851. Người thành đạo cho đời ân phước
852. Phúc lành thay vững bước tiến tu
853. Ngàn năm có mấy người tu
854. Đạt thành chánh quả công phu viên thành
855. Gộp những thứ tinh anh Tam giáo
856. Ẩn hiện trong phước báo Việt Nam
857. Xây nên công nghiệp kỳ tam
858. Quy nguyên phục nhất để làm pháp tu
859. Nhớ một bậc công phu thuổ trước
860. Từng tạo nhân tác phước tiền duyên
861. Xứng danh nổi tiếng người hiền
862. Họ Ngô đặt trước Chiêu điền phía sau
863. Vốn là vị vào hàng vọng tộc
864. Lên tới danh đốc phủ Văn Chiêu
865. Trong thư tịch cũ còn nêu
866. Thanh liêm chánh trực là điều thường mang
867. Ông vốn đứng vào hàng quốc sĩ
868. Thích ngao du phỉ chí bình sinh
869. Lại thêm được tiếng công bình
870. Thích Nho trọng Đạo quang minh chính người
871. Duyên với Đạo phần mười đã rõ
872. Nhóm thi văn bày tỏ lòng thành
873. Nguyện rằng trong kiếp bình sanh
874. Noi theo Nhân Nghĩa tinh anh gieo trồng
875. Tình bác ái hoà đồng nhân thế
876. Lấy chính Nhân làm kế sinh tồn
877. Lời xưa còn mãi xa đồn
878. Hiếu đạo giữ trọng tiếng thơm muôn đời
879. Có một dịp dùng lời dạy đạo
880. Để xem ra những hảo tâm nhơn
881. Như tình ứng với cao sơn
882. Tri âm ứng với tiếng đờn Bá Nha
883. Cao Đài bảo sửa ra cho đúng
884. Tiên Ông kêu xắp xứng vần thi
885. Đức Chiêu ứng đáp tức thì
886. Bửu chơn ngũ khí mới ghi thành hàng
887. Tâm đứng trước mới an nhân thế
888. Ngũ khí thanh mới bế ngũ quan
889. Giúp người thần định tâm an
890. Thân tâm thanh nhẹ là hàng thần tiên.
891. Có những việc hiện tiền tại thế
892. Ngẫm cho ra lý để làm duyên
893. Như khi tùng sự Hà Tiên
894. Có nàng tiên nữ Kim Liên khuyên rằng
895. Tiếng Nhạn kêu văng vẳng giữa trời thu
896. Nhìn xa theo bóng mịt mù lắm thay
897. Dựng nên công nghiệp thường ngày
898. Trượng phu giữ vững đổi thay chẳng màng
899. Những khúc uẩn đã mang vào dạ
900. Những tâm tình chẳng xá tư riêng
901. Tiên Ông đến độ người hiền
902. Trường chay tịnh dục gieo duyên cho đời
903. Trọn tam niên là lời khuyên nhủ
904. Những nguyện mong ấp ủ trong tâm
905. Trọng tình là giữ phương châm
906. Thực hiện nguyện tín chẳng nhầm pháp tu
907. Sau những thời công phu như thế
908. Ấn chứng lành được kể ra đây
909. Bữa kia trong lúc thường ngày
910. Ngài Chiêu thấy được sự hay diệu kỳ
911. Thượng Đế đến là vì nhân thế
912. Hãy thành tâm để dạ kỉnh thờ
913. Từ khi Đạo mở ban sơ
914. Biết trọng Đạo lý là thờ tổ tông
915. Từ khi có Tiên Ông xuống thế
916. Gieo nhân duyên cũng để độ nhân
917. Phúc thay những bậc nguyên nhân
918. Quy tông chánh thể giải phần quả căn
919. Trong sách Đạo nói rằng như thế
920. Bát Bửu nang là thể giữ gìn
921. Giữ gìn như là bảo kinh
922. Mới trọn chữ nghĩa chữ tình mẫu thân
923. Từ xưa những nguyên nhân nhập thế
924. Giúp nhân gian biết để làm lành
925. Thế gian nhiều sự gian manh
926. Cuốn bay hết những tinh anh thuổ nào
927. Khiến các vị làm sao trở lại
928. Làm sao về ngôi vị ngày xưa
929. Biết bao công sức cho vừa
930. Hai kỳ giáo đạo mới đưa về trời
931. Một số vị ở nơi trần thế
932. Nương theo duyên biết để chuyển căn
933. Giữ gìn đạo nhựt thường hành
934. Bửu nang trở lại tinh anh thuổ nào
935. Hiếu là chữ người nào cũng trọng
936. Để truyền trao nguồn sống hậu nhân
937. Trung tín là giữ được phần
938. Đền ơn đáp nghĩa công ân Sơn Hà
939. Lễ từ Nghĩa mới ra chân tướng
940. Liêm sẽ giúp định hướng chuyển căn
941. Người nào mà biết ăn năn
942. Giữ được Liêm Sĩ đức Nhân hình thành
943. Những điển tích tinh anh Đạo lý
944. CHuyển tải những thiên lý thiên cơ
945. Thế gian từ trước đến giờ
946. Mấy lần gặp đạo phất cờ tuyệt sinh
947. Cũng vì lẽ sự tình như thế
948. Giúp người sau biết để kỉnh thờ
949. Đạo trời qua những vần thơ
950. Diễn giải Thiên Nhãn được thờ như sau
951. Lưỡng thị chủ tâm vào trước nhất
952. Lưỡng quang chủ tể khuất ẩn sau
953. Tâm thanh là chỗ nhiệm màu
954. Thị thần mới biết mau mau phụng hành
955. Thần thị Thiên tinh anh trao gởi
956. Nói Thiên giả là bởi thánh linh
957. Nương theo phật tánh là mình
958. Ngã giả vốn đã quang minh rạng ngời
959. Đạo lý ấy đời đời nương tựa
960. Người căn duyên theo cửa tu hành
961. Tận lực trong một kiếp sanh
962. Có thể thâu nhận tinh anh đạo trời
963. Giữ nghiệp lành ở nơi cửa đạo
964. Chuyển nghiệp căn phước báo bao đời
965. Giữ lòng thanh tịnh ở nơi
966. Thường xuyên tụng niệm những lời tâm kinh
967. Biết tạo phước giữ gìn luân lý
968. Phát nguyện tâm quyết chí tu hành
969. Giữ lòng tịnh tịnh thanh thanh
970. Mặc trò diễn tiến lộn quanh thăng trầm
971. Điều phục một cái tâm luôn giữ
972. Vô ngại tâm là chữ khắc ghi
973. Người tu ở tuổi xuân thì
974. Một lòng phụng sự thực thi đạo hành
975. Gom tụ những tinh anh trao gởi
976. Chuyển giao chân lý đến nhà tu
977. Dù rằng trong lúc âm u
978. Đạo nhà chưa sáng công phu gieo trồng
979. Người và Phật cùng đồng tự tánh
980. Nhân và Thiên cùng sánh tánh không
981. Giờ nầy Thầy điểm thâm công,
982. Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên.
983. Những sự thật tại tiền như thế
984. Hiện về sau là để chứng minh
985. Người đời trong kiếp bình sinh
986. Phải biết nguyện lực quên mình độ tha
987. Nhìn bên trong để ra chân tướng
988. Hướng ra ngoài mới biết đường tu
989. Đành rằng qua lớp áo tu
990. Còn nhiều luận giải công phu chứng thành
991. Lòng thanh tịnh mới sanh huệ trí
992. Nguyện mãnh lực phụng chỉ thánh nhân
993. Đạo luyện khắc kỷ phục thân,
994. Chiêu con khá giữ, Thầy phân cạn lời.
995. Một lời nhắn là lời chỉ dẫn
996. Vạn sự hành cũng vẫn mang theo
997. Khi thuyền gặp bến thả neo
998. Như cây trổ trái như bèo nỡ hoa
999. Chuyển Đạo lý thật là phúc hạnh
1000. Dời thế nhân để hành chánh công
1001. Hiệp chung những thứ cộng đồng
1002. Mở cơ lập Đạo Tiên Ông cho bài
1003. CHIÊU KỲ TRUNG HOÀI sanh độ dẫn ,
1004. Nhơn BẢN khai SANG, GIẢNG, QUÍ, thành.
1005. Ngày sau chuyển thể hoá sanh
1006. HẬU CƯ TẮC ĐỨC Thiên thành cảnh minh,
1007. Huờn Minh vốn ân tình luôn giữ
1008. Thuận Đạo thiên là giữ chánh tông
1009. Thuận theo nhân thế hoà đồng
1010. Mân đài nắm giữ thể không danh thành.
1011. Gộp lại những chứng thành trao gởi
1012. Ngôi Giáo Tông định bởi Chí Tôn
1013. Xưa nay trong cả càn khôn
1014. Ngôi vị Nhứt Phật suy tôn thánh hiền
1015. Ở ngôi vị chí hiền chí thánh
1016. Giữ được câu tiết liệt chí trung
1017. Thiên nhân mới có phận tùng
1018. Dẵn dắt cơ đạo vững cùng thời gian.
1019. Ngài Chiêu ứng vào hàng Phật vị
1020. Ứng với ngôi Nhứt vị Giáo Tông
1021. Quyền năng trên khắp hư không
1022. Chánh tà thiên giới cũng đồng thuận theo
1023. Qua khảo sự để nêu danh tiết
1024. Đức Chí Tôn cho biết về sau
1025. Vì chưa vững chí định vào
1026. Quay về tự giác ứng vào Tam Thanh.
1027. Mở đàn cơ lập thành Minh Chiếu
1028. Độ những người có khiếu tu đơn
1029. Một lòng giữ vững keo sơn
1030. Theo đường khổ hạnh để hơn muôn người
1031. Mong thực hiện phần mười công đức
1032. Đạt cho thành một bực chân tu
1033. Thành tâm nỗ lực công phu
1034. Trường chay tiệt dục mới bù chí chơn
1035. Chỗ vô vi là đường giải thoát
1036. Pháp đại thừa cùng khoác mang theo
1037. Thông qua bửu pháp xin keo
1038. Dùng cơ nhập thánh thả neo xác phàm
1039. Qua công phu được làm như thế
1040. Những truyền trao vốn để độ nhân
1041. Phổ độ chính yếu là phần
1042. Công trình công quả thêm phần công phu
1043. Tam lập chính là tu công chánh
1044. Độ nhơn sinh xa lánh phàm tâm
1045. Công phu vốn chỉ là phần
1046. Tự thân giác ngộ quả nhân luân hồi
1047. Nhân quả ấy gieo rồi lại mất
1048. Muốn chứng đắc một bậc thánh nhân
1049. Công phu vốn chỉ là phần
1050. Tự thân độc kỷ chuyển phần nhân duyên
1051. Duyên đến chỗ tại tiền chuyển đổi
1052. Không diệt sanh tiếp nối phụng sanh
1053. Hết lòng phục vụ nhơn sanh
1054. Chuyển mê về giác để thành chánh công
1055. Chuyển luân tiếp cộng đồng trao gởi
1056. Đức từ bi được khởi tại tâm
1057. Công bình nối tiếp với phần
1058. Bác ái là chữ chính nhân phụng hành
1059. Những chữ ấy hình thành triết lý
1060. Bậc nguyên nhân biết để giữ gìn
1061. Làm sao trong kiếp lai sinh
1062. Thực hiện trọn nghĩa trọn tình thuỷ chung
1063. Công đức ấy sánh cùng trời đất
1064. Hình thành nên những bậc chân tu
1065. Đạo hành là gốc phương tu
1066. Thánh nhân ngộ đắc cũng từ đây ra
1067. Từ Thế giới ta bà hành xử
1068. Vượt qua bao tầm tứ độ nhân
1069. Hết tầm hết tứ là phần
1070. Chứng nhập đạo hạnh muôn phần lớn lao
1071. Vượt qua hết ngăn rào che chở
1072. Tứ lượng tâm phụng sự nhơn sanh
1073. Như quả trái chín trên cành
1074. Giúp người tâm đạo được sanh về trời
1075. Có những thứ dùng lời diễn tả
1076. Thức trong tâm cũng đã thành câu
1077. Muốn vào được chỗ nông sâu
1078. Vượt qua vô ngại đứng đầu phần muôn
1079. Điều chân lý vốn luôn như thế
1080. Không sửa canh mới để chân nguyên
1081. Chân nguyên từ lúc khởi truyền
1082. Thuận theo phàm tục lý nguyên mất dần
1083. Nguyên lý ấy đôi phần chỉ rõ
1084. Tính bổn thiện sáng tỏ trong tâm
1085. Xét suy cho khỏi bị lầm
1086. Chi sơ nhân loại nguyệt tâm sáng ngời
1087. Phụng sự giúp người đời là phận
1088. Bậc nguyên căn chứng nhận từ lâu
1089. Làm người nên biết đi đầu
1090. Hành theo chơn pháp ngõ hầu siêu thăng
1091. Những thánh ngôn khuyên răn con trẻ
1092. Những chi phái bày lẽ chỉ ra
1093. Bửu toà có trổ thêm Hoa
1094. Phân ra mấy nhánh một nhà sau chung
1095. Chung tay góp hợp cùng hoà hiệp
1096. Người trước rồi nối tiếp người sau
1097. Vun bồi đạo đức cho mau
1098. Bền lòng son sắc sẽ mau về Thầy
1099. Khi Thầy đến tại đây nói rõ
1100. Quy chơn nguyên sáng tỏ Đạo Cao
1101. Hiệp chung những thứ trên Cao
1102. Hoà vào nhân thế chuyển giao cho người
1103. Những Đạo lý phần mười nói rõ
1104. Những thiện căn bày tỏ thật ra
1105. Hiệp chung tôn giáo một nhà
1106. Người đời thuận tục phân ra thế này
1107. Tam giáo vốn từ nay đồng một
1108. Ngũ Chi Phục về một đường tu
1109. Tạo ra một pháp công phu
1110. Quy nguyên nhất bổn vạn thù thế gian
1111. Pháp vô vi định hàng tiên Phật
1112. Bắc nhịp cầu từng nấc thang leo
1113. Tín đồ biết chỗ nương theo
1114. Xả thân hành đạo danh nêu muôn đời
1115. Tâm thanh tịnh là nơi huyền bí
1116. Ngươn thần trụ đạt vị chân tu
1117. Bước qua những nấc công phu
1118. Thần Thánh Tiên Phật chứng tu quả hiền
1119. Chứng đạo quả vượt miền địa giới
1120. Ba cõi sanh để tới ngôi Thiên
1121. Xưa nay những pháp chân truyền
1122. Giúp người thành đạo cửu huyền độ siêu
1123. Cũng lại nói những điều như thế
1124. Tiếp truyền giao là để bảo lưu
1125. Hiệp chung những thứ Việt ưu
1126. Đã lưu thanh sử cứu dân độ người
1127. Gương đức ấy sáng tươi muôn thuổ
1128. Danh Đạo nêu là của hiền nhân
1129. Gương xưa tích cũ là phần
1130. Hậu nhân học lấy công ân để đời
1131. Lời Thánh dạy là lời khuyến thiện
1132. Người hành theo để chuyển nhân duyên
1133. Giúp người khi sống tại tiền
1134. Diệt hết khổ não ưu phiền âu lo
1135. Rồi Thượng Đế mới cho lời dạy
1136. Bậc Tiền nhân đã thấy mang theo
1137. Dạy mình lấy trước làm điều
1138. Dạy cho con trẻ những điều thành tâm
1139. Phương giáo hoá không lầm theo bước
1140. Thức đồng sinh phía trước làm theo
1141. Đạo đời tua biết vẫn đeo
1142. Đời trọng một chữ sơn keo vững bền
1143. Bậc Đạo hạnh ơn trên trao gởi
1144. Đức được cao là bởi phụng sinh
1145. Hy sinh bản ngã của mình
1146. Thế Thiên hành Đạo chứng minh lòng thành
1147. Nhìn lại những tinh anh như thế
1148. Noi gương theo biết để tiến tu
1149. Nêu danh những bậc trượng phu
1150. Làm nên thanh sử thiên thu để đời
1151. Đức Thượng Đế có lời khen ngợi
1152. Cao Thượng Sanh đã tới công lao
1153. Xứng danh với bậc anh hào
1154. Gắng công dựng Đạo làm sao nên hình
1155. Bước chìm nổi quên mình hành Đạo
1156. Trọn tâm chí mặc áo nhà tu
1157. Ấm lạnh xảy đến mặc dù
1158. Giữ lòng thành tín công phu vuông tròn
1159. Hàn huyên đó vẫn chưa bày tỏ
1160. Lòng trần đã chứa khổ nấu nung
1161. Ngày sau được sánh bước cùng
1162. Thần Thánh Tiên Phật cùng chung hưởng nhàn
1163. Có một đức vào hàng tiên vị
1164. Cũng nấu nung cái chí tu hành
1165. Tận tâm phụng sự nhơn sanh
1166. Dựng xây nghiệp Đạo cho thành đến nay
1167. Nhớ lại lúc những ngày tháng ấy
1168. Quyền Giáo Tông đã thấy căn duyên
1169. Khi còn sinh sống tại tiền
1170. Giữ gìn tâm niệm trung kiên vững vàng
1171. Dù phải đứng cùng hàng Pháp thuộc
1172. Mặc khen chê cùng giuộc cùng phe
1173. Dùng quyền cũng để chở che
1174. Người dân nước Việt nói nghe ít nhiều
1175. Lại nói đến những điều trân quý
1176. Người góp công cùng ý làm nên
1177. Sáng danh với những tuổi tên
1178. Nữ sinh trung học mang tên Long Già
1179. Rồi đến lúc thật là hạnh ngộ
1180. Đức Chí Tôn ban bổ bài thơ
1181. Chữ nghĩa lưu lại đến giờ
1182. Thuận theo thiên mạng bài thơ đề rằng
1183. Trời và Đất vẫn hằng riêng lẽ,
1184. Chữ và nhơn cũng sẽ đồng mang.
1185. Thiên thơ cầm ở tay chàng,
1186. Giúp cho nhân chúng được an thái bình
1187. Những Đạo lý trong mình luôn giữ
1188. Nhiều Thiện tâm tầm tứ mang theo
1189. Đạo người một chữ sơn keo
1190. Giữ cho vẹn vẻ Tiên kêu tên người
1191. Do dịp ấy người đời tìm đến
1192. Đàn cầu cơ tại bến Phú Lâm
1193. Tại đấy có một Tiên Ông
1194. Dạy ngài tỉnh mộng tìm không lánh phàm
1195. Xa lìa những san tham tục tánh
1196. Giữ cho bền đức tánh nhà tu
1197. Làm nên một bậc trượng phu
1198. Giữ gìn cửa Đạo chứng tu lòng thành
1199. Hiệp cùng những tinh anh cửa Đạo
1200. Ngài tùng theo lớp áo nhà tu
1201. Chí Tôn đã chứng lòng tu
1202. Đầu Sư là phẩm cũng từ đây ra
1203. GIữ giềng mối Đạo nhà luôn vững
1204. Nắn lòng theo tâm chứng truyền ra
1205. Đạo nhà tuy một trong ba
1206. Tuy ba là một chẳng ngoa chút nào
1207. Người mà đứng vào hàng tiên vị
1208. Phải dốc tâm vững chí tu hành
1209. Giúp Đạo lẫn cả lương sanh
1210. Hiệp hoà các mối tinh anh Đạo Trời
1211. Mỗi lời nói là lời chân thực
1212. Những hành vi của bực chân tu
1213. Tạo nên kết nối vạn thù
1214. Quy về nhất bổn công phu viên thành
1215. Trong sử Đạo thánh danh nêu rõ
1216. Thượng Trung Nhựt sáng tỏ lòng thành
1217. Gồm thâu những nét tinh anh
1218. Mở cơ khai Đạo sản sanh phép trời
1219. Đạo được mở ở nơi Gò Kén
1220. Đức truyền rao ánh sáng ký trao
1221. Sáng ngời cùng với ánh sao
1222. Giáo Tông Đức Lý quyền trao tay người
1223. Để gìn giữ sáng tươi cửa Đạo
1224. Giúp truyền trao công báo thiên thành
1225. Dù trong nội bộ đã sanh
1226. Lòng người đố kỵ biến sanh Đạo đời
1227. Dù đứng trước vạn lời công kích
1228. Phải nằm trong giềng xích gông cùm
1229. Vẫn luôn giữ một lòng Trung
1230. Không rời xa đạo cũng không xa đời
1231. Dù trong cảnh Đạo nhà nghiêng ngửa
1232. Dù ngoài phương trời vẫn mịt mù
1233. Quỷ vương có phá đường tu
1234. Tâm luôn trụ vững công phu chẳng dời
1235. Ngài cũng có những lời huấn thị
1236. Giúp nữ tu vững chí thiện hành
1237. Giữ gìn giềng mối bảo sanh
1238. Xây dựng nữ viện sánh cùng phái nam
1239. Những lời nói việc làm chân chính
1240. Đức Chí Tôn thờ kính một lòng
1241. Thoả lòng người Đạo trông mong
1242. Quay về tiên cảnh cùng đồng Phật Tiên
1243. Khi còn giữ chủ quyền tại thế
1244. Giúp nhơn sanh vạn thế được yên
1245. Lúc về tới bến chân nguyên
1246. Lòng chưa chọn chí phỉ nguyền bình sinh
1247. Về Thiên cảnh tâm linh nhắn gởi
1248. Trọn ý thơ là bởi tạo duyên
1249. Trăm năm có mấy gương hiền
1250. Ngàn năm tên tuổi bát tiên vững bền
1251. Ông vốn gốc có tên Thiết Quả
1252. Đứng đầu trong Đạo quả tám tiên
1253. Nêu danh chân lý thần tiên
1254. Mở Đạo phổ hoá mọi miền trần lao
1255. Công nghiệp ấy nói sao cho hết
1256. Do nguyên căn đúc kết mà nên
1257. Tổ Đình toà Thánh còn tên
1258. Giáo Tông tại thế quyền nêu tên người
1259. Ở phía trước mặt tiền đền Thánh
1260. Lầu Bạch Ngọc tượng Thánh còn in
1261. Dùng quyền cứu vớt chúng sinh
1262. Nương theo cửa Đạo anh linh lưu truyền.
1263. Ngẫm lại lúc khi truyền Đại Đạo
1264. Năm Bính Dần vào lúc mười lăm
1265. Khai minh Đại Đạo tám năm
1266. Ngày quy tiên vị tính năm tám tròn
1267. Sự tích xưa vẫn còn linh ứng
1268. Lý Ngưng Dương đầu đứng tám tiên
1269. Ngày nay đã trở lại tiền
1270. Tròn ngày quy vị tám tiên ứng hầu
1271. Lật trang sử ngày đầu mở Đạo
1272. Những tuổi tên sao xứng công lao
1273. So danh với đấng anh hào
1274. Giữ gìn pháp giới khác nào anh thư
1275. Bà Hương Thanh Đầu Sư chánh yếu
1276. Ngồi dưới xem minh chiếu nương theo
1277. Phẩm hạnh của các Tỷ Kheo
1278. Bà vốn ngưỡng mộ mang theo bên mình
1279. Bà vốn dòng anh minh cẩm tú
1280. Giới thượng lưu phước chủ quyền trao
1281. Mang danh phẩm hạnh Đức cao
1282. Hành thiện tài thí ứng vào Phật môn
1283. Tâm thành tín tiềng đồn không ngớt
1284. Phước gieo trồng chia sớt cho người
1285. Lòng thành phước báo phần mười
1286. Tạo dựng công nghiệp quả tươi vun bồi
1287. Phước mệnh lớn gieo rồi trổ quả
1288. Khi Đạo mở ân xá kỳ ba
1289. Nữ phái danh nhất là Bà
1290. Chí Tôn trọn gởi để ra danh hiền
1291. Đạo ban rãi khắp miền địa giới
1292. Tâm chan hoà là bởi lòng tin
1293. Tín đồ thành tín trọng tình
1294. Nhớ ơn hoằng hoá cho kinh lúc nào
1295. Những công đức nói sao cho hết
1296. CHứng lòng thành hành giáo bảo sanh
1297. Cộng nghiệp là những tinh anh
1298. Dựng nên Đạo lớn sản sanh anh tài
1299. Những sản nghiệp chung tay góp sức
1300. Dốc lòng thành của bực chân tu
1301. Một đời dùng hết công phu
1302. Tạo nên nghiệp lớn chẳng bù lòng nhân
1303. Công mở đạo muôn phần ân phước
1304. Gieo nhân duyên từ trước đến nay
1305. Một lòng một dạ hăng say
1306. Phụng Thiên hành Đạo chẳng thay đổi lòng
1307. Bà vốn trọng tình trong cửa Đạo
1308. Chẳng ham danh vật báu ngoài đời
1309. Nhớ lại những lúc ở nơi
1310. Tây Ninh đất thánh dựng xây tổ đình
1311. Dốc lòng cùng chí linh góp sức
1312. Mua trạch điền để cất Đài Cao
1313. Thiên thu sẽ mãi ứng vào
1314. Ngọc Kinh tại thế khác nào cung thiên
1315. Phúc hạnh tới gieo duyên cửa Đạo
1316. Chứng lòng qua lớp áo nhà tu
1317. Sánh danh với đấng trượng phu
1318. Anh hào ra mặt anh thư sánh vào
1319. Công nghiệp ấy khác nào Trời Đất
1320. Xứng với danh một bậc tiên cô
1321. Dù đã trở lại Thiên đô
1322. Vẫn luôn lo lắng nghiệp đồ trần gian
1323. Chơn linh bà là nàng Long Nữ
1324. Đứng vào hàng đệ tử Quan Âm
1325. Thường hành theo những phương châm
1326. Cứu người độ bực thành tâm lánh phàm
1327. Cung Nam Hải Quan Âm cùng ngự
1328. Chốn Tây Ninh là xứ chứng tu.
1329. Trăm năm qua lớp áo tu
1330. Ngàn năm giữ được công phu vuông tròn
1331. Danh thơm ấy vẫn còn lưu mãi
1332. Tiếng người luôn êm ái trong lòng
1333. Tín đồ nữ phái vẫn mong
1334. Nhận cơ giáo hoá cùng trong tâm tình
1335. Mong được sự hiển linh màu nhiệm
1336. Giúp cho người tìm kiếm đường tu
1337. Không phải lạc bước công phu
1338. Trước cửa đền thánh nguyện tu chân thành
1339. Nhìn thấy những tinh anh cửa Đạo
1340. Lòng nguyện lòng cẩn cáo chứng minh
1341. Thông qua thánh tượng anh linh
1342. Lầu Lôi Âm có bóng hình Đầu Sư
1343. Nước Việt Nam tạo từ duyên trước
1344. Nay hiện lại ứng phước gởi trao
1345. Ngày xưa Quốc Tổ ứng vào
1346. Kinh Dương Vương đã truyền giao giống nòi
1347. Tổ Âu Lạc vốn dòng Lạc Việt
1348. Trang cổ sử đã viết thành câu
1349. Tổ Mẫu hợp giống truyền giao
1350. Cũng tên Long Nữ ứng vào Bà Thanh
1351. Duyên ngẫu hợp đã thành như thế
1352. Hay là điềm ứng để hiển linh
1353. Người đời thuộc lớp hậu sinh
1354. Thành tâm nghiệm để kính thành ơn trên.
1355. Trong cửa Đạo những tên như thế
1356. Nêu danh cho hậu thế ngưỡng trông
1357. Vì rằng trong cái chơn không
1358. Có sự màu nhiệm mà không thể bàn
1359. Những vị đứng vào hàng Thiên phẩm
1360. Nêu danh thơm tú cẩm Đài Cao
1361. Tín đồ khi đến ra vào
1362. Bên trong đền Thánh nhìn sao chẳng tùng
1363. Những vị đã dốc tâm phụng sự
1364. Nêu danh bậc thiên sứ gởi trao
1365. Nổi danh một đấng anh hào
1366. Hộ giúp giữ Đạo Pháp trao tay người
1367. Ông đã vốn là người Thiên bẩm
1368. Phụ thân ông Thiên phẩm đã mang
1369. Ngân Hà Công Bộ giáng trần
1370. Giúp cho những thứ hợp nhân tụ về
1371. Giúp Thiện Ý được bề vững chắc
1372. Giữ Đức Nhơn son sắc trong lòng
1373. Thuận theo đường lối chánh công
1374. Phục vụ nhân chúng mà không nghĩ bàn
1375. Quay về chốn Hoà An sinh sống
1376. Dù nhọc thân chẳng mống nghĩ bàn
1377. Chữ tình mới thật chứa chan
1378. Tinh anh nhóm lại vào hàng Thiện căn
1379. Những thiện phước chẳng bằng Thiên phước
1380. Những căn duyên từ trước định thành
1381. Gom tụ thành những tinh anh
1382. Trổ ra hương toả kiếp sanh một đời
1383. Đức Hộ Pháp là người yêu nước
1384. Đông du học từ trước chẳng thành
1385. Cơ duyên có hợp mới sanh
1386. Sau này định phận mới thành thiên tư
1387. Người đỉnh ngộ cũng từ nơi ấy
1388. Phải chuyên tu mới thấy nhân duyên
1389. Khởi sinh trong kiếp hiện tiền
1390. Chập chùng sinh khởi nên duyên sau này
1391. Giờ trở lại thời nay cũng thế
1392. Phận hình thành là để trước đây
1393. Hình thành những thứ sâu dày
1394. Nổi lên thành bậc công dày Đức cao
1395. Thêm Đức hiếu nói sao cho hết
1396. Ông nương tựa tính nết mẫu thân
1397. Để tâm lo lắng ân cần
1398. Phụng dưỡng thân mẫu thâm ân nghĩa dày
1399. Tình thân hữu nói thay mọi lẽ
1400. Chí đồng cam san sẽ nghĩa tình
1401. Nghĩa khí mới thật trung trinh
1402. Lập thân báo quốc trọng tình thê nhi
1403. Sinh con trẻ cũng vì nuôi chí
1404. Tử biệt ly cũng ví khổ tâm
1405. Làm sao thông với cõi âm
1406. Bày tỏ mọi lẽ tình thâm khi nào
1407. Ngài chỉ biết nương vào thần Thánh
1408. Để nghiệm suy cứu cánh cho đời
1409. Đồng liêu giải trí ở nơi
1410. Xây bàn thi ứng với cùng vong linh
1411. Dò theo những tận tình chỉ bảo
1412. Của vong linh ẩn náu danh Đoàn
1413. Giúp cho thần trí định an
1414. Thuận theo thiên ý bảo ban sau này
1415. Ông đã vốn văn hay chữ tốt
1416. Phẩm vị lại cùng tột ngôi Thiên
1417. Nổi danh với chữ thánh hiền
1418. Phụng Thiên hành hoá Phật Tiên cùng bầu
1419. Những Đạo pháp phun châu nhã ngọc
1420. Muôn tâm lành cùng ngóng chông theo
1421. Đức Hạnh là phước mang theo
1422. Tiền tài vật dục chẳng neo tay người
1423. Đức Hạnh giúp sáng tươi chữ Đạo
1424. Phục Thiện là phước báo tâm an
1425. Luôn giữ đức tín trung cang
1426. Nguyên nhân để giúp mở mang thân người
1427. Đạo lý ấy sáng tươi muôn thuổ
1428. Tận tình giúp chân lý chở chuyên
1429. Chở chuyên Đạo lý thánh hiền
1430. Giúp người tâm Đạo chữ khuyên thành lời
1431. Chí Tôn dạy đến nơi thành kính
1432. Ông Trung nhận là chính độ hiền
1433. Gộp chung những bậc tài hiền
1434. Dựng nên cơ Đạo gieo duyên với đời
1435. Lòng đối chất người đời sao biết
1436. Hạnh so danh tiết liệt mới ra
1437. Biết xem thế giới là nhà
1438. Sống nên chí thánh thác là thần tiên
1439. Ngẫm ra những bậc hiền tại thế
1440. Nghĩ biết rằng pháp để chuyển luân
1441. Mừng thay những bậc thiện căn
1442. Hợp chung chánh thể thề rằng nhứt tâm
1443. Lập thệ nguyện phương châm hành Đạo
1444. Mở Cao Đài giáo hoá độ sinh
1445. Thế thiên hành hoá là mình
1446. Thay trời tạo thế giữ gìn nhơn luân.
1447. Biết Đạo quý muôn phần gìn giữ
1448. Xem tâm lành tích trữ từ đây
1449. Phẩm hạnh dù có cao dày
1450. Mà không hành đạo đến ngày còn chi
1451. Rạng danh chí nam nhi gìn giữ
1452. Sáng ngời tâm nguyện giữ một lòng
1453. Giúp cho Thế Giới hoà đồng
1454. Đạo đời tương đắc hiệp thông ý trời
1455. Chí Tôn dạy những lời khuyến nhủ
1456. Hộ Pháp nghe tích trữ trong tâm
1457. Sau này giữ lấy phương châm
1458. Phụng Thiên hành Đạo muôn năm sánh bì
1459. Xứng với bậc tu mi nam tử
1460. Của tích mang chẳng giữ được lâu
1461. Đạo lý phải lấy làm đầu
1462. Công trình để lại người sau học đòi
1463. Người vốn thuộc giống nòi thần thoại
1464. Chí nguyện còn khắc khoải mang theo
1465. Như thuyền gặp bến thả neo
1466. Tinh anh nối lại Pháp theo bên mình
1467. Những tâm tình Chí Linh trao gởi
1468. Pháp truyền trao là bởi lòng thành
1469. Gôm tụ những nét tinh anh
1470. Từ Vi Hộ Pháp hoá sanh đời người
1471. Từ nay Đạo phần mười sáng tỏ
1472. Đến khi Đức được trổ mòi ra
1473. Truyền trao trên khắp nước nhà
1474. Phò Loan phong thánh thật là ân sâu
1475. Pháp chánh truyền từ đầu nói rõ
1476. Tứ Điều Quy bày tỏ rõ ràng
1477. Tân Luật Thượng Đế đã ban
1478. Chân truyền luật pháp của hàng Thần Tiên
1479. Thiên thơ vốn từ miền thượng giới
1480. Định thành luật tam giới đồng quy
1481. Ngày nay xoá bỏ phân ly
1482. Truyền cho nhân thế cũng vì tình thương
1483. Cũng là để mở đường lập Đạo
1484. Chuyển nhân duyên phước báo bao đời
1485. Tạo cơ thành lập ở nơi
1486. Nước Việt hữu phước bao đời trồng gieo
1487. Phúc lành ấy nương theo chân lý
1488. Đạo Hạnh thành sinh ký tử quy
1489. Đạo đời không có phân ly
1490. Đời mà hành chánh chứng tri Đạo huyền
1491. Nhơn sanh vốn cùng đồng Phật tánh
1492. Biết làm lành xa lánh phàm tâm
1493. Tạo duyên, nghiệp lực chuyển căn
1494. Dốc tâm hành thiện là thành Phật Tiên.
1495. Biết nương theo phước điền tại thế
1496. Độ nhơn sinh cũng để độ mình
1497. Tạo thành phước báo tâm linh
1498. Cửu huyền thất tổ theo mình siêu thăng
1499. Có những thứ thường hằng như thế
1500. Được sinh ra là để độ duyên
1501. Tuân theo luật pháp chánh truyền
1502. Tạo đường giải thoát cơ duyên nào bằng
1503. Vì Đạo sự tưởng rằng nghỉ việc
1504. Hành chánh công chẳng tiếc công lao
1505. Chuyển cơ màu nhiệm về sau
1506. Hải ngoại hội thánh Đài Cao lập thành
1507. Gởi gắm những tinh anh cửa Đạo
1508. Giáo Ngoại truyền để bảo ban người
1509. Kim Biên được chọn là nơi
1510. Thành lập cơ đạo ích đời lợi dân
1511. Đức ngài vốn ân cần chỉ bảo
1512. Những pháp môn giáo ngoại biệt truyền
1513. Hình thành một lớp đầu tiên
1514. Hội giáo chân chính chủ quyền Nam Vang
1515. Cùng góp sức vào hàng Thánh vị
1516. Đức Nguyệt Tâm cùng chí nương theo
1517. Ngài vốn thương xót người nghèo
1518. “Những người cùng khổ” đã nêu tên người
1519. Một kiếp sanh ở nơi phồn thịnh
1520. Muôn tiếng lành chuyên chính cùng mang
1521. Rạng rỡ trong những thi đàn
1522. Hương thơm lan toả thuộc hàng quý nhơn
1523. Những phúc hạnh công ơn ban rãi
1524. Đời dân nghèo ngang trái thọ ân
1525. Phước hạnh của bậc chơn nhơn
1526. Nêu danh muôn thuổ tiếng thơm để đời
1527. Một lời nhắn là lời chân chính
1528. Muôn tâm lành thành kính nương theo
1529. Giữ vững khí tiết sơn keo
1530. Những công nghiệp ấy mang theo về Trời
1531. Nước Việt vốn là nơi thánh địa
1532. Việt tộc trọng Đạo nghĩa tinh hoa
1533. Địa linh đất mới trổ ra
1534. Nhân kiệt ra mặt cũng là thần nhân
1535. Tôn quý ấy muôn phần rạng rỡ
1536. Bậc thánh nhân nâng đỡ hiền tài
1537. Tuy rằng trong một mà hai
1538. Đạo lương cùng giúp quảng khai cơ trời
1539. Nhưng cũng tại ở nơi so sánh
1540. Người Trung Hoa vốn tánh hơn thua
1541. Không noi nhân quả ở chùa
1542. Nhiều lần dùng kế ếm bùa đất Nam
1543. Dùng thủ đoạn việc làm tà phái
1544. Tạo nên cảnh ngang trái can qua
1545. Ngăn trở nụ nở thành hoa
1546. Nhân tài nước Việt thành ra Thiên tài
1547. Long Tuyền Kiếm ếm bài đất Việt
1548. Diêu Trì Cung cho biết giải bài
1549. Nước Việt rồi sẽ đến ngày
1550. Tổ phụ phục nghiệp sinh khai Thái bình
1551. Những việc làm chân tình trao gởi
1552. Tạo phước đức là bởi lòng thành
1553. Gieo duyên trong kiếp bình sanh
1554. Thuận theo thiên lý lòng thành quý cao
1555. Trên thế gian nơi nào hơn thế
1556. Vương Đạo lấy làm kế sinh tồn
1557. Hương thơm khắp cả càn khôn
1558. Thánh nhân mở Đạo Thiên Tôn vững bền
1559. Những vị thánh làm nên chân lý
1560. Người thế gian vững chí noi theo
1561. Bát Đạo Nghị Định làm theo
1562. Giúp nền chánh đạo thuận chèo lướt mau
1563. Biết Đạo lớn cùng nhau gắng sức
1564. Lo vun trồng thì đức mới cao
1565. Xứng danh đáng mặt anh hào
1566. Giúp cho Đạo lớn định vào càn khôn
1567. Xưa các bậc Thiên Tôn mở Đạo
1568. Nay tín đồ nương náu tu hành
1569. Làm sao trong kiếp bình sanh
1570. Hành theo chánh pháp tinh anh gieo trồng
1571. Biết dựa chỗ tìm không lánh tục
1572. Chung góp công tạo phúc cho đời
1573. Gởi hồn nương tựa ở nơi
1574. Đức tin Thượng Đế là lời thành tâm
1575. Người phúc lớn tầm ra mối đạo
1576. Bậc minh sư ban bảo tận tình
1577. Giúp người chỉ một kiếp sinh
1578. Thoát khỏi trần tục anh linh quay về
1579. Những Đạo sự bộn bề ngang trái
1580. Quyền Giáo Tông đã phải quy tiên
1581. Giữ cho cửa Đạo được yên
1582. Quyền hành chưởng giáo được truyền trao tay
1583. Hiệp Thiên Đài từ nay giữ pháp
1584. Cửu Trùng Đài cũng chấp chưởng quyền
1585. Hiệp thông với cõi thiêng liêng
1586. Mở cơ hành hoá mọi miền trần lao
1587. Những thiện căn ứng vào tâm chánh
1588. Cõi Niết bàn là cảnh Bồng Lai
1589. Để về với cõi Thiên thai
1590. Trước tiên phải biết an bài thế gian
1591. Phải nuôi dưỡng chí Đàn hậu tấn
1592. Cần bảo tồn đặng mối chân truyền
1593. Bảo sanh những bậc tài hiền
1594. Mở mang giáo lý mọi miền quê hương
1595. Tạo dựng nên con đường công chánh
1596. Giúp Đạo đời cùng sánh công lao
1597. Xây nên Đạo nghiệp Trời Cao
1598. Anh linh cẩm tú ra vào độ nhân
1599. Để tạo dựng muôn phần Công Đức
1600. Cùng xây nên Thánh Đức ở đời
1601. Phải tìm chọn được một nơi
1602. Xây nên đền Thánh thờ Trời ‘Chí Tôn’
1603. Ứng với quả Càn khôn tạo dựng
1604. Bậc Thiên Tôn thờ cúng cùng đồng
1605. Gom tụ tinh tú thinh không
1606. Thần Thánh Tiên Phật cũng đồng thờ chung
1607. Nuôi dưỡng chí anh hùng hào kiệt
1608. Giữ bền tâm oanh liệt chí trung
1609. Giúp đời và Đạo sánh cùng
1610. Bửu chơn Ngũ khí cùng chung hài hoà
1611. Giúp Đạo lớn được ra chân tướng
1612. Giữ Pháp truyền để hướng noi theo
1613. Dù cho nền Đạo còn nghèo
1614. Giữ vững tay lái chống chèo vượt qua
1615. Trải qua đến những ba thời đốc
1616. Tập hợp người cùng dốc lòng theo
1617. Ông dò theo cảnh nương theo
1618. Xây nên Đền Thánh sơn keo nào bằng
1619. Công trình ấy sánh bằng Bạch Ngọc
1620. Ngọc Hư Cung là nóc nhà chung
1621. Tây Ninh thánh địa sánh cùng
1622. Hiệp Thiên hành hoá là Cung Tam Toà
1623. Hư Vô Thiên có toà Bạch Ngọc
1624. Điện Linh Tiêu cùng họp thần Tiên
1625. Sản sinh các bậc tài hiền
1626. Là nơi tạo lập phước điền trần gian
1627. Người được đứng vào hàng Phật vị
1628. Giữ được tâm quyết chí tu hành
1629. Một lòng phụng sự nhơn sanh
1630. Lo cho Đạo nghiệp tạo thành ức niên
1631. Công trình ấy hậu tiền khó sánh
1632. Đạo và Đời cùng gánh nặng mang
1633. Tưởng rằng tựa cảnh an nhàn
1634. Nào đâu vạn sự thế gian an bài
1635. Để Phổ Hoá Cao Đài thật tướng
1636. Cho nhơn sanh cùng hướng lòng theo
1637. Lập thêm phẩm vị quyền theo
1638. Thời Quân thập nhị giữ neo pháp truyền
1639. Như những bậc tiền hiền tại thế
1640. Thâu khí nhiên là để độ hiền
1641. Thông qua lớp áo Thần Tiên
1642. Chuyển tải đạo lý chân truyền đến nay
1643. Tình thế sẽ có ngày biến chuyển
1644. Người dự liệu chính biến giải nguy
1645. Có lúc Đạo sẽ phân kỳ
1646. Phạm Môn Phước Thiện tới khi giữ gìn
1647. Người có Đạo trong mình luôn giữ
1648. Kẻ biết tâm là chữ mang theo
1649. Một lòng vì Đạo sơn keo
1650. Chơn mạng là chữ mang theo bên mình
1651. Phạm môn tụng tâm kinh chân thật
1652. Phước Thiện hành của bậc tu chơn
1653. Chơn truyền có phước nào hơn
1654. Trừ tà diệt mị tiếng thơm để đời
1655. Phước Thiện vốn là nơi hành thiện
1656. Bậc nguyên nhân Thuận tiện hành theo
1657. Thập nhị đẳng cấp mang theo
1658. Thiêng liêng nơi đến chẳng neo xác phàm
1659. Minh Đức giúp người làm sáng ý
1660. Tân Dân vốn thành ý quy nguyên
1661. Thính Thiện tâm chánh ở hiền
1662. Hành Thiện là tích phước điền về sau
1663. Giáo Thiện giúp người mau tỉnh giấc
1664. Chí Thiện sánh với bậc nguyên nhân
1665. Đạo Nhơn thường biết thi ân
1666. Chơn Nhơn biết chỗ mà nâng đỡ người
1667. Hiền Nhơn giúp sáng tươi cửa Đạo
1668. Thánh Nhơn tạo phước báo giữ gìn
1669. Tiên Tử một mực trung trinh
1670. Phật Tử sẳn có trong mình nương theo
1671. Người chơn chánh thuận theo tự tánh
1672. Biết làm lành xa lánh phàm tâm
1673. Chơn hồn tồn tại muôn năm
1674. Xác phàm sẽ mất chẳng nhầm được đâu
1675. Chơn linh vốn nhiệm màu thanh khiết
1676. Đại Linh Quang đã chiếc sinh ra
1677. Dưỡng nuôi Đức Hạnh trong ta
1678. Tâm thần thanh nhẹ chính là quy nguyên
1679. Những ý niệm tại tiền vi tế
1680. Chủng tử gieo là để sinh căn
1681. Ẩn núp trong thức Mạc Na
1682. Luân hồi chuyển kiếp sinh ra nghiệp trần
1683. Người thuận Đạo biết phần giữ lấy
1684. Đại linh căn từ đấy sinh ra
1685. Giữ cho thân khẩu khắc tà
1686. Ý niệm chân chánh mới là thuận duyên
1687. Người biết tạo phước điền chuẩn mực
1688. Là hành vi của bực chánh chơn
1689. Thí tài chẳng để mang ơn
1690. Thí công dốc sức cao sơn sánh bằng
1691. Dùng lời nói khuyên răn chân thật
1692. Mượn tâm lành tỉnh giấc nam kha
1693. Thí ngôn hoà ái sinh ra
1694. Thí pháp chuyển thức cũng là chuyển luân
1695. Những gởi gắm ân cần chỉ bảo
1696. Thái Khí Thanh giúp Đạo thoát nguy
1697. Đồ lưu hải ngoại thuận tuỳ
1698. Đem thân trả bớt oan khiên Việt Thường
1699. Chịu hành xác mở đường giải thoát
1700. Đem an lành chẳng khác khi xưa
1701. Nước Trời Thiên Chúa ban đưa
1702. Giáo dân hưởng thọ vẫn chưa thoả lòng
1703. Vì vốn sự cầu mong là nạn
1704. Gieo lòng tham cùng oán trách Trời
1705. Không biết nương tựa ở nơi
1706. Sửa lòng chân thật dùng lời thảo ngay
1707. Phép trời sẽ từ nay sáng tỏ
1708. Người lòng thành cũng có chỗ nương
1709. Ở trong thế giới vô thường
1710. Con đường thoát tục là đường hiến thân
1711. Xả thân vốn muôn phần công đức
1712. Hành Đạo sẽ chấm dứt nghiệt căn
1713. Người mà biết chữ ăn năn
1714. Dâng lên tam bửu muôn phần công lao
1715. Nguyện một lòng Trời Cao chứng giám
1716. Hồn gởi theo cùng đám mây lành
1717. Thân này Thượng Đế đã sanh
1718. Con xin trao gởi tinh anh cho Thầy
1719. Chơn Thần vốn từ đây nương tựa
1720. Theo thánh linh mở cửa từ bi
1721. Nương theo công quả trường thi
1722. Giữ gìn Pháp tánh lễ nghi thường hành
1723. Chơn Linh con được sanh huệ trí
1724. Nguyện đời đời phụng chí thiện hành
1725. Xả thân cứu độ chúng sanh
1726. Tam bửu nương tựa phụng hành Chí Tôn
1727. Thân trao gởi Phật môn nương tựa
1728. Hồn hướng theo cánh cửa từ bi
1729. Bác ái dẫn dắt đường đi
1730. Công Bình là chữ thực thi thuận thành
1731. Cao Đài vốn sáng danh chí Thánh
1732. Chí Tôn đã là Đấng thường hằng
1733. Vì trong pháp giới chúng sanh
1734. Mặt trời lầm tưởng so bằng Chí Tôn
1735. Chí Tôn giữ phần hồn sanh trưởng
1736. Mặt Trời tạo phần trưởng sinh theo
1737. Ánh sáng dựa chỗ nương theo
1738. Vạn loại sinh trưởng cùng theo sinh thời
1739. Thuận theo lý Thiên thời mở Đạo
1740. Hoà cùng chí cẩn cáo chứng thành
1741. Giúp mở mang những tinh anh
1742. Thuận tình giải thoát cứu tinh muôn đời
1743. Đức Hộ Pháp mở nơi cửa Đạo
1744. Ba Cung Động để giáo hoá sanh
1745. Từ nay trong kiếp bình sanh
1746. Các vị tu chứng muốn thành có nơi
1747. Chờ đến lúc ý Trời đã thuận
1748. Đợi đến khi Ngu Thuấn truyền trao
1749. Bí Pháp sẽ được định vào
1750. Truyền cho các vị muốn vào tịnh chơn
1751. Vào tịnh chơn để hơn phàm tục
1752. Hành chánh pháp của bực chân tu
1753. Sáng danh các đấng trượng phu
1754. Tam lập thực hiện công phu để đời
1755. Cửa tam động là nơi lánh tục
1756. Giúp nhà tu thủ túc đồng giao
1757. Tam Ngươn tụ đỉnh khi vào
1758. Triều nguyên ngũ khí khác nào thần tiên
1759. Cho tinh khí giao huyền làm một
1760. Khí Hoá Thần mới tốt đường tu
1761. Đó là một pháp công phu
1762. Bí pháp luyện đạo giúp tu chứng thành
1763. Bậc thượng thừa biết hành chánh pháp
1764. Người đại căn cùng pháp hành theo
1765. Núi cao cũng chẳng phải chèo
1766. Sông sâu biển lớn qua đèo thường như
1767. Đức Thượng Phẩm dùng từ diễn giải
1768. Bà Bát Nương cũng phải thuận tình
1769. Trí huệ đem đến anh minh
1770. Trí giác cùng giúp tâm mình mở ra
1771. Quy Vạn pháp tông là nhứt mạch
1772. Cảnh Linh sơn hợp bách gia phù
1773. Thuận theo thiên lý hành tu
1774. Thiên Nhân hợp nhất công phu vuông tròn
1775. Lý nhân quả thường còn dẫn dắt
1776. Giải nhân duyên là ngắt quả sanh
1777. Cho nên trong cái đã thành
1778. Giải trừ ngã chấp mới thành sanh không
1779. Sanh không vốn cùng đồng tự tánh
1780. Diệt tâm phàm sa lánh phàm duyên
1781. Phàm duyên không có tại tiền
1782. Luân hồi biết mất nhân hiền lộ ra
1783. Tây Ninh chốn mở ra Thánh Địa
1784. Hướng tâm lành về phía Đài Cao
1785. Tín đồ thành kính ra vào
1786. Mở mang Trí huệ nói sao cho vừa
1787. Tấp nập cảnh kẻ đưa người rước
1788. Nhân sanh còn vững bước đi theo
1789. Long Hoa hội chợ mở theo
1790. Đường viên sự nghiệp nương theo hình thành
1791. Hội tụ những tinh anh cửa Đạo
1792. Hợp vạn sanh để bảo nhơn sanh
1793. Tạo cơ chuyển thế lập thành
1794. Ban gọi thế Đạo để hành chánh công
1795. Những phẩm tước cộng đồng quy thuận
1796. Nhiều công lao hậu thuẩn mà nên
1797. Hiền tài xứng với tuổi tên
1798. Những vị trí thức dựng nên nghiệp đời
1799. Lại có Đức ở nơi cửa Đạo
1800. Tâm nhiệt thành muốn báo ơn Trời
1801. Biết nương tựa cảnh ở nơi
1802. Lập thân hành Đạo cho đời thêm vui
1803. Những vị đã dùi mài kinh sử
1804. Nêu công danh chánh sứ độ nhân
1805. Đến khi cửa Đạo muốn gần
1806. Thanh danh Quốc Sỉ là phần dành cho
1807. Đại Phu vốn thường lo việc nước
1808. Những tinh hoa phẩm tước ngoài đời
1809. Phụng theo Thiên lý ở nơi
1810. Truyền cơ giáo hoá người đời thuận theo
1811. Những vị vốn từng đeo nhất phẩm
1812. Bậc Vĩ nhân thiên bẩm ngoài đời
1813. Gởi hồn nương náu ở nơi
1814. Giác ngộ giải thoát thuận Trời sánh theo
1815. Biết chân lý nương theo cửa Đạo
1816. Nắm chân truyền lý Đạo hành tu
1817. Xứng danh với bực trượng phu
1818. Phu tử là phẩm phương tu Đạo hành
1819. Những sự việc biến sanh thời thế
1820. Học thuyết truyền là để hiệp hoà
1821. Hoà Bình chung sống mở ra
1822. Hoà giải dân tộc cũng là hợp sinh
1823. Những ước vọng hoà bình thịnh vượng
1824. Nhiều trăn trở cùng vấn vương theo
1825. Không chọn được bến thả neo
1826. Nam Vang là chốn lưu vong xứ người
1827. Có những việc ý Trời đã định
1828. Người nương theo, toan tính ích chi
1829. Cũng là một đấng nam nhi
1830. Tạo Công nghiệp lớn là vì mệnh Thiên
1831. Trải qua đúng tam niên neo đỗ
1832. Những tưởng là mượn chỗ an thân
1833. Ngờ đâu đã hết duyên phần
1834. Quay về Thiên cảnh nhường phần hậu nhân
1835. Bảy mươi tuổi muôn phần công đức
1836. Xứng với danh một bực Thiên Tôn
1837. Gieo duyên cho những linh hồn
1838. Nương theo cửa Đạo bảo tồn chơn linh
1839. Phận đã hết theo mình tiếp nối
1840. Giữ cội Đạo chẳng đổi chơn truyền
1841. Ngày sau các bậc căn duyên
1842. Tô điểm cửa Đạo gieo duyên với đời
1843. Những lời nói là lời nhắn gởi
1844. Một việc làm cũng bởi ý Thiên
1845. Chuyển giao các bậc tài hiền
1846. Mở mang Đạo tới mọi miền Quê Hương
1847. Thuận Thiên Đạo là đường giải thoát
1848. Noi gương theo các bậc hiền nhân
1849. Hoằng hoá cơ Đạo là phần
1850. Dành cho những lớp hậu nhân sau này
1851. Thuận theo lý mặn dai là muối
1852. Hành theo Đạo đến cuối mới thông
1853. Hợp chung chủ thuyết hoà đồng
1854. Các nền học thuyết cộng đồng thế gian
1855. Đạo lý ấy muôn vàn trân quý
1856. Người thế gian theo chí thường hành
1857. Hội tụ được những tinh anh
1858. Không còn phân biệt hình thành liên minh
1859. Sứ mạng ấy chí tình trao gởi
1860. Người mang theo là bởi Thiên Cơ
1861. Chuyển giao nhân thế ngọn cờ
1862. Xưa kia đã định đến giờ chưa xong
1863. Thiện và ác cùng đồng một cửa
1864. Âm và dương một nửa sinh ra
1865. Cho nên trong cái khắc tà
1866. Gọi là chân chính cũng là chân như
1867. Vì mọi thứ lúc từ sinh khởi
1868. Chẳng phân hai là bởi đồng nguyên
1869. Những gì được tạo trước tiên
1870. Về sau cũng vậy là tiền đề chung
1871. Những gì sánh được cùng Trời Đất
1872. Bởi là do một tấc lòng thành
1873. Từ xưa mọi vật hoá sanh
1874. Đều thuận theo lý Đạo thành đến nay
1875. Người biết vậy không hay thay đổi
1876. Giữ chân nguyên Đạo đối lương tâm
1877. Người đời mong mỏi đi tầm
1878. Lương tâm hằng giữ chẳng lầm Đạo Thiên
1879. Đạo là mối nối liền ngăn cách
1880. Người hành theo nhứt mạch đồng nguyên
1881. Thuận theo diệu lý Đạo huyền
1882. Sống trong nhân thế thần tiên sánh bằng
1883. Đạo có vững vì rằng Đạo chính
1884. Người thiếu tu toan tính lợi hơn
1885. Xem ra trong cái chánh chơn
1886. Thất tình không thấy giận hờn âu lo
1887. Ai Nộ Ố là đồ không tốt
1888. Dục cũng từ một mẹ sinh ra
1889. Cho nên trên Thất đầu xà
1890. Hộ Pháp đè xuống để mà trấn an
1891. Người tu vốn chẳng màng dục vọng
1892. Rèn Đức hạnh nếp sống thanh liêm
1893. Giữ cho tâm tịnh ổn yên
1894. Thương yêu toả khắp mọi miền trần lao
1895. Người hồi hướng ra vào đền thánh
1896. Đài Bát Quái đãnh lễ Chí Tôn
1897. Giữ cho thanh khiết linh hồn
1898. Thất tình biến mất không tồn tại đây
1899. Điểm linh quang tại đây toả sáng
1900. Hồn nương theo những áng mây lành
1901. Nguyện cùng pháp giới chúng sanh
1902. Một lòng giữ Đạo cao xanh nương nhờ
1903. Xem lại những vần thơ mở Đạo
1904. Trải lòng theo tiết tấu thanh tao
1905. Lòng thành chân thật thanh cao
1906. Tiếp thu giáo lý chuyển vào tâm thanh
1907. Lòng quảng đại tinh anh gởi gắm
1908. Bậc đại hiền chuyển tấm lòng thành
1909. Tên gọi Đức Cao Thượng Sanh
1910. Nhã nhạc Đại Đạo có thành nhớ ơn
1911. Người từng khẩy tiếng đờn khai Đạo
1912. Bậc thượng thừa có máu thánh linh
1913. Nối dòng chí thánh Thiên đình
1914. Thân phụ ngày vốn Quang minh chính dòng
1915. Xuyên quan vốn là ông tư bộ
1916. Giáng linh xuống ban bổ Ân lành
1917. Sản sinh những bậc tinh anh
1918. Nương theo cửa Đạo đã thành tuổi tên
1919. Hồ Hương Lự là tên phối ngẫu
1920. Đắc Đầu Sư đã cấu thành nên
1921. Đức Trọng ứng với tuổi tên
1922. Tiếp Đạo trợ giúp tạo nên Đạo Trời
1923. Cao Đài giáo ở nơi ngoại quốc
1924. Được hình thành nhờ bậc nguyên nhân
1925. Trời Cao đã chứng quả phần
1926. Cảnh Thiên hằng sống gởi phần Chơn linh
1927. Những Đạo lý chân tình trao gởi
1928. Người phục hành là bởi đức tin
1929. Đức tin cùng với thân tình
1930. Gởi vào cửa Đạo thành hình mới nên
1931. Cô con gái có tên Cường Thị
1932. Phẩm Giáo Sư ứng thí mà nên
1933. Dòng tộc sáng mãi tuổi tên
1934. Họ Cao chính gốc theo tên Cao Đài
1935. Lại cũng nói những ngày cầu Đạo
1936. Những vong linh ẩn náu thần linh
1937. Theo cơ bày tỏ tâm tình
1938. Giải bày chí nguyện quang minh lần hồi
1939. Những giao cảm là nơi nương tựa
1940. Mối tương liên là của tình thân
1941. Đức tin theo đó mới gần
1942. Duyên vào cửa Đạo là phần Hoài Ân
1943. Xây dựng Đạo muôn phần Công Đức
1944. Chấn thủ quyền của bực chánh nhơn
1945. Giúp cho hội thánh lớn hơn
1946. Tín đồ còn nhớ công ơn của ngài
1947. Đạo trọng giữ hoá khai rộng mở
1948. Đời thuận theo giúp đỡ dân lành
1949. Theo cơ giáo hoá bảo sanh
1950. Giữ cơ thế độ lương sanh hài hoà
1951. Hùng vĩ như một Toà Bạch Ngọc
1952. Uy nghiêm giống những cốc Thiên toà
1953. Nơi thờ chính đấng Thiên La
1954. Tây Ninh Toà Thánh cũng là Ngọc Kinh
1955. Bao công sức thành hình như thế
1956. Những cái tên đáng để lưu danh
1957. Ngày sau những lớp hậu sanh
1958. Thường hay niệm nhớ tinh anh thuổ nào
1959. Những vị góp công lao xây dựng
1960. Bậc anh tài xứng với tuổi tên
1961. Thượng Sanh Đức đã làm nên
1962. Công trình vĩ đại vững bền muôn năm
1963. Những lễ cúng thường năm sắp đặt
1964. Những tiếng đàn réo rắt bên tai
1965. Tưởng nhớ Công của Đức ngài
1966. Bao năm uốn nắn có ngày hôm nay
1967. Dù thời vận đổi thay bỉ thới
1968. Hướng lòng thành vươn tới Chí Linh
1969. Thay thân tạo hoá là mình
1970. Đức ngài giáo dạy giữ gìn nhân luân
1971. Thi văn tả muôn phần lỗi lạc
1972. Thanh Thuỷ còn cảm tác thành bài
1973. Khuyến tu hướng đến tương lai
1974. Muốn thành Tiên Phật hàng ngày luyện nhân
1975. Muốn thành người muôn phần khó khổ
1976. Gieo hạt lành mới có quả tươi
1977. Cho nên để được thành người
1978. Từ Bi độ chúng phần mười nương theo
1979. Đừng theo bọn thấy nghèo phụ khó
1980. Tập tánh lành để có thiện chân
1981. Trường thi công quả thí ân
1982. Đèn Trời soi sáng muôn phần thênh thang
1983. Những tưởng là vào hàng Tiên Thánh
1984. Thọ ân Thiên sánh với Trời Cao
1985. Ngờ đâu cũng phải chịu vào
1986. Luật Thiên định sẵn phải vào cung Tiên
1987. Lữ Động Tân cầm quyền cửa Đạo
1988. Phải thọ mạng về báo Thiên Đình
1989. Việc làm ở kiếp nhân sinh
1990. Thư Hùng Kiếm pháp cứu tinh muôn người
1991. Công Đức lớn phần mười chứng tỏ
1992. Tận tâm hành mới có Đạo Cao
1993. Xứng danh một đấng anh hào
1994. Cao Thượng ghi nhớ Cao xanh chứng lòng
1995. Những tín đồ vào trong Đền Thánh
1996. Phò Thánh minh cùng sánh công lao
1997. Giữ tâm an tịnh thanh cao
1998. Cầu cho Đạo lớn tưới vào tâm nhơn
1999. Giữ cho được tiếng đờn muôn thuổ
2000. Vịn cho xong lý mở Đạo mang
2001. Tiếp thu chân lý của hàng
2002. Chánh nhân quân tử thường hằng truyền trao
2003. Trên Thánh địa nơi nào cũng thấy
2004. Những tinh hoa cùng nẩy đâm chồi
2005. Vì rằng nơi ấy là nôi
2006. Sản sinh nền Đạo cứu đời độ dân
2007. Hành chánh pháp là gần cửa Đạo
2008. Vị nhơn sinh là báo ơn trên
2009. Thực hành công quả mới nên
2010. Góp công tạo dựng nên nền Đạo Cao
2011. Người hành hương nơi nào cũng biết
2012. Bậc tài hoa khí tiết hơn người
2013. Tinh hoa gom lại thành người
2014. Góp công tạo dựng sáng tươi Đạo Trời
2015. Gốc Thiên phẩm ở nơi cửa Đạo
2016. Họ Cao Quỳnh nương náu Thánh linh
2017. Thân phụ ngài vốn quang minh
2018. Tinh Quân Xuất Bộ Thiên đình ghi danh
2019. Hàm Ninh Thượng đã thành tên tuổi
2020. Cao Huỳnh Cư từ buổi lên mười
2021. Thân phụ vắng bóng ở nơi
2022. Cõi trần thoát tục cảnh Trời nương thân
2023. Giáng linh xuống gieo phần Công Đức
2024. Sản sinh ra các bực tài danh
2025. Sáng danh tên tuổi đã thành
2026. Hiền phụ Hương Huệ đắc thành Giáo Sư
2027. Cao Quỳnh Diêu cũng từ nơi ấy
2028. Đắc Bảo Văn giữ lấy Pháp Quân
2029. Nương theo cửa Đạo giữ phần
2030. Chỉnh bộ lễ nhạc muôn phần trang nghiêm
2031. Tán tụng công phần tìm Đạo lý
2032. Đức Diêu Trì chuẩn ý phụng sanh
2033. Kim Mẫu rạng rỡ tinh anh
2034. Mỹ Ngọc tạo tác mới thành kinh thi
2035. Người danh Cao cũng vì công chính
2036. Lo cho đời không tính lợi hơn
2037. Công cao sánh với Thái Sơn
2038. Nghĩa nặng cũng ví tiếng đờn Bá Nha
2039. Thật hạnh phước một nhà Cao quý
2040. Nơi cửa Đạo đồng chí đồng thanh
2041. Chí Cao vươn tới Trời xanh
2042. Cao Đài chứng giám bảo sanh Cao Quỳnh
2043. Những lời dạy chí tình trao gởi
2044. Gieo duyên Đạo là bởi tình thâm
2045. Cho hay một kiếp trăm năm
2046. Nhọc nhằn cho lắm như tằm nhả tơ
2047. Những trăn trở lời thơ nhắn gởi
2048. Kết nên tình là bởi đồng duyên
2049. Gởi người tại kiếp sanh tiền
2050. Gắng công giữ lấy chữ hiền về sau
2051. Biết lần theo mối tơ tháo gỡ
2052. Nương Thiên thời để mở lòng ra
2053. Tạo dựng trên cõi ta bà
2054. Sứ mạng công chánh mới là chính nhân
2055. Gom yêu thương là phần phước hạnh
2056. Hội tinh hoa theo tánh bổn nguyên
2057. Hiệp chung những mối Đạo huyền
2058. Hoà theo dòng nhạc cổ truyền tuôn ra
2059. Trong dòng tộc nho gia thế phiệt
2060. Sản sanh bậc tuấn kiệt hùng tâm
2061. Tây Ninh Thánh Thất có phần
2062. Tay người xây dựng công ân để đời
2063. Cao quý ấy sáng ngời Đạo Sử
2064. Xây Toà Thánh chính sứ độ nhân
2065. Giúp Đạo được tỏ thiệt chân
2066. Tìm đất dựng nghiệp muôn phần công lao
2067. Gương tuấn kiệt đời nào cũng có
2068. Chí đại hùng mới khó lần thay
2069. Phụng sự Đạo nghiệp hàng ngày
2070. Thắng bao nghịch cảnh đắng cay muôn phần
2071. Khổ vì nỗi một phần Pháp thuộc
2072. Lại còn thêm ràng buộc ở đời
2073. Dày công gầy dựng ở nơi
2074. Rừng thiêng nước độc chẳng lời thở than
2075. Những vị vốn vào hàng Tiên Thánh
2076. Bao khó khăn mới sánh công lao
2077. Thuận theo sứ mệnh Trời cao
2078. Cửu Thiên hành hoá ra vào độ nhân
2079. Có những kẻ theo phần ác cảm
2080. Tạo nên cơ muối mặn gừng cay
2081. Tạo cảnh sầu thảm những ngày
2082. Xây dựng cơ Đạo đến nay còn truyền
2083. Tạm gác lại chuyện miền đất thánh
2084. Thảo Hiền cung nơi lánh hiềm nghi
2085. Cảm tác nên một bài thi
2086. Diễn tả tâm trạng được ghi thành lời
2087. Thất Tây Ninh suốt đời xây dựng
2088. Những thị phi đã hứng chịu nhiều
2089. Tà mị rình rập làm tiêu
2090. Công trình xây dựng bao nhiêu quả phần
2091. Hướng tâm mong hồng ân chiếu rọi
2092. Trải lòng thành muốn nói thành câu
2093. Phỉ nguyện theo chí đi đầu
2094. Mong rằng sửa cảnh âu sầu đeo mang
2095. Những vị đứng vào hàng Tiên Phật
2096. Danh thường mang và chất cũng mang
2097. Càng oan nghiệt lắm thì càng
2098. Tâm thêm toả sáng chẳng màng nguy nan
2099. Cũng đến lúc cảnh thiên an vị
2100. Chưa toại lòng phỉ chí bình sanh
2101. Dù công nghiệp lớn chưa thành
2102. Những mong hậu thế giữ dành về sau
2103. Gieo hạt cốc Đạo màu chan rưới
2104. Trổ thành bông sánh với Trời cao
2105. Mong đàn hậu tấn tiến mau
2106. Giúp cho cơ Đạo chóng mau thành hình
2107. Hớn Chung Ly công bình chánh trực
2108. Cao Thượng Phẩm một mực chí thành
2109. Tế độ cứu vớt chúng sanh
2110. Long tu phiến giữ độn sanh khí thần
2111. Hướng về Đạo muôn phần thành kính
2112. Thả hồn theo về chín tầng trời
2113. Tâm lành thanh tịnh thảnh thơi
2114. Lòng thành cầu nguyện những lời thành tâm
2115. Cầu Đạo lớn muôn năm bền vững
2116. Người nương theo được chứng quả phần
2117. Đệ tử xá tội hành ân
2118. Thái Bình thịnh trị là phần cầu mong
2119. Thánh thất được ở trong an tịnh
2120. Mọi dục vọng toan tính lìa xa
2121. Cho Đạo trổ những tinh hoa
2122. Nhân loại hưởng khúc âu ca khải hoàn
2123. Lời nhắn gởi tới đàn hậu tấn
2124. Lần dở trang di huấn noi theo
2125. Phúc lành các vị mang theo
2126. Chơn truyền hạt giống đã gieo buổi đầu
2127. Lấy giáo lý làm cầu tiếp nối
2128. Giữ chân truyền không để đổi thay
2129. Giữ tâm an tịnh thẳng ngay
2130. Noi theo gương Đạo thường ngày không phai
2131. Dựng nghiệp Đạo chung tay tiếp sức
2132. Hành Đạo quả trung nhứt làm đầu
2133. Trải qua những cuộc bể dâu
2134. Càng thêm toả sáng Đạo màu chí chơn
2135. Vì vốn dĩ Đạo Lớn bị bỏ
2136. Là tiền đề để có Nghĩa Nhân
2137. Ở đời Đạo lý mất phần
2138. Người đời quay lại tìm phần Đạo Cao
2139. Sự giáo hoá chuyển giao luân lý
2140. Giúp thông hiểu trân quý Đạo trời
2141. Cho nên những thứ ở đời
2142. Sao bằng luân lý là lời khuyên răn
2143. Người biết Đạo ăn năn sám hối
2144. Đạo dạy người biết lối tìm cầu
2145. Niềm tin nhân quả rộng sâu
2146. Căn bản của sự mở đầu hạnh tu
2147. Theo Chân Thiện lối tu nhân quả
2148. Mở Đức Hạnh giáo hoá nhơn sanh
2149. Cho nên trong cái đã thành
2150. Biết chuyển nghiệp thức thoát sanh luân hồi
2151. Hành hương về cái nôi mở Đạo
2152. Hướng tâm nguyện ân báo tiền nhân
2153. Cao Đài văn hoá là phần
2154. Tín đồ tìm hiểu thật chân Đạo màu
2155. Hiểu văn hoá hành theo lý Đạo
2156. Biết lễ nghi mới vào tam thanh
2157. Thái Thanh vốn đã chỉ rành
2158. Lớn mà thanh tịnh mới thành Phật tôn
2159. Người gởi theo phần hồn nương tựa
2160. Thái Thượng Quân giữ cửa bảo sanh
2161. Người nương theo cửa Thượng Thanh
2162. Hành theo Thiên luật là thành thần tiên
2163. Cửa Đạo trọng thánh hiền khai mở
2164. Dạy người dân biết chỗ tùng theo
2165. Ngọc Thanh thuận bước hành theo
2166. Nhân quần an ổn Đạo gieo thần hồn
2167. Lý tam Thanh bảo tồn Đạo lớn
2168. Quy chơn nguyên tất bổn để tu
2169. Hiệp chung những pháp công phu
2170. Phổ tế sanh chúng pháp tu luyện thành
2171. Những tinh anh hoá sanh cửa Đạo
2172. Những vĩ nhân mặc áo nhà tu
2173. Giúp cho thế Giới vận trù
2174. Những gì nghịch cảnh âm u trần đời
2175. Khi tín đồ đến nơi Thánh địa
2176. Bao chung quanh về phía tổ đình
2177. Dáng dấp trên đất thần kinh
2178. Bao nhiêu dinh thự công trình nguy nga
2179. Nhìn bao quát những toà Thiên các
2180. Xen xung quanh lầu gác trống chuông
2181. Thẳng tắp theo những con đường
2182. Thượng Phẩm đại lộ cùng nương theo hình
2183. Hộ Pháp vốn chính mình ở giữa
2184. Lộ Thượng sanh một nửa tính ra
2185. Hình thành trong một mà ba
2186. Hợp ba thành một mới ra quẻ càn
2187. Xem các lộ nằm ngang cho biết
2188. Ba nét khôn được chiếc sinh ra
2189. Thái Thơ là nét thứ ba
2190. Trượng Trung chính giữa cũng là Trung dung
2191. Oai Linh Tiên ngoài cùng chính diện
2192. Cửa Hoà Viện cùng tiến bước vào
2193. Nhìn thấy một Toà Tháp Cao
2194. Uy Nghi chính diện đường vào Chánh môn
2195. Lối xắp ấy nhằm tôn Cao quý
2196. Xắp dọc ngang như ví chữ ĐIỀN
2197. Là tâm Bát Quái Đồ Thiên
2198. Cao Đài Bát Quái hoá Thiên đương thời
2199. Được hình thành ở nơi cửa Đạo
2200. Sự màu nhiệm ẩn náu Hậu Thiên
2201. Thời nay lại được hiện tiền
2202. Chuyển sanh vũ trụ nối liền ngăn che
2203. Những điển tích được nghe từ trước
2204. Vì Long Mã dưới nước nổi lên
2205. Phục Hy theo đó đặt tên
2206. Tiên Thiên Bát Quái mới nên thành hình
2207. Vì vốn dĩ trọng tình trượng nghĩa
2208. Vua Văn Vương mới nghĩ thành ra
2209. Hậu Thiên bát Quái chính là
2210. Tám quẻ dịch lý diễn ra hữu hình
2211. Xưa các vị Thánh minh xem tượng
2212. Nhìn vạn vật theo tướng sinh thành
2213. Biết rằng vạn vật sản sanh
2214. Tuân theo luật định đã thành xưa nay
2215. Nay hợp lại Cao Đài Bát Quái
2216. Diễn chơn nguyên những cái cổ truyền
2217. Hợp chung với lý nhất nguyên
2218. Diễn ra Đạo lý hậu tiền xưa nay
2219. Dù thời thế đổi thay xoay chuyển
2220. Dẫu vạn sự sanh biến vô thường
2221. Xem theo dịch lý từng chương
2222. Nghiệm ra chân lý theo đường thảo ngay
2223. Người hành hương thường ngày thăm viếng
2224. Toà Tổ Đình nổi tiếng ma phương
2225. Được xắp ngay ngắn theo đường
2226. Mười hai thành cổng chỗ thường vào ra
2227. Ngay chính diện nhìn ra phía trước
2228. Cổng chánh môn kích thước uy nghi
2229. Lưỡng Long trông thật phương phi
2230. Tranh lấy cổ Pháp cũng vì Long năng
2231. Sách Xuận Thu tượng bằng Nho Giáo
2232. Cây phất chủ Đạo giáo chính Tông
2233. Bát vu đại diện Phật Tôn
2234. Cổ Pháp gìn giữ bảo tồn Đạo Cao
2235. Đến Đền Thánh ra vào môn chánh
2236. Nhẹ lòng như xa lánh tục trần
2237. Trước tiên phải nhớ công ân
2238. Tiền nhân khai mở muôn phần công lao
2239. Sau chánh môn cửa vào đền Thánh
2240. Thấy bửu tháp như sánh tiền nhân
2241. Hộ Pháp an nghĩ chính phần
2242. Trung tâm Đền Thánh trên phần đất thiêng
2243. Hai Bửu Tháp Đại Tiên nằm đó
2244. Vẫn lưu danh sáng tỏ anh minh
2245. Nắm quyền giữ lấy công bình
2246. Nhục thân yên nghỉ thánh linh mãi còn
2247. Sân Đại Đồng có con Kiền Trắc
2248. Sĩ Đạt Ta cỡi nhắc tín đồ
2249. Khi đến Toà Thánh ra vô
2250. Muốn tầm chơn Đạo nhìn vô chính mình
2251. Được giác ngộ là sinh tuệ giác
2252. Hành chánh pháp tạo tác nhân hiền
2253. Khởi tâm quan sát nhân duyên
2254. Nhìn thấy nhân quả nhãn tiền không sai
2255. Cây Bồ Đề mới hay trí huệ
2256. Được sinh ra là để chứng minh
2257. Thay thân tạo hoá là mình
2258. Phổ độ nhân chủng anh linh mãi còn
2259. Cửu trùng Thiên con đường tấn bước
2260. Đến Cửu Trùng những ước mong sao
2261. Quay về được với Trời Cao
2262. Trải qua chín bậc khác nào khi xưa
2263. Muốn đạt đỉnh Phật Thừa giác ngộ
2264. Phải biết cơ hành khổ trước tiên
2265. Xã thân vì một chữ Hiền
2266. Nấc thang tiến bước nối liền thấp cao
2267. Hai đường chính dẫn vào đền Thánh
2268. Hai khán đài dành để nhân sinh
2269. Mỗi khi Đền Thánh hội đình
2270. Nhân sinh chung hướng Chí Linh kỉnh thành
2271. Cây cột lớn để dành treo phướn
2272. Lá cờ Đạo theo hướng tung bay
2273. Cầu đảo phước Đức hàng ngày
2274. Thuận theo Thiên lý chẳng thay đổi lòng
2275. Trước khi bước vào trong đền Thánh
2276. Phủi bụi lòng xa lánh phàm tâm
2277. Điều hoà khắp cả châu thân
2278. Lòng thành thanh tịnh nghiệm phần công lao
2279. Tứ dân vốn khác nào lúc trước
2280. Tứ thú chọn vững bước hành theo
2281. Đức hạnh giữ vững tay chèo
2282. Bao nhiêu triết lý mang theo bên mình
2283. Xưa Đế Thuấn trọng tình nghĩa lớn
2284. Truyền ngôi cho Hạ Võ vốn vì
2285. Ông Võ tính chất thần uy
2286. Dốc lòng trị thuỷ cũng vì giúp dân
2287. Lại có Đức muôn phần cao quý
2288. Không khoe khoang thuận ý mệnh Trời
2289. Tiếp nối danh tiếng cho đời
2290. Vô tư công chính là lời truyền rao
2291. Trên thế gian chữ nào sánh với
2292. Đạo hiếu tâm vươn tới trời cao
2293. Nhắc lòng đền thánh khi vào
2294. Hiếu tâm làm trọn mới vào cung Thiên
2295. Xưa ruộng Thuấn voi cày chim cấy,
2296. Vì hiếu thân nổi dậy tuổi tên.
2297. Đế Nghiêu tìm hiếu truyền hiền,
2298. Nương nơi gương ấy vẫn bền đạo con.
2299. Danh tiếng ấy vẫn còn lưu trữ
2300. Giúp chúng dân xa dữ gần lành
2301. Kết cây lựa chổ sống sanh
2302. Hữu Sào là đấng tinh anh tôn sùng
2303. Toại Nhân vốn sống cùng dân chúng
2304. Dạy người dân sử dụng lửa than
2305. Đem đến cuộc sống bình an
2306. Tập quán quần thể bầy đàn thoát ra
2307. Phạm Lãi giúp nước nhà phục quốc
2308. Xem công danh như đuốc qua đêm
2309. Công thành thân thoái mới nên
2310. Ngũ hồ phiêu bạt nêu tên cho đời
2311. Tây Thi vốn sáng ngời hương sắc
2312. Câu thuỷ chung son sắc nằm lòng
2313. Gần bùn mà vẵn trắng trong
2314. Giang hồ thoả chí mỏi mong ngày nào
2315. Đức Khương Thượng ứng vào tướng phụ
2316. Ngồi bàn khê ngư phủ nắm câu
2317. Nếu chẳng vì chữ công hầu
2318. Nêu gương hậu thế đứng đầu Thần phong
2319. Bá Thuỵ Du có lòng khẳng khái
2320. Quan Đại Phu nhưng lại trọng tình
2321. Vốn người thủ nghĩa trung trinh
2322. Dao cầm gẩy khúc lưu tình thuỷ sơn
2323. Chung Tử Kỳ nghe đờn cảm khúc
2324. Biết thế sự có lúc đổi thay
2325. Làm người giữ lấy lòng ngay
2326. Tri âm trọn nghĩa đổi thay chẳng màng
2327. Hứa Do vốn vào hàng ẩn sĩ
2328. Thích phiêu du thoả chí tang bồng
2329. Lòng người chẳng thích hầu công
2330. Nếu giữ trọng tiết thật không giải bày
2331. Sào Phủ vốn thường ngày chăn dắt
2332. Cho Trâu ăn biết nhắc người đời
2333. Lòng thành chân thật ở nơi
2334. Hành vi trượng nghĩa chẳng lời thở than
2335. Nghĩa phu thê vô vàn trân quý
2336. Châu Mãi Thần quyết chí lập thân
2337. Khuyên vợ biết chỗ nương thân
2338. Tào khang phu phụ muôn phần không phai
2339. Đạo lý ấy hàng ngày soi xét
2340. Tám khuân hình lưu nét tinh hoa
2341. Nhân sinh tự cổ hoá ra
2342. Đạo lý trọn giữ mới là thần nhân
2343. Dạy hậu thế muốn gần cửa Đạo
2344. Học lý sâu ân báo tiền nhân
2345. Trước tiên quyết chí lập thân
2346. Nhân Đạo làm trọn mới gần Đạo Thiên
2347. Đạo lý ấy nối liền kim cổ
2348. VỐn hữu hằng từ chỗ sinh ra
2349. Gom tụ lại những tinh ba
2350. Khắc trước cửa Đạo đó là chính nhân
2351. Trước cửa Đạo muốn gần chân lý
2352. Phải xét suy theo ý mệnh Trời
2353. Thuận theo Thiên lý ở nơi
2354. Mệnh Thiên phụng chính là lời khuyên răn
2355. Long Hoa Hội tượng bằng bốn cột
2356. Bạch Vương Hội là một trong ba
2357. Diễn ra trong cõi ta bà
2358. Đức Phật Di Lạc sẽ là chủ khoa
2359. Cuộc thí khảo tìm ra chơn thiện
2360. Người hiền lương được tiến hoá mau
2361. Thượng ngươn thánh Đức sinh vào
2362. Cảnh thiêng hằng sống khác nào cung tiên
2363. Vốn từ xưa thánh hiền giảng dạy
2364. Gieo Đức tin để thấy điềm may
2365. Thời nay rồi sẽ đến ngày
2366. Khải huyền ứng hiện ở ngay cõi trần
2367. Thế gian sẽ có lần tận thế
2368. Sách Khải huyền nói để khuyên răn
2369. Loài người phải biết ăn năn
2370. Đồng tâm hướng thiện giải căn nghiệp này
2371. Sự thiện ác phô bày trước mắt
2372. Việc chánh tà khúc mắc giải bày
2373. Lẽ chơn thiệt sẽ không sai
2374. Năng lực thiện ác phô bày về sau
2375. Việc chánh tà từ nay phân định
2376. Người thế gian biết tính đường đi
2377. Dã tâm chia rẽ phân ly
2378. Thần ác báo ứng mới thì thiệt thân
2379. Năng lực ấy của thần thiện ác
2380. Trước Tổ Đình chẳng khác khi xưa
2381. Làm lành việc dữ không ưa
2382. Thiện thần linh ứng giúp đưa nghiệp lành
2383. Những thiện căn hoá sanh cửa Đạo
2384. Những nghiệp lành phước báo về sau
2385. Khuyên người tỉnh giấc cho mau
2386. Hồi tâm hướng thiện ngày sau nương nhờ
2387. Nhớ lại những vần thơ của Đạo
2388. Những hiển linh ẩn báo điềm lành
2389. Ngày kia trong nước sản sanh
2390. Nền Đạo tinh khiết bảo sanh loài người
2391. Theo điển tích ở nơi Đền Thánh
2392. Giỏ Hoa Lam được sánh với câu
2393. Thái Dương là chữ mở đầu
2394. Phương Đông soi sáng về sau thành hình
2395. Đức Thái Thượng hiển linh mở Đạo
2396. Do nhân duyên phước báo song hành
2397. Cao Đài ứng hiện sản sanh
2398. Tam kỳ Đại Đạo đã thành danh nêu
2399. Vào cửa Đạo biết nêu danh tiết
2400. Chữ Nghĩa Nhân được chiếc sinh ra
2401. Hội tụ bằng những tinh ba
2402. Chữ Lễ cùng với chữ Hoà hợp sinh
2403. Lý Nhân Quả Thần linh bảo giám
2404. Tùng theo kinh hối sám giải bày
2405. Lòng thành tu niệm chẳng sai
2406. Nhân Nghĩa hành lý đến ngày điểm công
2407. Trước đền Thánh cộng đồng ưng thuận
2408. Những Lễ nghi di huấn truyền giao
2409. Hợp Nhân thuận lý Trời cao
2410. Nhân Nghĩa trọn Đạo sánh vào Thiên cung
2411. Hiệp Thiên đài trên cùng Phi Tưởng
2412. Đức Di Lạc thượng trưởng hoá sanh
2413. Toạ trên lưng cọp chỉ rành
2414. Hùng Vương nghiệp lớn đã thành tuổi tên
2415. Đức Di Lạc ngồi trên lưng cọp
2416. Ngôi Vương Đạo lên top chữ Hùng
2417. Như vậy mới biết hợp chung
2418. Hùng Vương là chữ vững cùng thời gian
2419. Biết nghiệp lớn vô vàn trân quý
2420. Hợp thành danh theo lý thuận hành
2421. Bao công nghiệp lớn trưởng sanh
2422. Thiên Thư nối lại mới thành Đạo Cao
2423. Người hành hương khi vào Đền Thánh
2424. Giữ lòng thành xa lánh vọng tâm
2425. Trước đền có điện tịnh tâm
2426. Rủ lòng sạch bụi chẳng lầm phàm gian
2427. Lầu Hiệp Thiên thờ hàng phẩm vị
2428. Chư chức sắc đắc vị Thiên phong
2429. Là nơi tín đồ ngưỡng mong
2430. Thuận theo giáo lý nối dòng sử thi
2431. Phi tưởng Đài cũng vì cơ Đạo
2432. Được dựng xây để báo hiệp Thiên
2433. Thông công với cõi linh thiêng
2434. Nhận cơ dạy Đạo giáo truyền hoá khai
2435. Bên tay phải là Đài Bạch Ngọc
2436. Gậy Hồ Lô trên nóc hợp cùng
2437. Được gọi là Ngọc Minh chung
2438. Tiếng chuông vang vọng tới cùng Ngọc Kinh
2439. Tới Âm quang tội tình thức tỉnh
2440. Biết tội nhân cải chính lỗi lầm
2441. Tội hồn thoát khỏi cõi âm
2442. Thuận lý giải phóng chuyển tâm luân hồi
2443. Phía bên trái Âm Lôi Đài cổ
2444. Giỏ Hoa Lam ở chỗ đỉnh đài
2445. Lễ hành mở Đạo hội khai
2446. Tiếng trống vang vọng diễn bài Lôi âm
2447. Giúp thiện tín Đạo tâm biết rõ
2448. Nền chánh Đạo bày tỏ hư không
2449. Giúp cho Thế Giới đại đồng
2450. Phổ độ nhân chủng giải thông pháp màu
2451. Trước cửa Đền phía sau cột chính
2452. Cân công bình cầm chính Chí Tôn
2453. Giữ cơ Sanh Trưởng bảo tồn
2454. Phân định tội phước linh hồn hoá sinh
2455. Những phẩm chất anh linh cửa Đạo
2456. Những nghiệp căn quả báo dữ lành
2457. Trần đời sinh tạo mà thành
2458. Thượng Đế thưởng phạt chẳng dành phần hơn
2459. Người biết lẽ thật chơn nương tựa
2460. Gieo nhân lành tích chứa thiện căn
2461. Giúp người thức tỉnh ăn năn
2462. Đèn Trời soi xét công bằng định phân
2463. Những lý Đạo muôn phần Cao quý
2464. Người hành theo đạt ý chánh nhân
2465. Ngày sau được nắm quả phần
2466. Cảnh Thiên hằng sống hồng ân sáng ngời
2467. Noi giáo lý là lời nhắn nhủ
2468. Theo chính nhân ấp ủ trong lòng
2469. Công bình đạt sự ước mong
2470. Bác ái hành xử mà không nghĩ gì
2471. Trước cửa Đền còn ghi lời nhắc
2472. Tam Thánh cùng ghi khắc trên tường
2473. Thiên Nhân Hoà ước là đường
2474. Giúp người đạt Đạo chẳng nương xác phàm
2475. Công Bình là vệc làm ngay chính
2476. Chẳng suy tư toan tính lợi hơn
2477. Nhờ cậy phải biết ghi ơn
2478. Xả thân hành Đạo cao sơn sánh cùng
2479. Muốn phẩm vị sánh cùng Trời đất
2480. Noi gương theo các bậc Thánh hiền
2481. Công bình là pháp thiêng liêng
2482. Cân theo tội phước hậu tiền không sai
2483. Luyện tâm biết hàng ngày trao sửa
2484. Biết nương theo một nửa thiện hành
2485. Một nửa nghiệp ác hoá sanh
2486. Dặn lòng tận diệt mới thành chánh nhân
2487. Giữ công bình muôn phần Cao quý
2488. Nắm Nghĩa Nhân quyết chí phụng hành
2489. Công Bình thuận lý hoá sanh
2490. Anh linh cảm ứng mới thành thiện chơn
2491. Người có Đạo mới hơn phàm tục
2492. Chữ công bình thủ túc cùng giao
2493. Tự tín đồng nghĩa ứng vào
2494. Quán soi nhân quả khác nào chính danh
2495. Chính danh đạt mới thành định phận
2496. Lời Thánh nhân dấu ấn khó phai
2497. Tự tín là một trong hai
2498. Công bình bác ái chẳng thay đổi lòng
2499. Bác ái vốn có trong cửa Đạo
2500. Là tình thương ẩn náu trong tâm
2501. Quán soi để chẳng sai lầm
2502. Theo lý giác ngộ phương châm thực hành
2503. Sự giác ngộ sản sanh huệ giác
2504. Thấy nhân duyên uyên bác không sai
2505. Sinh lòng yêu mến cả hai
2506. Thiện ác đối nghịch vì thay đổi tình
2507. Huệ giác vốn cùng sinh bác ái
2508. Yêu thương vì chẳng phải thiệt hơn
2509. Thương mà chẳng để ghi ơn
2510. Chỉ vì một nghĩa chính chơn thiện hành
2511. Khi nói đến tinh anh cửa Đạo
2512. Những tinh hoa ẩn náu điển lành
2513. Xưa kia trong kiếp bình sanh
2514. Những vị đạt Đạo đã thành tuổi tên
2515. Nay ứng hiện ở trên đền thánh
2516. Tạo nên duyên cùng sánh với nhau
2517. Tín đồ những lúc ra vào
2518. Ảnh tượng trước cửa khác nào khi xưa
2519. Đức Trạng Trình vốn thừa danh tiết
2520. Cầm bút lông để viết nên câu
2521. Thiên thượng là chữ mở đầu
2522. Thiên hạ hành xử giống nhau lý Trời
2523. Công bình nhắc người đời luôn giữ
2524. Bác ái cùng ứng xử thuận theo
2525. Hoà ước nắm vững tay chèo
2526. Tạo công lập vị mang theo bên mình
2527. Đức Nguyệt Tâm anh minh thần tú
2528. Tôn Trung Sơn quân chủ chuyển thời
2529. Ba vị hợp lại ở nơi
2530. Cùng ký hoà ước giữa Trời và nhân
2531. Phúc lành thay dưới trần hoà hiệp
2532. Nối Đông Tây theo tiếp chữ hoà
2533. Văn minh nhân loại nhìn ra
2534. Cùng hoà hợp lại một nhà Việt Nam
2535. Viết nên thuyết đệ tam hoà ước
2536. Gởi hậu nhân những ước mong sao
2537. Văn minh nhân loại định vào
2538. Cao Đài nghiệp lớn làm sao chẳng thành
2539. Những tinh hoa sản sanh cửa Đạo
2540. Những thánh nhân qua lớp áo tu
2541. Chuyển giao những pháp công phu
2542. Nhìn thấy chiêm nghiệm luyện tu mà thành
2543. Thất tình vốn sản sanh phàm tục
2544. Thất đầu xà diễn tục không sai
2545. Dựng lên sau cửa Cao Đài
2546. Tượng Đức Hộ Pháp hai tay đè đầu
2547. Hai đầu dưới nhìn đâu cũng thấy
2548. Hai chân đè nằm đấy giữ yên
2549. Thất tình không dấy loạn phiền
2550. Giúp người hành Đạo được yên trong lòng
2551. Hỷ Ái Lạc ở trong trần thế
2552. Được nâng đỡ là để độ sinh
2553. Ba thứ cảm xúc chân tình
2554. Biết dùng khai triển cứu tinh muôn loài
2555. Ai Nộ vốn là hai cảm xúc
2556. Cùng Ố Dục thường lúc khởi lên
2557. Bốn thứ tình cảm không nên
2558. Để cho khuấy động ở trên trần đời
2559. Biết kềm chế là lời nhắn gởi
2560. Người giữ Đạo là bởi biết hành
2561. Loạn tình không để sản sinh
2562. Cảm xúc chân chính trung trinh giữ gìn
2563. Cửu Trùng Đài khởi sinh phàm thánh
2564. Qua chín bậc cùng sánh cửu Thiên
2565. Lập nên phẩm vị thiêng liêng
2566. Cửu phẩm cựu vị hiện tiền thế gian
2567. Những đối phẩm vào hàng Tiên Thánh
2568. Lo phổ độ cùng sánh công lao
2569. Cửu Thiên là cửa đi vào
2570. Hành theo chánh trị khác nào cung Thiên
2571. Những vị sánh tiền hiền tại thế
2572. Lo cứu sinh là để độ duyên
2573. Theo như cửu phẩm Thần Tiên
2574. Phân định ngôi vị giáo truyền quảng khai
2575. Giáo Tông vốn ở ngai nhứt Phật
2576. Đầu sư ứng vào bậc tam Thiên
2577. Kế đến các bậc thánh hiền
2578. Tam Thập lục Thánh được điền Phối Sư
2579. Những vị ứng Giáo Sư tại thế
2580. Lo nghiệp Đạo theo kế vững bền
2581. Trấn Đạo phận sự nêu tên
2582. Thất thập hiền vị ở trên Tổ Đình
2583. Những vị giữ anh linh cửa Đạo
2584. Lưu danh qua lớp áo Tam Thiên
2585. Giáo Hữu ở khắp mọi miền
2586. Lo cho Châu Đạo bình yên trong ngoài
2587. Cửu Trùng Đài phân hai lưỡng phái
2588. Bên Nam gồm ba phái như xưa
2589. Phái Thái theo gốc cũng vừa
2590. Màu vàng Phật Đạo từ xưa đến giờ
2591. Phái Thượng xưa vốn thờ Lão Tử
2592. Màu xanh nay công cử Tiên gia
2593. Phái Ngọc là phái thứ ba
2594. Đại diện Nho giáo cũng là Nho Tông
2595. Bên Nữ hợp cộng đồng chính thể
2596. Phẩm Đầu Sư vốn để chính danh
2597. Dẫn dắt phái nữ mà thành
2598. Tuân theo phẩm vị hoá sanh đương thời
2599. Xem như vậy ở nơi Đền Thánh
2600. Bên nữ phái cùng sánh bên nam
2601. Giúp cho nền Đạo đệ tam
2602. Âm dương hoà hợp để làm căn cơ
2603. Theo như những vần thơ của Đạo
2604. Cơ sanh hoá đào tạo mà nên
2605. Chủ quyền nắm giữ ở trên
2606. Con người giữ lấy tạo nên luân thường
2607. Vốn mọi sự âm dương hoà hiệp
2608. Đạo hợp cùng nối tiếp ý Thiên
2609. Lưu truyền theo sự biến thiên
2610. Âm dương hợp lại nối liền không gian
2611. Cấp thứ sáu vào hàng Giáo Hữu
2612. Ngó hai bên tả hữu ra vào
2613. Phía trên có toà tháp Cao
2614. Nghinh phong tên gọi đài cao nối liền
2615. Những vị chứng thánh hiền nối tiếp
2616. Đài Nghinh phong nghinh tiếp vào chầu
2617. Thế gian bất cứ nơi đâu
2618. Hướng về đền Thánh để chầu Chí Tôn
2619. Đài Nghinh Phong bao gồm dịch lý
2620. Âm Dương hiệp thuận ý mệnh Trời
2621. Thiên Can hợp lại một nơi
2622. Địa chi thuận giải máy Trời nêu lên
2623. Chỗ cao nhất ở trên Đền Thánh
2624. Long Mã phụ cùng gánh Hà Đồ
2625. Phương Tây là hướng đi vô
2626. Phương Đông ngoái lại ứng vô phương Đoài
2627. Hợp can chi nối hai phương ấy
2628. Nối Đông Tây mới thấy điều hay
2629. Phương Đông theo lý thẳng ngay
2630. Bính Dần hiệp lại vào ngày Đạo khai
2631. Phương Tây vốn thường hay chuẩn mực
2632. Nhìn định hướng theo mức Tân Thân
2633. Như vậy theo lý duyên phần
2634. Tạo cơ tận độ là phần lý hay
2635. Âm Dương kết thành hai quẻ dịch
2636. Chưa giao thương theo tích liên hoà
2637. Quẻ Thiên Địa Bỉ sinh ra
2638. Thể hiện mọi sự còn là hỗn mang
2639. Khi Âm Dương đường hoàng giao kết
2640. Sự giao hoà được chiết sinh ra
2641. Quẻ Địa Thiên Thái đó là
2642. Sinh thời vạn vật thái hoà giao nhau
2643. Diệu lý vốn muôn màu muôn vẻ
2644. Người nương theo chia sẻ điềm lành
2645. Thuận cơ tận độ hoá sinh
2646. Theo như Phật Mẫu chân kinh chỉ làm
2647. Thập Thiên can bao hàm vạn tượng,
2648. Tùng địa chi hóa trưởng Càn Khôn.
2649. Trùng hườn phục vị thiên môn,
2650. Ngươn linh hóa chủng quỉ hồn nhứt thăng.
2651. Biết lý Đạo truyền rằng theo hướng
2652. Phương Đông định chuyển hướng phương Tây
2653. Giáo Đạo định đoạt nơi đây
2654. Quay về theo hướng dựng xây ban đầu
2655. Người thiện tín ở đâu cũng thấy
2656. Lý diệu huyền nắm lấy trong tay
2657. Đọc kinh hành lễ hàng ngày
2658. Ở ngoài cũng thấy như ngay trong đình
2659. Trên plafon có hình rồng xoắn
2660. Sáu rồng đoanh giữ nắm lấy nhau
2661. Tượng hình kinh giáo theo câu
2662. Lục Long thời chuyển đứng đầu dịch chu
2663. Bao hàm cả công phu luyện Đạo
2664. Quẻ Thuần Càn có sáu nét liền
2665. Hành theo dịch lý trước tiên
2666. Quan sát sáu nét lưu truyền không sai
2667. Lân Quy Phụng khắc hai bên dãy
2668. Tứ linh được nhìn thấy rõ ràng
2669. Tạo thành điềm phước thọ an
2670. Thánh nhân đem đến bình an cho đời
2671. Theo xắp đặt chuyển dời cấp bậc
2672. Phẩm Giáo Hữu ứng nấc Thánh hiền
2673. Chế ngự sáu dục trước tiên
2674. Nhiệm vụ cứu tế phổ truyền giáo thông
2675. Năng giúp đỡ cộng đồng tín hữu
2676. Lý giáo truyền phổ tế độ nhân
2677. Giảng đài theo lý giữ phần
2678. Thuyết minh giáo lý muôn phần thậm thâm
2679. Giúp Đạo tín chẳng lầm thế cuộc
2680. Cơ hữu hình ràng buộc vào thân
2681. Nương theo Đạo lý chuyển luân
2682. Giúp người tâm Đạo nhận chân Đạo màu
2683. Biết thời thế làm sao biến chuyển
2684. Ứng theo luật sau biến tất thông
2685. Ngẫm ra cái lý đại đồng
2686. Trước là cùng biến để không đổi dời
2687. Hai bên vách ở nơi Đền Thánh
2688. Hình Thiên Nhãn bên cánh hoa sen
2689. Tạo thành nhận thức cho quen
2690. Đời sống vật dục như sen dưới bùn
2691. Ai theo lý biết tùng Thiên mạng
2692. Nương thiên lý toả sáng hào quang
2693. Đem đến cuộc sống bình an
2694. Phổ truyền tam giáo vô vàn công lao
2695. Nay hợp nhất ở vào Đền Thánh
2696. Phò Thánh minh cùng sánh công lao
2697. Đẹp như hoa gấm Trời sao
2698. Ơn sâu nhuần thấm Đức Cao xa đồn
2699. Sát với chỗ CHí Tôn thường ngự
2700. Bảy ngai vàng cắt cử dựng lên
2701. Giáo Tông vị trí ngai trên
2702. Các ngai còn lại theo tên đặt bày
2703. Ba ngai phượng cho ngài Chưởng Pháp
2704. Thượng Thái Ngọc được xắp theo hàng
2705. Trạm trổ gỗ quý thiếp vàng
2706. Đầu Sư nằm dọc theo hàng ba ngai
2707. Trạm kỳ Lân ở hai tay nắm
2708. Khắc tinh vi cũng lắm công phu
2709. Thể hiện công Đức người tu
2710. Sánh ngang hiền thánh phạm trù trần gian
2711. Hai hàng lộng theo hàng được sắp
2712. Hai bên ngai ngăn nắp chỉnh chu
2713. Bát bửu được sắp công phu
2714. Ở nấc thứ tám hộ phù Đạo tâm
2715. Để chính nhân không lầm tà quái
2716. Giữ hương hoa trổ trái ngọt lành
2717. Bát bửu linh vật cứu sanh
2718. Bát tiên thường nắm giữ giành Đạo Cao
2719. Cửa cửu Thiên dẫn vào Bát Quái
2720. Trên Cửu Trùng có cái Đài Cao
2721. Lấp lánh muôn vàn ánh sao
2722. Qua Đài Bát Quái để vào cung Thiên
2723. Ngó lên trước mặt tiền chính điện
2724. Quả Càn khôn đối diện chánh môn
2725. Nơi có vạn vật sinh tồn
2726. Vô vàn tinh tú bảo tồn thế gian
2727. Sự gởi gắm vô vàn màu nhiệm
2728. Bao khó khăn ứng biến mà thành
2729. Thiên Nhãn thờ Đấng hoá sanh
2730. Nhân loại vạn vật đã thành danh nêu
2731. Trong thế gian ai đều cũng biết
2732. Càn Khôn do chữ viết diễn thành
2733. Âm Dương hợp Đạo hoá sanh
2734. Vũ Trụ vạn loại mới thành tuổi tên
2735. Nay được thờ ở trên đền Thánh
2736. Lòng kỉnh thành cùng sánh Đài Cao
2737. Thờ Đấng Thượng Đế trên Cao
2738. Hoà nhập nguyên khí ứng vào tâm linh
2739. Nơi thờ Đấng Chí Linh rạng rỡ
2740. Nhìn Đài cao hớn hở mộng tình
2741. Quán soi những nét điển linh
2742. Nhận chân Đạo lý chuyển hình thế gian
2743. Đài Bát Quái vô vàn Cao quý
2744. Nơi chứa đựng Thiên lý Thiên cơ
2745. Thần Thánh Tiên Phật cùng thờ
2746. Cùng chung diệu lý Thiên thơ lập thành
2747. Đài Bát Quái tạo thành tám cạnh
2748. Tám cửa vào cùng sánh tám cung
2749. Cung Đoài chính diện đối cùng
2750. Cũng là cung Đạo thuận tùng Thiên Cơ
2751. Ngay bên trái Càn vô đắc kháng
2752. Quay theo vòng ánh sáng đổi chiều
2753. Ly Khảm chuyển dịch bao nhiêu
2754. Thuận cơ sanh hoá là điều tự nhiên
2755. Chiếc Khảm chuyển hậu Thiên Bát Quái
2756. Điền Ly thành Bát Quái Tiên Thiên
2757. Giúp cho các bậc tiền hiền
2758. Đắc Đạo tại thế Phật Tiên Thánh Thần
2759. Theo nguyên lý đến gần cửa Đạo
2760. Hiểu phương tu phước báo chuyển thành
2761. Phản phục là chiều hoá sanh
2762. Nhân loại vạn vật đã thành xưa nay
2763. Nhứt bổn tán đã thay thiên lý
2764. Vạn thù quy theo ý Thiên Thơ
2765. Sản sanh dưới một ngọn cờ
2766. Cao Đài Đại Đạo để thờ Chí Tôn
2767. Nơi nắm giữ linh hồn của Đạo
2768. Theo như câu thánh giáo chỉ rành
2769. Ngày nay trong thể biến sanh
2770. Thầy nắm chánh giáo không dành phàm nhân
2771. Đài bát Quái nắm phần Đạo pháp
2772. Do Âm Dương hữu hạp biến sanh
2773. Cửu trùng giáo hoá nhơn sanh
2774. Hiệp Thiên nối lại mới thành Đài Cao
2775. Ngay dưới thềm ra vào Bát Quái
2776. Mười hai bậc ứng với tầng Trời
2777. Sắp xếp cũng giống ở nơi
2778. Khai Thiên thập nhị trên Trời cao xanh
2779. Dưới Càn Khôn nơi dành thờ phượng
2780. Các Giáo chủ theo hướng cung Đoài
2781. Các Đấng vì Đạo quảng khai
2782. Các nền Tôn Giáo an bài trần gian
2783. Đức Thích Ca giữ hàng Phật Vị
2784. Đức Lão Tử giữ chí Đạo gia
2785. Đức Khổng giáo chủ Nho gia
2786. Đứng cùng tam giáo cũng là Tam nguyên
2787. Các Đấng thường quảng truyền giáo pháp
2788. Tam Trấn cùng hữu hạp thờ chung
2789. Quan Âm vị trí ngoài cùng
2790. Quan Thánh ngồi ở bên cùng thuận tay
2791. Lý Thái Bạch thờ ngay chính giữa
2792. Đức Jesu ngồi giữa theo hàng
2793. Giáo chủ Thánh Đạo giữ an
2794. Ngũ chi Đại Đạo ở hàng thứ ba
2795. Hàng thứ bốn cũng là Thần Đạo
2796. Đức Khương Thượng mặc áo chủ nhân
2797. Người đời ghi nhớ công ơn
2798. Các Đấng giáo chủ Cao sơn sánh bằng
2799. Cung Đẩu Suất tượng bằng cung Đạo
2800. Nơi các Đấng truyền giáo độ người
2801. Đó cũng được chọn là nơi
2802. Hiệp nhất thánh thể giữa Trời và nhân
2803. Bức hoành phi ở gần Cung Đạo
2804. Tạc tượng thờ giáo chủ bổn nguyên
2805. Thờ chung các vị Thánh hiền
2806. Cùng thờ các vị đại tiên lưu truyền
2807. Tượng thất thánh phía diềm nam phái
2808. Vì chính nhân lẽ phải công bằng
2809. Phò Châu thuận lý biết rằng
2810. Diệt Trụ trừ bạo khuyên răn người đời
2811. Sống chân chính ở nơi trần thế
2812. Dùng tài năng là để kiến công
2813. Giúp cho Thiên hạ hoà đồng
2814. Làm tròn bổn phận mà không hưởng gì
2815. Xin viết mấy vần thi khen ngợi
2816. Nêu công trạng ứng với tuổi tên
2817. Phong thần vượt Đức nêu lên
2818. Vào trường phong Thánh có trên bảng vàng
2819. Lôi Chấn Tử tóc vàng tợ sắc
2820. Ứng con trời một mặt tôi trung
2821. Oai thần mắt sáng hoà cùng
2822. Đôi cánh bay khắp tận cùng thế gian
2823. Tay cầm lấy gậy vàng trợ giúp
2824. Phò nhà Châu chẳng thích công danh
2825. Rõ ràng hai hạnh hoá sanh
2826. Mọc đôi cánh mỏng lập thành công lao
2827. Lý Tịnh vốn ứng vào Tổng trấn
2828. Ải Trần Đường là trấn giữ gìn
2829. Nắm lấy Bửu tháp huỳnh kim
2830. La Tuyên hàng phục giữ yên sơn hà
2831. Thầy dạy Đạo tên là Độ Ách
2832. Ân Phu Nhân một nách ba con
2833. Đời sau danh mãi vẫn còn
2834. Lưu truyền tại thế là con nhà Trời
2835. Kim Tra quý ở nơi thần tướng
2836. Xuống Tây Kỳ cùng hướng hoá sanh
2837. Phò Châu lập được công danh
2838. Hưng Châu diệt Trụ đã thành danh nêu
2839. Tôn sư dạy ai đều cũng biết
2840. Tên Tự vốn được chiếc sinh ra
2841. Văn Thù Sư Lợi cũng là
2842. Thiên Tôn Quảng Pháp cũng là Phật Tôn
2843. Mộc Tra nổi danh đồn thần dũng
2844. Dù tuổi trẻ nhưng cũng rõ tiên
2845. Xuống núi trợ giúp người hiền
2846. Võ Vương Đức lớn tại miền Kỳ Tây
2847. Phổ Hiền chính là thầy dạy Đạo
2848. Thuổ Phong Thần mặc áo thần tiên
2849. Cũng là một Đấng đại hiền
2850. Phổ Hiền Bồ Tát Phật điền hạnh cao
2851. Linh Châu Tử ứng vào Thiên tướng
2852. Phò nhà Châu trảm tướng Trụ Vương
2853. Càn Khôn chớ có xem thường
2854. Hỗn Lăng Phong Hoả tìm đường hưng châu
2855. Sư Thái Ất không cầu mà gặp
2856. Tên Na Tra được xắp đặt nên
2857. Bông sen cùng lấy làm nền
2858. Hoạ phù niệm chú dựng lên hình hài
2859. Đạo biến hoá thường hay huyền diệu
2860. Người sinh ra cửu khiếu thần tiên
2861. Khai thông con mắt hiện tiền
2862. Thần thông biến hoá diệu huyền lắm thay
2863. Vương Tiễn ứng vào ngay thiên khiếu
2864. Mở thần thông mắt chiếu hào quang
2865. Giữ cho Thiên hạ được an
2866. Phò Châu diệt Trụ chẳng màng công danh
2867. Huyền quang khiếu được thành như thế
2868. Nhờ ân sư dạy để độ nhơn
2869. Thầy là Ngọc Đảnh chơn Nhơn
2870. Đỉnh đầu trụ đảnh chơn nhơn sinh thành
2871. Biết tùng mệnh hoá sanh nhân kiệt
2872. Dựng nên nghiệp oanh liệt thiên thu
2873. Ngày xưa có vị công phu
2874. Thờ thầy Đạo Hạnh luyện tu mà thành
2875. Vi Hộ Pháp hoá sanh nơi Đạo
2876. Cầm Giáng Ma trừ bạo diệt yêu
2877. Lập nên công trạng cũng nhiều
2878. Giúp cho cửa Đạo sinh nhiều thánh minh
2879. Nay trở lại chính mình dưới thế
2880. Phò Chí Tôn là để lập công
2881. Mở ra kỷ yếu đại đồng
2882. Lập thành chánh thể cộng đồng Phật Tiên
2883. Phía bên ứng với diềm nữ phái
2884. Thờ Bát Tiên quá Hải như xưa
2885. Bao nhiêu công quả cho vừa
2886. Luyện đơn sửa tánh cũng chưa thành hình
2887. Biết nương tựa anh minh cửa Đạo
2888. Lo Hành theo lý Đạo khởi sinh
2889. Công phu công quả công trình
2890. Thường xuyên thực hiện quên mình xả thân
2891. Noi điển tích đến gần cửa Đạo
2892. Hành thiện qua lớp áo nhà tu
2893. Nhìn ra mới thấy công phu
2894. Tám Tiên ứng biến luyện tu mà thành
2895. Lý Thiết Quả đã sanh thần biến
2896. Vì xác thiêu mới tiến bực tu
2897. Nhờ vào những pháp công phu
2898. Cứu người độ thế trượng phu sinh thành
2899. Chung Ly Quyền thành danh tướng quốc
2900. Sợ học trò hoạ chuốc vào thân
2901. Lợi danh mất vị tiên Thần
2902. Ngưng Dương độ rỗi giải phần nhân duyên
2903. Lam Thể Hoà thành tiên thuần hậu
2904. Thích ăn xin chẳng dấu của cho
2905. Ngày sau gieo phước chăm lo
2906. Độ người duyên Đạo qua đò về Thiên
2907. Trương Quả Lão là Tiên tại thế
2908. Xuống trần thế là để độ hiền
2909. Ông có cốt cách thần Tiên
2910. Lừa trắng cỡi ngược hậu tiền không hai
2911. Hà Tiên Cô thường hay thương mẹ
2912. Nàng Tố Nữ xem nhẹ hồng trần
2913. Đạo Tiên cô thích được gần
2914. Hoa Lam giữ giỏ nắm phần Tiên Cô
2915. Lữ Đồng Tân thích ô lộng quạt
2916. Áo tu hành chưa vội khoác lên
2917. Huỳnh Lương một giấc ngũ quên
2918. Công hầu rũ bỏ, danh trên cung Trời
2919. Hàn Tương Tử dùng lời giảng giải
2920. Khuyên Hàn Dũ biết phải mà hành
2921. Tiếc gì một kiếp bình sanh
2922. Nương theo cửa Đạo mới thành danh cao
2923. Có một vị là Tào Quốc Cựu
2924. Biết dữ lành muốn cứu người thân
2925. Đạo Tiên ứng với duyên phần
2926. Bồng Lai hưởng quả cõi trần không tham
2927. Hầm Bát Quái được làm bên dưới
2928. Thờ các vị đã tới công lao
2929. So với phẩm vị trên Cao
2930. Đầu sư ngang vị ứng vào phẩm Tiên
2931. Nơi toạ lạc đỉnh trên Bát Quái
2932. Ba vị Phật tượng cái gọi là
2933. Phật giữ Tam Thế sinh ra
2934. Ba kỳ điều khiển gọi là tam ngươn
2935. Drahma Phật khiển ngươn Thánh Đức
2936. Đấng Sáng tạo ứng bực nhất ngôi
2937. Vũ trụ vạn vật sinh sôi
2938. Do cơ sanh hoá đến hồi tạo ra
2939. Thất đầu xà CiVa đứng đó
2940. Điều khiển ngươn tiến hoá loài người
2941. Sanh diệt biến dị ở đời
2942. Giữ quyền điều khiển phép Trời sinh ra
2943. Ngươn bảo tồn Christna nắm giữ
2944. Dạy thế nhân xa dữ gần lành
2945. Con người trong kiếp hoá sanh
2946. Công Đức tròn đủ thì thành Phật Tiên
2947. Tam Thế Phật hiện trên Đền Thánh
2948. Dạy người dân xa lánh bụi trần
2949. Thành tâm hướng thiện đến gần
2950. Quy cổ Thánh Đức có phần Công lao
2951. Ba vị Phật ứng vào Tam Thế
2952. Là ba ngôi Thượng Đế sinh ra
2953. Theo cơ biến dịch cũng là
2954. Hoà hiệp nhân loại tạo ra Đại đồng
2955. Thuận dịch lý biến không thành có
2956. Người biết nương theo đó mà hành
2957. Hướng Nam là hướng hoá sanh
2958. Christna theo hướng để dành bảo ban
2959. Đức Drahma vì hàng Tiên Phật
2960. Theo hướng Tây tạo bậc Thiên Tôn
2961. Theo cơ sanh hoá Càn Khôn
2962. Thượng ngươn Thánh đức bảo tồn Thánh linh
2963. Đức CiVa chính mình nắm giữ
2964. Thuận theo cơ diệt dữ sinh lành
2965. Hướng Bắc là hướng diệt sanh
2966. Ngài nương theo hướng bảo sanh loài người
2967. Thuận Đạo lý phần mười sáng tỏ
2968. Biết nương theo mới có nghiệp lành
2969. Trong cơ tận diệt biến sanh
2970. Tạo công lập vị có thành quả cao
2971. Cửa bên hông ra vào Đền Thánh
2972. Có Tạc hình Hạc sánh với câu
2973. Bụng trống là chữ mở đầu
2974. Thảnh thơi Hạc nội là câu nối liền
2975. Tiếp theo chữ được điền đầy lúa
2976. Túng thiếu vẫn chưa kết thành câu
2977. Hợp chung với chữ mở đầu
2978. Phận gà là chữ lồng vào nên câu
2979. Dạy tín đồ trước sau gìn giữ
2980. Thuận Đạo hành nắm giữ ngôi Thiên
2981. Cuộc sống trong lúc sinh tiền
2982. Tinh thần Vật chất nối liền ngăn che
2983. Vốn lúc trước được nghe Thiên Chúa
2984. Nói về câu chất chứa sinh thành
2985. Các con vốn đã là cành
2986. Cây nho là Chúa ban lành cho con
2987. Sự tích ấy vẫn còn tại thế
2988. Tạc thành hình là để chỉ rằng
2989. Nho Tông chuyển thế hoá sanh
2990. Nương theo Đạo Lớn mà thành Thần Tiên
2991. Theo bên hông nối liền Đền Thánh
2992. Kim Mao Hẩu cùng sánh bên nhau
2993. Cầu thang giữ lối ra vào
2994. Giúp cho tà quái không sao vào đền
2995. Kim Mao Hẩu vốn trên thượng giới
2996. Theo Hộ Pháp về với trần gian
2997. Giữ cho Đền Thánh được an
2998. Ngồi gác bên cửa đường hoàng Hoa Tiên
2999. Ngẫm lại lời thánh hiền dạy bảo
3000. Bao huyền vi lý giáo hiện thành
3001. Từ thời Đạo sử mong manh
3002. Chùa Từ Lâm Tự khai thành đến nay
3003. Hồi nhớ lại những ngày mở Đạo
3004. Thuận theo lời dạy bảo ơn trên
3005. Tây Ninh Toà Thánh dựng nên
3006. Chi chi cũng tại cái tên Tây Kỳ
3007. Hợp từ chữ Nam kỳ lục tỉnh
3008. Kết Tây Ninh là tỉnh thành nên
3009. Ứng theo Thần Bảng phong tên
3010. Tây Kỳ là chỗ lập nên Phong Đài
3011. Lạ lùng chỗ thấy hai ra một
3012. Gieo anh linh nảy hột tinh hoa
3013. Tây Ninh Toà Thánh nói ra
3014. Là nơi tạo dựng âu ca thái bình
3015. Nơi hạt giống Chí Linh ban rãi
3016. Chỗ Lục Long hợp lại mà thành
3017. Theo lời Đức Lý chỉ rành
3018. Lục Long Phò Ấn tạo thành đất thiêng
3019. Lần theo sử về miền đất Thánh
3020. Biết Ngôi Âm cùng sánh Ngôi Dương
3021. Âm dương tương hiệp mở đường
3022. Sinh sôi nảy nở mọi phương hài hoà
3023. Cùng xây với ngôi toà Thánh lớn
3024. Báo Ân Từ theo chớn hình thành
3025. Nơi đó thờ Đức mẹ sanh
3026. Diêu Trì Kim Mẫu tên thành kính yêu
3027. Trong nội ô ai đều cũng biết
3028. Toà Báo Ân anh kiệt thờ tên
3029. Chờ khi Phật Mẫu dựng nên
3030. Điện thờ theo mẫu ơn trên chỉ thành
3031. Vốn từ lúc chưa sanh Trời Đất
3032. Thời hỗn mang được đặt hư vô
3033. Nổ ra một tiếng cơ đồ
3034. Sản ngôi Thái Cực ứng vô Ngọc Hoàng
3035. Thuận theo lý bảo toàn vũ trụ
3036. Ngôi Âm Dương căn cứ sinh ra
3037. Ngôi Âm chưởng quản chính là
3038. Diêu Trì Kim Mẫu cũng là mẹ sanh
3039. Đức Phật Mẫu thâu lằn Dương khí
3040. Hợp Âm Quang theo lý tạo thành
3041. Càn khôn vũ trụ hoá sanh
3042. Tinh cầu vạn vật mới thành danh nêu
3043. Vạn linh gốc thương yêu sinh khởi
3044. Hoá bát hồn cũng bởi thương yêu
3045. Chúng sanh vạn vật cùng đều
3046. Do cơ sinh hoá phần nhiều tạo nên
3047. Nơi mẹ ngự có tên Tạo Hoá
3048. Chỗ huyền vi biến hoá cõi Thiên
3049. Thuận cơ luân chuyển trước tiên
3050. Chơn hồn nương tựa mẹ hiền kính yêu
3051. Vì trọng nghĩa nên nêu danh tiết
3052. Vốn nguyên căn được chiếc sinh ra
3053. Chơn linh phối hợp đó là
3054. Chơn Thần hiệp lại tiết ra chơn Hồn
3055. Cơ sinh hoá càn khôn đào tạo
3056. Do Âm Dương hiệp Đạo biến thiên
3057. Trong kinh hôn phối lưu truyền
3058. Âm Dương hoà hiệp nối liền không gian
3059. Chân lý ấy vô vàn huyền bí
3060. Vì Âm Dương tạo khí chuyển lưu
3061. Người mà biết dụng công phu
3062. Hiệp nguyên chân khí luyện tu mà thành
3063. Biết dựa vào mẹ sanh hướng Đạo
3064. Anh Nhi thành thuận giáo hoá sanh
3065. Thánh thai theo đó mà thành
3066. Nương tựa theo khí tinh anh thái hoà
3067. Tạo Hoá Thiên có toà cung điện
3068. Diêu Trì cung khí biến hoá sanh
3069. Ngọc Diêu tượng khí mà thành
3070. Cạnh ao thất bửu thâu lằn sanh quang
3071. Hiệp Âm Quang tạo ngàn tinh tuý
3072. Sự sản sanh được ví Chơn thần
3073. Vạn linh theo đó sinh phân
3074. Bát hồn vận chuyển hoá thành chúng sanh
3075. Những ân cần giỗ dành con trẻ
3076. Vì tình thương sinh đẻ mà thành
3077. Thuận theo cái lẽ hoá sanh
3078. Bao điều tốt đẹp muốn dành cho con
3079. Nơi Thiên giới mẹ còn dẫn dắt
3080. Dìu con thơ qua những nấc thang
3081. Thấy con tiến bước lên đàn
3082. Mẹ nâng tay đỡ vô vàn yêu thương
3083. Con dò dẫm trên đường tấn hoá
3084. Mẹ chỉ đường vạch lá tìm sâu
3085. Lấy chữ chân thiện làm đầu
3086. Biển mê là chỗ bắc cầu vượt qua
3087. Lo lập Đức mới ra chân thánh
3088. Biết rèn tâm luyện tánh hoá Thiên
3089. Dưới trần là một chơn hiền
3090. Công trình để lại lưu truyền về sau
3091. Trong lò luyện muôn màu muôn vẻ
3092. Nên kim thân con trẻ gắng tu
3093. Chơn thần mẹ nhắc công phu
3094. Anh linh cảm tính trượng phu nối dòng
3095. Mặt Thánh Hiền có trong cửa Đạo
3096. Do Thánh linh đào tạo mà nên
3097. Phẩm vị ứng với tuổi tên
3098. Lập thành dưới thế danh trên cung trời
3099. Mẹ thường dùng những lời dạy Đạo
3100. Nương theo cơ Thánh giáo truyền lưu
3101. Con ơi con biết vận trù
3102. Chuyển xoay thời thế công phu viên thành
3103. Nương theo câu đất lành chim đậu
3104. Biết chánh mệnh xuyên thấu tầng Trời
3105. Tạo công lập vị ở nơi
3106. Thường hành theo lý ý Trời đặt nên
3107. Mọi xắp đặt ở trên thượng giới
3108. Con lo tu vươn tới Trời Cao
3109. Cửu Thiên là cửa đi vào
3110. Thiên Hậu dẫn dắt khác nào mẫu thân
3111. Cho Cửu Tiên đến gần con trẻ
3112. Thiên Đạo luôn nhắc khẻ chỉ thầm
3113. Hành Đạo biết giữ phương châm
3114. Phụng sự nhân loại không lầm bàng môn
3115. Biết giữ Đạo phần hồn là quý
3116. Chữ Chơn Tâm theo lý phụng hành
3117. Tâm Thành là bởi phước sanh
3118. Tâm Chánh giữ trọng mới thành Đạo Tâm
3119. Nhơn sanh an chẳng lầm Tâm Ái
3120. Thiên hạ trị do lấy Tâm Hoà
3121. Mở Tâm từ đấy nhìn ra
3122. Nhân loại vạn vật một nhà anh em
3123. Biết Nghĩa Nhân đừng nên xem nhẹ
3124. Hiểu Đức Hạnh là lẽ sinh thành
3125. Bên mẹ có Phật Quảng Sanh
3126. Chuyên lo về sự hoá sanh muôn loài
3127. Dưỡng Dục Phật thường hay dạy bảo
3128. Cơ trưởng sanh giáo Đạo vạn linh
3129. Thuận theo luân lý vô hình
3130. Thủ Luân Phật dạy chơn linh bảo tồn
3131. Nương theo Đạo phần hồn xem trọng
3132. Tùng Thiên mệnh dưới bóng Hồng Quân
3133. Linh hồn thanh nhẹ đến gần
3134. Chưởng quản Hậu Phật dạy phần bảo sanh
3135. Cõi Âm Quang được dành giáo hoá
3136. Những tội hồn vì đã lạc đường
3137. Nhìn con ngấn lệ mẹ thương
3138. Mong con tỉnh giấc biết đường hồi luân
3139. Phục nguyên nhân giữ phần định vị
3140. Giáo hoá hồn theo ý Thiên cơ
3141. Nắm tay dẫn dắt con thơ
3142. Nương theo Phật tánh qua bờ về nguyên
3143. Trung khổ hải độ thuyền Bát Nhã
3144. Phép từ bi giải quả trừ căn
3145. Huờn hồn chuyển đọa vi thăng,
3146. Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn Chưởng Âm
3147. Những lời thơ chân kinh dạy bảo
3148. Con nương theo, mẹ giáo hoá truyền
3149. Hườn hồn về với cửa Thiên
3150. Mẹ chăm dạy bảo, giữ quyền độ siêu
3151. Những diễn tả bao nhiêu cho hết
3152. Công Đức mẹ sao viết nên câu
3153. Phụ Mẫu là nghĩa đi đầu
3154. Bến giác mẹ bắc nhịp cầu con qua
3155. Mẹ chăm sóc vườn hoa Ngạn Uyển
3156. Bao nâng niêu quyến luyến bông hoa
3157. Biết rằng mỗi đoá trổ ra
3158. Rạng rỡ hương sắc đó là con ngoan
3159. Công Đức mẹ vô vàn Cao quý
3160. Dạy nhân sanh Đạo lý hành tu
3161. Chuyển giao những pháp công phu
3162. Giúp cho con trẻ chứng tu mà thành
3163. Những tinh anh biến sanh dưới thế
3164. Những Thiên Sứ xuống để độ nhân
3165. Theo lệnh Thiên Hậu đến gần
3166. Nhân sinh giáo hoá muôn phần công lao
3167. Mẹ mở Hội Bàn Đào đãi tiệc
3168. Những linh hồn trọn việc trần gian
3169. Thành quả được đứng vào hàng
3170. Thần Thánh Tiên Phật muôn ngàn tinh anh
3171. Những nguyên nhân đã thành Tiên Phật
3172. Bát Bửu Nang đã thật giữ gìn
3173. Thuận Đạo, giữ trọn đức tin
3174. Quay về Thiên Giới trọn tình Mẫu thân
3175. Tạo Hoá Thiên được gần bên mẹ
3176. Như những ngày còn bé trong nôi
3177. Thâm tình xúc cảm bồi hồi
3178. Trong vòng tay mẹ như hồi còn thơ
3179. Những anh linh kỉnh thờ thành kính
3180. Mẹ Thiêng Liêng cung kính dâng lên
3181. Cầu nguyện với mẹ bề trên
3182. Độ nền Đạo Lớn vững bền ức niên
3183. Nhờ Công Đức Cửu Thiên Khai Hoá
3184. Đức Chí Tôn ân xá kỳ ba
3185. Mở ra Đại Hội Long Hoa
3186. Quy nguyên Tam Giáo một nhà anh em
3187. Nền Đạo lớn ,phước đem ban rãi
3188. Hạnh phúc thay con cái Chí Tôn
3189. Rồi đây trong khắp Càn khôn
3190. Mọi người cung kính Chí Tôn Kỉnh thờ
3191. Pháp Luân Thường đến giờ khai triển
3192. Từ Cổ xưa cùng tiến đến nay
3193. Dù cho vạn sự đổi thay
3194. Đạo lý vẫn một chẳng thay đổi gì
3195. Ngẫm lại những vần thi của Đạo
3196. Thông qua cơ truyền giáo độ nhân
3197. Quán soi đến lý thật chân
3198. Sứ mạng Đại Đạo giữ phần cứu tinh
3199. Hoàn cầu được Thái bình tại thế
3200. Đạo Cao Đài mở để triển khai
3201. Mọi người hướng đến tương lai
3202. Hoà ,An, Lương, Ái đổi thay hoàn toàn
3203. Thầy sắp cuộc dinh hoàn tái tạo,
3204. Dụng huyền linh Đại Đạo vận hành,
3205. Quyền Thầy hiệp cả vạn sanh,
3206. Đông tây, kim cổ lập thành tương lai.
3207. (... ) Trước xây đắp Cao Đài thánh đức,
3208. Dụng Nam bang làm nước phóng khai.
3209. Dân Nam sứ mạng Cao Đài,
3210. Năm châu bốn bể hòa hài từ đây.
3211. Thế gian đã đến ngày hội mở
3212. Mọi người dân hớn hở mộng tình
3213. Mọi người biết chỗ hoà mình
3214. Cùng nhau tạo dựng thái bình an vui
3215. Dựng nên giữa khung Trời hùng vĩ
3216. Một Đài Cao linh khí uy nghiêm
3217. Nằm ngay tại chỗ trung tim
3218. Sáu Rồng đoanh lại được tìm tại đây
3219. Cùng hội lại dựng xây Đạo Lớn
3220. Thiên hiệp Nhân bắc nối nhịp cầu
3221. Truyền tải Đạo lý thâm sâu
3222. Chân truyền giáo pháp từ lâu kiếm tìm
3223. Dễ gì thấy cái kim đáy bể
3224. Nếu không do Thượng Đế đặt nên
3225. Tôn Giáo vốn đã thành tên
3226. Lưu truyền từ trước ở trên trần đời
3227. Tôn diễn tả bằng lời tôn chỉ
3228. Giáo hoá sanh theo lý Đạo sâu
3229. Chữ Tôn cũng được mở đầu
3230. Chí Tôn danh gọi ân sâu đáp đền
3231. Xưa giáo truyền bằng tên chính thống
3232. Nay hợp nguyên sự sống loài người
3233. Giúp cho cửa Đạo sáng tươi
3234. Mọi điều chân lý phần mười dựng lên
3235. Không phân biệt theo tên giáo pháp
3236. Thuận theo lý Đạo pháp lập thành
3237. Hội tụ tất cả tinh anh
3238. Các nền chủ thuyết hình thành xưa nay
3239. Vì Thiên lý đến ngày hoà hiệp
3240. Nhân sinh quan nối tiếp thiên thơ
3241. Lập nên thánh địa kỉnh thờ
3242. Vĩ nhân từ cổ đến giờ Chí kim
3243. Trên thế gian dễ tìm đâu thấy
3244. Những tinh hoa hột nẩy đâm chồi
3245. Chính trên mãnh đất làm nôi
3246. Dân tộc Lạc Việt dựng hồi hồng hoang
3247. Họ Hồng Bàng Cùng mang danh phận
3248. Lập nên cơ địa chấn chuyển rung
3249. Thiên nhân hoà ước hiệp cùng
3250. Chuyển xoay thế cuộc hợp chung chủ quyền
3251. Những biên giới định tiền từ trước
3252. Thành địa dư mỗi nước nêu tên
3253. Thiên cơ chuyển thế dựng nên
3254. Xóa bỏ ngăn cách ở trên hồng trần
3255. Nam Bang vốn là phần đất thánh
3256. Cũng là nơi cứu cánh muôn loài
3257. Mở cơ tận độ rộng khai
3258. Liên minh tôn giáo Cao Đài chính danh
3259. Hiệp vạn chủng hình thành chánh giáo
3260. Quy Thiên lương lý Đạo chuyển giao
3261. Huyền linh bí mật trên cao
3262. Gieo cơ đào tạo chuyển giao cho người
3263. Lý Đạo vốn phần mười sáng tỏ
3264. Qua Đàn cơ bày tỏ nguồn căn
3265. Khuyên người từ chỗ ăn năn
3266. Hành động cụ thể như rằng đền ơn
3267. Trong Tam giáo lý chơn như một,
3268. Thánh công bình là một giống thương,
3269. Tiên thì bác ái tứ phương,
3270. Phật thường chuyên luyện con đường từ bi.
3271. Suy cho kỹ đều y mục đích,
3272. Tùy mỗi nơi khuyến khích môn đồ,
3273. Nhà lành nẻo chánh lần vô,
3274. Xa điều ác ý điểm tô tâm hiền.
3275. Mắt trần tục thấy riêng Giáo chủ,
3276. Nhưng tinh thần gồm đủ phương châm,
3277. Hầu gieo giống tốt nảy mầm,
3278. Đơm hoa trổ quả cho năm châu nhờ.
3279. Theo như những vần thơ dạy Đạo
3280. Đức Gia Tô khuyên bảo chỉ răn
3281. Đạo vốn duy nhất bản căn
3282. Thờ chung ở chỗ như rằng chánh Tông
3283. Đạo hiệp chung mới không lầm lạc
3284. Đời phân chia thiện ác cách xa
3285. Từ xưa vốn một phân ra
3286. Chia năm xẻ bảy mới ra thế này
3287. Khi khoa học bắt tay tôn giáo,
3288. Chính trị cùng noi đạo thánh hiền.
3289. Là ngày thế giới ổn yên,
3290. Nhơn gian bá tánh phỉ nguyền ước ao.
3291. Đó là đêm trăng sao rực rỡ,
3292. Đó cũng ngày muôn thuở đợi mong.
3293. Tự do hạnh phúc đại đồng,
3294. Phóng tầm tư tưởng huyền thông cõi ngoài.
3295. Đức Thánh Trần thường hay dạy Đạo
3296. Những khuyên răn chỉ bảo người đời
3297. Xem mà ghi chú lấy lời
3298. Thuận theo Thiên lý Đạo Trời chuyển xoay
3299. Biết Thế Giới đến ngày đồng thuận
3300. Khi khoa học cùng tấn văn minh
3301. Đức tin Thiên Chúa phục sinh
3302. Giáng lâm dưới thế cứu tinh muôn loài
3303. Theo kinh thánh là ngày tận thế
3304. Lịch Maya cũng để thành câu
3305. Tới hồi trên khắp địa cầu
3306. Chiều xoay thay đổi nối đầu kỷ nguyên
3307. Những biến động tiếp liền dưới thế
3308. Khi khoa học không thể dự can
3309. Trước cơ tận diệt vô vàn
3310. Nhân loại thức tỉnh vén màn tâm linh
3311. Đồng cầu đấng cứu tinh nhập thế
3312. Cứu thế nhân khỏi bể trầm luân
3313. Tiếng chuông đồng loạt vang ngân
3314. Vang vọng đến những tầng trời xa xăm
3315. Biết đâu được những năm từ trước
3316. Đấng Thượng Đế đã được kỉnh thờ
3317. Cao Đài, qua những vần thơ
3318. Báo cho nhân loại ngày giờ trổ hoa
3319. THẦY: THƯỢNG-ĐẾ là Cha vạn vật,
3320. Đạo CAO-ĐÀI gồm tất Ngũ Chi,
3321. Mạt đời Tam Giáo đồng qui,
3322. Mượn cơ giáng điển cũng vì chúng sinh.
3323. Hợp cùng quyền vạn linh tại thế
3324. Lập CAO ĐÀI cũng để độ nguy
3325. Trong thời mạt pháp tam kỳ
3326. Âm thanh sắc tướng lắm khi biến hình
3327. Chữ NHÂN NGHĨA thiện tình biến cải
3328. Tạo ra cảnh ngang trái can qua
3329. Chủ tâm đánh mất chữ HOÀ
3330. Phân cực chia rẻ bạn bè anh em
3331. Điển tích cũ chẳng xem là trọng
3332. Gương thánh hiền như sóng gợn qua
3333. Từ trong tâm thức nhìn ra
3334. Biết rằng vật chất chỉ là phù du
3335. Những người trọng công phu giác ngộ
3336. Biết quay về từ chỗ sinh ra
3337. Hành theo lục Đạo Ba La
3338. Chuyển tâm bác ái chỉ là cỏn con
3339. Những lề lối chẳng còn gìn giữ
3340. Phép Gia Phong là chữ mất dần
3341. Những thứ hình thành chữ Nhân
3342. Không được xem trọng là phần tạo nên
3343. Những biến động ở trên trần thế
3344. Đã xảy ra là để chỉ rằng
3345. Do ác nghiệt tích tạo căn
3346. Tụ trên Thiên Giới từ hàng ngàn năm
3347. Sự phản lực được nằm đâu đó
3348. Đến ngày giờ mới có nổ ra
3349. Người biết Đạo tín nhìn xa
3350. Cùng nhau hiệp lực cộng HOÀ anh em
3351. Khuyên Nhân Loại biết xem Đạo tín
3352. Giữ Đức tin hành chính là phần
3353. Giải căn nghiệt đã tạo nhân
3354. Quả dần thay đổi là phần chuyển luân
3355. Đạo CAO ĐÀI giữ phần chuyển thế
3356. Chữ NGHĨA NHÂN được để lên đầu
3357. Chuyển đi thông điệp rộng sâu
3358. Bao trùm tất cả Hoàn Cầu thế nhân
3359. Khuyên mọi người đến gần cửa Đạo
3360. Hành thiện tâm phước báo giữ gìn
3361. Mỗi người biết chọn Đức tin
3362. Thực hiện theo lý chung tình giác tha
3363. Biết tự tín cũng là tâm Đạo
3364. Hiểu thiện căn Tôn Giáo lưu truyền
3365. Tin rằng có sự thiêng liêng
3366. Tổ Tiên Bàn Cổ lưu truyền đến nay
3367. Trọng vật chất thường hay thay đổi
3368. Biết tinh thần cùng đối lương tâm
3369. Mỗi bên chọn một phương châm
3370. Làm phương tiện sống tuỳ tầm giác tri
3371. Trọng vật chất thích nghi duy vật
3372. Hướng cuộc sống dục vật thế gian
3373. Vật chất đem đến bình an
3374. Tâm linh soi rọi hoàn toàn trống không
3375. Hướng xây dựng cộng đồng duy vật
3376. Dùng quyền năng từng nấc xây thành
3377. Không tin vào Đấng hoá sanh
3378. Vốn duy ý chí vận hành lý nguyên
3379. Hướng duy tâm nối liền tâm tánh
3380. Biết tâm linh cùng sánh thế nhân
3381. Hướng đến cuộc sống toàn phần
3382. Xem trọng linh tánh tạo phần bình an
3383. Hiệp hai hướng mới gần chủ thuyết
3384. Dùng vật chất là việc hướng sinh
3385. Tinh thần xem trọng tâm linh
3386. Mỗi phần có chỗ trung trinh thiện hành
3387. Đạo Cao Đài hình thành giáo lý
3388. Lấy căn bản hợp lý hợp tình
3389. Biết đường dẫn đến tâm linh
3390. Cần đến vật chất hoà bình triển khai
3391. Đạo lý vốn trong hai mà một
3392. Để lệ thuộc là cột lấy mình
3393. Đạo trọng hai chữ trung trinh
3394. Cùng với hai chữ công bình mở khai
3395. Nhìn sự việc từ hai ra một
3396. Quán soi đến cùng tột lý chân
3397. Biết rằng nguồn gốc thiện nhân
3398. Hình thành nên quả duyên phần về sau
3399. Người thuận lý ra vào cửa Đạo
3400. Lấy chính NHÂN thay áo nhà tu
3401. Trượng NGHĨA là chữ công phu
3402. Chuyển giao Đạo lý người tu nối dòng
3403. Pháp khai triển ở trong cửa Đạo
3404. Tuỳ căn cơ truyền giáo độ nhân
3405. Mỗi người có một duyên phần
3406. Gieo lý giác ngộ là phần lý nguyên
3407. Những vị có tâm chuyên tự giác
3408. Dùng nguyện lực tự tác nhân duyên
3409. Gieo mầm hạt giống thánh hiền
3410. Thuận cơ giải khổ lưu truyền về sau
3411. Những vị muốn ứng vào Tiên vị
3412. Thuận phục theo cái chí độ nhân
3413. Lấy cơ thắng khổ là phần
3414. Hành thiện hiệp tác nhân hiền về sau
3415. Những vị có duyên vào Phật vị
3416. Cơ diệt khổ là chí phụng hành
3417. Thuận theo cái lẽ hoá sanh
3418. Diệt hết ngũ uẩn mới thành Phật tôn
3419. Biết Đạo lý bảo tồn Thánh Thể
3420. Giữ lục căn không để nhiễm trần
3421. Lấy căn bản trí độ nhân
3422. Cộng nghiệp giải thoát muôn phần công lao
3423. Những Đạo lý khác nào lúc trước
3424. Nay hiệp đoàn theo bước cổ nhân
3425. Truyền tải Đạo lý Thánh Thần
3426. Nương theo cửa Đạo gieo phần độ siêu
3427. Biết lý Đạo nâng niu chơn tánh
3428. Diệt lục trần xa lánh phàm tâm
3429. Mệnh Thiên giữ vững tay cầm
3430. Tạo dựng cơ nghiệp muôn năm vững bền
3431. Phong Thần Bảng nêu tên danh tiết
3432. Gương chí sĩ oanh liệt thiên thu
3433. Ngày xưa những đấng trượng phu
3434. Dựng nên công nghiệp thiên thu vững bền
3435. Nay hiện lại ở trên Đền Thánh
3436. Phò Chí Tôn cùng sánh công lao
3437. Huy hoàng vũ trụ nhiệm màu
3438. Hết lòng thành kính nguyện cầu thế nhân
3439. Gan anh tuấn trường đời đem thử
3440. Mặt Thánh hiền từ chữ Đạo ra
3441. Mở ra Đại Hội Long Hoa
3442. Nhân loại hội tụ một nhà anh em
3443. Mỗi phận Đạo đều xem là trọng
3444. Vì cơ duyên cùng lóng tâm từ
3445. Giải bày những nỗi tâm tư
3446. Cứu nhân độ thế chẳng từ gian nan
3447. Mong đem lại bình an dưới thế
3448. Hành Đạo mà không kể lợi danh
3449. Biết rằng quốc độ mong manh
3450. Giòn tan dễ vỡ sẽ thành hư không
3451. Cùng hợp lực cộng đồng tín hữu
3452. Nguyện lực tịnh, trì chú giải thông
3453. Nghiệt bào trên khắp hư không
3454. Không còn lưu kết tụ đông phản hồi
3455. Liên minh với Đạo HỒI chính thống
3456. Xứ Trung Đông hạt giống gieo mầm
3457. Cùng nhau thực hiện phương châm
3458. Hoà Bình Chung Sống, trọng tâm làm nền
3459. Sự hoà hiệp nói lên chủ nghĩa
3460. Nền dân chủ về phía chủ quyền
3461. Con đường hằng sống Thiêng Liêng
3462. Mọi người tự nguyện lưu truyền thế gian
3463. Những cộng lực hoà an dưới thế
3464. Những nghịch duyên không thể phục sanh
3465. Mầm móng gây hoạ chiến tranh
3466. Không có cơ hội chuyển thành thực như
3467. Cùng hướng về Tôn sư thành kính
3468. Mỗi Tôn Giáo chuyên chính nêu tên
3469. Ngưỡng vọng ân Đức bề trên
3470. Liên minh Tôn Giáo nói lên liên HOÀ
3471. Nòi giống vốn chia ba từ trước,
3472. Hiệp lại một theo bước của THẦY
3473. Tạo cơ định đoạt nơi đây
3474. Chủ quyền Tôn Giáo là thầy, CHÍ TÔN
3475. Mở rộng cửa bảo tồn chơn Đạo,
3476. Hiệp liên minh Tôn Giáo chủ quyền
3477. Gieo cơ màu nhiệm thiêng liêng
3478. Hợp chung chơn pháp lưu truyền đến nay
3479. Vì Thiên lý đến ngày Hoà Hiệp
3480. Hoá giải cơ tận diệt ,theo đường
3481. Nho tông chuyển thế lập trường,
3482. Tam tông quy hiệp mở đường chân tông.
3483. Đem nhân loại đại đồng cứu thế,
3484. Lập Cao Đài bảo vệ đời nguy.
3485. Ban trao sứ mạng Tam kỳ,
3486. Cho người tâm đức kiên trì hoằng khai.
3487. Những tâm sự không ngoài Thiên ý
3488. Đức Giáo Tông thuận lý giải bày
3489. Nhân loại góp sức chung tay
3490. Dựng thành công nghiệp tới ngày vinh quang
3491. Hoà kinh điển hiệp ngàn tinh tuý
3492. Giáo Đạo truyền theo lý phụng sanh
3493. Sản sinh những bậc hùng anh
3494. Thế Thiên hoằng hoá, lòng thành trung kiên
3495. Quy vạn giáo hưng truyền chánh pháp,
3496. Hiệp vạn dân thiết lập đại đồng.
3497. Nhất tề thiên hạ thi công,
3498. Ấm no vui khoẻ thỏa lòng tự do.
3499. Bậc thánh thiện đang lo việc nước,
3500. Người tài năng đưa bước văn minh.
3501. Bốn phương cộng hưởng thanh bình,
3502. Tinh thần vật chất phục sinh đồng đều.
3503. Đức Thánh Trần đã nêu danh tiết
3504. Mở Thiên cơ bày triết lý tu
3505. Giúp cho thế giới vận trù
3506. Mở cơ tận độ ,phương tu Đạo hành
3507. Những công nghiệp đã thành từ trước
3508. Từng rạng danh cứu nước nối liền
3509. Truyền thống dân tộc tổ tiên
3510. Con Hồng Cháu Lạc lưu truyền đến nay
3511. Bốn ngàn năm chung tay dựng nước
3512. Giữ cơ đồ định ước về sau
3513. Nơi gieo hạt giống Đạo màu
3514. Trổ ra âm sắc thanh tao cổ truyền
3515. Những tinh tuý diệu huyền kết nối
3516. Quy thiên lương chẳng đổi chơn truyền
3517. Giữ nguyên Đạo lý thánh hiền
3518. Phổ hoá rộng khắp mọi miền trần lao
3519. Thế nhân biết cùng nhau hợp lực
3520. Noi theo gương các bực Thiên Tôn
3521. Chiếu rọi khắp cả Càn Khôn
3522. Chân lý giác ngộ vĩnh tồn Thiên thu
3523. Đem Đạo lý chứng tu truyền lại
3524. Cùng hoà thuận trong mái nhà chung
3525. Liên hiệp chủng quốc hoà cùng
3526. Liên minh Tôn Giáo cùng chung Hoà đồng
3527. Rải ra khắp đại đồng thế giới,
3528. Tình thương yêu gom lại một bầu.
3529. Mỹ, Phi, Úc, Á như Âu,
3530. Cũng nhân cũng vật cũng màu nước non.
3531. Chúa Ki Tô mãi còn tại thế
3532. Đem yêu thương cứu tế muôn loài
3533. Nhân loại hướng đến tương lai
3534. Đấng Christ dẫn dắt quảng khai thái bình
3535. Trước ngưỡng cửa bình minh rộng mở
3536. Đức sáng soi như thuổ thượng ngươn
3537. Có đấng Drahma dẫn đường
3538. Âm Dương hoà hiệp từ trường chuyển lưu
3539. Bậc duyên giác chân như nhập thế
3540. Phép từ bi dạy để cứu tinh
3541. Hoà nhập thế giới tâm linh
3542. Thích Ca giáo chủ theo tình chuyển luân
3543. Sự giáo huấn muôn phần màu nhiệm
3544. Đấng Allah hiện khuyến môn đồ
3545. Coran diệu lý ứng vô
3546. Đức Mô Ha dạy tiếp vô Đại Đồng
3547. Vốn chân lý thật không bàn nghĩ
3548. Góp vài lời là chỉ giãi bày
3549. Hướng đến văn hiến tương lai
3550. Mỗi người một phận chung tay hiệp hoà
3551. Từ chủ nghĩa nhìn ra bác ái
3552. Nền dân chủ cũng phải từ bi
3553. Cộng hoà nối tiếp đường đi
3554. Phát dương quang đại mới thì bền lâu
3555. Nghĩa Cộng Sản từ lâu nói đến
3556. Nền Tư Bản là bến kinh qua
3557. Từ trong chủ thuyết nhìn ra
3558. Cũng cùng một hướng cộng hoà anh em
3559. Chỉ vì nỗi mình xem là trọng
3560. Chủ quyền nào cũng chóng qua mau
3561. Biết lấy nhân bản định vào
3562. Cùng chung cơ nghiệp làm sao chẳng thành
3563. Đấng Thượng Đế sản sanh vạn vật
3564. Trụ Đức tin thành luật thiêng liêng
3565. Giúp cho nhân loại bình yên
3566. Thái Bình toả khắp mọi miền trần lao
3567. Những định lý ứng vào tam giới
3568. Gieo Đức tin cũng bởi thế nhân
3569. Nghĩa Nhân định luật toàn phần
3570. Tâm điểm mọi sự không phân Đạo Đời
3571. Lấy lý ĐẠO làm lời triết lý
3572. Dùng khoa học theo ý bảo sanh
3573. Cuộc sống vốn rất mỏng manh
3574. Vì bị xâm hại mà thành nhiễm ô
3575. Lấy Đạo Lý ứng vô linh tánh
3576. Dùng khoa học để tránh nhiễm ô
3577. Chung tay xây dựng cơ đồ
3578. Văn minh nhân loại ứng vô lý Trời
3579. Dùng Thiện chí là lời nhắn gởi
3580. Viết nên câu cũng bởi học đòi
3581. Dụng Tâm quán tưởng chiếu soi
3582. Một là chia xẻ hai noi giáo truyền
3583. Lấy bác ái nối liền khoảng cách
3584. Gieo từ bi cùng sánh công minh
3585. Nguyện đem hai chữ Công Bình
3586. Làm thành hạt giống lưu truyền về sau
3587. Đạo trung hiếu làm đầu giữ trọng
3588. Dùng Thiện nhân xây nấc thang hồng
3589. Đoạn căn đóng chặt âm cung
3590. Tòa sen chín phẩm để cùng Phật tâm.
3591. Trăm tuổi sống chẳng lầm tuổi sống,
3592. Một kiếp sanh chưa trọng kiếp sanh.
3593. Thay thân Tạo hóa là mình,
3594. Nâng niu sanh chúng mới đành chữ nhơn.
3595. Hướng tâm nguyện Cao Sơn trao gởi
3596. Nguyện cầu cho thế Giới Hoà an
3597. Dùng tâm quán sát nhân gian
3598. Gởi lời cầu ước thế gian Thái bình
3599. Nối vài câu tâm linh góp nhặt
3600. Gieo Nhân Hoà cùng nhắc đời sau.