+Trả Lời Chủ Đề
Trang 1/12
1 2 3 11 ... 12
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 111

Ðề tài: Kinh Dịch nhập môn

  1. #1
    Tham gia ngày
    Oct 2009
    Bài viết
    2

     


    Các Huynh đệ tỉ muội nào thích nghiên cứu về Kinh Dịch hoặc Phong thủy thì cứ bảo. Chúng ta sẽ cùng nghiên cứu.


     


    (QTV1 thực hiện việc chỉnh sửa lỗi chính tả dấu trong tiếng Việt đối với bài viết trên.


    Nguyên văncac huynh de ti muoi nao thich nghien cuu ve kinh dich hoac  phong thuy thi cu bạo chung ta se cung nghien cụu &nbsp

     

  2. #2
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar

    Thưa Huynh trungninh


    Như Huynh đã giới thiệu ở phần hồ sơ và lời dẫn bên trên, Đạo đệ không được học Kinh Dịch nhưng muốn biết về sở dụng của vài quẻ, rất mong được giúp đỡ:


    Xin huynh giải giùm quẻ:


    - Lục ngũ quẻ LÔI PHỆ HẠP.


    - Cửu ngũ quẻ THIÊN LÝ TRẠCH.


    Rất mong được học hỏi.


    Kính(54:31).


     

     

  3. #3
    Tham gia ngày
    Jan 2008
    Bài viết
    65

    Ngộ quá , tới nay, đệ chưa tùng nghe tới quẻ nào trong tổng số 64 quẻ của vòng dịch Tiên Thiên mà có quẻ Thiên Lý Trạch cả. Lôi phệ hạp thì có nghe qua nhưng còn THIÊN LÝ TRẠCH thì chưa bao giờ , có lẽ do đạo đệ học hành dốt nát thành ra chưa được học tới quẻ THIÊN LÝ TRẠCH mà chỉ nghe qua quẻ THIÊN TRẠCH LÝ mà thôi , gội tắc là quẻ Lý , lôi phệ hạp thì có được nghe qua, còn THIÊN LÝ TRẠCH thì chưa từng ,  


    Quẻ LÝ : Nội quái tượng Đoài thượng khuyết , Đoài Vi Trạch


                   Ngoại quái tượng Càn tam liên , Càn vi Thiên , Đọc quẻ từ trên đọc xuông , nghĩalaf ngoại quái đọc trượcd, nội quái đọc sau ,nên mới kêu là Thiên Trạch, Lý là tên của quẻ cũng có nghĩa là bao hàm sở dụng của quẻ :


    Đầu quẻ Tiểu Súc đã nói súc còn có nghĩa là chứa, nhóm (như súc tích)
    Tự quái truyện dùng nghĩa đó mà giảng: khi đã nhóm họp nhau thì phải có trật tự, có trên có dưới, không thể hỗn tạp được, nghĩa là phải có lễ. Sống trong xã hội phải theo lễ, dẫm lên cái lễ, không chệch ra ngoài (chúng ta thường nói dẫm lên dấu chân của một người để diễn cái ý theo đúng đường lối người ấy); mà dẫm lên, chữ Hán gọi là ☲, do đó sau quẻ Tiểu súc, tới quẻ Lí. Cách giải thích đó có phần nào gượng ép.
    Thoán từ:
    履 虎 尾 , 不 咥 人 , 亨 .
    Lí hổ vĩ, bất điệt nhân, hanh.
    Dịch: Dẫm lên đuôi cọp, mà cọp không cắn, hanh thông.
    Giảng: Trên là dương cương, là Càn, là trời: dưới là âm nhu, là Đoài, là chằm, vậy là trên dưới phân minh lại hợp lẽ âm dương tức là lễ, là lý. Có tính âm nhu, vui vẻ đi theo sau dương cương thì dù người đi trước mình dữ như cọp, cũng tỏ ra hiền từ với mình, cho nên bảo rằng dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn. Ba chữ “lý hổ vĩ” chính nghĩa là dẫm lên đuôi cọp, chỉ nên hiểu là đi theo sau cọp, lấy sự nhu thuận, vui vẻ mà ứng phó với sự cương cường.
    Thoán truyện bàn thêm: Hào 5 quẻ này là dương mà trung, chính, xứng với ngôi chí tôn, chẳng có tệ bệnh gì cả mà lại được quang minh.
    Đại tượng truyện: bảo trên dưới phân minh (có tài đức ở trên, kém tài đức ở dưới) như vậy lòng dân mới không hoang mang (định dân chí) không có sự tranh giành.
    Hào từ:
    1. 初 九 : 素 履, 往 , 无 咎 .
    Sơ cửu: tố lý, vãng, vô cữu.
    Dịch: hào 1, dương : giữ bản chất trong trắng mà ra với đời thì không có lỗi.
    Giảng: hào 1 này như người mới ra đời, còn giữ được bản chất trong trắng (ý nghĩa của chữ tố) chưa nhiễm thói đời, vì là hào dương, quân tử, có chí nguyện, cứ giữ chí nguyện mình thì không có lỗi.
    2. 九 二 : 履 道 坦 坦 , 幽 人 貞 吉
    Cửu nhị: Lý đạo thản thản, u nhân trinh cát.
    Dịch: Hào 2, dương: như đi trên đường bằng phẳng, cứ một mình giữ vững đường chính thì tốt.
    Giảng: Hào 2, dương : như đi trên đường bằng phẳng, cứ một mình giữ vững đường chính thì tốt.
    Giảng: Hào dương này đắc trung, vẫn là hiền nhân, quân tử, bình thản giữ đạo trung không để cho lòng rối loạn thì tốt.
    Tuy có hào 5 ở trên ứng với , nhưng 5 cũng là dương, không hợp, (phải một dương một âm mới tìm nhau, hợp nhau, viện nhau) cho nên bảo hào này là cô độc.
    Chúng ta để ý: quẻ Càn, hào 2 và hào 5 cũng đều là dương cả, mà Hào từ bảo 2 và 5 nên tìm nhau mà làm việc; còn quẻ Lý này thì không , như vậy là phải tùy theo ý nghĩa của quẻ (tùy thời) mà giảng.
    3. 六 三 : 眇, 能 視 ; 跛, 能 履 . 履 虎 尾 , 咥 人, 凶 . 武 人 為 于 大 君 .
    Lục tam: Miễu, năng thị; bả, năng lý.
    Lý hổ vĩ, diệt nhân, hung. Võ nhân vi vu đại quân.
    Dịch:Hào 3, âm: chột (mà tự phụ là) thấy tỏ, thọt (mà tự phụ là) đi nhanh, như vậy thì nguy như dẫm lên đuôi cọp mà bị nó cắn. Đó là kẻ vũ phu mà đòi làm việc của một ông vua lớn.
    Giảng: Hào này âm nhu mà ở ngôi dương cương, bất chính, bất trung, trên dưới đều là hào dương cả, không lượng tài mình kém (âm) mà đua đòi theo các hào dương, không khác người thọt tự khoe là đi nhanh; đó là hạng võ phu mà đòi làm một ông vua lớn, sẽ gặp họa, như dẫm lên đuôi cọp, bị cọp cắn.
    4. 九 四 : 履 虎 尾 . 愬 愬 終 吉 .
    Cửu tứ: Lí hổ vĩ, sách sách (hoặc sóc sóc)chung cát.
    Dịch: Hào 4, dương: Dẫm lên đuôi cọp, nhưng biết sợ hãi, nên quẻ sẽ tốt.
    Giảng: Hào này, dương mà ở vị âm, cũng bất trung, bất chính như hào 3, cũng ở sau một hào dương cương, cũng như dẫm lên đuôi cọp, nhưng hào 3 hung, hào 4 cát, chỉ do lẽ: 3 bản chất nhu, tài kém, u mê mà ở vị dương, chí hăng; còn 4 bản chất cương, có tài, sáng suốt mà ở vị âm, biết sợ hãi, thận trọng.
    5. 九 五 : 夬 履 貞 厲 .
    Cửu ngũ: Quyết lý, trinh lệ.
    Dịch: Hào 5, dương : Quyết tâm hành động quá thì tuy chính đáng cũng có thể nguy.
    Giảng: Hào 5 đắc chính, đắc trung ,rất tốt, nhưng ở địa vị chí tôn trong quẻ Lý (nói về cách ở đời) thì e có lòng cương quyết quá mà tự thị, ỷ thế, mà hóa nguy.
    6. 上 九: 視 履, 考 祥 . 其 旋, 元 吉 .
    Thượng cửu: Thị lý, khảo tường, kỳ toàn, nguyên cát.
    Dịch: Hào trên cùng, dương, xem cách ăn ở trong đời người, cho nên Hào từ diễn ý nghĩa của toàn quẻ chứ không diễn ý nghĩa của riêng hào cuối. Cũng là một lệ ngoại như hào cuối cùng quẻ Tiểu súc.
    Quẻ này tên là Lí có nghĩa là lễ, là dẫm lên, nhưng cả 6 hào đều nói về cách ăn ở trong suốt đời người : mới ra đời thì phải giữ tính chất phác trong trắng, rồi sau giữ vững đường chính (hào 2); biết sức mình, đừng tự phụ (hào 3) để tránh nguy, biết thận trọng, sợ hãi thì tốt (hào 4), và ở địa vị cao nhất, đừng ỷ thế mà cương quyết quá (hào 5), cách ăn ở được như vậy cho tới cuối đời thì tốt không gì bằng.
    Chúng ta để ý: Quẻ này cũng chỉ có một hào âm mà không có nghĩa thống lĩnh quần dương như quẻ tiểu súc. Như vậy là biến dịch.




    Đồ hình quẻ Thiên Trạch Lý

    Giải nghĩa: Lễ dã. Lộ hành. Nghi lễ, có chừng mực, khuôn phép, dẫm lên, không cho đi sai, có ý chặn đường thái quá, hệ thống, pháp lý. Hổ lang đang đạo chi tượng: tượng hổ lang đón đường.

  4. #4
    Tham gia ngày
    Jan 2008
    Bài viết
    65

     Sau đây là lời giảng trên một số dách dịch Trung Hoa nói về quẻ Hỏa Lôi phệ hạp mà có hiền huynh đã gọi là lôi phệ hạp ,bỏ mất ngaoij quá của quẻ , nhưng đã kêu là Hạp thì tự nhiên biết đực nội ngoại quái của quẻ , nên nếu bỏ luôn chữ LÔI thì tên quẻ sẻ đúng hơn


     


    Tự quái truyện giảng: tình, lý có chỗ khả quan rồi sau mới hợp nhau được; nhưng muốn cho hợp nhau thì trước hết phải trừ sự ngăn cách đã, cho nên sau quẻ Quan, tới quẻ Phệ hạp. Phệ là cắn, là trừ (sự ngăn cách), hạp là hợp.
    Thoán từ:
    噬嗑: 亨, 利用獄.
    Phệ hạp: Hanh, lợi dụng ngục.
    Dịch: Căn để hợp lại, như vậy là hanh thông; dùng vào việc hình ngục thì có lợi .
    Giảng: Quẻ Phệ hạp này nói về việc hình ngục.
    Hào sơ và hào trên cùng là hai vạch liền, tượng như hàm trên và hàm dưới; ở giữa có ba vạch đứt, là miệng há ra; xen vào một vạch liền như một cái quẻ cản ngang miệng, làm gián cách hai hàm răng; Phải cắn gãy, trừ nó đi rồi hai hàm mới hợp với nhau được.
    Trong xã hội, kẻ gián cách đó là bọn gian tà, sàm nịnh bưng bít kẻ trên người dưới mà trên không thông tới dưới, dưới không đạt tới trên. Cho nên phải dùng hình ngục để trừ chúng.
    Hình ngục muốn có kết quả thì phải vừa uy, vừa sáng suốt. Nội quái Chấn là uy; ngoại quái Ly là sáng suốt.
    Lại xét riêng hào 5, hào làm chủ trong quẻ; nó ở ngôi cao, âm nhu mà đắc trung, là có ý khuyên dùng hình ngục tuy phải uy, phải cương, nhưng vẫn nên có một chút nhu, hiếu sinh; nếu chỉ cương thôi thì hóa ra tàn khốc, hiếu sát mất.
    Đó là đại ý Thoán truyện. Đại tượng truyện bảo tiên vương theo ý nghĩa quẻ Phệ hạp này mà làm sáng tỏ sự trừng phạt và răn bảo bằng pháp luật. (Tiên vương dĩ minh phạt, sắc pháp: 先王以明罰, 敕法 cũng có người hiểu là sắp đặt pháp luật hoặc ban bố pháp luật)
    Hào từ .
    1.
    初九: 屨校滅趾, 无咎.
    Sơ cửu: Lí giảo diệt chỉ, vô cữu.
    Dịch: Hào 1, dương : ví như chân đạp vào cái cùm mà đứt ngón chân cái, không có lỗi lớn.
    Giảng: Trong quẻ này hào 1 và hào trên cùng là người không có chức vị, bị chịu hình; còn 4 hào kia là người có chức vị áp dụng hình pháp.
    Hào 1 ở dưới cùng là hạng dân thường, mới làm bậy mà bị tội nhẹ (cùm chân, chặt ngón chân cái) thì sẽ sợ phép nước mà sau không làm điều ác nữa, cho nên không có lỗi lớn.
    2.
    六二: 噬膚, 滅鼻, 无咎.
    Lục nhị: Phệ phu, diệt tị, vô cữu.
    Dịch: Hào 2, âm: Cắn miếng thịt mềm, sứt cái mũi, không có lỗi.
    Giảng: hào này cũng như ba hào sau, dùng chữ phệ (cắn) để trỏ người dùng hình pháp.
    Hào 2 âm nhu đắc trung, chính lại được hào 5 ứng, tức là người được vua ủy cho quyền hình pháp, vì vậy dễ thu phục được kẻ có tội, công việc dễ như cắn miếng thịt mềm. Nhưng vì hào 2 cưỡi lên hào 1 dương cương, tức như gặp kẻ ương ngạnh, nên phải cưỡi lên hào 1 dương cương, tức như gặp kẻ ương ngạnh, nên phải quá tay một chút, kẻ bị tội chịu hình phạt khá đau, như bị cắn vào mũi, đó là lỗi của hắn chứ hào 2 vẫn là trung chính, không có lỗi.
    3.
    六三: 噬腊肉, 遇毒, 小吝, 无咎.
    Lục tam: Phệ tích nhục, ngộ độc, tiểu lận, vô cữu.
    Dịch: Hào 3, âm: Cắn phải miếng thịt có xương lại ngộ độc, đáng ân hận một chút, nhưng không có lỗi.
    Giảng: Hảo 3, âm: Không trung chính, dùng hình ngục và không được người phục, có phần bị oán nữa, như cắn phải miếng thịt có xương lại ngộ độc; những ở vào quẻ Phệ hạp, dùng hình pháp để giữ trật tự cho xã hội, cho nên việc làm của mình tuy đáng ân hận, mà không có lỗi lớn.
    4.
    九四: 噬 乾胏, 得金矢, 利艱貞, 吉.
    Cửu tứ: phệ can trỉ (có người đọc là tỉ)
    đắc kim thỉ , lợi gian trinh, cát.
    Dịch: Hào 4, dương : Cắn phải thứ thịt liền xương mà phơi khô, được mũi tên đồng, chịu khó nhọc mà vững lòng giữ đường chính thì tốt.
    Giảng: Hào này dương cương ở gần ngôi chí tôn (hào 5) là người cương trực, có trách nhiệm; lại ở ngoại quái Ly, nên có tài minh đóan, cho nên dù gặp kẻ ngoan cố cũng trị được dễ dàng, như cắn được miếng thịt liền xương (cứng) phơi khô, mà vẫn giữ được đạo cương trực, tượng bằng mũi tên bằng đồng.
    Nhưng vì hào này cương, mà cương quyết thì e gặp khó khăn, nên Hào từ khuyên phải chịu khó nhọc, tuy cương mà vị lại nhu (hào thứ 4, chẳn), nên lại khuyên phải vững chí. Có hai điều kiện đó thì mới tốt.
    5.
    六五: 噬乾肉, 得黃金, 貞厲, 无咎.
    Lục ngũ: phệ can nhục, đắc hoàng kim, trinh, lệ, vô cữu.
    Dịch: Hào 5, âm: Cắn miếng thịt khô, được vàng (danh dự quí báu); phải giữ vững đạo, thường lo sợ, thì không có lỗi.
    Có sách giảng về hai chữ “hoàng kim” như sau: kim là vật quí, tượng trưng ngôi chí tôn của hào 5, hoàng là sắc của đất, của trung ương (đen là màu của phương bắc, đỏ của phương nam, xanh của phương đông, trắng của phương tây), tượng trưng đức trung của hào 5.
    6.
    上九: 何校滅耳, 凶.
    Thượng cửu: Hạ giảo diệt nhĩ, hung.
    Dịch: Hào trên cùng, dương : cổ tra vào gông, bị tội cắt tai, xấu.
    Giảng: Hào này lại nói về kẻ thụ hình như hào 1. Xấu hơn hào 1, vì dương cương lại ở cuối quẻ, trỏ hạng cực ác, nên bị tội nặng: đeo gông, cắt tai.
    Theo hệ từ hạ truyện, chương V thì Khổng Tử bàn như sau: “. . .không tích lũy nhiều điều ác thì không đến nỗi bị diệt thân thể (như hào này). Kẻ tiểu nhân cho rằng (. . .) một điều ác nhỏ là vô hại, nên cứ làm; vì vậy mà các điều ác cứ tích lũy tới lúc( . . ) tội hóa lớn mà không thể tha thứ được”.


    *


    Quẻ này xét về việc hình ngục, đại ý khuyên: Người xử hình phải sáng suốt trước hết, cương quyết mà cũng cần có đức nhu (để bớt cương đi), có chút từ tâm, và luôn luôn phải giữ đạo chính, thận trọng (hào 5).
    Hào 4 cũng tốt, vì vừa cương vừa nhu, có tài và có địa vị.
    - Nên răn đe dân từ khi dân mới mắc phải tội nhỏ, nếu không dân sẽ quen làm bậy, ác cứ tích lũy mà mắc tội lớn.



     




    Init();

  5. #5
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar

     Xin cám ơn Huynh hocdaolamnguoi.


    Đạo đệ có cơ hội học hỏi thêm.


    Xin được hỏi thêm nguồn của các quẻ trên.


    Kính.


  6. #6
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    140
    luutunha's Avatar

       kính huynh trungninh;


       luutunha  nhờ huynh nói  rõ về hai quẻ ĐẠI HỮU và ĐỒNG NHÂN. Đây là hai quẻ mà luutunha nhìn thấy trên bàn thờ Cao Đài. Hai quẻ nầy hiệp lại  làm nên nguyên lý ĐẠI ĐỒNG. Người tu Cao Đài muốn thông  lý của đạo nhà không thể  bỏ qua hai quẻ nầy.


         Quẻ Đồng nhân được Thầy vẽ trên lư nhang : 3 cây ở trên là quẻ CÀN  , 2 cây ở dưới là quẻ LY   ngoại Càn nội Ly  là THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN.


         Xin huynh nói về ĐỒNG NHÂN trước.


         kính.


  7. #7
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Bài viết
    506
    truongtam's Avatar



     Chào quý huynh tỷ !
    Trước tiên, người học dịch không chỉ ngồi đọc trên sách vở mà phải dùng hết cả tâm trí để lãnh hội thì mới mong hiểu được lý trong quẻ dịch, dùng lý đó vận dụng vào đời đạo là cũng một quá trình sống và cảm nhận. Đệ được biết có rất nhiều huynh tỷ đã học dịch trên diễn đàn tuổi trẻ nên rất mong được học hỏi kinh nghiệm học dịch của quý huynh tỷ.

    Về ý nghĩa cách thờ phượng trên lư nhang thì có lẽ không cần bàn thêm vì có nhiều chủ đề đã đem ra bàn luận rồi, đệ xin cùng học với huynh luutunha ý nghĩa quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân.

    Quẻ này Thiên Hỏa Đồng Nhân.

    Ly ở dưới cũng là nội Lý
    Càn ở trên cũng là ngoại Càn.
    Càn là Thiên, Ly là Hỏa nên quẻ đọc bằng Thiên Hỏa Đồng Nhân.
    Tự Quái:
    Tự Quái, vật bất khả dỉ chung Bỉ, cố thụ chi dỉ Đồng Nhân.
    Nghĩa: Sau quẻ Bỉ là quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân, là vì cớ như thế này: Bỉ là bế tắc, cũng nghĩa là cách tuyệt, Xưa nay đạo người không thể bí tắc và cách tuyệt nhau mãi, tất phải giao thông hòa hiệp với nhau, có giao thông hòa hợp đồng tâm hợp lực với nhau mới làm nên khuynh bỉ. Vậy sau quẻ Bỉ là quẻ Đồng Nhân.
    Theo về tượng quẻ, thiên là vị ở trên, hỏa là tính phụt lên trên, là trạng thái Đồng Nhân. Xem ở hai thể quẻ, hào ngũ là chủ cho Càn, hào Nhị làm chủ cho Ly, hai hào có đức trung chính ứng với nhau là tượng thượng hạ tương đồng. Vì thiên hỏa đồng thượng, thượng hạ đồng tâm. Nên tên quẻ là Đồng Nhân.

    Soán Từ:
    Đồng nhân vu dã, hanh, lỵ thiệp đại xuyên, lỵ quân tử trinh.
    Nghĩa:
    Nội quái Ly, Ly là Hỏa, là nhật, là điện, là một giống rất văn minh. Ngoại quái Càn, Càn là thiên, Ly chung với quẻ Càn, mà Ly lại ở dưới Càn tượng là lửa bén lên tận trời, cũng tượng là mặt trời lên chính giữa trời, soi dọi khắp thế giới.
    Đạo đại đồng của thánh nhân xưa cũng xa lớn như thế. Nên gọi bằng Đồng Nhân, nghĩa là tất thảy loài người đại đồng với nhau. Theo về đạo lý ấy, tất phải chí công đại công, chẳng thiên ty về một quốc gia nào, như thế mới gọi bằng Đồng Nhân. Nên soán từ nói Đồng Nhân vu dã.
    Dạ: đồng không, là đám đồng ở ngoài chốn không làng nước, thủ nghĩa bằng xa, và ngoài nên nói vu dạ.
    Đồng với người, mà lại đồng ở nơi giao dạ khoáng viện, chẳng kỳ người thân cận, chẳng kỳ chốn láng giềng, dầu xa lạ đến đâu cũng đồng hết thảy. Như thế mới là đạo chí công đại đồng.
    Thiên hạ đã đến lúc đại đồng, còn có chốn nào chẳng thông được. Mặc dầu đường đời khấp khễnh, lòng người hiểm sâu, nhưng đã đến lúc đại đồng, thời chẳng hiểm trở gì mà chẳng bằng, chẳng gian nguy gì mà chẳng lọt, dầu đại xuyên cũng lỵ thiệp, đó chính là cảnh tượng Đại đồng rất vui vẻ.
    Tuy nhiên, muốn làm được đến cảnh tượng ấy, há phải phường tiểu nhân chỉ dùng ý riêng đi đường tắc, mà làm nên được ư? Nên lại nói rằng: Lỵ Quân tử trinh. Nghĩa là đạo đồng nhân chỉ lỵ ư đạo chính quân tử mà thôi. Nếu muốn được đồng nhân, tất phải có quân tử trinh.

    Trích Chu Dịch, Phan Sào Nam, page 303.


    Vì vậy khi cúng, công phu trước bàn
    thờ Thầy, cần phải để hết cả tâm trí vào Câu Kinh Tiếng Kệ hoặc là pháp
    tu, có vậy mới mong Thiên Nhân Hiệp Nhất, mới ứng với Thiên Hỏa đồng
    thượng, thượng hạ đồng tâm là vậy. Ngày nay chủ trương của chúng ta là Thế giới đại đồng, nhưng tự mỗi chúng ta hãy đại đồng trước đã thì mới mong có được ngày Nhân loại Đại Đồng.


    Đệ thấy mình mới học dịch mà đã đi vào quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân thì chẳng ứng dụng Lý được nhiều, chẳng thông hiểu được nhiều, chi bằng:

    Lửa vàng phân lọc thau chì
    Sẳn sàng trả nghiệp mới tri đạo huyền
    Minh di địa hỏa sĩ hiền
    Thử trang tài đức công thiền bao lăm!

    Là người học trò hiền nên chọn quẻ Địa Hỏa Minh Di. Xin quý huynh tỷ giải nghĩa quẻ này. Quẻ này rất quan trọng đối với người chân tu, mong cầu giải thoát.

      

  8. #8
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    140
    luutunha's Avatar
     

              Kính chào quý huynh cùng truongtam ,


               luutunha xin cám ơn truongtam đã giãi nghĩa quẻ Đồng Nhân. luutunha cũng xin góp thêm vài ý với quẻ nầy theo cách nhận thức của riêng mình.


               Quẻ Đồng nhân ngọai quái là 3 hào dương , nội quái có 2 hào dương ở ngoài và 1 hào âm ở trong. Hào dương tượng trưng cái có , hào âm tượng trưng cái không. Vậy quẻ Đồng nhân có tượng là một cái gì đó mà bên ngoài được bao kín vững chắc còn bên trong thì chân không . Ví dụ như cái bóng đèn điện , cái đèn hình tivi hay cái bình thuỷ đng nước sôi nước đá . . . Ngày nay thì những vật đó rất bình thường nhưng ngày xưa khi mi có nó mọi ngươi đều thấy rất là thần kỳ .Cái kỳ diệu nằm chổ kỹ thuật tạo chân không . Khoa học đã biết ng dụng chân không để tạo ra nhiều sản phẩm ích li cho con ngừơi . Còn Đạo học thì sao ?


    T ngàn xưa Đạo Học đã có nhiều thành công trong việc khám phá chân không rồi , nhưng nay vì vô minh nên không thành công . Thầy dạy đạo yêu cầu chúng ta nên truy tầm chổ nầy . Thầy để lư nhang ngay trứơc mt ta . Hai ngọn đèn hai bên chiếu vào như hai cp mắt chăm chú nhìn nó . Năm cây nhang là 5 giác quan . Nếu chúng ta bế kín rồi tạo cho được chân không bên trong thì sẽ có kết quả diệu kỳ xuất hiện . kỹ thuật tạo chân không lúc đầu có nhiều khó khăn , nhưng sau dần dần có kinh nghiệm thì cũng dễ .


    Kinh Dịch là một loại toán giãi được nhiều vấn đề của đạo học . Thầy đặt bàn th ( cái bản đồ ) trong lầu bát quái là có ý nói : đệ t hãy học Kinh Dịch .


    kính .


  9. #9
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Bài viết
    506
    truongtam's Avatar

      
    Kính huynh luutunha đã cho đệ học hỏi được nhiều điều mà mình chưa
    biết, tiện đây huynh có thể giải nghĩa thêm sự hiểu biết của huynh về
    quẻ Địa Hỏa Minh Di không ạ, hoặc mời quý huynh tỷ đệ muội, truongtam
    rất muốn được biết ý nghĩa của quẻ này.

  10. #10
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Bài viết
    506
    truongtam's Avatar

     
    Theo sự hiểu biết của đệ thì ở quẻ Đồng Nhân, kể từ Sơ cửu (tính từ dưới lên) ở đầu hết thì Đồng Nhân được, vì nếu nói về một người mới ra đời, ở trong lòng người đó vẫn còn trong sạch, trong mắt chưa dây dính với ai, do có đức cương dương, nên bắt đầu việc làm đồng nhân (có chí Đại Đồng), có được tính khoan hồng mà hợp với Đạo, đồng với người mà công bằng một cách chí công, hòa thuận được với nhiều người. 

           Vì vậy một người mới lúc tu hành thì phát huy tính đại đồng rất tốt, cần nuôi dưỡng tư tưởng ngay lúc mới tìm hiểu Đạo Lý. Đến tới hào Nhị (hào âm) thì đã khác rồi, tuy hào này ở vị trí Đắc trung đắc chính, rất là tốt.
           Nhưng xét về nghĩa lấy Đại Đồng làm cuộc thì lại khác, Hào Lục Nhị này ứng với Hào Cửu Ngũ, âm dương tương đồng, quấn ríu rít nhau, thành ra Đồng Nhân lại chật hẹp, nên chỉ biết lấy Đồng Nhân cùng trong họ mình thôi, vì thế mà cảm thấy xấu hỗ, Hào Lục Nhị: Đồng Nhân vu tông, lẫn là vậy. Nếu ở hào Sơ Đồng Nhân có tính rộng chi cực thời được hanh thông, thì ở hào nhị lại hẹp chi cực thời mắc chữ lẫn (xấu hỗ).
           Vậy cái cốt yếu ở đây là không để cho tư tưởng Đại Đồng nhỏ hẹp trong phạm vi gia đình nữa, (do lúc đầu rất nhiệt tình với Đạo, sau này gặp người tâm hợp hoặc là không vừa ý với những người hành đạo cùng mình lại thu gom Đại Đồng vào khuôn khổ gia đình dòng tộc, chỉ biết lấy mình) thì như vậy quả thật không hay, phải biết tự mình nhận lỗi, như hào Cửu tứ: quá nhi năng cải, thiện mạc đại yên, tức là: Có điều lỗi mà hay đổi, chẳng điều lành gì lớn hơn vậy.

           Xưa nay người đời thiện thì ít, mà ác thì nhiều, chính thường ít mà tà thì nhiều, cảnh đời thuận thì ít mà nghịch thường nhiều, nên hòa bình mà có được thì phải trải qua vô số chiến tranh, Tạo phúc thường nhờ có lưu huyết, (nhờ đến con cháu). Tức như hào ngũ, hào nhị thảy trung chính với nhau, thì làm việc sẽ thuận.
     

Trang 1/12
1 2 3 11 ... 12

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Quyền hành Giáo tông ĐĐTKPĐ qua Kinh Dịch
    Bởi Trung ngôn trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 23
    Có Bài Mới: 05-10-2009, 01:09 AM
  2. Quyền hành Giáo tông qua Kinh Dịch
    Bởi Trung ngôn trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 9
    Có Bài Mới: 02-07-2009, 01:49 AM
  3. Kinh Dịch
    Bởi sendsome trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 8
    Có Bài Mới: 12-07-2008, 01:06 AM