+Trả Lời Chủ Đề
kết quả từ 1 tới 2/ Tổng số 2

Ðề tài: NHƠN ĐẠO và HẠ THỪA

  1. #1
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    266
    Trong Ngũ chi Đại Đạo thì Nhơn đạo là chi cuối cùng.
    - Vậy Tín đồ có thuộc chi thứ năm này không?

    Tệ đệ có nghe đến Hạ thừa (trong Kinh tận độ, bài Kinh mai có đoạn:
                    Nguyện giữ giới hạ thừa khăn khắn
                      Dầu chi chi con chẳng quên lời")
    - Vậy giới Hạ thừa là gì?
    - Vậy có còn "thừa" nào khác nữa không?

    Rất mong được sự đóng góp và chỉ dẫn của Quý Huynh, Tỷ, Đệ, Muội.  

  2. #2
    Tham gia ngày
    Apr 2006
    Bài viết
    85
    Nhơn Đạo - Thiên Đạo 



    Nhơn: Người.

    Thiên: Trời.

    Đạo: con đường, tôn giáo.

    Nhơn đạo là đạo làm người, đạo ở đời, nên nó cũng được gọi là Thế đạo (Thế là đời). Đó là những nguyên tắc và bổn phận mà con người phải tuân theo trong đời sống đối với gia đình và xã hội. Nhờ Nhơn đạo mà con người mới xứng đáng phẩm người, mới có giá trị là loài thượng đẳng chúng sanh.

    Nói đến Nhơn đạo thì chúng ta nghĩ ngay đến Nho Giáo, vì không có tôn giáo nào dạy về Nhơn đạo kỹ lưỡng và chi tiết bằng Nho Giáo.

    Thiên đạo là đạo Trời, tức là con đường để người tu theo đó thì được trở về cõi Trời, giải thoát khỏi luân hồi để được hiệp nhập vào Thượng Đế.

    Người là Tiểu linh quang, Trời hay Thượng Đế là Đại linh quang; nên con người là một phần tử nhỏ của Thượng Đế. Thượng Đế cho con người đầu kiếp xuống cõi trần là để học hỏi và tiến hóa, học hỏi mãi mãi và tiến hóa mãi mãi, tới mức cùng tột thì trở thành Thượng Đế và hiệp nhất vào Thượng Đế.

    Muốn đạt được như thế, con người phải trải qua năm cấp tiến hóa:

    Cấp tiến hóa thứ nhứt là Nhơn đạo lên Thần đạo

    Cấp tiến hóa thứ nhì là Thần đạo lên Thánh đạo

    Cấp tiến hóa thứ ba là Thánh đạo lên Tiên đạo

    Cấp tiến hóa thứ tư là Tiên đạo lên Phật đạo

    Cấp tiến hóa thứ năm là Phật đạo lên Thiên đạo

    Trong năm cấp tiến hóa đó, Nhơn đạo là căn bản. Không hoàn thành Nhơn đạo thì không mong chi bước lên các cấp tiến hóa cao hơn. Thánh nhơn khi xưa có nói rằng: Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhơn đạo, Nhơn đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỹ. Nghĩa là: Muốn tu Tiên đạo, trước tu Nhơn đạo, Nhơn đạo không tu, thì Tiên đạo xa vời lắm vậy

    Đại Đạo Tam kỳ Phổ Độ mở ra kỳ nầy là Đức Chí Tôn dựng lên một cái thang 5 nấc để cho người từ từ tu tiến mà đoạt vị. Hễ công đức tu hành đạt đến mức nào thì Đức Chí Tôn chấm cho mức ấy với những phẩm vị cao trọng tương xứng.

        "Buông trôi ví chẳng tròn Nhơn đạo,

         Còn có mong chi đến đạo Trời.

         Rằng ở đời thì Nhơn đạo trọn,

         Trọn rồi Thiên đạo mới hoàn toàn".

    Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy về Thế đạo (Nhơn đạo) và Thiên đạo, trích trong Luật Tam Thể, chép ra như sau:

    "Hẳn mấy em đã rõ đại cương về Thế đạo (Nhơn đạo) là: Nam thì Tam cang, Ngũ thường; Nữ thì Tam tùng, Tứ đức.

    Song đó chỉ là thể của Nhơn đạo hữu hình mà thôi. Nếu mấy em hằng ngày tâm niệm có bấy nhiêu đó thôi thì làm sao trọn vẹn được.

    Trong Thế đạo phải phân tách ra làm hai pháp lý:

    - Một là Thể pháp Thế đạo,

    - Hai là Bí pháp Thế đạo.



    Tam cang Ngũ thường, Tam tùng Tứ đức là thể đặng làm sở hành cho mặt Thể pháp Thế đạo mà thôi, lấy đó làm chánh đề mà đi.

    Bây giờ muốn giữ Tam cang Ngũ thường thì phải làm thế nào?

    - Quân Thần cang: Vua là kẻ chăn dân. Vậy bổn phận ấy là phải lập trên những hành tàng để cứu giúp dân cho khỏi điều thống khổ. Ấy là công việc của Cơ Quan Phước Thiện bây giờ đó. Tôi thì phải tỏ dạ trung thành đặng vùa giúp vua mà làm cho bá tánh an cư lạc nghiệp, tức là bổn phận của hàng Thánh thể đó vậy.

    - Phụ tử cang: Cha là người thay quyền Chí Tôn trong một tiểu gia đình, tức nhiên là phải biết mình có bổn phận giáo hóa, dưỡng dục, tức nhiên là một Hội Thánh nhỏ trong một gia đình. Vậy con phải trọn hiếu, tức nhiên không làm điều nhục tổ hổ tông, tức là bổn phận của một tín đồ, hay nói đúng hơn là một môn đệ xứng đáng của Đức Chí Tôn đó vậy.

    - Phu phụ cang: Chồng là người cầm lèo giữ lái đặng đưa một tiểu gia đình đến chỗ đạo đức thanh bạch, tức nhiên là bổn phận của Cơ Quan Hành Chánh đó vậy. Vợ là người tùng theo chồng để giúp an sự nghiệp, tạo nên hạnh phúc gia đình, tức là bổn phận của Bảo Cô đó vậy. Về Ngũ thường thì:

    - NHƠN: là phải biết nghĩa đồng sanh, biết tình đồng hưởng Âm - Dương chi khí, chẳng để lòng sái loạn chơn truyền, tức là phải trọn vâng theo luật Công bình Bác Ái.

    - NGHĨA: là phải biết trọn phận người để tạo nên danh trọng giá cao, tức là phải giữ phẩm hạnh mà nhìn rõ của chung đồng hưởng.

    - LỄ: là giữ hạnh nết đúng đắn để tạo nên một nhơn phẩm, biết nhường biết nhịn, tức nhiên là phải giữ trọn hạnh đạo đó vậy.

    - TRÍ: là phải thông hiểu việc thế mà đi, không để tên tuổi phải bị lời chê tiếng nhẻ, tức nhiên là phải trọn vâng Luật pháp Chơn truyền đó vậy.

    - TÍN: là phải đúng lời đúng hẹn, tức là phải danh chánh ngôn thuận, thuyết hành phải được giống in nhau, tức là phải trọn thệ đó vậy. Đó là mặt Thể pháp Thế đạo.

    Còn mặt Bí pháp Thế đạo là phương tầm ra định hướng để vẹn giữ Tam cang Ngũ thường, tức nhiên là trọn phần Nhơn đạo. Ấy là kết quả do Thể pháp mà nên. Nói chung về Bí pháp Thế đạo, tức nhiên là phương giúp đời an nhàn đạo đức đó vậy.

    Về Tam tùng Tứ đức là phận của Nữ phái:

    - Tùng phụ: như người con phải trọn giữ tiết trinh, cũng như kẻ tín đồ phải giữ tròn danh đạo.

    - Tùng phu: như bóng tùy hình. Tức nhiên là phải ví mình như một trong Thánh thể, tùng Hội Thánh vậy.

    - Tùng tử: là phải vì đám hậu sanh mà quên mình đặng tạo thành sự nghiệp tương lai cho chúng, tức nhiên là bổn phận của Chức sắc vậy.

    - Công, Dung, Ngôn, Hạnh: tức là việc làm cho nhơn sanh thoát khổ, lời nói để đưa đường giáo hóa, hành vi cử chỉ đáng treo gương mặt thế, tức là phải biết nâng cao giá trị của Thánh thể Chí Tôn, nết na đầm thấm, giữ trọn thương yêu, tức nhiên là làm nền móng cho Đại đồng thế giới. Đó là Thể pháp.Kẻ đã trọn về mặt Thể pháp, tức nhiên hiểu biết Bí pháp, vì Bí pháp không chi lạ hơn là phương pháp bí yếu để nâng cao giá trị cho Thế đạo. Nói rõ hơn nữa là phương làm cho đời trở nên tận thiện tận mỹ. Nói theo Nhơn sanh Triết lý thì Bí pháp là kế hoạch nâng cao đời sống trong Nhơn Nghĩa đó vậy."Trong Thiên đạo cũng có Thể pháp và Bí pháp như Thế đạo vậy.

