+Trả Lời Chủ Đề
Trang 1/12
1 2 3 11 ... 12
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 118

Ðề tài: Tìm hiểu về Đ.Đ.T.K.P.Đ

  1. #1
    Tham gia ngày
    Mar 2008
    Bài viết
    35
    Thanh Thảo's Avatar

    Ý NGHĨA ÁO DÀI TRẮNG Của NGƯỜI ĐẠO CAO-ĐÀI
    ***
    Mỗi khi bàn đến quốc-phục của người dân Việt là tôi nhớ đến chiếc áo dài.
    Ngày xưa, nhân-dân ta mỗi khi đi dự hội hè đình đám, hoặc có việc quan, hay mỗi khi tiếp khách, đi lễ và cúng kiến…đều mặc áo dài.
    Chỉ có khác là nhân-dân ta tùy theo nghèo hay giàu mà tạo sắm chiếc áo dài đơn-giản hay sang trọng đắt tiền. Như vậy chiếc áo dài thể-hiện được phong-cách của người VN, thể hiện văn-hóa đặc-thù dân-tộc Việt tiềm ẩn trong chiếc áo dài.
    Đó là bản-tánh thâm-trầm, giản-dị, khiêm-tốn, nói riêng người tín-đồ Cao-Đài, khi mặc chiếc áo dài trắng là màu tượng-trưng cho bản-tánh giản-dị, thanh-cao về tinh-thần trong sạch về phẩm-chất của Cao-Đài, đồng thời nói lên cái quốc-hồn quốc-túy của dân-tộc Việt và cái văn-hóa tốt đẹp của người tín-đồ Cao-Đài. Từ đó, đạo Cao-Đài được truyền-bá ra khắp thế-giới, đều biết và chấp nhận văn-hoá tốt đẹp của dân-tộc Việt-Nam là dân-tộc được Đức Chí-Tôn Thượng-Đế chọn và họ sẽ giao-hoà với tánh thâm-trầm tinh-túy của người Việt.
    Ngoài ra, chiếc áo dài trắng của Cao-Đài còn có một ý-nghĩa sâu-sắc của Đức Chí-Tôn đã kín-đáo ban cho nó.
    1/- Trước hết xin nói: Màu trắng là “Màu của Tình-Thương”
    Đức Chí-Tôn dạy mọi người phải thương yêu nhau như ruột-thịt.. Sự thương-yêu đó thể-hiện tình huynh-đệ đồng-đạo, ở tình nhơn-loại giữa con người với nhau.
    Đức Chí-Tôn dạy rằng: “Giáo-lý của Thầy là Đại-Đồng”. Lấy sự thương yêu làm gốc và nếu không có sự thương yêu thì Đạo không thành. Cho nên, từ sự thương yêu, lấy giáo-lý Cao-Đài để thể-hiện:
    - Lòng bác-ái khoan-dung của Thiên-Chúa,
    - Lòng Từ-Bi Hỉ-Xả của Phật, và
    - Tánh Ái-Nhơn Hoà-Thuận của Khổng
    2/- Màu trắng là màu của sự vô tội:
    - Màu trắng tượng-trưng cho sự trong-trắng của người con gái có nề-nếp, gia-phong giữ-gìn trinh-tiết.
    - Màu trắng tượng-trưng cho sự ngây-thơ không chút bợn-nhơ của trẻ thơ.
    - Màu trắng tượng-trưng cho con người đạo-đức hiền-lương không làm gì tội lỗi.
    - Màu trắng nói lên sự thanh-cao trong sạch của con người.
    Nói chung: màu trắng là màu của sự vô tội. Chiếc áo dài trắng của Đạo Cao-Đài nói lên ý-nghĩa vô tội đó. Bởi vì sứ-mạng của người tín-đồ Cao-Đài là phổ-độ chúng sanh, để mọi người lo tu hành, trau-dồi đạo-đức, làm sao để được sống vào đời Thượng-Nguơn Thánh-Đức, tức là nguơn vô tội, cho nên người tín-đồ Cao-Đài trước hết phải là con người vô-tội để được sống vào đời Thượng-Nguơn tới, vì đời Hạ-Nguơn sắp mãn, nhơn-loại sẽ chịu sự sàng-sảy của luật thiên-điều, ai hữu-căn hữu-kiếp sẽ được tồn tại, ai hung-tàn tội-lỗi sẽ bị hủy-diệt.
    3/-Màu trắng là màu của nước: Nước ở đâu cũng có, thời-buổi nào cũng có. Nước vô-tận vô-biên. Nước chảy từ sông ra biển từ biển trở vào sông, nước ròng nước lớn, đều do một quy-luật thiên-nhiên của vũ-trụ. Người tín-đồ Cao-Đài đi tầm đạo giống như dòng nước chảy theo quy-luật tự nhiên, cũng như người tín-đồ Cao-Đài tuân theo luật đại-hóa lưu-hành của Trời-Đất. Bởi vậy trong Kinh Ngọc-Hoàng Thượng-Đế có đoạn:
    Bất-ngôn nhi mặc, tuyên đại-hóa,

    Thị không thị sắc, Vô-Vi nhi dịch sử quần-linh

    Người tín-đồ Cao-Đài trầm-lặng không nói, để mặc cho cuộc đại-biến-hóa của vũ-trụ và “không làm” (vô-vi) để tùy theo các quần-linh chuyển dịch.
    Theo đức Lão-Tử và phái Đạo-Gia, Vô-Vi có nghĩa là “không làm”, nhưng không có gì là không làm (Vô-Vi nhi Vô-Bất-Vi) hay là “không làm gì trái với luật tự-nhiên”. Đức Lão-Tử bảo “Vi-Vô-Vi” tức là “Hãy làm cái Vô-Vi”. Như vậy, Lão-Tử nào có chủ trương sự không làm gì cả, mà bảo nên làm theo phép “Vô-Vi”
    Dòng nước âm-thầm chảy ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm nọ theo sức hút của mặt trăng và do sự chuyển động không ngừng của trái đất chạy quanh nó và quanh mặt trời, mà nào có ai để ý đến đây!
    Thánh-Nhơn có bảo rằng: “Đạo-Pháp phải trường-lưu như dòng thủy-triều không ngừng nghỉ”
    Đức Ngô-Minh-Chiêu cũng dạy về”Đạo-Pháp trường-lưu” như sau:”Nước nào đâu có tướng, Đạo nào đâu có tướng. Người tín-đồ Cao-Đài âm-thầm hành đạo, không nói, chỉ làm theo phép Vô-Vi là đạt được Đạo”
    Bởi vậy Đức Lý-Giáo-Tông dạy:”Thái-Thượng vô ngôn hữu đạo thành” (TNHT – 34)
    Đức Chí-Tôn thì dạy:”Đạo vốn Vô-Vi” (TNHT – 175) và “Thời-kỳ Mạt-Pháp nầy mới có Tam-Kỳ Phổ-Độ, các sự hữu-hình phải hủy phá tiêu diệt. Thầy đến chuyển Đạo, lập Vô-Vi” (TNHT – 121).
    Như vậy, chiếc áo dài trắng của tín-đồ Cao-Đài thể hiện cái “Đạo Vô-Vi”.
    4/- Màu trắng là không màu mà cũng gồm 7 màu góp lại.
    Ánh sáng màu trắng nhưng thật ra gồm có 7 màu chính-yếu mà cũng có thể nói là nó không có màu nào hết. Bằng một cuộc thí nghiệm quang-học, người ta phân-tách màu trắng của ánh-sáng ra 7 màu (7 màu cầu vòng: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím) bằng cách chiếu qua một lăng kính.
    Bảy màu này chiếu qua một lăng kính thứ hai thì trở lại màu trắng. Bằng một thí-nghiệm khác, người ta vẽ 7 màu nầy lên một cái dĩa carton tròn rồi đem quay nhanh cái dĩa, thì người ta sẽ chỉ thấy toàn là màu trắng. Như vậy, màu trắng của Đạo Cao-Đài nói lên:
    - Nhứt bản biến vạn thù và vạn thù quy nhứt bản, theo thí nghiệm về phân tích ánh-sáng trên.
    - Có đó rồi không có. Màu trắng biến thành 7 màu, rồi trở lại màu trắng, tức là “Sắc sắc không không. Hư Hư Thiệt Thiệt”. Bởi vậy trong kinh Ngọc-Hoàng có câu:”Nhược thiệt, nhược hư… Thị không, Thị Sắc”. Vì thế, Màu Trắng là không màu , vậy Đạo tức là “Vô”
    5/- Màu trắng là Đạo, Đạo vốn là Vô:
    Theo Vũ-Trụ-Quan của Đạo Cao-Đài thì:
    “Khí Hư-Vô sanh ra có một Thầy – Thầy và ngôi của Thầy là Thái-Cực.

    Thầy mới phân Thái-Cực ra Lưỡng-Nghi – Lưỡng-Nghi phân ra Tứ-Tượng.

    Tứ-Tượng biến thành Bát-Quái – Bát-Quái biến-hóa vô cùng mới lập ra Càn-Khôn thế-giới.

    Thầy lại phân Tánh Thầy sanh ra vạn-vật: vật-chất, thảo-mộc, côn-trùng, thú-cầm; gọi là chúng-sanh (TNHT – 170) và

    Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn-Khôn Thế-Giới nầy, mà nếu không có Hư-Vô Chi-Khí thì không có Thầy” (TNHT – 28)

    Con người là một phần Chơn-Linh của Thượng-Đế, vậy con người cũng từ Hư-Vô Chi-Khí mà ra, cho nên khi con người Đắc-Đạo trở về hội-hiệp cùng Thầy tức là trở lại “Vô-Vi Chi-Khí” chính là Niết-Bàn đó vậy (TNHT – 44)

    Bởi vậy Đại-Thừa Chơn-Giáo có viết: “Luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hóa Thần”, “Luyện Thần huờn Hư, luyện Hư huờn Vô” (ĐTCG – 61), thì Huyền-Quan Nhứt-Khí sẽ được mở toát ra.”
    Người tín-đồ Cao-Đài-Giáo mặc áo dài trắng là nói lên cái của Đạo, vì Đạo chính là ”. Nói cách khác “màu trắng thể-hiện cái Đạo”. Do đó màu trắng có ý nghĩa rất sâu-xa và còn có thể nói là rất “huyền-diệu”.
    Chúng ta hãy liên-tưởng đến việc: “Tại sao đức Giáo-Tông và Thượng-Chưởng-Pháp mặc áo trắng, trong khi các chức sắc Đại-Thiên-Phong khác lại có phẩm-phục màu khác?”
    Bởi vì áo của Giáo-Tông màu trắng tức là “màu nguồn gốc của Đạo” Đạo không màu sắc hay tượng-trưng một màu rất trong sạch là màu trắng, màu trắng có thể biến ra các màu vàng, xanh, đỏ.
    Trở lại màu trắng tức là “Qui Hồi Căn Bổn” vậy. Còn Thượng-Chưởng-Pháp mặc phẩm-phục trắng vì Thượng-Chưởng-Pháp có quyền thay thế cho Giáo-Tông khi Ngài vắng mặt (CTĐ – 44)
    Đạo phục khi hành lễ
    : Với các đạo hữu, Đức Mẹ cũng thường xuyên nhắc:
    “Nương ánh sáng khai thông trí tuệ,
    Dụng tinh thần hầu để tu thân;
    Biết bao quyến rũ nơi trần,
    Nữ Tiên phải khác bản thân phàm này.
    Áo bạch y Mẹ đây nhắc đến,
    Cùng các con ấn nên nơi thân;
    Con ta lẹ bước cõi trần,
    Theo lằn điển Mẹ nương vầng mây lên.
    Áo bạch y là nền tạo hóa,
    Không xen vào những cả vết nhơ;
    Trắng tinh một sắc ban sơ,
    Khác hơn màu sắc biến giờ đó con.
    Nương theo đạo ngòi son MẸ dẫn,
    Các con nên cẩn thận vì đời;
    Kề bên đủ món vui chơi,
    Làm cho con trẻ đổi dời tánh tâm.
    Nay hạ bút bổng trầm đôi vận,
    Trước đàn tiền có lẫn nữ nam;
    Hội đồng hội diện Kỳ Tam,
    Giờ đây MẸ nhắc con làm sao con.”
    ĐẠO PHỤC NGHIÊM TRANG TRONG CÁC ĐẠO SỰ
    :
    Hiện nay chỉ có Cao Đài Giáo mới có đạo phục đồng nhất cho tín đồ. Điều nầy cho thấy ý nghĩa: tính tập thể, đồng nhất trong sinh hoạt tôn giáo. Đó là một phần sức mạnh tinh thần của tập thể Đạo.
    Vì thế người tín đồ Cao Đài phải ý thức giá trị ý nghĩa của Đạo phục Bạch Y để tự mình nghiêm túc với chính mình và giúp đỡ đồng đạo có điều kiện trang bị đạo phục đúng cách hầu thể hiện sự nghiêm chỉnh trong khi hành đạo.
    Khi xưa, có một lần Đức Chí Tôn dạy:
    Thử hỏi nếu các con gặp một người ngoại đạo, họ có biết con là một tín đồ Cao Đài Giáo hay không? Đạo Thầy chưa truyền bá sang trời Âu thì con cái của Thầy đã Âu hóa Đạo Thầy.

