+Trả Lời Chủ Đề
kết quả từ 1 tới 5/ Tổng số 5

Ðề tài: Thể liên tiên nữ trong đại đạo tam kỳ phổ độ

  1. #1
    Tham gia ngày
    Feb 2013
    Bài viết
    5


    Nhắc đến Thể Liên Tiên Nữ - Thế danh Võ Thị Chỉnh có lẽ còn xa lạ đối với người tín đồ Đạo Cao Đài nói chung. Tuy nhiên, đối với tín đồ đang tu học tại Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý mà đặc biệt là nữ phái thì lại rất gần gũi và quen thuộc. Vậy có phải Thể Liên Tiên Nữ chỉ có tầm ảnh hưởng đối với Cao Đài Chơn Lý hay không, hay Tiên Nữ còn có tầm ảnh hưởng đến các Hội Thánh hay Tổ Chức Cao Đài nào khác? Và ảnh hưởng đến chừng mực nào? Công lao của chị đối với Đại Đạo ra sao?
    I. Vài nét về thân thế và sự nghiệp hành đạo của Thể Liên Tiên Nữ - Võ Thị Chỉnh.
    “Ngôi Chị Thể Liên[1] thế danh là Võ Thị Chỉnh, sinh năm 1892, tại Xã An Hoà, Thành Phố Long Xuyên (Tỉnh An-Giang). Ngôi Chị là con trong một gia đình lao động nghèo( …). Do hoàn cảnh sống khó khăn, gia đình chuyển về Rạch Giá (Kiên Giang) định cư và sinh kế tại đây” [2]
    Sau đó, Chị Võ Thị Chỉnh thành thân cùng ông Nguyễn Hữu Niệm và trở thành cháu dâu của ông Nguyễn Hữu Phùng – Tiền Bối Thiên Sư, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài Hội Thánh Trung Ương (Minh Chơn Lý) và hạ sinh được 6 người con, trong đó có 2 con trai là Nguyễn Hữu Kiển (Đồng tử Chơn Tâm) và Nguyển Hữu Thận (Đồng tử Tường Khánh) là hai đồng tử đặc biệt quan trọng đối với cơ bút của Minh Chơn Lý lúc bấy giờ.
    Sau khi nhập môn vào Đạo Cao Đài, vì siêng năng tu học, Ngôi Chị Võ Thị Chỉnh được thăng thưởng 2 năm tuổi thọ, nếu không Chị đã phải liễu đạo ở tuổi 36, nhưng nhờ thăng thọ để làm tròn phận sự, Chị liễu đạo năm 38 tuổi:
    “Võ Nhi vốn thiệt Thể Liên Tiên
    Cho xuống Phàm gian lục lục niên
    Vì thấy thành tâm cầu mộ Đạo
    Thưởng thêm hai tuổi triệu hồi Thiên.”[3]

    Như vậy, quá trình tu học của Ngôi Chị đã được ấn chứng ngay từ khi Chị còn chưa liễu đạo. Ngày ấy, chị đã trở thành tấm gương sáng đối với nhiều tín đồ tại họ đạo lúc bấy giờ về sự quá trình tu học, tự giác - giá tha, tự độ - độ tha.
    Ba mươi tám năm sống tại trần gian, ngày chị thoát xác triều Thiên, chính là ngày Đức Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thừa lịnh Ngọc Hư Cung tuyên đọc thánh chiếu, sắc phong tiên vị cho Chị (ngày 8 tháng 2 năm Canh Ngọ ):
    “Phụng Ngọc Hư Cung.
    NGỌC LỊNH
    Hứa gởi cho chức sắc Thiên phong:
    Nay mừng thấy Thể Liên Tiên Nữ
    Được gia phong đến bực Phước Thần
    Cũng vì chưng một dạ ân cần
    Lo dạy đạo Nữ, Nam lưỡng phái…”[4]
    Như vậy, cuộc đời của Ngôi Chị Thể Liên có một số điểm khá đặt biệt như sau: Sinh ra trong một gia đình bần hàn, có tâm học đạo và cầu đạo, được hòa nhập vào môi trường mới với tầng lớp lãnh đạo tôn giáo, có con là đồng tử quan trọng, được ấn chứng ngay khi còn sống và khi quy hồi Bạch Ngọc có thánh chiếu của Lý Đại Tiên.
    II. Ngôi Chị Thể Liên Tiên Nữ - Tiền bối của Đại Đạo
    Sau khi liễu đạo, Ngôi Chị đã ra sức giáng cơ cho kinh điển rất nhiều, công đầu của Ngôi Chị cần phải nhắc đầu tiên là chuyển đổi kinh nhựt tụng bằng chữ Hán sang dùng kinh nhựt tụng bằng chữ Quốc Ngữ.
    Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý là một trong số ít những Hội Thánh dùng kinh nhựt tụng hoàn toàn bằng chữ Quốc Ngữ và đa phần đều là kinh do Ngôi Chị giáng cơ, duy nhất bài xưng tụng Đức Khổng Thánh Tiên Sư Chí Thánh Văn Tuyên là dùng chữ Hán Việt, còn lại các bài kinh mà Ngôi Chị cho đều bằng chữ quốc ngữ.
    Trong số những bài kinh nhựt tụng đó, cần lưu ý bài Lạy Mẹ Đại Từ Đại Bi hiện đang được dùng rộng rãi ngoài Cao Đài Chơn Lý như Hội Thánh Cao Đài Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý, Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên, các thánh sở Cao Đài độc lập như Thánh Thất Bàu Sen, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý[5]… Ngoài ra còn có các bài xưng tụng Tứ Đại Thánh Nhơn cũng được dùng khá rộng, và các bài này cũng do Ngôi Chị giáng cơ.
    Cho nên, việc chuyển đổi kinh nhựt tụng bằng chữ Hán sang dùng kinh chữ quốc ngữ là một bước đột phá của Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý thể hiện tinh thần dân tộc cao độ, và thể hiện nét đặc trưng so với các Hội Thánh Cao Đài anh em. Mà công đầu thuộc về Ngôi Chị Thể Liên, và những bài kinh đó đã vượt qua khỏi khuôn khổ một Hội Thánh để đến với nhiều đồng đạo, đến với các Thánh sở ngoài Hội Thánh, đến với các Hội Thánh Cao Đài anh em… đã thể hiện sự thành công của chính Ngôi Chị Võ Thị Chỉnh trong việc hành văn truyền cảm, lời thơ da diết và cả trong quá trình truyền bá, cũng thể hiện sự “chính danh” của một bậc Tiên Nữ không dừng lại trong Minh Chơn Lý hay Chơn Lý mà ra đến toàn Đại Đạo.
    Sẽ là một thiếu sót to lớn khi không nhắc đến công lao của Ngôi Chị trong việc truyền cho các bài Thánh Giáo khác như Bách Linh Cơ Sám, Sám Hối (Mây giăng khuất khiến trăng mờ tỏ), các bài xưng tụng Ngũ Chi Đại Đạo, và các bài Thánh Giáo dạy Đạo khác…cũng đã được nhiều nơi sử dụng. Ngoài ra, Ngôi Chị còn giáng cơ ở nhiều nơi không thuộc hệ thống Cao Đài Chơn Lý:
    Điển hình như: Tại Thánh thất Tân Định tại Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho – Tam Quan), đàn cơ dậu thời, rằm tháng 8 năm Canh Tuất (15 - 09-1970), Ngôi Chị đã giáng cho bài “Tu thân lập đức” gồm cả văn xuôi và văn vần. Trong đó cách Chị xưng hô vẫn gần gũi và đúng tính “truyền thống” như 30 năm trước đó: “Vâng lịnh Ðức Từ-Tôn Kim-Mẫu, Chị đến trước với các em trong đôi khắc để cùng các em có đôi dòng đạo lý để gợi rằng nhắc nhở các em nhớ kiếp của mình hầu bừng sáng tâm linh để được trọn vẹn niềm tin tu thân hành Ðạo lập công bồi đức, sớm đoạn nghiệp tiền khiên hầu sớm trở về đoàn viên nơi cảnh cũ. Các em đồng an tọa để nghe lời Chị phân giải” (…).
    Thể Liên Tiên Nữ vẫn xưng là “chị”, gọi các bậc tiền bối trong đàn cơ ngày hôm đó là các “em”, 30 năm trước đó, dù ở tận miền Rạch Giá xa xôi, trong các đàn cơ khác nhau, người hầu đàn cũng khác nhưng Thể Liên Tiên Nữ vẫn giữ bực xưng danh gần gũi như thế, vẫn là “chị - em” để nhìn nhận nhau là con một Cha Trời Thượng Đế.
    Và ở các thánh sở Cao Đài độc lập khác, Ngôi Chị vẫn thường giáng cơ để dạy đạo, đặc biệt là đối với nữ phái, cho nên, nếu phân chia những địa điểm mà ngôi chị giáng cơ theo giai đoạn lịch sử thì:
     Từ năm 1930 – 1937: Ngôi Chị thường giáng cơ tại đàn cơ Cao Thiên Đàn – Rạch Giá, Kiên Giang gắn liền với thời kỳ Minh Chơn Lý thông qua nhị vị đồng tử Chơn Tâm và Tường Khánh, tức Đệ nhị tiểu thời theo quan niệm của Cao Đài Chơn Lý
     Từ năm 1937 – 1948: Ngôi Chị thường giáng cơ tại Vô Vi Hiệp Thiên Đài thông qua Tiền Bối Ngọc Chơn Long – Chưỡng Quản Hiệp Thiên Đài Cao Đài Chơn Lý, tức Đệ tam tiểu thời.
     Tứ năm 1948 trở về sau, khi phận sự dạy đạo cho trường Chơn Lý đã xong, Tiền Bối Ngọc Chơn Long Lê Văn Được triều Thiên, Cao Đài Chơn Lý bế bút, thì Ngôi Chị bắt đầu giáng cơ ở nhiều nơi khác nhau.
    Từ việc Ngôi Chị giáng cơ dạy đạo theo các phân kỳ lịch sử, từ việc Ngôi Chị cho kinh nhựt tụng đang được nhiều Hội Thánh Cao Đài và thánh sở độc lập sử dụng rộng rãi, phải công nhận những công lao to lớn của Ngôi Chị Thể Liên không dừng lại ở vị trí tiền bối của một Hội Thánh, Tiền bối của Minh Chơn Lý, Tiền bối của Cao Đài Chơn Lý mà công lao của Ngôi chị đã gắng liền với quá trình tu học của tín đồ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Thể Liên Tiên Nữ đã, đang và sẽ là tiền bối chung của Đạo Cao Đài.
    Tuy nhiên, vì Ngôi Chị Thể Liên là tiền nhân trực tiếp của Minh Chơn Lý ngày xưa và Cao Đài Chơn Lý ngày nay, cho nên nhiều đồng đạo đang ngày ngày tụng đọc kinh sách do chính ngôi chị giáng nhưng chưa mấy quan tâm đến tiểu sử và công lao của Ngôi Chị dẫn đến việc ít biết Thể Liên Tiên Nữ là ai, chỉ biết đó là một bậc tiên, nhưng không ngờ rằng vị tiên đó là nhân vật sinh sống rất gần trong khoảng cách thể hệ với mình. Và cũng không có nhiều nơi thờ phượng Ngôi Chị Thể Liên như một bậc tiền nhân.
    Hiện nay, chỉ có 2 Hội Thánh và 1 Giáo Hội còn tưởng nhớ Ngôi Chị Thể Liên Tiên Nữ mà thôi, đó là Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý, Hội Thánh Cao Đài Việt Nam Bến Tranh và Giáo Hội Cao Đài Việt Nam Bình Đức.
    Nếu đã công nhận đàn cơ do Ngôi Chị giáng là tiên cơ, và nếu đã sử dụng kinh sám do ngôi chị giáng dạy, thì dù không thờ phượng Thể Liên Tiên Nữ, thiết nghĩ chúng ta cần tìm hiểu sơ nét Ngôi Chị Thể Liên Tiên Nữ là ai. Vì vậy, việc tìm hiểu về Ngôi Chị Thể Liên là cần thiết và cần xem Ngôi Chị như một tiền nhân Đại Đạo vì sự ảnh hưởng của Ngôi Chị đã là sự ảnh hưởng rộng đến nhiều Hội Thánh, Thánh Thất, Thánh Tịnh…
    Ghi chú:
    [1] Thể Liên Tiên Nữ được các tín đồ Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý gọi là Ngôi Chị, Ngôi Chị Thể Liên, Nữ Phước Thần, Tuyết Vân Đạo Cô… để thể hiện sứ kính trọng đồng thời thể hiện sự thân thương, gần gũi đối với Chị
    [2] Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý, (2008), Tuyển tập Thể Liên Tiên Nữ, trang 6.
    [3] Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý, (2008), Tuyển tập Thể Liên Tiên Nữ, trang 7.
    [4] Thánh Chiếu Đức Lý Giáo Tông, Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý (2008), sđd, trang 11.
    [5] Việc đọc kinh Lạy Mẹ Đại Từ Đại Bi ở các thánh sở ngoài Cao Đài Chơn Lý có đảo 2 chữ là “hôm mai” và “mai hôm”.
    Thanh Hoàng

  2. #2
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Bài viết thể hiện sự gắng công sưu tầm sử liệu về Đức Thể Liên Tiên Nữ từ "Phước Thần" cho đến "Tiên Nữ"

    Tuy nhiên, còn khoảng giữa Thần và Tiên thì chưa chứng minh được! Mong đệ sớm tìm ra phần tài liệu liên quan để bài viết được hoàn chỉnh.

  3. #3
    Tham gia ngày
    Feb 2013
    Bài viết
    5
    Dạ, căn trí của đạo đệ vốn thấp thoải chẳng bằng ai, chỉ được cái siêng năng cần cù đọc kinh điển không dám trể nãi.
    Rõ ràng là trong Ngũ Chi Đại Đạo thì từ Thần Đạo mới lên được Tiên Đạo.
    Nhưng năm 1928, 2 năm trước khi Ngôi chị thu thần thị tịch, chính Đức Chí Tôn đã nói rằng ngôi chị vốn là Thể Liên Tiên Nữ “Võ Nhi vốn thiệt Thể Liên Tiên”, nhưng 2 năm sau, năm Canh Ngũ 1930, khi Ngôi Chị thoát xác triều Thiên thì Thánh Chiếu của Đức Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là ghi “Nay mừng thấy Thể Liên Tiên Nữ/ Được gia phong lên bực Phước Thần”, theo như câu trên thì chứng tỏ rằng phẩm vị Phước Thần phải cao hơn phẩm vị Thể Liên Tiên Nữ năm 1928 ngôi chị đã được Ơn Trên điểm hóa, vấn đề là Thần và Phước Thần có khác nhau hay không, nếu căn cứ lời kinh và suy diễn thì Thần – Tiên – Phước Thần thì rõ ràng Ngôi Chị đã tu tiến, nhưng nếu xét theo Ngũ Chi Đại Đạo thì Thần – Phước Thần – Tiên thì rõ ràng trong 2 năm Ngôi Chị đã tu lùi, nếu vậy sao Đức Lý lại “mừng”. Đạo đệ thật sự không biết tại sao, có thể căn trí còn chưa tới nên chưa hiểu biết được ẩn tàng bên trong, khi còn ở Mỹ Tho, đạo đệ đích thân hỏi khá nhiều chức sắc, có sức sắc lớn tuổi được đích thân Ơn trên phong thưởng, có một vài vị không giải thích được, Cố Đầu Sư Thượng Trân Nguyệt nói “bao giờ được phép đọc điễn ký mới hiểu”, Đức Quyền Chưởng Quản Cửu Trùng Đài thời ấy – Đức Thái Tịnh Vân (tức Thái Đầu Sư Thái Phúc Nhựt) cũng nói khá úp mở, đạo đệ chẳng biết thiên cơ thế nào, nhưng Đạo đệ nghiên cứu về “giới” trong đạo Cao Đài và đang theo đuổi công trình này, cho nên Đức Thể Liên Tiên Nữ và các vị nữ tiền bối khác thật sự rất quan tâm, mong chứ huynh, tỷ, đệ, muội chỉ giáo, nếu có thánh giáo, thánh ngôn thì chia sẻ giúp cho đệ. Đệ vốn là tín đồ sinh hoạt tại Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý nhưng tinh thần của tín đồ Cao Đài Chơn Lý luôn nhìn nhận Thánh giáo các Đấng giáng cơ tại các nơi, miễn thánh giáo đó có lợi cho quá trình tu tập và hoằng hóa nhân sanh, nhưng đạo đệ đã đọc khá nhiều thánh giáo của các Hội Thánh và Thánh sở độc lập nhưng chưa thấy các đấng giải về Phước Thần và Thần.
    Mong quý huynh tỷ đệ muội, ai có tài liệu xin cho đạo đệ thỉnh.
    Đạo đệ thành kính tri ân.
    Nhứt Tâm quy hướng Huyền Khung Kim Khuyết Ngọc Hoàng Đại Đế Đại Thiên Tôn Đại Bồ Tát Maha Tát.
    Thanh Hoàng

