+Trả Lời Chủ Đề
Trang 2/12
1 2 3 4 ... 12
kết quả từ 11 tới 20/ Tổng số 118

Ðề tài: Tìm hiểu về Đ.Đ.T.K.P.Đ

  1. #11
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    PHỐI SƯ THƯỢNG TÔNG THANH
    (Kỷ niệm 80 năm đăng Tiên)

    Bên cạnh những công lao to lớn của các Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư, Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh, bà Phối Sư Lâm Hương Thanh, bà Giáo Sư Hương Hiếu, v.v… trong buổi đầu của nhà đạo độ dẫn nhơn sanh nói chung và hướng dẫn bổn đạo công quả xây dựng Thánh địa Tây Ninh, nhứt là người đàng Thổ thuộc các dân tộc thiểu số. Chúng ta không thể không nhắc đến chư vị đã đặt nền móng cho công cuộc Hoằng khai Đại Đạo, phổ độ một số các dân tộc anh em qua việc dịch Thánh Ngôn như các ngài Vương Quang Kỳ, Vương Thành Tông, v.v…

    Phối Sư Thượng Tông Thanh, ngoài công quả được Đức Chí Tôn ân ban dịch Thánh Ngôn sang tiếng Miên và tiếng Hoa thì những công quả khác của Ngài Phối Sư Tông cũng cần phải được hậu thế ghi nhớ.

    1- Nửa tháng sau khi “Lễ Thánh Thất” khởi sự để công khai Cao Đài giáo ra trước quốc dân và bá tánh, người đàn Thổ bắt đầu kéo đến Thiền Lâm Tự, ngôi Thánh Thất Cao Đài đầu tiên. Lúc bấy giờ, mỗi ngày đều có nhiều người đàn Thổ đến hầu đàn và xin nhập môn. Vì thế nhu cầu thông dịch tóm gọn Thánh Ngôn từ tiếng Việt sang tiếng Miên rất cấp thiết. Khi đó có một người Hoa đang làm ăn sinh sống ở bên Campuchia, ông đi theo những người đàng Thổ kéo về viếng nơi mà Sư Cả nằm mộng thấy Phật đã vào nước Nam.

    Và rồi ông được Đức Chí Tôn điểm danh, trọng dụng vào ngày 19 tháng 11 Bính Dần. Đó là ông Vương Thành Tông, thuở trai trẻ đã từ Trung Hoa sang mưu sinh ở miền Nam Việt. Ông lập gia đình với người Việt rồi sau đó sang Campuchia làm ăn, cho nên ông rành cả 2 thứ tiếng Việt và Miên. Khi ông Tông liễu đạo, Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhật có nhắc lại sự kiện này trong bài ai điếu Phối Sư Tông:

    Trước khi khép nấm mồ. Tôi xin bày tỏ lai lịch của Thượng Tông Thanh ngõ hầu ngày sau ghi trong Sử Đạo.
    Hiền hữu Thượng Tông Thanh sanh trưởng Trung Huê, Quảng Đông tỉnh, Triều Châu phủ. Vì câu: Làm trai hồ thỉ tứ phương, nên thuở 18 tuổi trải qua Nam Việt, hồi buổi ban sơ theo người đồng hương ở Chợ Lớn lập thân lần đầu. Nhờ tánh tình siêng năng hay lo cần kiệm mới có tư bổn riêng, lên Soài Riêng khẩn đất sắm vườn lập nên cơ nghiệp.
    Trời khéo đưa duyên kết Châu Trần người Nam Việt, sanh con, sanh cháu thiệt đông, nhành quế nảy chồi chi lan đượm nhánh, phước hậu nhờ nhiều cháu, nhiều con ít ai bì kịp.

    Người Trung Quốc mà lòng rất mến Nam, Thổ. Tánh tình độ lượng bao dung, ngoài xóm làng cũng ngợi khen. Gặp người hèn ra tay tế độ, lòng hằng chẳng vạy chẳng tham, nên người Annam và Cao Miên tôn lên làm Hương Cả. Giúp việc đình, việc miễu, tu kiều bồi lộ chẳng tiếc công và của. Âm chất người đều bổ tứ phương, chí hào kiệt quy dân lập ấp, lòng kia không ngớt, của tiền bù sớt cho anh em Nam Thổ như thể đồng hương.