    ... Hôm nay, Thầy tiên tri cho các con rõ: Chừng nào tất cả tín đồ của Cao Đài Giáo mặc sắc phục như hiện thời, hầu hạ dưới chơn Thầy, mà cùng dạo gót khắp nơi, thì lúc đó khỏi ai giới thiệu, nhơn sanh cũng hiểu rằng đây là một tín đồ Đại Đạo. Cũng như người mặc áo cà sa, đầu đội Trời, chơn đạp đất, thì ai cũng hiểu rằng đó là một đệ tử của Phật vậy.

    Về việc mặc sắc phục là việc hình thức, không ăn thua vào cơ truyền bá giáo lý, nhưng dầu sao nó cũng ảnh hưởng đôi chút. Vậy tất cả các con đều ghi nhớ và cũng đừng nên hiểu lầm rằng đó là một lối quảng cáo, vì có hình thức, màu sắc khác biệt với người đời mới có thể gọi là Đạo. Cũng như hình thức ấy đã dội vào trong tâm tưởng sâu xa, hầu tưởng nhớ đến kẻ sanh thành dưỡng dục.

    Thầy rất lấy làm đau lòng mà phải nói một câu của đời thường gọi: “Một con sâu làm sầu nồi canh
    ”.
    Như vậy việc mặc đạo phục nghiêm chỉnh đúng cách và đúng loại theo qui định của từng loại buổi lễ là điều hết sức cần thiết.
    Chúng ta hãy để ý đến câu nói của Thầy: “Một con sâu làm sầu nồi canh” và lời của Mẹ: “Giờ đây MẸ nhắc con làm sao con.” để suy gẫm thêm.
    Trong quá trình hành đạo, không ít lần chúng ta đã nhìn thấy một đạo hữu nào đó có lúc bận bịu quá nên mặc chiếc áo dài “nhăn như nhau mèo” hay có khi vội vàng và không để ý nên mặc quần dài trắng bị lòi hai lai quần tây ra ngoài. Cũng có khi trong buổi đạo sự, chúng ta bắt gặp hình ảnh một đạo hữu mặc chiếc áo đạo vừa nhăn vừa không sạch sẻ như thể là chủ nhân của nó đã bỏ quên trong túi xách đã mấy tuần rồi!
    KẾT LUẬN

    Khi mặc áo dài trắng, người tín-đồ Cao-Đài tâm niệm phải nên hiểu là mình đang mang trong người không biết bao nhiêu ý nghĩa sâu-xa của Đạo của mình mà Đức Chí-Tôn đã kín-đáo gởi vào đó. Chúng ta phải hiểu bổn phận và trách-nhiệm của chúng ta khi ta mặc chiếc áo dài trắng nầy để không làm trái giáo-lý của Đức Chí-Tôn.
    thay đổi nội dung bởi: Thanh Thảo, 21-11-2011 lúc 11:11 AM

  2. #2
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    KỶ NIỆM KHAI MINH ĐẠI ĐẠO năm đạo thứ 88

    Chúng ta đang trong thời gian chuẩn bị kỷ niệm KMDD, một trong vài lễ lớn đối với Cao Đài giáo.

    Tuy nhiên, khá nhiều tín hữu CD chúng ta chưa hiểu đúng Lễ này, khi xưa vào Rằm tháng 10 Bính Dần - 1926, có ý nghĩa là gì! Từ đó dẫn đến một sai lầm nghiêm trọng là cứ lên tuổi năm Đạo vào ngày này mà không ý thức đến trách nhiệm của mình đối với Đạo và với hậu thế. Sự hiểu sai về sự kiện lịch sử này, rồi nói sai và dẫn đến làm sai... chắc chắn làm mất uy tín nhà đạo với nhơn sanh rất nhiều!