  4. #4
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    Kính hiền hữu Thanh Hoàng,
    Trung ngôn tìm thấy có 3 bài Thánh ngôn có Đức Thể Liên Tiên Nữ giáng đàn, xin gửi đến Hiền hữu để biết thêm.
    Nguồn: Thánh Truyền Trung Hưng, thuộc bộ Thánh ngôn thời kỳ Trung Hưng - Bửu Chương Pháp Đạo; Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài
    Kính.

    __________________________________________________ _____________

    Thánh Tịnh Thanh Quang, ngày 25-4-ĐĐ.13 (Mậu Dần)
    (24-5-1938)

    THI

    Tiên phàm bận bịu thảm thương thay!
    Biển khổ sao em mãi đắm hoài?
    Kiếp sống trên đời như giấc mộng,
    Lần chân theo Chị đến Bồng lai.

    THỂ LIÊN TIÊN NỮ, Chị mừng các em.
    Các em ôi! Từ xưa Tôn giáo lập thành, một là do nơi tay Giáo Chủ, hai là nhờ những tay Hướng Đạo có lòng nhiệt liệt vì đời, chẳng phải như nay. Các em thử coi: Các Đấng Thiêng Liêng: Thần, Tiên, Thánh, Phật đến chỗ trần trọng trược này rất khó vì một phần Tiên Thiên, quên hết chín phần Hậu Thiên!... Khuyên các em chớ dễ duôi mà đắc tội lắm các em à!
    Vậy các em thành tâm khử trược, đâu đó chỉnh tề, nghỉ 10 phút, sắp Đàn lại, đổi ngòi cơ, đặng tiếp giá MẪU HOÀNG.
    Chị chào các em, Chị lui.

    TÁI CẦU:

    DIÊU TRÌ KIM MẪU, MẸ mừng các con.
    THI

    Bứt rứt đòi phen dạ chẳng đành,
    Giáng trần chi sá trược cùng thanh;
    Con ôi! Miễn độ qua bờ giác,
    MẸ há nài chi sự nhọc nhằn!

    MẸ giáng giờ này dạy các con hay rằng: Cơ Đạo hoằng khai đến Trung Kỳ, ngoài mấy thu dư rồi, song đến đây theo lời tiên tri nhất định, sau khi sắp công cuộc Trung Hưng Thánh Tòa rồi, thì trong ban Hướng Đạo sẽ tùng Nội luật mà thi hành. Vậy ngày nay đây Trung Hưng Thánh Tòa chưa thành lập, song Trung Thành Thánh Thất cũng là cơ thể ngoại giao cho Trung Hưng Thánh Tòa. Vậy MẸ đến đây giờ nầy:

    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    Giờ MẸ ban cơ phong Thánh:

    • Lê Chơn Giác : Nữ Giáo sư
    • Trương Thị Ngọc Dung : Nữ Giáo hữu
    • Trần Thị Tuyết : Nữ Lễ sanh

    Còn các con sau rồi sẽ ban cho. Trong ba con, nhất là con Giáo hữu phải lo về mặt phổ thông cho lắm! Nên chọn cho có nhân tài giúp sức nghe con! Vì đương trong buổi sơ khai, việc phổ thông cần lắm đó vậy!
    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    THI


    Bớ trẻ con ôi! Chóng tới con!
    Rán tu giỏi giỏi, quả công bòn;
    Rồi đây MẸ sẽ dành ban đặt,
    Đặt để chia phần mỗi mỗi con.

    BÀI

    Con Nữ phái rán tu giỏi giỏi,
    Tu làm sao thoát khỏi Diêm phù;
    Tu vầy mới gọi rằng tu,
    Tu sao công quả ngàn thu hưởng đời.

    Này con ôi! Nhớ lời MẸ dạy,
    Dạy các con, con phải thi hành;
    Quyết lòng độ tận quần sanh,
    Sanh linh đắm đuối chẳng đành ngồi coi.

    Phận Nữ nhi thiệt thòi lắm trẻ,
    Trễ con sao chẳng lẹ bước kìa;
    Rồi đây công quả MẸ chia,
    Chia cho mỗi đứa danh bia mỗi phần.

    Phận Nữ phái đành thân bồ liễu,
    Nỗi thấp hèn ươn yếu lắm con;
    Văn minh sóng bủa đức mòn,
    Làm cho phụ nữ chẳng còn tinh hoa.

    Làm mất nết con nhà giáo dục,
    Làm tồi phong bại tục suy đồi;
    Mãi mai cứ vậy mà thôi,
    Văn minh vật chất thêm tồi văn minh!

    Đời như thế ai nhìn vậy đặng,
    Đời như vầy ai hẳn ngồi yên;
    Nổi sôi giải phóng bình quyền,
    Làm cho phận gái lợt duyên mặn mà.

    Thói đã xấu còn ra tuyên bố,
    Đời đã hư con hổ chăng con?
    Làm cho xấu nước xấu non,
    Nhục danh, nhục thể đời con ra gì!

    Văn minh vỏ không tri thời cuộc,
    Lấy bề ngoài quên chuốt bề trong;
    Văn minh hiểu thấu tận lòng,
    Văn minh đó thiệt mới hòng văn minh.

    MẸ dạy trẻ ngàn kinh muôn điển,
    Khuyên con điều: “Ái thiện hóa nhân”;
    Con ôi! sanh đứng trong trần,
    Phải tùy thời vụ mà cần nghiệm suy.

    Mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,
    Đưa con qua bể khổ trầm luân;
    Con ôi! Chi xiết nỗi mừng!
    Nhà Nam phận gái mở bừng mắt xem.

    Xem đoàn chị lũ em phải tính,
    Tính sao đây chớ nín ngồi coi;
    Dỡ hay rồi cũng tôi đòi,
    Làm thân nô lệ mãi hoài sao con?
    Con có biết chi còn hơn nữa,
    Nửa kiếp sinh mà chửa ra gì!
    Con ôi đã trí phải tri,
    Trí tri song cũng phải tùy thời gian.

    Đêm thanh vắng trung Đàn MẸ giáng,
    Dạy các con đặng hãn cơ Trời;
    Này con cuộc thế lưng vơi,
    Nay nầy, mai nọ ngắm đời ra chi!.

    Động lòng MẸ DIÊU TRÌ nhức nhói,
    Vì thương con lặn lội đêm hôm;
    Thi văn bút mực luận đàm,
    Rồi ra cũng cậy tay phàm mà thôi!

    MẸ buồn lắm con ôi có rõ,
    Gặp mặt con muốn tỏ đôi lời;
    Khó vì trẻ khéo lảng lơi,
    Nỗi vì phận sự nên lời khó than!

    Dù thương cũng căm gan nín lặng,
    Chờ cho con biết đặng cơ Trời;
    Rồi sau MẸ sẽ cạn lời,
    Cho con thấu rõ cơ Trời liệu toan.

    Thôi gà đã gáy vang thế ấy,
    MẸ giã con chống gậy lui về;
    Khuyên con lời MẸ đã phê,
    Gắng ghi vào dạ mựa hề chi con!
    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
    MẸ ban ơn các con.
    MẸ thăng./.


    23. BA THỜI KỲ CỦA NỮ LƯU

    Thánh Tịnh Thanh Quang, ngày 24-5-ĐĐ.13 (Mậu Dần)
    (21-6-1938)

    THI

    THỂ tất lòng em Chị giáng đàn,
    LIÊN đài cứ mãi dạ buồn than;
    TIÊN cung đâu có đành yên dạ,
    NỮ phái khuyên em tục chớ màng.

    Chị mừng các em. (Các em phận sự lập cơ đàn như vầy quá trễ lắm à! Sao vậy? Mỗi khi có đàn thì chẳng nên nhóm việc gì mà làm cho phải trễ thì giờ, còn nhóm thì cơ đàn phải trễ lại).
    Thôi đã có lịnh rồi. Các em khá thành tâm sắp trật tự tiếp giá MAÊU HOÀNG. Vì thì giờ gaâp quá, Chị khođng theơ cùng các em trò chuyện, đó là bởi nơi các em vậy.
    Thôi, Chị chào, Chị lui.

    TIẾP ĐIỂN:

    DIÊU TRÌ KIM MẪU, ME mừng các con.

    THI

    Lời vàng nhủ bảo ngọt cùng ngon,
    Dạy trẻ lo âu đức hạnh tròn;
    Em chị nương nhau lời học hỏi,
    DIÊU TRÌ KIM MẪU MẸ mừng con.
    Giờ này MẸ đến đây cùng các con dạy đôi lời cặn kẽ.
    Các con Nữ phái ơi! MẸ nhìn cái phận liễu bồ yếu ớt, thân phụ nữ thấp hèn nên động lòng Già xuống thế. Lời ngon ngọt dạy bảo cùng con, đem đạo đức nước nhà mà phổ cập nhơn sanh thảy đều chiêm ngưỡng, mà hưởng nhờ hồng ân đó các con!
    MẸ vì lòng từ bi thương trẻ nên không kể khó nhọc đến cùng con. Giờ nầìy MẸ giải đời nô lệ của nữ lưu phân ra có ba thời kỳ đặc biệt.
    Các con ơi! MẸ nói các con từ chỗ căn cơ khẩu nghiệp, hoặc là phúc hay là tội từ cái nhỏ mãi luân trầm vào vòng khổ hải, mà riêng phần nữ lưu thảm thiết vô cùng, âu đành một kiếp mãi làm tôi tớ trong ba thời kỳ chẳng khỏi, kể từ lúc khai sinh ấu trĩ mới chào đời mà biết trông lại cái khổ của đời bằng ba tiếng oa oa. Trong ba thời kỳ ấy là: Thanh xuân - Thanh niên - Quá hậu.
    Đời của nữ lưu chẳng ngoài phạm vi khổ não. Thời kỳ thanh xuân tuổi thơ khờ khạo chẳng biết gì, lo từ một đến hai ba, nào Công, Dung, Ngôn, Hạnh mỗi mỗi còn trông vào chỗ độ dưỡng của gia đình, đó là phận sự chưa xong, lại sắp đến thời kỳ Thanh niên.
    Đời Thanh niên, ôi cái kiếp sanh đời chưa biết đời sao nữa, mà đã đến lúc chen chân vào đủ cảnh, chẳng phút nào rời, nỗi ân sanh thành cha mẹ chưa xong, nỗi chịu bất hiếu từ chưa trả, đã đành đày thân vào chốn khổ, bến nước mười hai, trong đục chưa tường cũng quả quyết nhắm mắt đưa chơn làm thân tùng gánh nặng, nỗi đắng cay chưa biết, nỗi mặn lạc chưa tường, nỗi má hồng nặng khách tang thương, nỗi nặng gánh con đường xa mấy dặm, nỗi xứ người quê chúng, tùy tục tùy gia, ta cũng biết mà ta cam chịu, phận khóc cười giao cho thời vận, gia đình sắp có ở ở, ăn ăn, con con, cái cái rộn ràng, nỗi nắng lửa mưa dầu, một thân tùng bao quản, thế mà rồi chưa rõ.
    Thời quá hậu sắp đến cơn đầu bạc răng long, nỗi sức yếu thân hèn cùng cam chịu cảnh chạy sau bươn trước, lo cho vẹn đạo cùng chồng rảnh phận cùng chồng, còn nỗi phận con, con khôn lớn lo phần dạy bảo, nỗi lo cơm áo lúc học lúc hành, mong tề gia chi tử vị thành, đâu có ngờ phá gia chi tử vi đạo, kiếp tớ tôi mãi mãi và họa phước bỡi thiên công, bé tùng cha, lớn lại tùng chồng. Cha chồng chưa xong, tùng đến tử.
    Than ôi! Đời có chi danh dự, có chi quí, chi vinh

    Cái khổ kia bởi tại nơi mình,
    Mình chẳng biết tu nhân tích đức.

    THI

    Cái kiếp nữ nhi khéo thõng thừa,
    Mẹ đà nói rõ trẻ nghe chưa?
    Mảnh sầu mãi cứ than cùng nắng,
    Giọt thảm đành cam khóc với mưa.
    Nhụy nở hiếm tay nâng với đỡ,
    Hoa tàn mấy kẻ rước cùng đưa;
    Ở đời đen bạc con hay nhỉ?
    Mẹ nói cùng con có hiểu chưa?
    BÀI

    Chưa từng mặc áo Lão Lai,
    Làm con chữ hiếu mấy ai vẹn toàn?

    Nực cười cho cuộc thương tang,
    Gợn chơi thử thách trần gian đấy mà!

    Cuộc đời tha thiết, thiết tha,
    Kiếp con vậy thế con đà hiểu chưa?

    Thảm vì mai nắng chiều mưa,
    Khổ bao nhiêu khổ con chưa nản lòng.

    Âu đành một kiếp chưa xong,
    Có chi mà cũng rằng mong nên người.

    Con ơi! Con biết nghe lời,
    Nghe lời MẸ dạy cái đời của con.

    Đời con nay mực mai son,
    Đời con làm hại cho con mấy lần.

    Đời con như cuộc phù vân,
    Đời con như thế con cần hiểu chăng?

    Đời con vì mặc vì ăn,
    Vì nhà vì cửa vô ngằn hại con.

    Đời con đạo đức chẳng còn,
    Làm cho rời rã tâm con đó mà!

    Con ơi cuộc thế gian tà,
    Vốn là bể khổ có nhà cửa chi?

    MẸ đà chỉ chỗ huyền vi,
    MẸ đà mở hội khoa thi đã rồi.
    Cả kêu một tiếng con ơi!
    Con sao mãi cứ yên ngồi vậy con?

    Ở đời vì nước vì non,
    Tuy rằng phận gái cũng con cháu nhà.

    Mấy lời MẸ đã phân qua,
    Vì đời đành phải xông pha với đời.

    Lớn khôn là mẹ của người,
    Mẹ người tức mẹ của đời đó con!

    Thế mà con chẳng biết con,
    Biết con gánh nặng mà còn long đong.

    Ngày nào đến hội Hoa Long,
    Ngày nào cá lội hóa rồng mới xinh.

    Ngày nào mà tánh trẻ linh,
    Là ngày đạo đức an bình đó con!

    Lời vàng MẸ dạy nỉ non,
    Cho con biết lấy thân con mà gìn.

    Chị em giồi luyện đức tin,
    Tin THẦY mến Đạo phận mình đó con!

    Con ơi! Lòng MẸ héo hon,
    Mười ba năm, dạ hao mòn vì ai.

    Vì ai bỏ cảnh Bồng Lai,
    Bỏ Cung Bạch Ngọc bỏ Đài Kim Liên!

    Vì ai giáng trước Đàn tiền,
    Vì ai lắm lúc chịu phiền vì ai?

    Vì ai dạ chẳng đơn sai,
    Vì ai mà MẸ nhớ hoài hỡi con!

    Vì con Đạo đức chẳng còn,
    Vì con chơn tánh không còn chi đâu!

    Vì con MẸ luống đau sầu,
    Vì con MẸ há mựa hầu để xem.

    Trước Đàn chị chị em em,
    Xây lưng đã thấy siễm gièm việc nhau.

    Vì con mà MẸ đớn đau,
    Vì con mà MẸ dàu dàu châu rơi!

    Vì con sanh ở trên đời,
    Chẳng kiêng phép Đạo lẽ Trời ghê thay!

    Con ơi, con hỡi có hay!
    Có hay nhơn loại đến ngày nào chăng?

    Đến cơn gió trịu mưa hoằn,
    Một thân con chịu nhọc nhằn lắm thay!
    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    Còn các con nơi này MẸ khuyên rằng: khi hầu Đàn, nghĩa là khi đến đó cho tịnh tâm đặng nghe Phật, Tiên, Thánh, Thần dạy Đạo, nghĩa là bằng cái chân lý đặng các con hiểu chỗ phải quấy mà tu thân, nếu con còn mơ ước kêu tên, không bao giờ biết triết lý đặng. Chẳng phải là Ơn Trên tiếc gì mà chẳng kêu hay là chẳng biết tên các con mà kêu nghe à!
    Thôi. Giờ nầy MẸ vui mừng các con. MẸ ban ân lành mỗi mỗi con. MẸ về./.



    42. TRẦN GIAN MỐI NỢ NẮNG MƯA
    KHÔNG CHỪNG

    Thánh Thất Trung Thành, ngày 15-9-ĐĐ.14 (Kỷ Mão) (27-10-1939)

    THI

    THỂ đạo nhà Nam hủ hoại rồi,
    LIÊN đoàn kết chặt các em ôi!
    TIÊN bang bao thuở gầy chung hiệp,
    NỮ phái khá nghe lấy những lời.

    X

    Những lời chị dạy khá lo đi!
    Cực khổ sao sao há nại gì!
    Phận sự lo xong bòn công quả,
    Nữ tài giỏi giỏi kíp ra thi!

    Chào chư hành sự, chị mừng các em. Nay chị báo đàn cho các em biết rằng: có lệnh DIÊU TRÌ CUNG ngự bút. Vậy nghiêm đàn trật tự, đâu đó trang nghiêm. Các độc giả chú tâm.

    Thôi chị chào các em. Chị lui.


    TIẾP ĐIỂN:

    DIÊU TRÌ KIM MẪU. MẸ mừng các con nam nữ!

    THI

    DIÊU điện nương mây giá ngự đàn,
    TRÌ tâm ớ trẻ Việt Nam bang;
    KIM châm chích dạ nầy con hỡi!
    MẪU tử lo sao hiệp nhứt đoàn.

    Các con Nữ phái nghe MẸ dạy:
    Các con ôi! MẸ đã lắm lúc dạy trẻ rồi cũng không ngoài câu tam tùng, tứ đức. Các con ôi! Đạo Tam Kỳ 13 năm rộng khai đất Việt, mà MẸ nhìn lại cũng chưa thấy được mấy con thấy tròn bổn phận, MẸ rất buồn nào là Liên Đoàn Nữ Phái ở Trung Châu, nào là Nữ Chung Hòa Phái, nào là Nữ Đạo Hòa Minh ở Nam Kỳ, song than ôi! Cũng khó bề thành lập, vì sao? Các con rõ chăng? Bạch:... Có phải vì các con không quyền lực đi lại cũng cậy tay Hướng đạo bên Nam phái. Các con ôi! Vậy làm sao bây giờ? Hôm nay các con về hầu lịnh tuy chưa đủ mặt, mà cũng một số khá đông. Vậy các con tính thế nào?
    Đại bạch lên cho MẸ dạy.
    Giác! Con đại bạch lên cho tất cả chị em trong đàn đều nghe! Cười...
    KHAI! Bạch lại câu đó cho chị em của con nghe!
    KHAI bạch...
    Cười, con ôi! MẸ dạy các con Nữ phái từ đây các con phải lo un đúc tinh thần chị em dìu dắt, phải thương yêu nhau thì mọi việc gì mới có thể vĩnh tồn được. Vậy MẸ dạy các con là phải lo phổ dộ, một phần là lo tổ chức Nữ Phái Liên Đoàn một cách thực tế, mỗi Thất phải có một Hội Trưởng, một Từ hàng hoặc phái Đại biểu mà lo tổ chức cho rồi sớm sớm. Các con có biết mà ngày hôm nay MẸ dạy gấp như vậy là sao không?

    KHAI bạch:...

    Các con ôi! MẸ đã dạy các con khá để vào lòng, các con biết rằng: Chị em các con còn sa đắm cõi diêm phù nầy. Các con là Nữ phái làm cách nào? Chẳng lẽ để cho người mãi ở đây say đắm, huống chi tai nạn cận kề, nếu không lo phổ độ thì MẸ chắc rằng các trẻ kia khó bề phản bổn hườn nguyên đặng đó các con!

    Vậy thì từ đây MẸ sẽ hạ lịnh cho lập thêm đoàn nữ, các con chọn những trẻ nào có học thức phải tập luyện đặng chờ ngày giảng đạo diễn đàn rõ chăng? Các con: GIÁC, TỊNH, SAN, YẾN, DOÃN CƠ, HIẾU, TƯ cùng các con lo hiệp sức chị em mà thực hành gấp Nữ Phái Liên Đoàn. Đàn Nữ tại Thanh Quang các con về hầu lệnh, MẸ dạy bắt đầu từ đây các con lo thi hành phận sự gấp đi!

    Thôi, các con an tọa.


    BÀI

    TRUNG THÀNH thất giờ nay MẸ ngự,
    Các con lo khởi sự Liên Đoàn;
    Lo sao vẹn vẻ trang hoàng,
    Thì đây MẸ mới vừa an con nầy.

    Nầy con trẻ tới đây MẸ dạy,
    Dạy con lo chế cải mọi điều;
    Này con nghe lấy MẸ kêu!
    Kêu con Nữ phái khá theo lời vàng.

    Con ôi! Nữ trung đàn nghe dạy,
    Dạy con rành, con hãy lo xong;
    Lo sao trọn lấy chữ tòng,
    Lo sao giỏi giỏi mới mong con à!

    MẸ dạy bảo con đà chí lý,
    Con lo sao khá nghĩ cho vừa;
    Con ôi! Cảnh khổ rõ chưa?
    Trần gian mối nợ nắng mưa không chừng.

    Nhìn con trẻ MẸ rưng rưng đổ,
    Ớ này con, cái khổ vì đâu?
    Vì con MẸ chịu dãi dầu,
    Vì con MẸ luống âu sầu đêm khuya.

    Ớ này trẻ chớ chia em chị,
    Chị em lo dự bị bước đường;
    Miễn con lánh khỏi tứ tường,
    Diêu cung MẸ mới muôn đường an vui.

    Nhìn đoàn nữ ngậm ngùi dạ ngọc,
    Trông đến con lỡ khóc biếng cười;
    Cớ chi trẻ cứ đành vui,
    Quên quê vị cũ, đi xuôi sao đành?!

    Nạn tai biến, chiến tranh dồn dập,
    Ớ nầy con biết lập phương gì;
    Hay là con hỡi ẩn vi,
    Để cho em chị gặp nguy cho rồi?

    Ớ nầy nầy ớ trẻ ôi!
    Thời kỳ như thế, con ngồi sao yên.

    Tàn linh chịu thất điên bát đảo,
    Con không lo phổ độ hay con;
    Người còn, non nước vẫn còn,
    Làm thân phụ nữ chìu lòn trần gian.

    Thương đoàn nữ đôi hàng giải rõ,
    Nữ con ôi! Con rõ hay chăng?
    Cảnh đây là khổ đó rằng,
    Cảnh đây như thế con hằng vui chi.

    Con ôi! Nữ phái, tri thời cuộc,
    Người ở đời thua sút là hơn;
    Đừng lo hờn giận, giận hờn,
    Phải lo trọn đạo thua hơn ích gì.

    Ớ con trẻ! Trường thi kế cận,
    MẸ khuyên con dìu dẫn linh tàn;
    Mấy lời MẸ dạy rõ ràng,
    Các con lớn nhỏ MẸ ban ơn lành.
    MẸ ban ơn các con. MẸ thăng./.
    Trung ngôn.

  5. #5
    Tham gia ngày
    Feb 2013
    Bài viết
    5
    Tiện đệ xin chân thành cảm ơn hiền huynh Trung Ngôn về ba bài thánh ngôn trên.
    Thật sự thì Ngôi Chị giáng đàn rất nhiều và đệ đang cố gắng sưu tập toàn bộ bài dạy của Ngôi Chị ở các nơi.
    Vì Ngôi Chị là tiền nhân trực tiếp của các HTĐM đang sinh hoạt tại Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý, cho nên đạo đệ cũng đang cố gắng góp nhặt lại, sưu tập lại để tổng kết thử Ngôi Chị có tất cả bao nhiêu bài trong toàn hệ thống Đại Đạo.
    Đạo đệ chân thành cảm ơn
    Thanh Hoàng

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Sự liên quan giữa Gián Ma Sử và Kim Tiên
    Bởi nguyenthanhtri trong mục Đề tài thảo luận
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 03-01-2013, 09:19 AM
  2. Tham gia sinh hoat trong trong đồng đạo Cao Đài
    Bởi buihloi76 trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 2
    Có Bài Mới: 17-11-2010, 10:36 PM
  3. Tin tức liên quan đến Di Liên Đài ĐHP
    Bởi ThachKhe trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 27-12-2006, 07:27 PM