    Tháng qua, ngày lụn tuổi sáu mươi dư, lòng thiết thiết tư tư muốn tầm chốn u nhàn, tu tâm dưỡng tánh. Nghe Gò Kén Thiền Lâm Trời khai Ðại Đạo, lúc Hạ nguơn năm Bính Dần, thiên hạ tứ phương dư ngàn cầu Đạo. Thầy giáng cơ kêu: “Trung, con mời Vương Thành Tông vô đây Thầy dạy việc”. Tôi cùng mấy môn đệ của Thầy hồi đó không biết kêu ai, nên tôi phải kêu lớn lên. Hiền hữu (Thượng) Tông (Thanh) mới vào đàn nội. Tôi biểu trình giấy thuế thân và tờ Sớ thì rõ như tên của Thầy giáng viết ra
    .”

    Trong Đạo Sử Xây Bàn, bà Chánh Phối Sư Hương Hiếu có ghi lại đàn hôm đó như sau:

    Đàn ngày Jeudi 23 Décembre 1926 (19.11 Bính Dần)

    Trung! Con cho một sắc dân rất yêu dấu của Thầy là người Thổ vào hầu nội.

    Mời Tông… … Tông – phải giải nghĩa cho chúng nó nghe con.

    Chơn Thần cửu biến giáo nhơn gian,
    Tịnh giả tâm thanh đắc lạc nhàn;
    Nhứt kiếp “Như Lai” Kinh Phật Tổ,
    Nhị căn “Lão Tử” phẩm Tiên ban.
    Tam nguơn chuyển thế truyền chơn Đạo,
    Khảo tánh trùng hoan độ khách phàm;
    Luyến ái hậu tình khuynh thủ đảo,
    Thâu hồi chủng tử thoát hồng trần.

    … Thầy toàn thâu
    .”

  2. #12
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Hôm sau, đàn ngày Vendredi 24 Décembre 1926 (20.11 Bính Dần), Thầy dạy tiếp:

    Thầy vui gặp các con… Cười…
    Trung! con phải tính với Tông dịch Thánh Ngôn ra tiếng Thổ… nghe à
    .”

    Tiếp theo, đàn ngày Dimanche 26 Décembre 1926 (22.11 Bính Dần)

    Toàn thâu: 91 Thiện Nam, 41 Tín Nữ.
    Vương Thành Tông, Hương Cả làng Ba Vệt, S.R
    .”

    - Hơn 3 tuần sau khi lãnh nhiệm vụ công quả thông ngôn và phiên dịch Thánh Ngôn, vào ngày 12 tháng chạp Bính Dần trong đợt Thiên phong mới, ông Tông được Thầy ân phong cho phẩm Phối Sư phái Thượng.

    * Samedi 15 Janvier 1927 (12 tháng Chạp Bính Dần)

    Thái Bạch (…)
    Phải nhập hội liền; phò loan cho Thầy phong Thánh.

    Ngọc Hoàng Thượng Ðế Viết Cao Ðài Giáo Ðạo Nam Phương.

    Các con,(…)

    Tông, con phải lo phổ độ nhơn sanh Trung Huê và Cao Miên. Thầy phong cho con chức Phối Sư phái Thượng…”

    Còn Đức Quyền Giáo Tông nhắc lại:

    Thầy thâu hiền hữu (Thượng) Tông (Thanh) ở luôn tại chùa lo làm công quả. Nào làm thông ngôn tiếng đàn Thổ, nào thâu sớ nhập môn, phát kinh sách, lo lúa gạo nuôi người tới lui (…) Thầy mới phong Thượng Tông Thanh Phối Sư phái Thượng
    .”

    Theo ông “Năm nhà đèn”, Tổng Giám nhà máy điện Tòa Thánh Tây Ninh kể:

    Người Miên nhập môn ở Gò Kén rất đông, mỗi người được phát một tờ giấy viết chữ Miên đọc ra âm: Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng. Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát…”

  3. #13
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    2- Tiếp theo sau đó, trong việc độ dẫn những người đàng Thổ, công của Phối Sư Thượng Tông Thanh quá sức to lớn. Xin trích dẫn tiếp lời ai điếu để chúng ta mở rộng tầm hiểu biết về công lao to lớn của một bậc tiền bối trong buổi đầu cực kỳ gian khó. Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt viết tiếp:

    Đây qua năm Đinh Mão lúc hạ tuần Thượng Nguơn, đất bằng sóng dậy. Trời đang thanh bạch khiến ngút tỏa mây giăng, mối Đạo hằng mang ách nạn, nhà thoàn đòi đất chùa phải trả mau mau vì có đơn vào chánh phủ.
    Bốn muôn dư đồ đệ của Đấng Chí Tôn lòng dạ ủ ê, ngồi nhìn cảnh non sầu tuyết phủ, giọt lệ tuôn dầm, lo dời quả Càn Khôn cốt Phật Tổ, Tòa Bát Quái, Tượng Ngũ Chi phải đem qua đất mới (về) Long Thành nơi Đại Từ Phụ và Đức Lý đã chọn. Hết lớp dời chùa tới cường quyền áp chế, nếu kể hết truân chuyên khổ não thì hiền hữu Thượng Tông Thanh đồng chịu ráo.

    Tôi nhớ lắm khi hết gạo, tôi cùng hiền hữu Phối Sư Tông lo sấp lo ngữa đặng nuôi đạo hữu nhứt là Bắc Chiên và Soài Riêng bị lụt. Tòa Thánh phải nuôi ăn hàng ngày trên hai ngàn miệng ăn.

    Người hùng anh, chí chẳng hề xao lảng, giữ một dạ thủy chung như nhứt, thương mấy hồi khốn cực nhiều nỗi
    ,...”

    Hành đạo được gần trọn 7 năm, Ngài trở về phục lệnh Đức Chí Tôn vào ngày 24 tháng 10 năm Quý Dậu (1933).

    Khoảng 2 năm sau khi liễu đạo, Đức Thượng Tông Thanh được phép về giáng đàn thăm viếng đạo hữu:

    * Giáo Tông Đường, ngày 4.8 Ất Hợi (dl 01.9.1935)
    Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo.

    Thượng Tông Thanh. Chào mấy anh lớn và mấy em.
    Cười . . . Tôi đặng về cùng mấy Cô Diêu Trì.
    Ngày nay đặng đi chơi thiệt sướng quá! Tôi để cơ cho ông Hoài. Thăng
    .”

    Nhân dịp kỷ niệm 80 năm đăng Tiên của Tiền Khai Vương Thành Tông, cũng trùng vào thời gian kỷ niệm mùa Khai Minh Đại Đạo, chúng ta thắp nén hương lòng tưởng nhớ và nhắc lại công lao và đức hạnh của người đi trước để làm bài học chung cho các tín hữu Cao Đài chúng ta thấy được tinh thần Đại Đạo của lớp người tiền phong nói chung và của Cố Phối Sư Thượng Tông Thanh nói riêng.

    Một Đường Nhơn - Trung Hoa đã trọn lòng thành hiến thân vì đại cuộc Kỳ Ba phổ độ chúng sanh, đặc biệt với Tần Nhơn (người Kampuchia, người bộ tộc Ta Mun) và Hoa kiều, trong công cuộc cứu độ vạn linh của Đức Chí Tôn trong Tam Kỳ Phổ Độ.

    Tình dân tộc đỗi tình nhân loại,
    Nghĩa nước non ra nghĩa Đại Đồng
    .”

    Tấm gương sáng của Đức Ngài mãi mãi luôn là ngọn đuốc soi đường, thắp sáng ngọn lửa Huynh Đệ Đại Đồng các dân tộc, trong lòng các thế hệ tiếp nối trên đường chung tay góp phần thực hiện sứ mạng Khai Minh Đại Đạo cho vạn linh sanh chúng.

  4. #14
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    MỘT GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ
    THỜI KỲ CƠ BÚT THÂU NHẬN SANH LINH… THEO THIÊN THƠ


    Hơn tám mươi năm trước đây, vào ngày mùng 1 tháng 7 Đinh Mão 1927, Đức Chí Tôn giáng đàn ở Đền Thánh tạm tại Thánh Địa Tây Ninh ban ân lần cuối cùng và chấm dứt hoàn toàn hình thức thâu nhận người nhập môn qua những buổi đàn cơ. Sau ngày đó, thống nhất áp dụng cho mọi Thánh Thất đều phải tùng theo Tân Luật. Hôm đó, Thầy dạy:

    Các con, Thầy thâu nhập môn đệ, cho Thánh bút kỳ nầy là chót. Định ngưng cơ phổ độ, từ đây do theo Tân Luật mà hành đạo và thâu nhập chúng sanh.”