    Trước tiên, chúng ta hãy đọc lại Thánh Ngôn hiệp tuyển: đàn giao thừa ở Tây Ninh, 1 Février 1927 (1er.01 Đinh Mão) trong thời gian 3 tháng đại lễ KMDD đang diễn ra:

    “... Trung, Cư, Tắc, mấy con nhớ đêm nay năm rồi thế nào, còn nay ra thế nào chăng? Thầy lập đạo năm rồi ngày này, thì môn đệ của Thầy chỉ có 12 đứa... Thầy hỏi nếu chẳng phải quyền hành Thầy, dù cho một vị Phật thiệt lớn giáng thế đi nữa cũng chưa có phương chi mà độ hơn bốn muôn sanh linh nhờ tay có sáu đứa môn đệ trong một năm cho đặng bao giờ.”

    Như thế, ngày KMDD không phải là ngày Thầy bắt đầu mở đạo Cao Đài!

    KMDD là ngày:

    Khánh thành Thánh thất đầu tiên của Cao Đài giáo;
    Ngày ra mắt Hội Thánh lưỡng đài trước nhơn sanh.
    Là thời điểm Thầy bắt đầu ban cho Pháp Chánh Truyền - khung luật căn bản của chánh pháp Kỳ Ba


    {giao thừa Bính Dần mới là thời điểm Thầy "Lập Đạo" mà thôi!}

  3. #3
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    I. NGUỒN GỐC DANH TỪ “KHAI MINH ĐẠI ĐẠO”

    Cụm từ “khai minh” được tìm thấy trong bài trường thi của Thầy giáng cơ ngày 17 Septembre 1926 dạy cho Trần phu nhơn và Lâm thị ái nữ: “Thâu tăng chúng khai minh đường đạo hạnh.”

    Còn danh từ “Khai Minh Đại Đạo” cũng sớm được Ơn Trên sử dụng từ lâu. Cụm từ này, có thể lần đầu tiên được xuất hiện vào những năm 1928-1929 như trong bài Chánh Giáo Thánh Truyền của Đức Chí Tôn qua câu “Long Hoa hội khai minh Đại Đạo” hay câu cuối bài kinh dâng trà của Hội Thánh Tây Ninh: “Khai Minh Đại Đạo hộ thanh bường

    Bẵng đi một thời gian dài, cụm từ Khai Minh Đại Đạo ít thấy được Ơn Trên nhắc lại trong Thánh giáo của các Hội Thánh nhưng trong lời kêu gọi của Liên Hòa Tổng Hội vào năm 1938 để chuẩn bị Long Vân Đệ Bát có cụm từ này:

    Vưng lịnh Đức Chí Tôn dạy tại Thiện Đức đàn Bạc Liêu khai Hội Long Vân đệ bát kỳ ở tại Tourane ngày mùng 8-9-10 tháng tư Annam nhằm ngày 7-8-9 tháng năm tây 1938, đặng có minh Đạo Trời tại Trung Châu (Trung kỳ)… cuộc Long vân hội kỳ bát là ngày Khai minh Đại Đạo cho anh em chị em ngoài Trung hưởng nhờ ân võ lộ của Đức Chí Tôn…

    Ơn trên có dạy phải tạo thành một cái “Thánh Tòa” kêu rằng “Nam Trung Hòa thất” ở tại Tourane
    …”

    Và trong “Long Vân Đệ Bát kỳ thuật trần” có đoạn:

    Muốn cho tiện bề khai minh Đại Đạo, nên Ơn trên dạy anh em trong Nam phải hiệp tác với anh em ngoài ấy mà tạo thành một cái thánh thất ở Đà Nẳng tục kêu là cửa Hàn…”

    Hơn mười năm sau đó, vào năm 1959 Đức Quan Thánh Đế Quân đã dùng lại trong một đàn cơ tại Thánh Thất Tân Định quận 1 Sài Gòn, như sau:

    Đấng cao cả là Thầy chủ tể,
    Thấy đời tàn khó thể ngồi yên;
    Thế nên giáng hạ trần miền,
    Khai Minh Đại Đạo gieo truyền lòng thương
    .”

    Đến năm 1965, chúng ta thấy cụm từ này lại tái xuất hiện qua lời dạy của Đức Mẹ tại Huờn Cung Đàn, quận 4 Sài Gòn.
    Ngày mới Khai Minh Đại Đạo, những tiên tri đã có, cơ tiền định đã được hé mở đôi phần, nhưng chúng sanh không… lưu ý, vì đương hưởng cảnh an cư, mấy ai nghĩ đến cơ cuộc sẽ diễn biến và diễn biến như ngày nay.”

    Tuy nhiên danh từ này được Ơn Trên chính thức đặt để, dùng làm tên gọi để kỷ niệm ngày Rằm tháng 10 lễ trọng hàng năm từ khi nào?

    Tý thời ngày 23 tháng 8 năm Canh Tuất (22.9.1970) tại Nam Thành Thánh Thất, trong lễ kỷ niệm hàng năm của nơi nầy về một sự kiện lịch sử trọng đại khác “đăng ký Pháp Nhân tôn giáo” cũng đã diễn ra trong năm Bính Dần 1926, qua ban Hiệp Thiên Đài của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc giáng đàn với hình thức “song điển” cho đồng tử vừa xuất khẩu và vừa viết cho vị độc giả đọc. Ngài có những lời dạy sau:

    Ngày Hai Mươi Ba tháng Tám là ngày Khai Tịch Đạo trên bình diện pháp lý Thế Đạo. Ngày lễ hôm nay đã đánh dấu một ngày trước đây đã đi vào lịch sử của văn minh nhơn loại, một chứng nhân của cuộc đời, một xác định của văn kiện thế gian đã ghi nhận. Chính giờ phút ấy, một động lực thúc đẩy tiến đến công cuộc hoằng khai Đại Đạo, Rằm tháng Mười …

    Ngày Hai Mươi Ba tháng Tám, ngày này là ngày Khai Tịch Đạo để mọi người trong tâm thành chí thiện, ý thức kết hợp thành một khối, để chuẩn bị đủ dữ kiện cho ngày Rằm tháng Mười, Khai Minh Đại Đạo trước nhân loài, trước quốc tế.

    Hai việc làm, hai thời kỳ có hai tác dụng. Một là hướng ngoại để xem thấy cuộc đời là đau thương khổ lụy hầu tìm phương cứu độ; một hướng nội để biết mục đích căn bản của Đạo và cứu cánh của Đạo để liệu sức mình hầu thị hiện cho có kết quả
    .”

    Đây là lần đầu tiên, Ơn Trên đã ban cho hai danh từ và giải thích để giúp tín hữu Cao Đài phân biệt ý nghĩa của ngày Khai Tịch Đạo và ngày Khai Minh Đại Đạo trong tiến trình Khai Đạo – Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

  4. #4
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Tuy nhiên sự việc còn quá mới mẻ, cho nên mãi đến ba năm sau: ngày rằm tháng 10 Quý Sửu 1973, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý mới thiết lễ kỷ niệm Khai Minh Đại Đạo lần đầu tiên. Trong đàn cơ hôm đó Đức Giáo Tông và Đức Chí Tôn đã dạy:

    Giáo Tông Đại Đạo Thái Bạch Kim Tinh, Bần Đạo chào chư Thiên ân hướng đạo, mừng chư hiền đệ hiền muội.
    Hôm nay là ngày Khai Minh Đại Đạo. Điều mà chư đệ muội vui mừng hơn hết là kỷ niệm ngày Thượng Đế khai đạo tại Việt Nam, và cũng vui mừng ngày Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý thiết lễ Khai Minh Đại Đạo đầu tiên. Đức Thượng Đế sẽ giá lâm ban ơn cho chư hiền đệ hiền muội trong đàn này (… …)

    Ngọc Hoàng Thượng Đế Kim Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương, Thầy các con, Thầy mừng các con.

    Ngày Khai Minh Đại Đạo, Thầy đến ban ơn cho các con lớn nhỏ. Dầu nơi đây không phải là Tòa Thánh, Hội Thánh nhưng tâm chí thành và sứ mạng hòa hiệp của các con là Cao Đài, là Bạch Ngọc Kinh để Thầy ngự như buổi sơ khai. Thầy miễn lễ các con đồng an tọa nghe Thầy dạy đây:

    Con thiết lễ Khai Minh Đại Đạo,
    Thầy giáng lâm chỉ giáo chơn cơ;
    Bấy lâu luống những đợi chờ,
    Chờ con cất gánh đồ thơ quy về…
    …”

    Kể từ đó danh từ Khai Minh Đại Đạo dần dần được phổ biến. Hơn 40 năm, qua sứ mạng phổ thông giáo lý, danh từ này đã trở nên quen thuộc với nhiều tầng lớp tín hữu Cao Đài thuộc mọi Hội Thánh.

  5. #5
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    II. Ý NGHĨA KHAI MINH ĐẠI ĐẠO VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG SỨ MẠNG KỲ BA:

    1. Năm 1926, nhân loại vừa trải qua cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất với gần chín triệu người đã bỏ mạng và sắp bước vào đại khủng hoảng kinh tế thế giới trong mười năm (1929-1939). Những mầm mống của thế chiến thứ hai đang tượng hình. Biết bao dân tộc và quốc gia đang oằn mình rên xiết dưới chế độ thực dân đế quốc, tình nhân loại hầu như đã nhạt phai, khắp đó đây cảnh “người bóc lột người” đang ngự trị.

    Nhưng tại mảnh đất Trời Nam nầy, Thượng Đế đã đến để khai sáng cho nhân loại thấy được cơ Trời đã định và soi đường dẫn dắt con người bước ra khỏi vùng u tối để tiến bước lên đường xán lạn. Đức Quan Thánh Đế Quân có dạy:

    “Trường đời vạn nẻo chông gai,
    Bước đi hẳn chịu bao ngày gian truân.
    Kiếp sống tạm não nần thể xác,
    Bữa bữa hằng tạo ác biết bao;
    Nhưng nào xét cạn tội sao,
    Chỉ vì sự sống lăn nhào hố sâu.
    Bởi thế đó năm châu biến động,
    Gây hấn thường sự sống màng chi;
    Giết nhau nhiều cảnh ly kỳ,
    Quên tình đồng loại kể gì nghĩa nhơn.
    Ngày tận thế kề gần bên đó,
    Luật trả vay sẳn có đành rành;
    Thế mà cứ mãi cạnh tranh,
    Đỉnh chung cấu xé tan tành chiếc thân.
    Bao lý lẽ tạo thành quả nghiệp,
    Bởi thói đời chưa tiếp huyền linh;
    Cho nên nhân nghĩa xa mình,
    Đành cho ác quỷ giã hình chuyển xoay.
    Đấng cao cả là Thầy chủ tể,
    Thấy đời tàn khó thể ngồi yên;
    Thế nên giáng hạ trần miền,
    Khai Minh Đại Đạo gieo truyền lòng thương.

    Khai cơ bút ban truyền chơn pháp,
    Dạy nhơn sanh học ráp nghĩa hòa;
    Nhìn nhau đồng đẳng một Cha,
    Thương yêu kết chặt chữ hòa với nhau
    ."
    [Đức Quan Thánh, Tt Tân Định Sài gòn 23.8 Kỷ Hợi (25.9.1959)]

    Đức Phạm Hộ Pháp đã thốt lên:

    Con người hãy hãnh diện lên vì ánh sáng đã đến với bóng đêm. Con người hãy vui mừng lên vì nguồn suối tươi mát đã khơi dòng giữa cuộc biến thiên nóng bỏng của (cuộc) đời.

    Nhân thế đã chấp nhận bằng cái hờ hững để hứa hẹn một sự nồng nàn thắm thiết về sau
    .”
    [Đức Phạm Hộ Pháp, Nam Thành Tt 23.8 Canh Tuất (22.9.1970)]

  6. #6
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    2. Lễ Khai Minh Đại Đạo đã khởi đầu từ Thủy Quan Giải Ách cho đến Thiên Quan Tứ Phước.

    Lễ kéo dài 3 tháng bắt đầu từ Lễ Hạ Nguơn Bính Dần và chấm dứt vào Lễ Thượng Nguơn Đinh Mão.

    Nếu viết theo cách viết quẻ Dịch thì chữ Thủy được viết trước ở dưới, sau đó chữ Thiên viết lên trên. Đọc từ trên xuống dưới theo cách đọc quẻ kép chúng ta có quẻ đôi là Thiên Thủy Tụng. Khai Minh Đại Đạo, Cao Đài Giáo chính thức ra mắt nhơn sanh. Cao Đài nói theo ngôn ngữ Dịch học là thời kỳ Thiên Thủy tụng vì như lời Đức Lý Thái Bạch đã dạy:

    Kỳ này lập Đạo tá danh là Cao Đài, là cái triệu chứng để lại muôn đời roi truyền trong Việt Nam, mà cũng là ngày năm châu loạn lạc, đao binh nổi dậy khắp nơi!

    Chúng sanh khá nhớ:
    CAO vi Càn; Càn vi THIÊN.
    ĐÀI vi Khảm, Khảm vi THỦY.

    Tức là quẻ “Thiên Thủy tụng” thì chạy đâu cho khỏi số Trời định đoạt binh lửa bốn phương? Những kẻ thiếu tu, đành cam số phận. Cười, cười!
    …” [Đức Lý Thái Bạch, Đảo Phú Quốc 15.8 Ất Sửu 1925]

    Vậy làm thế nào để vượt qua thời kỳ luôn có “tranh tụng” giữa thiên nhiên và nguồn sống của chúng sinh đồng thời lại có thêm thử thách của lực lượng tà quái?

    Chỉ còn cách duy nhất là phải luôn cố gắng nghiêm chỉnh làm theo những lời dạy của Thầy và các Đấng Thiêng Liêng.

    3. Đại Lễ Khai minh được khởi đầu với Lễ Khánh thành Thánh thất đầu tiên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hình thức thờ phượng nơi Thiên bàn gồm 5 cấp khai minh cho nhân sinh thấy rõ lộ trình tu tiến để trở lại với Nhứt nguyên Thái Cực. Tổng thể, Thánh thể của Đức Chí Tôn qua hình thức thờ phượng cùng các lễ phẩm như: hoa quả trà rượu đèn nhang tượng trưng cho Lý Đạo về Tam bửu Ngũ hành của Đại Thiên Địa. Con người Tiểu Thiên Địa phải biết nương theo, dụng Khí (tượng trưng nơi bàn Hộ Pháp) tìm về “cái Đạo tự hữu” để hầu có thể gom tụ các báu vật này mà phối Thiên Địa.

    Đức Thượng Đế đã chọn ngày Khai Minh Đại Đạo diễn ra trong lễ Hạ Nguơn hàng năm theo tín nguỡng dân gian. Điều này cho thấy ý nghĩa: Thời kỳ Hạ Nguơn Mạt Kiếp, Thượng Đế đến trần gian để khai trí cho nhân loại được sáng tỏ con đường tiến hóa siêu sanh cõi Trời. Đức Quán Thế Âm đã nói:

    Thuyền từ lướt giữa sông mê,
    Gọi người trần thế quay về bổn căn.
    Mây chiều tám hướng bủa giăng,
    Chim khôn tìm ổ mới rằng chim khôn.
    Cõi trần tai nạn dập dồn,
    Hỡi người người muốn bảo tồn tánh linh.
    Trường đời là chỗ Khai Minh,
    Con đường tiến hóa siêu sinh cõi Trời
    .”
    [Đức Quan Âm Bồ Tát, Cơ Quan PTGL, 15.11 Giáp Dần (28.12.1974)]

    Qua hình thức thờ phượng, Cao Đài giáo là tôn giáo duy nhứt khai minh Lý Đạo cho nhân loại thấy rõ lộ trình tu tiến cùng những phương tiện và cách thức vận chuyển cần thiết.

  7. #7
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    4. Qua Lễ Khai Minh Đại Đạo, lần đầu tiên quần chúng nhìn thấy sự dung hợp các Đấng Giáo Tổ của các tôn giáo, hay sự dung hòa các tín ngưỡng chung cùng trên một bàn thờ.

    Hình ảnh này chuyển tải thông điệp “Vạn giáo đồng nhứt Lý”, tất cả các tôn giáo hay tín ngưỡng đều có chung một nguồn gốc từ Thượng Đế. “Công bình – Bác ái – Từ bi” là tôn chỉ của Tam giáo Đạo, người có tín ngưỡng nên có cách nhìn đại đồng dung hợp các Đạo giáo. Người đệ tử Cao Đài đầu tiên có dạy:

    Người tín đồ Cao Đài luôn luôn tôn trọng các xu hướng tín ngưỡng, đem tình thương hòa đồng khắp cả mọi giới, đem thiện cảm gieo rắc mọi nơi, để người người đều nhìn nhận cái lý duy nhất là cứu thế qua khỏi cơ tận diệt, hầu xây dựng hòa bình hạnh phúc nhân loại dưới ngưỡng cửa Đài Cao.”

    5. Trong 3 tháng Khai Minh Đại Đạo, Đức Thượng Đế đã lần lượt ban cho Pháp Chánh Truyền (Cửu Trùng Đài nam phái, Hiệp Thiên Đài), Đức Giáo Tông ban Cửu Trùng Đài nữ phái và hạ lệnh cho quý vị Tiền Khai dựa theo đó soạn thảo Tân Luật. Điều này cho thấy ý nghĩa "Thiên Nhân hiệp nhứt" có Trời và cũng có Người. Đức Thượng Đế đã khai minh ý nghĩa Đại Đạo, thì tín đồ Đại Đạo có nhiệm vụ triển khai - ứng dụng và phổ truyền đến với nhân loại.

    Ngày rằm tháng 10 hàng năm, chúng ta thiết lễ kỷ niệm là để nhắc cho nhau nhớ đến sứ mạng của mình như lời nhắn nhủ của Đức Chí Tôn:

    Hỡi các con! ngày Khai Minh Đại Đạo, các con thiết lễ kỷ niệm để đánh dấu sự vui mừng ngày Thầy đến khai đạo tại Việt Nam. Dầu rằng Thầy khai Đại Đạo để ổn định cuộc đời sau cơn biến chuyển, nhưng các con, dân tộc các con phải vui mừng vì được chọn làm sứ mạng tiền phong trong Tam Kỳ Phổ Độ…”
    [Đức Chí Tôn, Cơ Quan PTGL, Rằm tháng 10 Quí Sửu (09.11.1973)]

    Nếu như các bậc tiền bối Đại Đạo đã dầy công xây dựng Thánh thể Chí Tôn và Đại Đồng Lý Thuyết trên mảnh đất trời Nam này mặc cho những thăng trầm biến đổi của xã hội và lịch sử dân tộc. Ngày nay những người tiếp nối chúng ta là những nguyên căn Sứ Mạng có trách nhiệm phải thực hành và truyền bá Lý Thuyết Đại Đồng này để Đại Đồng Công Dụng trở nên phổ biến sao cho Đại Đồng Chủ Nghĩa sớm thành hiện thực.

  8. #8
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    6. Trong tiến trình 3 tháng này có giai đoạn Địa Lôi Phục (tháng 11 Bính Dần - tháng Tý) thể hiện ơn cứu độ Kỳ Ba như Nhứt Dương Sơ Động đưa đường dẫn lối cho nhân loài vượt qua thời kỳ Hạ Nguơn Mạt Kiếp để chuyển vào thời Thánh Đức Thượng Nguơn.(Rằm tháng giêng Đinh Mão).

    Vào ngày rằm tháng 10 Mậu Tuất 1958, tại Trung Hưng Bửu Tòa Đà Nẵng, Đức Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang giáng đàn có nói:

    Cũng ngày nầy trên 32 năm về trước trong một góc trời Nam đã xé tan màn u ám bởi một nguồn điển lực từ nơi Trời đến, chói lọi mười phương. Tiếng nói Quyền Pháp bởi cơ hội đã vang động khắp chín từng mây, nhơn vật tỉnh giấc mơ màng, hồn phách được hồi sanh.

    Nếu không bởi ngày nầy thì cõi Ta bà cũng mãi triền miên trong ảo mộng. Nhơn loại bởi ngày này mà phục sinh. Ngày này là ngày nhứt Dương sơ động làm cho khí lạnh hạ dần, ấm áp đã đến, sống động trong muôn loài để khí lực sinh sôi hoạt động
    .”
    [Đức Trần Đạo Quang, Thánh Truyền Trung Hưng 4, Trung Hưng Bửu Tòa, 15.10 ĐĐ.33 Mậu Tuất (25.11.1958)]

    Nói một cách khác, Đức Chí Tôn đã đến thế gian để khai minh “Tân Pháp đại ân xá” trong đó về mặt Đại Thừa Tâm Pháp, người tín hữu Cao Đài được may duyên đón nhận pháp môn tận độ để ngay từ khi chỉ mới ăn chay 10 ngày đã có thể tiếp cận, chuẩn bị cho con đường tu giải thoát sau này.(trong khi ở Nhị Kỳ, luật buộc phải trường trai ngay từ lúc khởi đầu).

    Tâm Pháp tận độ mở ra con đường xán lạn giúp cho hàng nguyên căn dựa vào đó vượt qua đêm đông tăm tối giá buốt của bao kiếp luân hồi, nhưng chưa kết tinh được Tam Bửu, để tìm thấy ánh xuân quang.

    Nay nhờ pháp môn đại ân xá, thực hành Tam Công, song song cùng với việc xây nền đắp móng công quả công trình “phổ độ nhân sanh” làm bệ phóng đồng thời tích cực “tu tánh luyện mạng” chế tạo phi thuyền nạp đầy nhiên liệu để đủ lực đẩy, thoát khỏi trọng lực sức hút của địa cầu trần gian hầu phóng mình vào không gian bao la vươn tới tầm kích vũ trụ Thiên đàng, trở về quê xưa thoát vòng luân hồi sinh tử.

    Lời của Đức Đông Lâm Tiên Trưởng giáng đàn trong ngày lễ kỷ niệm Khai Minh Đại Đạo năm Đinh Tỵ 1977 giúp chúng ta hiểu thêm một nghĩa khác của Khai Minh Đại Đạo:

    Phương pháp thành công của các bậc Giáo Tổ Đạo Gia khi xưa, trước tiên là phản tỉnh nội cầu, hồi quang phản chiếu. Có nhìn vào trong, xem xét bên trong mới giảm bớt sự thu nạp vô tiết độ, khoác vén tảo trừ lớp vô minh che lấp bịnh hoạn chấp trước, phân biệt ích kỷ độc tôn, phiền não...

    Tóm lại là những thứ vật tảo hại tâm linh mà nhận lầm là con là quyến thuộc. Còn biết soi sáng vào mình mới thấy cơ năng hoạt động, sẽ hòa theo nhịp điệu Hóa Công mà phát huy cho công năng của nhân sinh, của vũ trụ. Đó gọi là Khai Minh Đại Đạo vậy
    .”
    [Đức Đông Lâm Tiên Trưởng, Cơ Quan PTGL, 15.10 Đinh Tỵ (1977)]

  9. #9
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    III. KẾT LUẬN:

    1. Chúng ta có thể mường tượng rằng vào cuối thời kỳ “Khai Nguyên Lập Đạo” (1920-1926) của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là năm Bính Dần, được gọi chung là thời “Khai Đạo”.

    Tiến trình của thời kỳ Khai Đạo này đã diễn ra đúng theo Lý Tam Tài và Dịch số Đạo học như lời của Đức Đông Phương:

    “[I]Từ Thái Cực biến Lưỡng Nghi trở thành cái Pháp sanh hóa muôn loài... nhớ lại kỷ niệm thời kỳ Khai nguyên Lập đạo.[I]”

    Diễn trình Khai Nguyên này thể hiện Lý Đạo: 1 sanh 2, 2 sanh 3 và 3 chuyển hóa vào trong đời sống sanh chúng.

    2. Cho đến hôm nay song song tồn tại nhiều tên gọi cho ngày kỷ niệm rằm tháng 10 này. Có nơi dùng từ KHAI ĐẠO, có nơi dùng tên HOẰNG KHAI ĐẠI ĐẠO và nhiều nơi chấp nhận danh từ KHAI MINH ĐẠI ĐẠO. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ đến tên ban đầu lịch sử của đại lễ ngày ấy mà Thầy đã sử dụng là LỄ THÁNH THẤT.

    Sự dị biệt về tên gọi này cũng không có gì là quan trọng miễn sao các thế hệ tín hữu Cao Đài có hiểu được ý nghĩa và giá trị của sự kiện Đức Chí Tôn đến Khai Minh Đại Đạo cho con người và những sự kiện ghi dấu truyền thống hào hùng của chư vị tiền bối từ chức sắc đến tín đồ đã vượt qua bao thử thách trong những ngày đầu gian nan ấy.

    Đành rằng người tiếp nối đi sau, dĩ nhiên bổn phận là nhắc nhở tôn thờ. Điều quan trọng để nhớ ơn và thể hiện tinh thần, người tiếp nối phải làm thế nào để người ra đi không hờn tủi vì chưa ai biết đến cái kỳ vọng để đạt đến tiêu đề thâm diệu của tâm hồn mình qua những việc đã làm lúc hiện tiền. Đó mới chính là bổn phận của những ai đi sau.
    Nhắc lại một lần nữa ở đây, hiểu hết toàn diện các sự kiện đã trải qua, tôn thờ sự kiện ấy, truyền bá và tiếp nối, mới là ý nghĩa của mỗi khi làm lễ kỷ niệm nào, và đừng nghĩ là dịp lễ bái, dịp trưng bày của một phạm vi nào mà lu mờ chánh pháp của Đại Đạo
    .”

    Vì thế, quan trọng hơn hết là những tín hữu Cao Đài chúng ta có thực hiện được phần nào sứ mạng phải làm “tỏa sáng ánh linh quang” của Thượng Đế đến với nhân loài thể hiện ý nghĩa của tinh thần Khai Minh Đại Đạo hay không.

    Đại Đạo Khai Minh kỳ ba độ tận nhân loại trên mọi phương diện của cuộc đời. Thế nên sứ mạng trọng đại của người hướng đạo phải được xem là cần thiết và liên tục để thực hiện mục đích tối thượng cùng hoài bão trọng đại của Chí Tôn Thượng Đế.”

    Và lời của Đức Chí Tôn:

    Đại Đạo Khai Minh là để giúp các con, nhân loại trở về với chơn lý thật sự ở nơi mỗi cá thể chúng sanh.”

    Mỗi tín hữu chúng ta cần phải khai minh cho chính mình, phải Thánh hóa bản thân sao cho mỗi Họ Đạo xứng đáng là một Thánh sở với tập thể tín hữu trong “Thánh Thất”, ngôi nhà của các Thánh. Mà Thầy là “Tình Thương” là sự sống, vậy khi chúng ta thực hiện:

    Đem tình thương thực hiện Đạo Trời ban,
    Hè thu đông mãn xuân sang mấy hồi
    .”

    Phải chăng đây là ý nghĩa mà Ơn Trên ban trao để tất cả tín hữu Cao Đài chúng ta cố gắng trên đường sứ mạng đưa nhân loại thoát qua thời kỳ Hạ Nguơn Mạt Kiếp, “lửa bỏng dầu sôi - lòng người lạnh lùng chia rẽ ly tan”, để tiến đến tái lập Kỷ Nguyên Thượng Nguơn Thánh Đức - Trời Nghiêu đất Thuấn để cho “Đạo tâm nhân thế thảy huy hoàng” như lời chư Tiền Khai Đại Đạo:

    Một ánh linh quang tỏa khắp cùng,
    Khai Minh Đại Đạo gội nhuần chung,
    Soi đường chánh giáo kỳ Nguơn Hạ,
    Mở lối Tiên Thiên buổi cuối cùng.
    Đem mảnh can trường làm đuốc tuệ,
    Một dòng chơn lý định thời trung,
    Dầu cho sứ mạng sau hay trước,
    Hãy nhớ Thiên ân thuở chín trùng
    …”

  10. #10
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    XIN HÃY LƯU Ý: Khai Minh Đại Đạo KHÔNG LÀ TẾT ĐẠI ĐẠO. Lên tuổi đạo vào Rằm tháng 10 là SAI.

    Chúng ta tham khảo 2 văn kiện Lịch Sử:

    1. Trong Bát Đạo Nghị Định, 6 Nghị định đầu ban hành ngày mùng 3 tháng 10 Canh Ngọ (1930) tất cả đều ghi ĐỆ NGŨ NIÊN.

    2. Tờ Bày tỏ việc đạo, Rằm tháng 10 Tân Vì (1931), Đại hội Nhơn sanh lần thứ Nhứt Tòa Thánh Tây Ninh ghi rõ "Đệ lục niên".

    Qua đây cho thấy: trước Rằm tháng 10 đã là năm thứ nhứt, Ngay Rằm chưa đỗi năm đạo.

Trang 1/12
1 2 3 11 ... 12

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền