Bà không đồng ý và tìm mọi cách để ngăn chặn việc làm của Ngài.
Trước hết, vì chiều con và rất nể trọng Ngài Nguyễn Quang Châu nên Bà vẫn để cho Ngài đi theo phái đoàn Truyền Gíao, nhưng việc đi tu và ăn chay thì cụ Bà không chịu. Cụ Bà ra lệnh ngăn cấm không cho Ngài ăn chay thì Ngài ăn cơm lạt hoặc nhịn ăn đôi ba ngày, thấy vậy, cụ Bà vì thương con sợ Ngài đói nên lúc đầu phải năn nỉ và để cho Ngài ăn. Sau cụ Bà lại tìm cách khác: Bà nấu cơm rồi rưới nước mắm vào nồi cơm, Ngài ăn không được, Ngài lại lấy gạo nấu cơm khác. Bữa sau bà lại rưới nước mắm vào trong thùng gạo. Ngài phát hiện được lại nhịn nữa rồi Ngài sang nhà hàng xóm mượn gạo về nấu ăn. Cụ Bà biết được lại qua nói nhỏ với nhà hàng xóm không được cho Ngài mượn gạo nữa. Cuối cùng bí thế, thì Ngài lại nhịn đói mấy ngày, nhất định không ăn đến phải xỉu.
Thế là cụ Bà hết phương đành phải chiều theo ý con, và Ngài được thỏa nguyện.

2. Câu chuyện Ngài nhập Đạo.

Thời gian đầu, có hai năm Ngài đi theo Đoàn Truyền Gíao thì đi vậy chứ thật sự trong lòng Ngài chưa tin tưởng mối Đạo. Bởi đi thì vui và thỏa mãn trí tò mò của tuổi trẻ nhiều hơn. Ngài chưa chịu nhận nền Tân Gíao Lý, dù bấy lâu đã nghe Ngài Nguyễn Quang Châu giảng giải rất nhiều.
Ngài vốn nhiễm tây học, cái gì cũng phải thực tế và cũng phải do sức người làm nên, nên Ngài vẫn chưa tin ở Đạo, chưa tin sự cứu rỗi của Đạo trời trong Kỳ Ba tận thế. Mãi cho đến khi gặp Ngài Huỳnh Ngọc Trác tại nhà ông Hương Dung( thân sinh của Thánh Tử Đạo Nguyễn Thị Lan, người đệ tử cùng đi với Thầy Huỳnh và thọ nạn ở Quảng Ngãi năm 1945) ở thôn Đại Bình, Huyện Quế Sơn, thuộc Thánh Thất Trung Quang Bình. Trong câu chuyện nhàn đàm sau bữa ăn tối xong vẫn còn đang sôi nổi, bỗng luồng gió tạt vào làm ngọn đèn tắt ngúm, cảnh vật tối om. Thầy Huỳnh chợt hỏi Ngài:
“ Chú Luyện, đèn tắt rồi chú có thấy gì không?
Ngài Luyện đâm ra ngơ ngác:
“ Dạ thưa Thầy, con đâu thấy gì được”
Thầy Huỳnh vừa cười vừa giải thích như một lời phân bua giữa mọi người:
“ Đó, Chú thấy không? Khi ngọn đèn tắt thì không thấy gì nữa cả! Chú thấy cái Ta của chú chưa? Ngọn đèn là cái Đạo soi sáng. Nhờ ngọn đèn ta mới thấy được mọi vật, cũng như nhờ cái Đạo ta mới hiểu được cuộc đời, hiểu được Thiên Mệnh."
Qua mấy lời ngắn gọn mà chứa đầy Đạo lý cao thâm ấy, Ngài bừng tỉnh ngộ và một hai xin Thầy nhập Đạo.
Thế là từ đó Ngài xin dâng lễ Nhập Môn Cao Đài và quyết tâm tu trì đúng mực. Quyết tâm ấy Ngài đã theo trọn cuộc đời. Ngài thường đêm câu chuyện này kể lại cho cháu con và đàn hậu tấn như một lời răn dạy.