    - Về Thể pháp Thiên đạo tức nhiên là những nơi để học hỏi, để un đúc tinh thần trên khuôn viên chánh pháp.

    Trong Thể pháp Thiên đạo chia làm 3 thời kỳ:

    . Thứ nhứt là thời kỳ Khai thác,

    . Thứ nhì là thời kỳ Luyện tập,

    . Thứ ba là thời kỳ Thi hành.

    Trong thời kỳ sau nầy mới thường gặp những cơ khảo đảo đặng thử thách tinh thần. Về thời kỳ thứ nhứt, là những tạo tác nơi qui hợp đức tin cho con cái Chí Tôn, tức là các Đền thờ đó vậy. Khi một môn đệ đã nhập môn tùng giáo thì phải do nơi các Đền thờ đặng tựu hiệp đức tin. Đó là bước đầu tiên của Thể pháp Thiên đạo. Do đó, sự cúng kiếng niệm kinh là điều trọng yếu vậy.

    Qua thời kỳ thứ nhì là đem đức tin đã trụ được đặng tập luyện tâm tánh và khởi lập Công trừ Quả đặng tự giải khổ cho mình và giúp phương cứu khổ cho toàn nhơn loại. Ấy là phương tập luyện tánh thành, tâm niệm đó vậy.

    Qua thời kỳ thứ ba là thi thố những đức tin hầu lấy phương giải khổ mà đem gieo truyền hột giống thương yêu, ấy là phương cứu khổ đó vậy

    Trong lúc nầy, tinh thần hay gặp những chướng ngại, hoặc làm cho nao núng tan rã đức tin, hoặc theo đường quỉ mị, chia phe phân phái, mà nên Tả đạo Bàng môn như đã xảy ra đó

    Trong ba thời kỳ: Thứ nhứt là Lập Ngôn, thứ nhì là Lập Công, thứ ba là Lập Đức. Đó là Thể pháp của Thiên đạo. Khi đã trọn phần Thể pháp rồi, liền bước qua mặt Bí pháp, là phương tu tâm sửa tánh, hầu lập thành Chơn khí thanh khiết mà hiệp với Chơn thần, đặng tiếp Chơn linh để giải phương cứu khổ thêm bề siêu lý diệu chơn. Ấy là phương tầm hiểu Chơn truyền Chánh pháp đó vậy. Khi đã vẹn sạch Tinh, Khí, Thần thì đắc Pháp đó vậy.

    TNHT:Thầy dạy Nữ phái biết trọng Tam tùng Tứ đức, Nam phái Tam cang Ngũ thường. Hễ Nhơn đạo thành là phù hạp Thiên đạo,nghe à! TNHT: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.



    Hạ Thừa - Thượng Thừa

    下乘 - 上乘



    Hạ: Dưới, thấp, đem xuống, truyền xuống. Thừa: bực. Thượng: trên.

    Hạ thừa là bực thấp, Thượng thừa là bực cao.

    Đạo Cao Đài chia các tín đồ làm hai bực : Hạ thừa và Thượng thừa. Không có Trung thừa.

    Tân Luật.

    Chương II Về người giữ đạo.

    Điều thứ 12: Nhập môn rồi gọi là Tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực:

    1. Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ hoặc 6 hoặc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giới Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Đại Đạo truyền bá. Bực nầy gọi là người giữ đạo mà thôi, vào phẩm Hạ thừa.

    2. Một bực đã giữ trường trai, giới sát và Tứ Đại Điều Qui, gọi là vào phẩm Thượng thừa.

    Điều thứ 13: Trong hàng Hạ thừa,ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên được thọ truyền Bửu pháp, vào Tịnh Thất có người chỉ luyện đạo.

    Điều thứ 14: Chức sắc cai trị trong Đạo từ bực Giáo Hữu sắp lên, phải chọn trong bực người Thượng thừa mà thôi.  

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. tâm thư Thánh thất quy nhơn
    Bởi hoangnam trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 06-10-2012, 01:54 AM
  2. NHƠN-ĐẠO (Nhơn Đạo Và Về Vấn Đề Tình Dục)
    Bởi truonghuuduyen trong mục Bài học từ cuộc sống
    Replies: 1
    Có Bài Mới: 24-07-2010, 04:40 AM
  3. Thưa Cha !!!
    Bởi tantrung trong mục Cao Đài và Tôn giáo
    Replies: 1
    Có Bài Mới: 09-11-2007, 08:32 PM
  4. Bài thơ Thiên đạo đại thừa
    Bởi Nhat Minh trong mục Thi - Văn - Nhạc - Họa
    Replies: 4
    Có Bài Mới: 10-06-2006, 12:02 PM