    Để kỷ niệm 80 năm thời điểm hoàn tất, đánh dấu một giai đoạn lịch sử có một không hai trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, chúng ta hãy ôn lại trang sử diệu kỳ này qua những câu chuyện thú vị trong những ngày tháng thuở bình minh ấy của nhà đạo.

    1. Cơ bút “thâu nhập môn đệ” trong 8 tháng đầu của năm Bính Dần 1926:

    Kể từ khi Đức Chí Tôn ra lệnh phát khởi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vào đêm giao thừa Bính Dần tại Sài Gòn với 12 môn đệ, sau đó các buổi đàn cơ tiếp xúc học đạo với các Đấng Thiêng Liêng vẫn diễn tiến đều đặn và mở rộng sang vùng Cần Giuộc – Long An.

    Một thí dụ: (trích trang 93-94 Thánh Ngôn Chơn Truyền Bí Yếu chép tay)

    * “Le 8/4/26 Khai đàn cho Hương Quản Nhơn – Long Phụng

    Cao Đài.

    - Nhơn,
    Mù mịt từ xưa luốn hỏi đường,
    Cũng như Tương Tử kiếm Ngưng Dương;
    Trải bao non nước trong mùi Đạo,
    Nay gặp đừng xem sự thế thường. Nghe à!

    Thầy cho chư nhu hỏi Đạo… Thăng
    (chờ chư nhu viết sớ) (…)

    - Chánh tâm tu thân, hậu hữu đa đức.
    Lê.v.Học cầu cho Ng.v.Nghĩa

    - Công thì thưởng, tội thì trừng. Cầu Ta sao đặng.
    Trần.v.Tửng

    - Sự thế lợi danh đã thấy chưa?
    Xưa vay nay trả gẫm khi vừa;
    Khen ai mách miệng cho ngươi đến,
    Trả vốn Ta cho đức cái chừa.
    Tương khả thâu vi môn đệ.
    Hứa Nguyễn.v.Vang

    - Con thấy hung hăng tội nghiệt thế nào chưa ? Tu nghe.
    Ăn thập trai, bịnh thỉnh thoảng giảm.
    Phạm thị …eo
    - Cư con, phải nghe. Lại nhà Nhu chấp bút bằng nhang đặng Thầy giải tội cho nó chết lành nghe.
    - Phải chấp cơ kỳ Tý đặng Thầy dạy Lịch. Thăng
    .”

    Tại Vĩnh Nguyên Tự, Đức Chí Tôn đã ban cho lời “minh thệ”.

    Và trong Lễ Thiên Phong lần thứ nhứt được tổ chức tại nhà Ngài Lê Văn Trung vào đêm 14 rạng 15 tháng 3 Bính Dần, buổi lễ nhập môn đầu tiên của cơ phổ độ đã diễn ra qua hình thức “chấp bút nhang” với 19 người tham dự tất cả.
    Ông Nguyễn Thế Phương (nhà báo Nam Đình) trong bức thư gởi đến Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, từ địa chỉ 22 rue Lambardie – Paris 12è, ngày 02-02-1955, có viết:

    Kính Ngài, ba mươi năm qua, hôm nay tôi mới dám trịnh trọng nhắc lại đêm đàn long trọng không tiền khoán hậu tại nhà Ông Quyền Giáo Tông ở đường Tổng Đốc Phương trong Chợ Lớn. Đêm ấy tất cả là 19 người, tôi lấy làm vinh hạnh được dự.

    (…) Sau khi Thầy nhập vào ông Cao Thượng Phẩm rồi, Thầy cầm nhang bước lên bàn thờ (…). Chính Thầy cầm nhang vẽ bùa lên đầu mỗi người quỳ xuống tuyên thệ (…)

    Tôi được danh dự tuyên thệ trong đêm ấy, dầu đến chết tôi cũng không quên
    .”

    Nội dung của bức thơ giúp cho hậu thế có thể tái hiện hình ảnh sự kiện lịch sử buổi lễ nhập môn và bái mạng có Đức Chí Tôn thâu nhận các môn đệ đầu tiên ngay trong buổi đàn cơ qua hình thức “chấp bút nhang”.

    Chi tiết này cũng giúp cho chúng ta hiểu được trong nghi thức lễ nhập môn hiện nay vì sao vị chức sắc chủ lễ cầm nhang họa bùa Tam Thiên trên đầu mỗi tân tín hữu.

    Chúng ta hãy tham khảo câu chuyện bền chí cầu đạo.

    Ông tên Dương Văn Hoài, nguyên quán làng Long Hiệp, tỉnh Chợ Lớn thời Pháp thuộc. Ông đến quỳ cầu xin nhập môn tại một nhà đàn ở Cần Giuộc. Đức Chí Tôn giáng cho một bài thi mà mỗi câu có ba chữ:

    Tu là khó,
    Đừng ló mó.
    Đặng thì mừng,
    Cực rồi bỏ. Lui.


    Một tháng sau, ông đến tại đàn lập ở chùa Hội Phước Tự, thuộc làng Long Trạch (Chợ Lớn) xin nhập môn nữa, lần thứ nhì. Qua thứ tự mấy chục người, đến phiên ông Đức Chí Tôn lại giáng cho một bài thi mà mỗi câu có bốn chữ :

    Tu hành rất quý,
    Làm biếng quá quỷ.
    Về khá ăn năn,
    Sau Ta sẽ chỉ. Lui.


    Cách một tháng nữa ông lại đến cầu xin nhập môn tại một đàn cơ ở tư gia ông Hội Đồng Lai, làng Tân Kiển (Chợ Lớn). Đức Chí Tôn ban cho một bài thi mà mỗi câu có năm chữ:

    Thường bữa đừng than trách,
    Ta thương nên chỉ cách.
    Lâm thời tự hối lần,
    Ráng giữ cho trong sạch Lui.


    Khoảng nửa tháng sau, ông nhẫn nại trở lại quỳ cầu xin nhập môn lần thứ tư ở chùa Hội Phước Tự. Lần này Đức Chí Tôn mới chịu thâu ông với một bài thi tứ tuyệt, bảy chữ:

    Tưởng dễ hay sao hỡi bớ trò,
    Ráng công tu luyện thế đừng lo;
    Cửa Tiên muốn dựa trau lòng tục,
    Đàn nội từ đây để bước dò
    .”

    Thuở khai Đạo, mỗi buổi đàn cơ có đến mấy trăm người tham dự chật cả trong và ngoài tại chùa hay tại tư gia. Thế mà ông Dương Văn Hoài, được Đức Chí Tôn lần lượt bốn lần ban ân cho thơ. Khởi đầu từ bài thơ ba chữ mỗi câu, rồi bốn chữ đến năm chữ sau rốt bảy chữ, làm cho mọi người biết chuyện kinh ngạc cúi đầu trước ân oai và lòng từ của Đức Đại Từ Phụ.

    Trong danh sách những tiền bối hiện diện trong đêm 23 tháng 8 Bính Dần tham dự soạn thảo tờ Khai Tịch Đạo để đăng ký pháp nhân hoạt động tôn giáo với chánh quyền thuộc địa, tên ông Dương Văn Hoài ở vị trí thứ tự số 219 (bảng ký tên) .

    Cho đến buổi tối lịch sử chuẩn bị văn kiện Khai Tịch Đạo, số lượng chư vị tiền bối đã được khoảng 245. Sau đó là giai đoạn chuẩn bị cho đại Lễ Thánh Thất (Khai Minh Đại Đạo). Một việc quan trọng khi đó là chuẩn bị nhân lực hậu thuẩn.

  5. #15
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    2. Qua Cơ bút “thâu nhập môn đệ” trong lần đi phổ độ đầu tiên cùng với việc phát hành Tờ Phổ Cáo Chúng Sanh theo lệnh dạy của Đức Chí Tôn, số lượng tín hữu Cao Đài tăng vọt lên hơn 10 lần.

    Ngày 13-10-1926 (07-9 Bính Dần) tờ Phổ Cáo Chúng Sanh đã được Đức Chí Tôn duyệt. Thầy dạy:

    Vĩnh! Đọc Phổ Cáo Chúng Sanh, đợi Thầy sửa nghe. Hễ Thầy hạ cơ thì ngừng đọc…

    Các con tức cấp lo phổ độ. Kể từ ngày mồng 10 tháng nầy, mấy đứa phò loan phải xin phép nghỉ 29 ngày hết nghe. Thầy dặn các con phải phân nhau mà đi cho khắp
    .”

    Trong khoảng thời gian từ trung tuần tháng 9 đến hết thượng tuần tháng 10 Bính Dần 1926, khắp lục tