+Trả Lời Chủ Đề
Trang 3/3
1 2 3
kết quả từ 21 tới 27/ Tổng số 27

Ðề tài: Nghinh Phong Đài

  1. #21
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209

    NGHINH PHONG ĐÀI (tt).
    ĐỊNH LÝ THỜI GIAN.
    “Thể kỷ 120 năm”.

    Trong lễ đưa Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật triều thiên đêm 24-12-Ðinh Hợi (1948). Đức Hộ Pháp có thuyết giảng tại Ðền Thánh:
    Thỏn mỏn mà ngày nay là ngày 23 tháng Chạp năm Ðinh Hợi, đây tính lại từ ngày Bần Ðạo về nước đến nay được 17 tháng, được ăn hai cái Tết của quê hương sau 5 năm bị đồ lưu nơi hải ngoại....
    ...Chơn truyền buổi Ðức Chí Tôn tạo Càn Khôn Thế Giái, Ngài nắm Thập Thiên Can, Thập Nhị Ðịa Chi trong tay, để định Pháp Chánh Càn khôn Vũ trụ. Trong thời buổi định Pháp Chánh ấn định vào khoảng từ ngày 23 đến 30 sáng mồng 1, họp tại Ngọc Hư Cung đặng định luật giới hạn vi diệu cho trái địa cầu, chạy theo khuôn khổ hữu định trong năm cho chí Tân niên là 12 giờ đêm 30, khởi điểm 1 giờ sáng ngày 1 tháng Giêng năm sau....
    ...Nơi Ngọc Hư Cung định Pháp Chánh cũng như trong Càn Khôn Vũ Trụ là: 12 tháng một niên, 12 niên một giáp, 120 năm một thế kỷ (tất cả đều cho rằng 100 năm là một thế kỷ, như vậy không đúng), 1.200 năm là một giáp, 12.000 năm là một ngươn....

    (Lời Thuyết Đạo Q1- Bài cuối).
    &&&

    Ngày nay người đạo phát hiện Ngài đã bố trí thể pháp một thế kỷ là 120 năm nơi Nghinh Phong Đài.
    Chúng tôi tích cóp lại và trình bày trong bài nầy qua 02 phần:
    . Cách tính thế kỷ theo dương lịch và hoa giáp theo âm lịch.
    . Cách tính thế kỷ là 120 năm theo cách của Đức Hộ Pháp.

    PHẦN MỘT:
    THẾ KỶ & HOA GIÁP.

    Trên thực tế thì ngày đêm có trước rồi mãi sau con người mới nghĩ ra cách ghi nhận ngày đêm và tiến dần đến năm tháng. Thời gian có trước rồi con người mới tìm cách ghi nhận thời gian (nay gọi lịch).
    Về sau nữa mới chế ra đồng hồ....

    Lịch sử nhân loại ghi nhận có nhiều bộ lịch khác nhau (nhiều cách ghi nhận và tính thời gian khác nhau).
    Trong bài nầy chúng tôi chỉ trình bày sơ lược về cách tính thế kỷ (theo dương lịch) và hoa giáp (theo âm lịch) để thấy rằng cách tính thế kỷ 120 năm kết hợp được cả 02 nền văn minh Đông và Tây.
    Phương Tây: thế kỷ & đường thẳng; phương Đông: can, chi & chu kỳ.

    1- THẾ KỶ.

    Phương Tây quan niệm thời gian tiến triễn theo đường thẳng nên cứ đếm tới, tính theo cách tăng dần từ số nhỏ đến lớn (thời công nguyên).
    Công nguyên là gì?
    Các nước Châu Âu (và sau nầy là Châu Mỹ...) lấy năm sinh của Đức Chúa Jesus Christ làm khởi đầu của kỷ nguyên, gọi là Tây Lịch kỷ nguyên hay Công Nguyên.

    Theo qui ước thì trước Công nguyên có ghi dấu trừ (-) và năm công nguyên có ghi dấu (+) hay không ghi dấu.
    Thí dụ: viết năm -30 là trước công nguyên 30 năm. Do viết có dấu trừ ở trước nên trị số tuyệt đối (không kể dấu trừ) càng lớn thì năm đó càng TRƯỚC năm Thiên Chúa giáng sinh.

    Viết năm +30 hay năm 30 là sau khi Thiên Chúa giáng sinh 30 năm (công nguyên). Do viết có dấu cộng (hay không dấu) nên trị số tuyệt đối càng lớn thì càng SAU năm Thiên Chúa giáng sinh.

    Số 0 là con số trong toán học; còn thời gian thì không có năm mang số 0. Năm Thiên Chúa giáng sinh làm gốc thì đó là năm thứ 01 (CN).

    Cách viết: -05, -04, -03, -02, -01 /// +01, +02, +03, +04, +05....

    Tây lịch lấy mặt trời làm chuẩn.
    Một năm có 365 ngày và ¼ ngày.
    Nên cứ 04 năm có một năm nhuần. Trong năm nhuần theo Tây Lịch thì tháng 02 có ngày 29 (bình thường tháng 02 chỉ đến ngày 28). Muốn biết năm nào nhuần thì lấy năm đó chia cho 4. Nếu số dư là 0 thì đó là năm nhuận.
    Có tháng 30 ngày, có tháng 31 ngày (ngoại trừ tháng 02).
    12 tháng thành một năm.
    Một thế kỷ là 100 năm.
    Một thiên niên kỷ là 1.000 năm.
    Nên thế kỷ thứ I được tính từ năm 01 đến năm thứ 100.
    Thế kỷ thứ II được tính từ năm 101 đến năm thứ 200.

    Nhưng đến năm 2000 thì ở Việt Nam (và nhiều nơi trên thế giới) phần nhiều lại cho rằng đã sang thế kỷ 21. Và được xã hội chấp nhận.
    Như vậy:

    Thiên niên kỷ thứ nhất từ năm 01 đến năm 1.000.
    Nhưng thiên niên kỷ thứ 2 lại từ năm 1.001 đến năm 1.999 (ít hơn thiên niên kỷ thứ nhất 01 năm).

    Lưu ý: nếu chính xác thì phải viết là TRƯỚC CÔNG NGUYÊN và CÔNG NGUYÊN. Không viết sau công nguyên vì văn minh Thiên Chúa Giáo đang lưu hành. Và chưa có một bộ lịch nào ghi theo một quan điểm mới lưu hành.

    Như vậy khi nền Văn Minh Cao Đài Giáo hình thành và định lịch ĐĐTKPĐ theo thể pháp thế kỷ 120 năm bố trí ở Nghinh Phong Đài hẳn nhiên sẽ có năm SAU CÔNG NGUYÊN.

    Do đâu mà chúng Tôi hiểu như vậy?

    1.1- Tại Đền Thánh đêm 29/9- Nhâm Thìn (1952) Đức Hộ Pháp:
    Đêm nay Bần Đạo giảng về Tôn giáo đối với một nền văn minh của thời đại....
    Chúng ta ngó thấy mỗi phen Đức Chí Tôn đến, hay là sai vị Giáo chủ nào đến đặng tạo Tân dân bao giờ cũng vậy. Trước tiên cái nền văn minh đến, thì nền Đạo Giáo đã thành lập trước, bởi Đạo Giáo là căn bản của nền văn minh đó vậy.
    Chúng ta ngó thấy trước mắt kiểu vở của các nền văn minh đã có, là do nơi các Tôn giáo đã tạo. Đương nhiên bây giờ có hai nền văn minh trọng yếu hơn hết của tinh thần nhơn loại là: Văn minh của Phật Giáo và văn minh của Thiên Chúa Giáo. Hai nền văn minh tinh thần của hai Đạo giáo đó rất cao thượng. Bần Đạo chỉ nói rằng: Tốt đẹp không thể gì tả hình trạng ra cho đặng. Tại sao nó tốt đẹp ấy? Là nó có năng lực bảo sanh hình chất của nhơn loại, nó có thể bảo vệ cho đời sống tinh thần thiêng liêng của họ mà chớ....

    &&&

    1.2- Đêm 12 /10- Nhâm Thìn (1952) tại Đền Thánh. Đức Hộ Pháp:
    ...giờ phút này, Bần Đạo ngó lại phải để câu hỏi: Nền Đạo Cao Đài ngày kia sẽ tạo nền văn minh như thế nào? Thật vậy nền văn minh sẽ ra sao?
    Bần Đạo nói hai vị Giáo Chủ kia đã mang thi phàm xác tục, mà họ còn để lại hai gương đẹp đẽ vô biên ấy, họ tạo Tân dân, họ đã đến đây phương kế hiệp thành chữ "Khí" của Đức Chí Tôn đến giữa Thánh đức của Ngài, rồi giờ phút nầy Đức Chí Tôn đến để nơi mặt thế gian này nền Tôn Giáo Cao Đài, thì nền văn minh ấy thế nào con cái của Đức Chí Tôn đoán biết.

    &&&

    1.3- Phần trình bày về Huệ Kiếm Gươm Thần & Long Hoa Thị cũng là một trong những điều kiện để hiểu rằng Văn Minh Cao Đài Giáo sẽ đảm đương việc phụng sự vạn linh trong buổi toàn cầu hóa. Câu:
    ...Nắng hạ héo khô vườn bá tánh,
    Dắt nhau tìm núp bóng Cao Đài.
    Thiễn nghĩ chính là lời báo trước về nền Văn Minh Cao Đài Giáo.
    Đức Chúa Jesus có dạy: ...không thổi một ngọn đèn hầu tàn, không bẻ một cành lau dù đã chớp....thì môn đệ Đấng Cao Đài phải lấy đó làm bài học để hành xữ cho xứng đáng.

    Phải hiểu rằng chính do tiến trình phụng sự vạn linh theo cách êm tịnh và hòa bình rồi nhân loại tự quyết định một cách tự nhiên chớ không phải hô hào ầm ỉ, lý thuyết suông để gây ra xung đột là trái với chủ trương và ý chỉ cao thượng của Thầy khi lập ĐĐTKPĐ.

    2- HOA GIÁP.

    Phương Đông quan niệm thời gian theo chu kỳ nên cứ hết một chu kỳ thì quay trở lại khởi điểm. Một chu kỳ của phương Đông là 60 năm hay còn gọi là Lục Thập Hoa Giáp.
    Thí dụ năm Bính Dần (1926) thì 60 năm sau là 1986 lại có năm Bính Dần.

    Âm lịch lấy mặt trăng làm chuẩn.
    Trong âm lịch một tháng đủ là 30 ngày, tháng thiếu là 29 ngày. Cứ đến ngày 15 hằng tháng là trăng tròn.
    Một năm thường có 12 tháng.
    Mổi năm nhuận có 13 tháng. Tháng nhuận của Âm Lịch thay đổi không cố định như Tây Lịch.

    Theo qui ước thì người phương Đông dùng Thiên Can và Địa Chi để chỉ đơn vị thời gian là một năm theo âm lịch.

    Có 10 Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Nếu đánh số từ 1 đến 10 ta thấy có can chẳn và can lẽ.

    Có 12 Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Nếu đánh số từ 1a đến 12a ta thấy có chi chẳn và chi lẽ.

    Cách ghép 10 thiên can và 12 địa chi:
    . Khi ghép Thiên Can và Địa Chi lại với nhau thì Thiên Can luôn đứng trước.
    . Một Thiên Can chỉ đi được với 06 chi. Can chẳn đi với Chi chẳn mà không ghép được với chi lẽ.
    . Cụ thể như sau:

    Can giáp: Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất.
    Can Ất: Ất Sửu, Ất Mẹo, Ất Tỵ, Ất Mùi, Ất Dậu, Ất Hợi.
    Can Bính: Bính Dần, Bính Thìn, Bính Ngọ, Bính Thân, Bính Tuất, Bính Tý.
    Can Đinh: Đinh Mẹo, Đinh Tỵ, Đinh Mùi, Đinh Dậu, Đinh Hợi, Đinh Sửu.
    Can Mậu: Mậu Thìn, Mậu Ngọ, Mậu Thân, Mậu Tuất, Mậu Tý, Mậu Dần.
    Can Kỷ: Kỷ Tỵ, Kỷ Mùi, Kỷ Dậu, Kỷ Hợi, Kỷ Sửu, Kỷ Mẹo.
    Can Canh: Canh Ngọ, Canh Thân, Canh Tuất, Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn.
    Can Tân: Tân Mùi, Tân Dậu, Tân Hợi, Tân Sửu, Tân Mẹo, Tân Tỵ.
    Can Nhâm: Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Tý, Nhâm Dần, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ.
    Can Quí: Quí Dậu, Quí Hợi, Quí Sửu, Quí Mẹo, Quí Tỵ, Quí Mùi.

    &&&
    Nếu ghi bằng số can và chi đã nêu thì ta có bảng sau:

    Can Giáp: 1-1a, 1-3a, 1-5a, 1-7a, 1-9a, 1-11a.
    Can Ất: 2-2a, 2-4a , 2-6a, 2-8a, 2-10a, 2-12a.
    Can Bính: 3-3a, 3-5a, 3-7a, 3-9a, 3-11a, 3-1a.
    Can Đinh: 4-4a, 4-6a, 4-8a, 4-10a, 4-12a, 4-2a.
    Can Mậu: 5-5a, 5-7a, 5-9a, 5-11a, 5-1a, 5-3a.
    Can Kỷ: 6-6a, 6-8a, 6-10a, 6-12a, 6-2a, 6-4a.
    Can Canh: 7-7a, 7-9a, 7-11a, 7-1a, 7-3a, 7-5a.
    Can Tân: 8-8a, 8-10a, 8-12a, 8-2a, 8-4a, 8-6a.
    Can Nhâm: 9-9a, 9-11a, 9-1a, 9-3a, 9-5a, 9-7a.
    Can Quí: 10-10a, 10-12a, 10-2a, 10-4a, 10-6a, 10-8a.
    &&&

    Trên đây là bảng liệt kê can kết hợp với chi.
    Ở bảng ghi theo số ta thấy số lẽ đi với số lẽ và số chẳn đi với số chẳn.
    Cách gọi tên hằng năm thì thay đổi theo thứ tự của can và chi kế tiếp. Cả can và chi đều thay đổi khi bước vào năm mới.
    Thí dụ: Giáp Tý rồi đến Ất Sửu và Bính Dần.....

    Cứ như thế 60 năm thì quay trở lại là Giáp Tý nên cách tính Lục Thập Hoa Giáp nầy còn gọi là biểu Giáp Tý.

    Qui ước là vậy và đã có rất nhiều cách giải thích, nhưng không một ai nêu được lý do vì sao mà một Can Chỉ kết hợp được với 06 chi và không được kết hợp với 06 chi còn lại.
    Người phương Đông thường có tục tổ chức Lễ Đáo Tuế để mừng người đã sống đến năm có can và chi mình chào đời.

    Cũng theo phong tục thì người đã sống đến năm có can và chi mình chào đời (Đáo Tuế) lúc mất ghi trên mộ bia là hưởng thọ. Dưới đó thì ghi là hưởng dương.

    Chúng tôi trình bày qui ước cách gọi năm của phương Đông để phục vụ đề tài nên không đi sâu vào các vấn đề khác.
    &&&

    (CÒN TIẾP: PHẦN HAI- “Thế kỷ 120 năm”.)
    &&&

  2. #22
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209

    NGHINH PHONG ĐÀI. (tt)

    PHẦN HAI.
    “Thế kỷ 120 năm”.

    Quan sát NGHINH PHONG ĐÀI ta thấy trên cao là Long Mã chạy từ Đông sang Tây trên một nữa hình cầu.
    Kế đến là các bông sen, mổi đài sen đở 02 bông sen.
    Bên dưới có 08 đầu rồng, bố trí đúng với chính phương và bàng phương.
    Kế đến là hình trụ tròn bố trí 10 thiên can.
    Kế đến là lan can hình vuông ngăn phần hình trụ tròn có bố trí thiên can với hình vuông bên dưới có bố trí thập nhị địa chi.
    Chữ ghi Can và Chi đều là chữ Nho viết theo lối chữ triện.
    Xuống nữa là phần nóc nơi Cửu Trùng Đài.

    . Cách bố trí thập thiên can.
    Thập Thiên Can được bố trí ở phần hình trụ tròn.
    Đứng từ phương Bắc (bên Nữ Phái) quan sát giáp một vòng theo chiều kim đồng hồ ta đọc được theo thứ tự (khởi từ can Giáp): Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí.

    Chỉ có 02 thiên can là BÍNH & TÂN đứng theo chính phương. Phương Đông là Bính, phương Tây là Tân.
    Riêng can BÍNH bố trí trên cánh cửa nên nhô lên trên. Nghĩa là can Bính bố trí trên một đường tròn riêng cao một chút và 09 can còn lại bố trí trên một đường tròn thấp hơn.
    Phương Nam và Bắc không có can nào đứng ở chính phương.
    Nếu kẻ đường Đông Tây (Bính, Tân) và đường Nam, Bắc thì hình trụ tròn chia ra làm 04 phần bằng nhau.

    Phần một: Giáp, Ất rồi đến Bính (Chánh Đông).
    Phần hai: Đinh, Mậu.
    Phần ba: Kỷ Canh. Rồi đến Tân (Chánh Tây).
    Phần bốn: Mậu, Kỷ.
    Bính và Tân ở trục Đông – Tây nên không thuộc vào 04 phần trên; vị chi mổi phần bố trí 02 can.

    . Bố trí thập nhị địa chi.
    Thập nhị địa chi được bố trí ở phần hình trụ vuông bên dưới.
    Mổi mặt hình trụ vuông có bố trí 03 địa chi.
    Cũng đứng từ hướng Bắc quan sát khởi từ chi Tý ta thấy cuối mặt bên hướng Bắc là Tý, rồi đến phương Đông.

    Phương Đông: Sửu, Dần, Mẹo.
    Chi Dần ở chánh Đông và khuất trong mái phần Cửu Trùng Đài, đứng ngoài không thấy nhưng lòn vào phần mái và plafont bên trong thì có ghi chi Dần.
    Phương Nam: Thìn, Tỵ (chánh Nam), Ngọ.
    Phương Tây: Mùi, Thân, Dậu.
    Chi Thân ở chánh Tây và khuất trong mái phần Cửu Trùng Đài, đứng ngoài không thấy nhưng lòn vào bên trong plafont thì có ghi chi Thân.
    Phương Bắc: Tuất, Hợi (chánh Bắc), Tý.

    . Kết hợp Can và Chi ở Nghinh Phong Đài.

    Khi kết hợp Can và Chi thiễn nghĩ lấy trục Đông- Tây làm chính.
    Tại sao lấy trục Đông Tây làm chính?
    Bởi vì Đạo khởi tự phương Đông và xuất qua phương Tây.
    Tư tưởng phương Đông và phương Tây là 02 nguồn tư tưởng chính hiện đang chi phối tinh thần nhân loại.
    Tòa Thánh cũng nằm theo trục Đông – Tây.
    Phương Đông và Tây đều có can và chi đứng chính phương.
    Sau khi khởi 02 can Giáp, Ất thì đến can Bính đứng chánh Đông.
    Sau khi khởi 02 chi Tý, Sửu thì đến chi Dần đứng chánh Đông.
    Cả Bính và Dần đều đứng hàng thứ 03 trong can và chi. Mà con số 03 trong đạo học là con số phát khởi càn khôn vũ trụ.
    Thiên sinh nhất,
    Nhất sinh nhị,
    Nhị sinh tam,
    Tam sinh vạn vật.
    (Đạo Đức Kinh).
    Đức Chí Tôn đến Ngài xưng danh AĂÂ.

    Quả Càn Khôn trong Đền Thánh Thầy dạy: đường kính tâm ba thước ba tất (03m03dm). (TNHT Q1 trang 45 bản in 1973).

    Đạo phục của Giáo Tông:
    ...Bộ Tiểu Phục... Đầu đội mão Hiệp Chưởng (Mitre) cũng toàn bằng hàng trắng, bề cao ba tất ba phân ba ly (0m333) may giáp mối lại cho có trước một ngạnh, sau một ngạnh hiệp lại có một đường xếp (ấy là âm dương tương hiệp) cột dây xếp hai lại, nơi bên tay trái có để hai dải thòng xuống, một mí dài một mí vắn (mí dài bề ngang 0m03,bề dài 0m30) trên mão ngay trước trán có thêu chữ cung Càn. Chơn đi giày vô ưu toàn bằng hàng trắng, trước mũi có chữ Tịch Đạo Nam Nữ. Tỷ như Đức Lý Giáo Tông đương thời. thì nơi trước mũi giày của Ngài phải có chữ Tịch Đạo là "Thanh Hương".

    Hai chi Dần và Thân đều ẩn bên trong mái ngói.

    Phương Đông có can và chi BÍNH DẦN là năm khai đạo.

    Phương Tây có can và chi TÂN THÂN là cách ghép can và chi mới của ĐĐTKPĐ.

    Can TÂN số 8, chi Thân số 9a (theo cách đánh số trên) thì can chẳn đã kết hợp với chi lẽ. Cách ghép như thế thể hiện cơ tận độ và độ tận của ĐĐTKPĐ. Cơ tận độ và độ tận thì không có sự giới hạn như trước đây; một can chỉ kết hợp được với 06 chi.

    Thời Tam Kỳ Phổ Độ một can sẽ được kết hợp với 12 chi chớ không phải chỉ kết hợp được với 06 chi theo cách tính trước đó.

    Trong dịch lý thì số chẳn là âm, số lẽ là dương.

    Chẳn đi với chẳn, lẽ di với lẽ thể hiện cho sự chưa giao thông nhau, âm theo với âm và dương theo với dương là thể hiện cho quẻ BỈ (Thiên Địa).

    Chẳn lẽ kết hợp được với nhau thể hiện cho khí âm dương có sự giao hòa, trên dưới giao thiệp được với nhau nên hiểu nhau đó là THÁI (Địa Thiên).
    Trong quẻ Thái và Bỉ khí âm và khí dương bằng nhau nhưng do nơi vị trí của phần âm và dương mà sinh ra Thái hay Bỉ.

    . BẢNG KẾT HỢP CAN VÀ CHI THEO NGHINH PHONG ĐÀI.

    Can Giáp:
    Giáp Tý, Giáp Sửu, Giáp Dần, Giáp Mẹo, Giáp Thìn, Giáp Tỵ, Giáp Ngọ, Giáp Mùi, Giáp Thân, Giáp Dậu, Giáp Tuất, Giáp Hợi.
    Can Ất:
    Ất Tý, Ất Sửu, Ất Dần, Ất Mẹo, Ất Thìn, Ất Tỵ, Ất Ngọ, Ất Mùi, Ất Thân, Ất Dậu, Ất Tuất, Ất Hợi.
    Can Bính:
    Bính Tý, Bính Sửu, Bính Dần, Bính Mẹo, Bính Thìn, Bính Tỵ, Bính Ngọ, Bính Mùi, Bính Thân, Bính Dậu, Bính Tuất, Bính Hợi.
    Can Đinh:
    Đinh Tý, Đinh Sửu, Đinh Dần, Đinh Mẹo, Đinh Thìn, Đinh Tỵ, Đinh Ngọ, Đinh Mùi, Đinh Thân, Đinh Dậu, Đinh Tuất, Đinh Hợi.
    Can Mậu:
    Mậu Tý, Mậu Sửu, Mậu Dần, Mậu Mẹo, Mậu Thìn, Mậu Tỵ, Mậu Ngọ, Mậu Mùi, Mậu Thân, Mậu Dậu, Mậu Tuất, Mậu Hợi.
    Can Kỷ:
    Kỷ Tý, Kỷ Sửu, Kỷ Dần, Kỷ Mẹo, Kỷ Thìn, Kỷ Tỵ, Kỷ Ngọ, Kỷ Mùi, Kỷ Thân, Kỷ Dậu, Kỷ Tuất, Kỷ Hợi.
    Can Canh:
    Canh Tý, Canh Sửu, Canh Dần, Canh Mẹo, Canh Thìn, Canh Tỵ, Canh Ngọ, Canh Mùi, Canh Thân, Canh Dậu, Canh Tuất, Canh Hợi.
    Can Tân:
    Tân Tý, Tân Sửu, Tân Dần, Tân Mẹo, Tân Thìn, Tân Tỵ, Tân Ngọ, Tân Mùi, Tân Thân, Tân Dậu, Tân Tuất, Tân Hợi.
    Can Nhâm:
    Nhâm Tý, Nhâm Sửu, Nhâm Dần, Nhâm Mẹo, Nhâm Thìn, Nhâm Tỵ, Nhâm Ngọ, Nhâm Mùi, Nhâm Thân, Nhâm Dậu, Nhâm Tuất, Nhâm Hợi.
    Can Quí:
    Quí Tý, Quí Sửu, Quí Dần, Quí Mẹo, Quí Thìn, Quí Tỵ, Quí Ngọ, Quí Mùi, Quí Thân, Quí Dậu, Quí Tuất, Quí Hợi.

    . THỂ HIỆN BẰNG SỐ.

    GIÁP=1.
    1-1a, 1-2a, 1-3a, 1-4a, 1-5a, 1-6a, 1-7a, 1-8a, 1-9a, 1-10a, 1-11a, 1-12a.
    ẤT=2.
    2-1a, 2-2a, 2-3a, 2-4a, 2-5a, 2-6a, 2-7a, 2-8a, 2-9a, 2-10a, 2-11a, 2-12a.
    BÍNH=3.
    3-1a, 3-2a, 3-3a, 3-4a, 3-5a, 3-6a, 3-7a, 3-8a, 3-9a, 3-10a, 3-11a, 3-12a.
    ĐINH=4.
    4-1a, 4-2a, 4-3a, 4-4a, 4-5a, 4-6a, 4-7a, 4-8a, 4-9a, 4-10a, 4-11a, 4-12a.
    MẬU=5.
    5-1a, 5-2a, 5-3a, 5-4a, 5-5a, 5-6a, 5-7a, 5-8a, 5-9a, 5-10a, 5-11a, 5-12a.
    KỶ=6.
    6-1a, 6-2a, 6-3a, 6-4a, 6-5a, 6-6a, 6-7a, 6-8a, 6-9a, 6-10a, 6-11a, 6-12a.
    CANH=7.
    7-1a, 7-2a, 7-3a, 7-4a, 7-5a, 7-6a, 7-7a, 7-8a, 7-9a, 7-10a, 7-11a, 7-12a.
    TÂN=8
    8-1a, 8-2a, 8-3a, 8-4a, 8-5a, 8-6a, 8-7a, 8-8a, 8-9a, 8-10a, 8-11a, 8-12a.
    NHÂM=9.
    9-1a, 9-2a, 9-3a, 9-4a, 9-5a, 9-6a, 9-7a, 9-8a, 9-9a, 9-10a, 9-11a, 9-12a.
    QUÍ=10.
    10-1a, 10-2a, 10-3a, 10-4a, 10-5a, 10-6a, 10-7a, 10-8a, 10-9a, 10-10a, 10-11a, 10-12a.
    &&&

    . TÊN GỌI CÁC NĂM THEO THỨ TỰ THẾ NÀO?.

    Theo chúng tôi hiểu thì bảng kê trên cũng CHÍNH LÀ CÁCH GỌI TÊN HẰNG NĂM THEO THỂ PHÁP.
    Do đâu mà chúng tôi nghĩ vậy?
    Trong cách gọi năm theo cách một thế kỷ 120 năm chúng tôi căn cứ vào 02 sự kiện:
    . 12 niên một giáp (theo lời Đức Hộ Pháp trong bài trích dẫn).
    &&&

    . Phật Mẫu Chơn Kinh (Câu 29-32)
    Thập Thiên can bao hàm vạn tượng,
    Tùng địa chi hóa trưởng Càn Khôn.
    Trùng hườn phục vị thiên môn,
    Ngươn linh hóa chủng quỉ hồn nhứt thăng.

    &&&

    Trong phạm vi bài nầy chúng tôi thiễn nghĩ:

    Trùng là lập đi lập lại ngay sau đó, (không bị gián đoạn). Theo thứ tự thì chữ TRÙNG dùng cho thập thiên can.

    Hườn là hết một vòng rồi bắt đầu vòng mới hay hết một chu kỳ rồi trở lại xuất phát điểm, (có bị gián đoạn). Cũng theo thứ tự thì chữ HƯỜN dùng cho thập nhị địa chi.

    Hiểu như vậy phù hợp với câu 12 niên một giáp (giáp một vòng của thập nhị địa chi là 12 năm).

    Cụ thể thì khởi từ can GIÁP kết hợp với thập nhị địa chi xong là đủ 12 năm.
    Chuyển qua can ẤT cũng kết hợp với 12 con giáp xong rồi tới can BÍNH....
    Khi trở lại năm GIÁP TÝ là ta có đủ 120 năm hay một thế kỷ.

    Chữ trùng thể hiện ở can (lập lại 12 lần).

    Chữ hườn thể hiện ở chi (hết 1 vòng lại bắt đầu vòng mới)

    Như vậy tên của mổi thiên can được giử lại trong 12 năm (là một giáp). Hết 12 năm mới chuyển qua can mới và chi mới.

    Tính thế kỷ thì theo trục thẳng tuần tự nhi tiến.

    Hết một thế kỷ thì quay lại năm GIÁP TÝ (theo chu kỳ 120 năm).

    Dù sao đây cũng là kiến giải sơ khai về thể pháp thế kỷ 120 ở Nghinh Phong Đài (là vấn đề mới phát hiện trong thể pháp của ĐĐTKPĐ) nên chắc chắn là có thiếu sót hay chưa ổn về mặt nào đó thậm chí là sai. Nhưng chúng tôi cũng xin trình bày để những vị quan tâm cùng nhau suy nghĩ là chính.

    Chúng tôi đã căn cứ vào lời thuyết giảng của Đức Hộ Pháp và thể pháp ở Nghinh Phong Đài để trình bày rằng: ĐĐTKPĐ đã có chương trình định lại thế kỷ 120 năm trong nền văn minh Cao Đài Giáo...

    Vậy thì ĐĐTKPĐ có định đường kinh tuyến và vĩ tuyến hay không?
    Chúng tôi thiễn nghĩ là có.
    &&&

    (CÒN TIẾP: ĐƯỜNG KINH TUYẾN & VĨ TUYẾN THEO ĐĐTKPĐ).
    &&&

  3. #23
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209
    NGHINH PHNG ĐÀI (tt).

    ĐƯỜNG KINH TUYẾN & VĨ TUYẾN THEO ĐĐTKPĐ.

    Kể từ khi hiện sinh trên địa cầu thì con người không ngừng thắc mắc về thế giới tự nhiên xung quanh mình. Mặt trời chói chan, mặt trăng huyền ảo, các vì sao lung linh.... luôn luôn là những câu hỏi bí ẩn với nhân loại.

    Do vậy mà thiên văn học (chiêm tinh học) là một trong những ngành học ra đời rất sớm.... trong bài nầy chúng tôi trình bày ngắn gọn về kinh tuyến và vĩ tuyến (thời công nguyên) để liên hệ đến đến đường kinh tuyến và vĩ tuyến của ĐĐTKPĐ khi định lịch cho chính mình (sau công nguyên).

    Lịch sử thiên văn học ghi nhận những người có công khám phá về vũ trụ như hiện giờ chúng ta được biết (phần lớn) đều xuất phát từ nhà thờ (Thiên Chúa Giáo-Vatican), hay quan hệ mật thiết với nhà thờ (về nhân thân hay kiến thức...), nhà thờ là nguồn gốc, là động lực cho thiên văn học phát triễn và cũng chính nhà thờ đôi lúc là lực cản ngành Thiên Văn Học phát triễn (ví dụ như vụ án Copernicus “1473-1543” hay Galilei “1564-1642”) cho đến khi nó tách ra khỏi tôn giáo thành một khoa học riêng biệt.

    Nhắc lại điều đó để hiểu rằng vì sao mà nền văn minh phương Tây còn được gọi là văn minh Thiên Chúa Giáo. Và từ đó hiểu rằng khoa học phát triễn không ngừng; cho dù là tôn giáo cũng phải sẳn sàng chấp nhận những khám phá mới (chính xác) để điều chỉnh cái khuôn thước củ chứ không thể dùng khuôn thước củ để dìm chết sự khám phá mới.

    Lịch sử tôn giáo và khoa học cho thấy: Với khoa học khi dùng kiến thức củ đã bị vượt qua để kềm thúc cái mới thì nhất định sẽ có sự ly khai. Cuối cùng sự thật phải được sáng tỏ và tôn giáo bị tụt hậu.

    Tại sao phải nhắc lại bài học nầy?

    Vì ĐĐTKPĐ có Cửu Trùng Đài cầm số mạng nhơn sanh. Mà Cửu Trùng Đài có 09 viện nghiên cứu:
    Hộ; Lương; Công. (Phái Thái).
    Học; Y; Nông. (Phái Thượng).
    Hòa; Lại; Lễ. (Phái Ngọc).

    09 viện trên nghiên cứu về tôn giáo, khoa học và xã hội....là những nhu cầu chánh đáng và thiết thực của nhân loại trong cuộc sống. Vậy thì cái mới (được phát hiện trong hay ngoài tôn giáo) phải luôn luôn được đối xữ công bằng và nhân văn chứ không thể để tái diễn cảnh tôn giáo, xã hội và khoa học trái ngược nhau rồi dẫn đến cảnh co cụm hay phân ly tôn giáo, xã hội và khoa học.

    ĐĐTKPĐ phải hợp nhất được bộ ba: Tôn giáo, xã hội và khoa học thì con thuyền bát nhã của Đạo mới xông pha nơi khổ hải phổ độ chúng sinh theo tôn chỉ: Bảo Sanh-Nhơn Nghĩa- Đại Đồng. Từ đó ngọn cờ cứu thế của Đạo mới tung bay.

    Về mặt tinh thần thì Cửu Viện có Cửu Vị Nữ Phật đở đầu.

    Còn trong hữu hình về tổ chức của Cửu Viện theo hành chánh tôn giáo thì mổi viện có một vị Phối Sư là Thượng Thống. Ba vị Chánh Phối Sư tùy theo phái mà mổi vị lãnh trách nhiệm 03 viện.

    Cửu viện còn có Hàn Lâm Viện giúp sức hầu hoàn thành nhiệm vụ. (HLV do Thập Nhị Bảo Quân phụ trách- thuộc quyền riêng của Thượng Hội).

    Ngoài Hàn Lâm Viện còn có các cung: Vạn Pháp Cung, Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung... cũng đều là nơi cung ứng bài bản cho tôn giáo mà Cửu Trùng Đài là nơi thể hiện.
    &&&

    Theo khám phá của khoa học thì trái đất có 02 chuyển động: Chuyển động quay chung quanh trục và chuyển động tịnh tiến.

    .Chuyển động tịnh tiến.
    Đó là đường di chuyển của trái đất đi xung quanh mặt trời theo hình elip (bầu dục). Khi trái đất đi giáp một vòng quanh mặt trời rồi về vị trí củ thì hết 365 ngày ¼. Theo ước định thì như vậy là một năm. Một năm theo Tây Lịch có 365 ngày. Còn phần ¼ thừa dồn lại, nên cứ 04 năm có nhuận 01 ngày vào tháng 02 năm nhuận.

    . Chuyển động quay xung quanh trục.
    Trái đất tự quay xung quanh trục để tạo ra ngày và đêm, quay hết một vòng xung quanh trục là 24 giờ. Trục quay được ước định là Bắc và Nam. Theo qui ước địa lý thì Bắc Cực ở bên trên Nam Cực ở phía dưới.
    Trái đất tự quay thì trục của nó cũng nghiêng tùy từng lúc nên ở các cực có khi rơi vào tình trạng suốt sáu tháng hay màn đêm bao phủ suốt sáu tháng.

    Một điều thú vị là Nam châm cũng quay theo chiều Bắc Nam của địa cầu. Cách thể hiện bản đồ cũng theo qui ước lấy hướng Bắc làm chuẩn. Nhưng không hiểu lý do gì mà các văn bút đều viết là KIM CHỈ NAM?

    [[[Qui ước hành tinh đi giáp một vòng xung quanh mặt trời là một năm và hành tinh tự quay một vòng quanh trục được gọi là một ngày cũng áp dụng cho các hành tinh trong thái dương hệ chúng ta đang sống.
    Do vậy mà khi hành tinh đi xung quanh mặt trời giáp một vòng rồi mà nó chưa quay hết một vòng quanh trục thì nơi đó một ngày dài hơn một năm.

    Cụ thể như Sao Kim (người bình dân gọi là Sao Hôm, Sao Mai còn Tây phương gọi là sao Venus- Vệ Nữ: Thần sắc đẹp và tình yêu trong thần thoại Hy Lạp).

    Sao Kim xuất hiện trên bầu trời cả ban ngày và ban đêm nhưng vì ban ngày ta không nhìn thấy bằng mắt thường mà đến khi ánh sáng mờ dần ta thấy nó hiện ở phương Tây nên gọi Sao Hôm; rồi đến gần sáng ta thấy nó hiện ở phương Đông nên gọi Sao Mai.

    Sao Kim đi quanh mặt Trời theo hình elip. Giáp một vòng khoản 225 ngày trên trái đất.

    Sao Kim tự quay xung quanh trục rất chậm nên phải mất 243 ngày của trái đất nó mới giáp một vòng của chính nó.

    Áp dụng định nghĩa về năm và ngày trên đây thì một ngày của sao Kim (là 243 ngày) dài hơn một năm (là 225 ngày) của nó.

    (Đến năm 1964 nhờ kỷ thuật rada các nhà khoa học mới phát hiện điều đặc biệt nữa là sao Kim quay ngược chiều với các hành tinh khác trong Thái Dương Hệ ta đang sống. Giải thích cho sự kiện nầy các nhà khoa học cho rằng Sao Kim va chạm với một thiên thể khá lớn nên bị đổi chiều quay)]]]

    &&&
    Đường kinh tuyến là gì?

    Đường kinh tuyến là một nữa đường tròn và hội tụ ở hai cực của địa cầu (Bắc Cực và Nam Cực) dài khoản 20.000km.

    Theo qui ước thì Kinh Tuyến 0 độ đi qua đài thiên văn Greenwich ở Anh Quốc (gần Luân Đôn). Đường kinh tuyến 180 độ nằm trên cùng một mặt phẳng với đường kinh tuyến 0 độ (gọi là mặt phẳng kinh tuyến- hay còn gọi là đường đổi ngày).
    Mặt phẳng kinh tuyến chia địa cầu ra thành Đông bán cầu và Tây bán cầu. Một người đi trên đường kinh tuyến gốc 0 độ mặt quay về hướng Bắc thì bên tay trái của người đó là Tây bán cầu và bên tay phải là Đông bán cầu.

    [[[Các kinh tuyến được đánh số thành kinh độ, từ 0o đến 180ovề cả phía đông và phía tây (E và W)- có 360 đường kinh tuyến.
    Quan sát trên bản đồ (hay trên quả địa cầu) ta thấy số đường kinh tuyến ở Đông và Tây bán cầu thể hiện trên đó không
    cố định (khi thì 06 đường, khi thì 12 đường) nhưng dù 06 hay 12 thì số đường ở hai bán cầu đều phải bằng nhau.
    Nếu vẽ 12 đường kinh tuyến thì chúng cách nhau 15 độ.
    Khi bố trí 06 đường kinh tuyến thì chúng cách nhau 30 độ]]]

    Múi giờ của các nước căn cứ vào kinh tuyến 0 độ làm gốc.

    Giờ của kinh tuyến gốc còn gọi là giờ GMT (Greenwich Mean Time) là giờ trung bình tại Greenwich.

    Với sự phát triễn của khoa học hiện nay thì giờ GMT không còn đáp ứng được yêu cầu mới (ngày càng cao) nên các nhà khoa học đã định ra giờ UTC: Giờ phối hợp quốc tế.
    Nhưng trên thực tế người ta vẫn quen hiểu đó là giờ GMT.

    Vĩ tuyến là gì?

    Theo qui ước thì vĩ tuyến là đường tròn nối tất cả những điểm có cùng một vĩ độ (đi từ Đông sang Tây) và thẳng góc với kinh tuyến tại tiếp điểm. Càng về gần cực (Bắc hay Nam) của trái đất thì đường kính của vĩ tuyến càng nhỏ.

    Kinh tuyến được gọi tên theo Đông và Tây.
    Vĩ tuyến được gọi tên theo Nam và Bắc.

    Có 181 đường vĩ tuyến (90 đường ở Bắc bán cầu, 90 đường ở Nam bán cầu và đường xích đạo là đường chia trái đất thành Bắc và Nam bán cầu “hiểu như đường vĩ tuyến gốc”)

    Có 5 đường vĩ tuyến đặc biệt.
    • Vòng Bắc cực (66° 33' 38" vĩ bắc)
    • Hạ chí tuyến (23° 26' 22" vĩ bắc)
    • Xích đạo (0° vĩ bắc)
    • Đông chí tuyến (23° 26' 22" vĩ nam)
    • Vòng Nam Cực (66° 33' 38" vĩ nam)

    Đường xích đạo (hay vĩ tuyến 0°) được ước định là đường chia địa cầu thành bán cầu Bắc và bán cầu Nam.

    Hạ chí tuyến và đông chí tuyến là các ranh giới phía bắc và phía nam của vùng đất trên Trái Đất có thể thấy được Mặt Trời đi qua đỉnh đầu trong ít nhất một thời điểm trong năm. Vòng cực bắc và vòng cực nam là ranh giới của vùng xung quanh cực Trái Đất, nơi có thể nhìn thấy Mặt Trời trong suốt ít nhất một ngày giữa mùa hè trong năm.

    Tóm lại:
    Kinh tuyến hay vĩ tuyến cũng đều là những đường ước định của khoa học để tiện dụng (cho thống nhất nhau) trong nghiên cứu hay liên lạc.

    Sự ước định nầy phù hợp với quá khứ nhưng hiện tại thì nó đã bộc lộ những giới hạn (do sự phát triễn của khoa học, kỷ thuật) nên nhu cầu làm mới là tất yếu.

    ĐƯỜNG KINH TUYẾN GỐC CỦA ĐĐTKPĐ.

    Đức Hộ Pháp đã bố trí thể pháp thế kỷ 120 năm ở Nghinh Phong Đài thì Ngài cũng bố trí đường Kinh Tuyến Gốc của ĐĐTKPĐ ngay trước Đền Thánh đó là Lộ Bình Dương Đạo (phần trong nội ô Tòa Thánh có tên là Đại Lộ Phạm Hộ Pháp).

    Nếu hiểu đây là đường kinh tuyến gốc thì nó đáp ứng tiêu chuẩn: nằm đúng theo chiều Bắc Nam.
    Đi từ Nam về Bắc thì bên trái là Tây bán cầu và bên phải là Đông bán cầu (như đường kinh tuyến gốc ở Đài Thiên Văn Greenwich)

    Sau đây là một số chi tiết để xác định.

    .1- Trống báo giờ tại cửa Hòa Viện.
    Từ Tòa Thánh đi ra cửa Hòa Viện (đi về hướng Bắc) Ngài có bố trí một nhà gác nhỏ ở hướng Tây. Căn nhà nầy có trống báo giờ. Trống báo giờ được đặc theo chiều Nam Bắc (song song với Đại Lộ Phạm Hộ Pháp).
    Phía trên cao phần mặt tiền của nhà báo giờ (ở hướng Tây nầy) có bố trí một đồng hồ bằng ximang. Mặt tròn các chữ số ghi theo chữ quốc ngữ hiện nay.

    Kim đồng hồ chỉ: 11 giờ 55 phút 25 giây (hay 23 giờ 55 phút 25 giây). Kim phút và giây nằm trên một đường thẳng chia mặt đồng hồ ra làm hai phần bằng nhau.
    Đứng quan sát (quay mặt về phía Tây) thì bên tay mặt Bắc bán cầu, bên tay trái là Nam bán cầu.

    .2- Đồng Hồ ở căn nhà đối diện.
    Căn nhà nầy sau 30-4-1975 chính phủ trưng dụng làm một bưu điện nhỏ (thường gọi là bưu điện của Hòa Viện) đến năm 2008 thì còn nguyên vẹn. Nhưng ngày nay (2013) bị đập mất dấu tích rồi. Chúng tôi không biết ai phá bỏ và phá bỏ lúc nào chỉ xác định rằng nó đã bị phá bỏ. Nhưng chúng tôi có ảnh chụp nên các chi tiết về đồng hồ nêu trong bài nầy hoàn toàn chính xác.

    Đối diện với nhà gác có trống báo giờ cũng là một căn nhà nhỏ như thế kiến trúc hệt nhau nhưng phần nóc ngay mặt tiền có bố trí một đồng hồ tương tự như đồng hồ ở nhà có trống báo giờ.

    Đồng hồ ở căn nhà nhỏ phía Đông nầy chỉ: 11 giờ 35 phút 20 giây (hay 23 giờ 35 phút 20 giây).

    Ba cây kim đồng hồ tạo nên các góc: 90 độ, 120 độ và 150 độ.
    Kim phút và giây tạo nên góc 90 độ.
    Kim giờ và giây tạo nên góc 120 độ (90 độ+ 30 độ).
    Kim giờ và phút tạo nên góc 150 độ (120 độ + 30 độ).

    .3- Trống báo giờ tại Báo Ân Từ.
    Báo Ân Từ (Điện Thờ Phật Mẫu tạm) có bố trí một nhà nhỏ có trống báo giờ bên tay phải (từ trong nhìn ra).
    Theo qui định thì trống ở Báo Ân Từ không được phép khởi trước hay cùng lúc với trống báo giờ ở Cửa Hòa Viện. Trống báo giờ ở cửa Hòa Viện xong rồi mới tới trống báo giờ ở Báo Ân Từ.
    Trống báo giờ nầy bố trí theo chiều Đông Tây.

    Kết hợp với trống báo giờ ở cửa Hòa Viện thì hai cái trống nầy tạo nên hình chữ thập.

    Lộ Bình Dương Đạo theo chiều Bắc Nam.

    Hai cái đồng hồ ở cửa Hòa Viện, hai bên chỉ giờ khác khau.

    Kết hợp các yếu tố đó lại thiễn nghĩ Đức Hộ Pháp đã bố trí các chỉ dấu cho kinh tuyến gốc của ĐĐTKPĐ.
    Khi xây Điện Thờ Phật Mẫu chánh thức thì thể pháp về trống báo giờ nầy có được bảo lưu hay không?

    Theo chúng tôi là sẽ có bố trí trống báo giờ nơi Điện Thờ Phật Mẫu chánh thức. Khi đó hai cái trống báo giờ sẽ nằm ở hai bên Lộ Bình Dương Đạo và tạo ra hình chữ thập.

    Đó là cái gốc của thời gian.

    Đường kinh tuyến gốc của Đạo sẽ hoàn chỉnh.

    ĐƯỜNG VĨ TUYẾN GỐC CỦA ĐĐTKPĐ Ở ĐÂU?

    Như đã trình bày về kinh tuyến và vĩ tuyến trên đây thì đường vĩ tuyến là đường ngang và thẳng góc với kinh tuyến.

    Quan sát lộ chánh môn ngay trước Đền Thánh ta thấy nó vuông góc với đường kinh tuyến gốc.

    Giao điểm của kinh tuyến và vĩ tuyến là Bao Lơn Đài.

    Thiễn nghĩ vĩ tuyến gốc của ĐĐTKPĐ là Lộ Chánh Môn vậy.

    Đứng tại Bao Lơn Đài ngó về hướng Tây thì bên tay trái là Nam bán cầu, bên tay phải là Bắc bán cầu.
    Ngó về hướng Bắc thì bên tay phải là Đông bán cầu, bên tay trái là Tây bán cầu.
    &&&

    LỊCH HIỆN NAY CÓ CẦN CẢI CÁCH HAY KHÔNG?

    Lịch là gì?
    Theo wiki lịch là hệ thống để đặt tên cho chu kỳ thời gian thông thường là theo các ngày.
    Cũng theo wiki các loại lịch hiện nay có thể kể: dương lịch, âm lịch, âm dương lịch hay lịch tùy ý.

    Với sự phát triển của khoa học thì các kỷ thuật đo đạt cũng chính xác hơn nên dương lịch hiện nay (lịch Gregory) cũng đã có nhiều đề nghị cải cách.

    Các nhà khoa học đã đề xuất LỊCH THẾ GIỚI hay LỊCH CỐ ĐỊNH QUỐC TẾ (lịch vĩnh viễn quốc tế). Liên Hiệp Quốc đã chú ý đến các loại lịch cải cách nầy vào khoản năm 1950 nhưng vẫn chưa kết thúc.
    Nhân loại đang cần có nhu cầu về lịch mới.

    ĐĐTKPĐ có là nguồn cung tương xứng hay chăng? Điều nầy do môn đệ của Đức Chí Tôn thể hiện.

    Muốn thể hiện được mình là nguồn cung xứng đáng thì phải tìm từ trong cái gốc là chánh giáo của Đức Chí Tôn.
    Chánh giáo của Đức Chí Tôn bao gồm: Thiên Thơ, Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, các Thể Pháp và Bí Pháp đã bố trí trong ĐĐTKPĐ mà Tòa Thánh tại Tây Ninh là đầu nguồn, là gốc.
    (Lưu ý rằng bộ máy hành chánh của Đức Chí Tôn sắp xếp theo Pháp Chánh Truyền cũng nằm trong thể pháp của tôn giáo-là một phần quan trọng của chánh giáo).
    &&&

    Đức Chúa Jésus chỉ giảng dạy về giáo lý trong 03 năm. Khi tại thế Ngài không lập ra tôn giáo mà các đệ tử đời sau nối chí Ngài rồi lập ra tôn giáo và gầy dựng nền văn minh rực rỡ cho nhân loại dường ấy.

    Ngày nay Đức Chí Tôn đích thân mở ĐĐTKPĐ, cầm chánh giáo và ở với nhân loại đời đời. Ngay từ đầu Thầy dạy lập QUỐC ĐẠO, lập ra bộ máy hành chánh tôn giáo, lập Pháp Chánh Truyền (Hiến Pháp của Đạo), lập ra kinh điển, lập thể pháp....

    Đại Đạo có trách nhiệm lập nền văn minh mới cho nhân loại thì đương nhiên nó phải có đáp ứng được nhu cầu phát triễn của nhân loại theo đúng qui luật CUNG CẦU mới xứng đáng là nền Văn Minh do Đại Từ Phụ đến lập cho nhân loại./.

    &&&
    (CÒN TIẾP: MỘT NGHI VẤN VỀ 08 ĐẦU RỒNG Ở NGHINH PHONG ĐÀI?
    “08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài sơn màu gì?”)
    thay đổi nội dung bởi: trần văn chí, 15-03-2013 lúc 08:04 AM Lý do: sửa chữ xứng danh thành xứng đáng (ở câu chót).

  4. #24
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209
    NGHINH PHONG ĐÀI (tt)

    MỘT NGHI VẤN VỀ 08 ĐẦU RỒNG Ở NGHINH PHONG ĐÀI?
    “08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài sơn màu gì?”

    Nghi vấn về một vấn đề hay sự việc hiện đang lưu hành là điều rất dễ bị phản ứng dội ngược (dễ bị ném đá).
    Do vậy phải có chứng cứ rất rõ ràng và đủ mạnh để trình chánh.
    Trên đây chúng tôi đã trình rằng một phần trong thể pháp để ĐỊNH LÝ THỜI GIAN cho ĐĐTKPĐ đã bị phá bỏ (là căn nhà nhỏ đối diện với nhà gác còn lại ở cửa Hòa Viện.
    Tiếp đây là nghi vấn về 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài đã bị đổi màu sơn. Sự đổi màu nầy có thể làm giáo lý và thể pháp không phù hợp nhau.
    &&&

    Hiện nay 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài sơn màu xanh.
    Nhưng chúng tôi lại được biết là trước đó sơn màu đen.
    08 đầu rồng sơn đen màu nầy hẳn nhiên là từ thời Đức Hộ Pháp vừa xây dựng xong Tòa Thánh (và khánh thành Tòa Thánh 1955)....
    Vậy sự thay đổi màu sơn đen sang màu sơn xanh như hiện nay xãy ra sau khi Đức Hộ Pháp rời Tòa Thánh lên Nam Vang (1956).
    Nghĩa là trong những lần bảo quản sau đó các vị có trách nhiệm đã cho sơn màu đen lại thành màu xanh.

    .1- Những nhân chứng sống.
    Thập niên 90 của thế kỷ 20 nhà Nho Bùi Quang Hòa (Anh Tư Hòa- nhà ở cửa 02 Chợ Long Hoa; nay đã quá vãng) trong một lần gặp nhau ở bên cạnh Tòa Thánh tình cờ Anh Tư Hòa thốt lên: Tám đầu rồng ở Nghinh Phong Đài khi trước sơn màu đen nay chẳng hiểu sao lại sơn màu xanh?

    Tôi về hỏi lại phụ thân người cũng nhớ là sơn màu đen.

    Hỏi thêm người Cô cũng từng làm công quả khi trước Cô cũng nói là khi trước màu đen.
    Muốn hiểu cái lý vì sao sơn màu đen thiễn nghĩ phải đi tìm từ văn bút của Đức Hộ Pháp để lại.

    .2- Văn Bút của Đức Hộ Pháp có liên quan.
    Trích từ PCT chú giải và Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống.

    .2.1- PCT chú giải phần Hiệp Thiên Đài.
    Trời Đất có Âm Dương, vạn vật có thể phách, nhơn loại có xác hồn. Sự sống của vạn loại trong Càn Khôn Thế Giái chỉ nhờ có vật chất (La matière) và tinh thần (L'essence) tương hiệp mới thành hình, cả vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn, Thiên hồn đều khác đẳng cấp nhau, nên hình thể cũng biến sanh ra khác. Vật chất không giống thảo mộc, thảo mộc không giống thú cầm, thú cầm không giống người, người không giống Thần, Thần không giống Thánh, Thánh không giống Tiên, Tiên không giống Phật, Phật không giống Trời. Nói tóm một lời, hình thể tâm thần đều khác hẳn.
    Phần tiếp đây là từ CĐTLHS của Đức Hộ Pháp.
    &&&

    .2.2- BÀI 03. Tại Đền-Thánh, đêm 08-9- Mậu-Tý (10-10-1948).

    Ngồi trên cơ huyền-diệu-pháp tức là ngồi trên chiếc xe bí-mật của Chí-Tôn để đến một đài sáng suốt chiếu diệu. Đài ấy có tám góc kêu là Bát-Quái-Đài không thể gì chúng ta tả ra với lời nói đặng. Bởi đài ấy huyền-bí biến hóa vô cùng, nó có tám cửa, trong tám cửa chúng ta ngó thấy cả Vạn-Linh và Vật-Loại, các hình thể Vạn-Linh đều xuất hiện hình ảnh sáng suốt hiện ra hào quang chiếu diệu. Trong tám góc có tám cái cầu. Lạ thay, cầu ấy không phải bằng cây ván, mà nó là tám đạo hào-quang. Cầu ấy bắt ngang bờ. Dưới cầu ấy chúng ta ngó thấy dường như một Bích-Hải nước xao, sóng dợn như biển sôi nổi đó vậy. Trong tám góc chúng ta thấy đó, chắc cả thảy đều để ý nơi góc ta đến, thấy nhơn-loại đi tới đi lui nhiều hơn hết.
    Lạ thay, cầu ấy rất huyền-diệu, ai đứng đó được mới biết mình nhập vô Bát-Quái-Đài. Lúc để bước lên cầu, cầu ấy chuyển đi, làm cho chúng ta phải yếu, đi không đặng. Chúng ta muốn thối bộ. Khi chơn vừa bước tới chính mình ta ngó thấy dường như mình yếu đi nhưng người nào bước tới cũng đặng. Đi được nửa chừng nếu không đủ thiên-vị, hay vì tội tình oan gia nghiệt chướng chi mà chúng ta đã đào tạo nơi mặt thế này, chúng ta đi tới nữa cầu sẽ bị lọt xuống Bích-Hải. Lọt xuống đó rồi ta thấy hồi lúc đi, còn ở trên cầu, chúng ta thấy hình ảnh còn đẹp-đẽ tốt tươi, hễ lọt xuống Bích-Hải rồi chúng ta thấy hình thù đen thui dị hợm lắm, ta không thể tưởng-tượng,...

    &&&

    BÀI 4: Đền-Thánh, đêm 12 tháng 9 năm Mậu-Tý (14-10-1948).

    Vậy kiếm hiểu coi: Bát-Quái-Đài ấy là gì? Phải chăng là Tòa-Tam-Giáo của Đức Chí-Tôn, do Thánh-Ngôn để lại, chúng ta quan-sát coi trạng thái. Muốn đến Bát-Quái-Đài chúng ta phải qua ao Ô-Trì chúng ta thấy, Bát-Quái-Đài nó thù lù ở dưới trồi lên trước mặt chúng ta, chúng ta thấy hình nó giống như cây cột có tám cửa vậy. Cột đài ấy có tám cửa là Thất-Đầu-Xà, có bảy đầu trong tám cửa ngăn cản các chơn hồn không cho vào Bát-Quái-Đài duy chỉ chừa có cửa Phật mà thôi. Cả bảy cửa kia Quỉ giữ không cho ai qua lại, không có lực quyền nào đi ngang qua đặng, chúng ta dòm phía dưới thấy Đại-Hải mênh mông, nước cuồn-cuộn xanh như biếc, sóng dợn ba đào, mỗi làn sóng có đề chữ "Khổ". Chúng ta chia ra đi trên ấy, chúng ta thấy dợn hào-quang nổi lên dữ tợn lắm; mấy chữ lớn là: Sanh, Lão, Bệnh, Tử, làn sóng dợn lên rồi hạ xuống, mỗi làn đều có một chữ "Khổ", chúng ta thấy đau khổ trong buổi sanh, thấy làn sóng rồi chúng ta thấy khổ nhục, khổ dữ lắm, mỗi làn sóng đều thấy khổ, thử nghĩ Đại-Hải như thế nào thì khổ hải là cả nước của chúng ta như thế ấy.
    &&&

    BÀI 06: Đền-Thánh, đêm 26 tháng 9 năm Mậu-Tý (28-10-1948).

    Chúng ta dòm xuống mặt sông bờ bên nây giữa con đường khi chúng ta phải đi ngang qua đó dòm lại thấy Bát-Quái-Đài đứng giữa không trung.
    Con sông ấy có tám đạo hào-quang mù-mịt chiếu ra tám cửa, chúng ta dòm tiếp trong các hào-quang đều có tượng hình ảnh vạn-vật cả thảy.

    &&&

    BÀI 07. Tại Đền-Thánh, đêm 29- 9- Mậu-Tý (31-10-1948)

    Có một điều chúng ta để ý ngó lại tám cửa Bát-Quái-Đài xuất hiện ra tám hào-quang chiếu diệu rực-rỡ và xây tròn trong tám hạng sanh linh, đều có đủ tám cửa có Bát-Hồn hiện ra đủ hết: Vật-Chất, Thảo-Mộc, Thú-Cầm, Nhơn-Loại, Thần, Thánh, Tiên, Phật.(*1) Chúng ta thấy các Đẳng chơn-hồn ấy rải khắp trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, có điều đặc-sắc chúng ta để ý dòm coi người ta thế nào? Chúng ta ngó thấy các vật loại, nhứt là hạng bất động-vật cũng vẫn bình-tịnh trong đạo hào-quang ấy, xuất hiện ra mà không xao-xuyến dữ tợn, ra khỏi một phần ba đường, bề xa xuôi của nó chúng ta không thế gì đoán đặng, tỷ như ra khỏi cửa ấy ba bực, chơn-hồn ấy vẫn còn có thứ-tự, ra ngoài nữa thì lộn-xộn.
    &&&

    BÀI 08. Đền-Thánh, 05- 10- Mậu-Tý (05-11-1948)

    Bần-Đạo xin tỏa Đài Bát-Quái ấy nó huyền-vi bí-mật làm sao. Trong tám cửa xuất hiện ra 8 phẩm chơn-hồn, nó xây tròn như bánh xe, chúng ta thấy chẳng khác cây đèn pha nơi mé biển, hễ có xây thì thấy 8 đạo hào-quang chiếu diệu khắp cả Càn-Khôn Vũ-Trụ. Cái tôn nghiêm không thể tỏa, mặt Thiêng-Liêng huyền-bí vĩ-đại làm cho kinh khủng sợ-sệt, bởi hào-quang chiếu diệu ấy nó lẫn lộn trong khối sanh-quang. Cái hình-trạng các chơn-thần như chúng ta thấy ở mặt thế-gian này vậy. Dầu thú-cầm, nhơn-loại, thảo-mộc, chơn-thần hình tượng nó vẫn tốt đẹp như thường, không phải như xác thịt thú-chất chúng ta vậy. Hễ 8 đạo hào-quang ấy soi tới đâu thì 8 phẩm chơn-thần đều cuồn-cuộn chiếu diệu ra, lớp thì đi, lớp thì về, lớp vô, lớp ra, muôn trùng vạn điệp không thể gì tưởng-tượng được.
    &&&
    Qua các trích văn trên đây chúng ta có thể đúc kết:
    Thiên hồn sanh ra bát hồn.
    Bát hồn sanh ra từ Bát Quái Đài.

    Mổi phẩm đi ra từ một cửa của Bát Quái Đài (thể pháp tượng trưng bằng 08 con rồng màu trắng từ Bát Quái Đài chạy ra). Rồng trắng chạy ra ngay tiếp điểm các quẻ “không chạy ngay các quẻ”)

    Khi đi ra từ Bát Quái Đài (xuất từ Đại Linh Quang) nên phẩm nào cũng sáng lạng, trong trắng như 08 đạo hào quang. Nên 08 rồng xuất từ Bát Quái Đài có màu trắng.

    Lưu ý rằng 08 con rồng chạy từ Bát Quái Đài ra không phải là rồng quấn quanh cột ở Bát Quái Đài. Rồng ở cột Bát Quái Đài có màu vàng và chân cột cũng có tàng ong kết cấu khác nhau tượng cho bát phẩm chơn hồn từ đơn giản đến tinh vi. Vị trí các cây cột cũng khác nhau trên nền Bát Quái Đài.

    Cột rồng ở Cửu Trùng Đài có màu xanh.

    [[[Theo quan sát của chúng tôi thì Kim Mao Hẩu ở phần Bát Quái Đài nơi Tòa Thánh bộ phân sinh dục không rõ ràng “chưa phân phái tính” nhưng Kim Mao Hẩu ở Cửu Trùng Đài đã có sự phân biệt phái tính]]].

    Bát phẩm chơn hồn khi còn mang xác phàm thì đều tìm cách về nơi đã sản sinh ra mình là Bát Quái Đài.
    &&&

    Đi được nửa chừng nếu không đủ thiên-vị, hay vì tội tình oan gia nghiệt chướng chi mà chúng ta đã đào tạo nơi mặt thế này, chúng ta đi tới nữa cầu sẽ bị lọt xuống Bích-Hải. Lọt xuống đó rồi ta thấy hồi lúc đi, còn ở trên cầu, chúng ta thấy hình ảnh còn đẹp-đẽ tốt tươi, hễ lọt xuống Bích-Hải rồi chúng ta thấy hình thù đen thui dị hợm lắm, ta không thể tưởng-tượng,... (Bài 3).

    Muốn đến Bát-Quái-Đài chúng ta phải qua ao Ô-Trì chúng ta thấy, Bát-Quái-Đài nó thù lù ở dưới trồi lên trước mặt chúng ta, chúng ta thấy hình nó giống như cây cột có tám cửa vậy.. (Bài 4).
    &&&

    Đoạn trích trên đã xác định rõ khi lọt xuống Bích Hải thì hình thù đen thui dị hợm....
    Nhưng căn cứ nào để hiểu 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài là còn đang ở nơi Bích Hải?
    Quan sát thể pháp qua kiến trúc có hình rồng ở Đền Thánh ta thấy Rồng bố trí ở trước Đền Thánh, ở Bao Lơn Đài, ở Cửu Trùng Đài, ở Bát Quái Đài (kể cả rồng vẽ trên plafont Cửu Trùng Đài) đều có đủ đầu và đuôi) chỉ riêng 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài là chỉ có đầu mà không có đuôi.
    Vì sao chỉ có đầu mà không đuôi?
    Phải chăng còn đang ở nơi Bích Hải nên chỉ thấy được phần đầu nhô lên?
    Chữ nữa chừng là một cách nói của người Nam Bộ cho biết sự việc chưa đến nơi đến chốn. Trong trường hợp nầy ta thấy Cửu Trùng Đài có 09 bậc mà Nghinh Phong Đài bố trí tương ứng với bậc thứ 05 là đúng y với chữ nữa chừng trong số 09 bậc.

    Kinh dịch quẻ Càn viết: Kiến quần long vô thủ (cát) nghĩa là thấy bầy rồng không có đầu Tốt.

    Nhưng Nghinh Phong Đài chỉ bố trí 08 đầu rồng mà không thấy các phần khác. Cửu Trùng Đài có 09 rồng mà Nghinh Phong Đài chỉ có 08 đầu rồng nghĩa là thiếu; thiếu thiên vị hay do tội tình nên bị lọt xuống Bích Hải.

    Phần Cửu Trùng Đài trong nội điện mổi bên có 09 cột rồng theo thứ tự liền lạc như hết nhịp nầy đến nhịp kia của cây cầu nên có màu xanh (tượng cho trí tuệ) đẹp đẽ. Cột rồng trong nội điện tượng cho Cửu Phẩm Thần Tiên trong thiên triều của Đức Chí Tôn tại thế (cầm số mạng nhơn sanh).

    Hai bên cộng lại là 18 cột rồng.
    Số 18 ứng vào quẻ Thiên Địa Bĩ. (1: Càn, 8: Khôn).
    Đão thành 81 thành ra Địa Thiên Thái.
    Số 18 cũng ứng với thể pháp về 03 bài Thánh Ngôn nơi Cung Đạo (đều dừng ở chữ thứ 18).
    08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài tượng cho Bát Phẩm chơn hồn còn đang ở Bích Hải nên hình thù đen thui dị hợm.

    2.3- Liên hệ đến Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

    Bài Kinh Đệ Lục Cửu từ câu 09-12:
    Mùi ngào ngạt thơm luôn Thánh Thể,
    Trừ tiêu tàn ô uế sinh quang.
    Tiêu thiều trổi tiếng nhặc khoan,
    Đưa linh thẳng đến niết bàn mới thôi.

    Đến cửu 06 (cấp 6) mới trừ hết những ô uế trong kiếp sinh.

    Như vậy đoạn kinh trích dẫn trên ứng hợp với 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài ở cấp thứ 5 còn ô uế nên có màu đen.
    08 đầu rồng trong thể pháp qua kiến trúc đứng vào từng thứ 05 của Cửu Trùng Đài.
    Hết cấp thứ 05 sang cấp 06 có 02 giảng đài (là nơi để thuyết pháp).

    Ngay bên dưới Nghinh Phong Đài trong nội điện là Địa Tịch Đài.
    Địa Tịch Đài có lót 24 viên gạch màu đen (ứng với 24 chuyến đò bát nhã đưa nguyên nhân nhập thế; ứng với phần Thế Luật trong Tân Luật có 24 điều; ứng với 24 giờ).

    Địa Tịch Đài có lót gạch màu đen thì đây là một chi tiết phù hợp nữa để hiểu rằng 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài có màu đen.

    Trên đây là nhân chứng sống; văn bút của Đức Hộ Pháp; Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo; liên hệ với Địa Tịch Đài để trình ra cái lý vì sao 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài sơn màu đen mới có sự phù hợp giữa giáo lý với thể pháp. (2).

    Nhưng chúng tôi tin rằng ngần ấy chưa đủ để có câu trả lời thuyết phục.
    Muốn giải quyết dứt khoát phải kết hợp: Giáo lý và khoa học.

    3- Đáp án rõ ràng.

    Chánh giáo của ĐĐTKPĐ là Đạo lập quyền cho nhơn loại.
    Mọi nghi vấn có chứng cứ thì đều có quyền đệ trình theo trình tự của 03 Hội Lập Quyền Vạn Linh.
    Muốn giải quyết dứt khoát 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài sơn màu đen hay xanh là đúng với giáo lý (Đức Hộ Pháp bố trí màu sơn; có sự chỉ dẩn thiêng Liêng) thì còn phải nhờ vào phương pháp soi của khoa học.

    Khoa học kỷ thuật ngày nay có thể đưa ra câu trả lời chính xác rằng 08 đầu rồng ở Nghinh Phong Đài đã trãi qua bao nhiêu lần sơn.

    Lúc đầu sơn màu gì và các lần sau đó màu gì?

    Sự tham gia của khoa học phải công khai để mọi người kiểm soát rằng nó diễn ra trong vô tư.
    Chỉ có cách đó mới giải quyết rõ ràng còn không như thế thì môn đệ của Đức Chí Tôn có quyền nghi vấn rằng người sau đã làm sai lạc ý nghĩa của thể pháp mà Đức Hộ Pháp bố trí nơi Nghinh Phong Đài./.
    &&&

    (CÒN TIẾP: số (1)- phần chú thích về Long Hoa Thị; và số 2..

  5. #25
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209
    Chú thích:
    (1): LỜI THUYẾT ĐẠO Q3:
    BAN PHÉP LÀNH VÀ TRẤN THẦN CHỢ LONG HOA.

    Long Hoa Thị, 5- 6- Tân Mão (1951)

    Cái cơ chuyển thế đã đến ngày lập hiệp nhứt Đạo Giáo, khiến toàn thể con cái Đức Chí Tôn lo quay về... càng ngày nhơn sanh qui tụ càng đông, vì thế nguồn sanh sống càng bị bóp nghẹt, nên Bần Đạo cho lập gấp cái chợ nầy để tạo lại một nguồn sanh sống dễ dàng cho nhơn sanh.
    Ngày giờ nầy, tuy là nhìn thấy cái chợ thô sơ, nhưng rồi đây nó sẽ bành trướng rộng rãi hơn, long trọng hơn mà chắc chắn con cái Đức Chí Tôn không bao giờ ngờ như thế, nhưng Bần Đạo dám quả quyết nó phải có và nhứt định có, vì cái chợ chuyển thế và huyền diệu Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn đã định vậy.

    &&&

    1a- Ông Phan Tấn Sĩ xin đất cất Phan Phủ Từ Đức Hộ Pháp có lời phê:
    &&&
    Phan Tấn Sỉ cầu xin phần đất mở Phan Phủ Từ.
    LỜI PHÊ ĐỨC HỘ PHÁP:
    Chợ Long Hoa và Châu Thành của Chợ nầy sau kia sẽ lan rộng ra cho tới Bến Kéo mà đất nầy lại ngay hàng thẳng lối mở rộng của nó. Vậy nên tìm nơi khác cho an vững phủ thờ buổi mai, hầu khỏi bị dời dạt.
    HỘ PHÁP
    (Ấn Ký).

    Theo chổ biết của chúng tôi thì có Chợ Long Hoa củ và mới.
    Chợ Long Hoa củ nằm về phía gần Báo Quốc Từ; sau mới dời đến vị trí sau nầy....
    &&&

    1b- Ngày khởi công chợ Long Hoa mới ...
    Long Hoa thị hay chợ Long Hoa được khởi công đào móng nền chợ ngày 12–11–Nhâm Thìn (1952). Cũng trong dịp nầy, Đức Hộ Pháp dẫn khách đến xem địa cuộc Long Hoa Thị, gồm có:
    Bác Vật Lưu Văn Lang.
    (Ông Lưu Văn Lang “1880 - 1969” là Việt Nam đầu tiên- và cả Đông Dương- tốt nghiệp kỹ sư ở Pháp. Ông là một nhà trí thức nổi tiếng ở miền Nam nửa đầu thế kỷ 20).
    Ngài Trần Khai Pháp, Cao Tiếp Đạo,
    Ông Thừa Sử Phan Hữu Phước, Ông Chơn Nhơn Trịnh Phong Cương, Ông Trưởng Tộc Phạm Môn Phạm Văn Út, Ông Tổng Giám Võ Văn Khuê Ban Kiến Trúc, Trần Phong Lưu Ban Nhiếp Ảnh.

    Đức Hộ Pháp nói:
    “Bần Đạo dời chợ cũ lại chỗ nầy để cất Long Hoa Thị, nhờ Bác học xem địa cuộc sanh khí thế nào?”

    Bác Vật Lưu Văn Lang nói:
    “Ngài định chỗ thật tốt, có lẽ Ngài biết trước nên mới định trúng ngay mạch nước “bát long dẫn thủy” lại có “tứ hổ phục triều”, địa thế có nhiều nguồn sanh khí, sau nầy Long Hoa Thị sung túc trở nên một kỳ quan ở đất Thánh, nếu giữa nhà lòng chợ được lấy nước fontain thì đủ xài vì mạch nước lớn và tốt”.

    Đức Hộ Pháp nói;
    “Nếu có Bát Long dẫn thủy thì mở thêm tám con lộ Bát Quái, còn trong nhà lòng xây một bồn nước thật cao, lấy nước giếng giữa chợ cho các tiệm phố đủ xài. Nhà lòng định cất bốn cánh, có 2 tầng lầu, tầng dưới cho bán thực phẩm, tầng trên cho bán đồ mỹ trang, hàng len, vải bô, các món chơi tiêu khiển…
    Trên bồn nước giữa chợ cất một nhà nóc bằng để cho Thánh vệ ở, luân phiên gìn giữ chợ, ăn ở luôn trên nhà gát. Còn bốn phía chợ đúc cột làm hàng rào bằng sắt bông thật đẹp, để trống cho bốn bên trông vào chợ thấy thong dong mát mẻ, mỗi phía rào có một cổng, bốn mặt y nhau.
    Mỗi cửa đề chữ theo mỗi hướng như: Đông Môn, Tây Môn, Nam Môn, Bắc Môn. Đừng để mấy quán cốc um tùm che lắp vẻ đẹp cái chợ. Còn các xép theo góc Bát Quái nữa, cho Ban Kiến trúc cũng đúc cột lên mấy từng làm như phố vậy để làm nhà hàng hoặc bán các loại máy móc, radio, từng dưới chừa 2 thước tây vuông để làm Trạm y tế cứu thương hoặc bệnh hoạn sẵn có thuốc…”

    &&&

    1c- Do có người xin giải rõ nên Đức Hộ Pháp có giảng thêm:
    Đức Ngài nói: “Thầy nói đến đó, Thầy không nói nữa là ý Thầy muốn để cho nhơn sanh, con cái Đức Chí Tôn tìm mà hiểu biết, rồi đây theo ý muốn của nhơn sanh, con cái Đức Chí Tôn muốn cái gì thì nó biến ra cái nấy.
    Nhơn sanh còn tồn tại hay là phải đi đến chỗ diệt vong là cũng do theo ý của nhơn sanh; chứ chính nó là cái BÁT QUÁI ĐỒ THIÊN của Thầy tạo lập.
    Nếu lập không rồi thì Bát Quái không thành, mà không đặng thành thì cơ tận diệt của nhơn sanh không bao giờ tránh đặng. Vì cái chánh, cái tà với sự sanh tồn hay cơ tận diệt nó cũng động ở trong tâm của nhơn sanh cả, rồi nó biến chuyển ra.
    Long Hoa Thị biến chuyển, muốn chánh thì nó chánh, muốn tà thì nó tà, muốn tận diệt thì nó cũng đi đến tận diệt, muốn sanh tồn thì nó cũng đem lại sự sanh tồn. Bởi vậy sự muốn ấy là do nhơn sanh muốn tạo.
    Còn sự biến chuyển thì quan sát Long Hoa Thị biến chuyển ra sao các con sẽ biết trước.
    Thôi việc Thiên Cơ không nói nữa, các con tìm hiểu.”


    &&&
    Chúng tôi không cho rằng có sự nhầm lẫn nên Đức Hộ Pháp di dời đến vị trí mới.
    Mà việc nầy thể hiện rằng Hội Long Hoa của Nhứt Kỳ và Nhị kỳ đã có và đã qua.
    Nay đến Hội Long Hoa của Tam Kỳ.
    Cũng tương tợ như khi Đức Ngài cho đào hầm Bát Quái trước Đền Thánh rồi sau cho lấp lại....
    Nhiều người cho là đào lầm nhưng theo chổ hiểu của chúng tôi đó là lập Bát Quái Đài vô vi trước khi lập Bát Quái Đài hữu hình.
    &&&

    (2): Tác giả Thanh Minh trong quyển Châu Thành Thánh Địa khi đề cập đến Nghinh Phong Đài ông viết:

    Tám rồng đen bị dằn dưới trái đất (địa cầu).
    Nhờ thời kỳ ân xá mới có tám Rồng Đen ló đầu lên, vì trước kia chỉ có một Rồng Đen quậy làm cho Châu Ắt–lăng–tíc (Atlantis) chìm sâu xuống Đại Tây Dương. (Nhiệm vụ Hắc Long là thủ Thiên Cung, mưa phun nước, nắng ngậm lại, tuân luật Thiên Đình nghinh tiếp các Chơn Hồn qui Thiên. (Bên trên là Nghinh Phong Đài, dưới là Địa Tịch Đài).
    &&&
    Chúng tôi trích dẫn phần có liên quan đến màu sơn 08 đầu rồng còn những phần khác chúng tôi không rõ...

    + Cái hiểu của chúng tôi về Nghinh Phong Đài cũng khác với hiền huynh Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng trong Cao Đài Từ Điển:
    (Nghinh Phong Đài là cái Đài để đón rước các chức sắc vào hàng Thánh.
    Chúng ta lưu ý rằng Nghinh Phong Đài ở đây không có nghĩa là cái Đài để hứng gió bởi vì ở dưới đài nầy là cấp dành cho phẩm Giáo Hữu nơi Cửu Trùng Đài....)

    &&&
    Cả 03 văn bút của hiền huynh Hiền Tài, Tác giả Thanh Minh và Văn Chí đều chưa qua sự kiểm duyệt của Hội Thánh ĐĐTKPĐ nên sự khác nhau cũng là điều bình thường trong sinh hoạt tôn giáo.
    Khác nhau chưa hẳn là để triệt tiêu nhau mà là cung cấp những góc nhìn khác nhau và lắm khi để bổ túc nhau mà thôi ./.
    thay đổi nội dung bởi: trần văn chí, 17-04-2013 lúc 07:40 AM Lý do: NÂNG TÍNH THẨM MỸ....và thêm câu: mà là cung cấp những góc nhìn khác nhau và lắm khi để bổ túc nhau mà thôi

  6. #26
    Tham gia ngày
    Feb 2013
    Bài viết
    95
    NguyenVanUt's Avatar
    "Cả 03 văn bút của hiền huynh Hiền Tài, Tác giả Thanh Minh và Văn Chí đều chưa qua sự kiểm duyệt của Hội Thánh ĐĐTKPĐ nên sự khác nhau cũng là điều bình thường trong sinh hoạt tôn giáo".

    Kinh sách vẫn do nơi các Ngài rõ thông đạo-lý soạn ra, song các bực ấy vốn cũng người phàm như mình (1) nên cũng có chỗ sai lầm sơ sót; vì vậy mà kinh sách tự nơi mấy vị ấy soạn ra cũng có chỗ khuyết điểm sai lầm. Vả lại kinh sách làm ra phải hạp thời tùy thế. Có nhiều quyển kinh xưa sách cũ đối với đời trước thì rất hạp thời, mà đối với đời nay lại có lắm điều không hạp. (Tác-giả không trưng bằng cớ ra đây là không muốn kích bác đến kinh sách nào cả).
    Vậy nên, muốn đọc kinh sách nào cho được bổ ích, là cần biết suy nghĩ nghiên-cứu, khoản nào chánh lý để lòng, đoạn nào mơ-hồ chớ nên tin vội, chỗ nào hạp theo thời thế thì nghe, khoản nào nghịch với tôn-chỉ mình thời bỏ. Chẳng nên quá tin nơi kinh sách, chớ nên tưởng rằng kinh sách của Thánh-Hiền làm ra cả thảy, nên dạy sao phải nghe nấy; đọc sách như vậy thì nguy hiểm đó. Kinh sách có chỗ đáng tin mà có chỗ cũng không nên tin vậy; nếu tin hết thì phải lầm lạc; đọc kinh sách mà không biết phân biệt điều nào hữu lý, điều nào phi lý, đọc kinh sách mà trí-thức không biết mở-mang, tư-tưởng không biết dò lượng thành ra đã tổn công vô ích lại còn làm nô-lệ cho kinh sách nữa; như vậy thà là đừng đọc là hơn. Sách có câu: "Tận tín thơ bất như vô thơ". Nghĩa là : "Tin hết sách chẳng bằng đọc được sách".
    Thuở nay nhiều người quá tin nơi kinh sách điển xưa, cứ nhắm mắt tin theo từng chữ, nghe từng câu, rồi hiểu sái, tin lầm, khổ tâm luyện Đạo. Than ôi! Đã không ấn-chứng, thì chớ lại còn hại đến tinh-thần là khác. Ấy vậy, xem kinh sách để rõ thông đạo-lý thì nên, chớ do theo đó mà luyện Đạo thì nguy lắm, vì hễ hiểu lầm một mảy thì cũng đủ hại cho châu thân.
    Muốn luyện Đạo cho ấn-chứng, trước hết ta cần phải tu âm-chất và lập công bồi đức cho đủ đầy; đến khi công viên quả mãn rồi, một câu tâm-pháp chơn-truyền của Thầy ta là Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế cũng đủ cho ta hiểu Đạo. Vả lại Đức Thượng-Đế có dạy rằng: "Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh chẳng khác chi đũa ăn cơm. Chẳng có nó kẻ ăn cơm bốc tay cũng ăn đặng". Ý Đấng Chí-Tôn muốn nói như vầy: "Kinh điển tỉ như đủa, luyện Đạo tỉ như ăn cơm. Người đủ âm-chất, đạo-đức mà rõ thông kinh điển, thì luyện Đạo rất giản tiện, tỷ như người ăn cơm có đũa vậy. Còn người có đủ âm-chất, đạo-đức mà không rõ thông kinh điển đi nữa bất quá luyện Đạo khó một chút vậy thôi, thế nào luyện cũng thành đặng, tỷ như kẻ ăn cơm, dầu không đũa, bốc ăn cũng xong vậy".
    Tóm lại, vào cửa Đạo rồi bất kỳ kinh xưa sách nay, thảy đều nên xem cho biết, song cần phải xét suy chiêm nghiệm, phân biệt giả chơn thì đọc mới là bổ ích ./.

    ***Trích trong quyển phương châm hành đạo của Đức Quyền Giáo Tông (Thượng Trung Nhựt)***
    Tín đồ trung kiên quyết ngăn ngừa t. qu... h.. Đ..

  7. #27
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209

    TRẢ LỜI HIỀN DONGTAM.

    Văn Chí viết bài thì căn cứ vào chánh giáo.
    Các phần hiền hỏi Văn Chí có đầy đủ nhưng .... Văn Chí tự giới hạn. Việc KHÔNG THỂ CUNG CẤP ĐẦY ĐỦ thông tin cho hiền được theo ý Văn Chí muốn là điều rất ái ngại.

    Xin hiền vui lòng tìm đọc:
    + Bài thuyết đạo của Đức Hộ Pháp ngày 16-08- Ất Mùi (1955).
    + Bài VỀ BÁO QUỐC TỪ của Đức Cao Thượng Sanh ngày 20-10- Bính Ngọ (01-12-1966).
    + Bài của Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước cùng ngày nói trên.

    Mong hiền thông cảm vì Văn Chí đã để đến xong bài viết mới trả lời và khi trả lời chính Văn Chí cũng thấy chưa hài lòng.... nhưng không thể làm chi khác dù có văn bản trong máy tính.
    (Nếu Hiền tìm không thấy thì vui lòng cho email Văn Chí sẽ rất vui mà gởi đầy đủ cho hiền).
    Kính.
    &&&&

Trang 3/3
1 2 3

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Một Bài Thánh Giáo Rất Ngộ Nghĩnh
    Bởi Thuy Binh trong mục Câu chuyện lý thú Đại Đạo
    Replies: 5
    Có Bài Mới: 21-10-2008, 02:11 AM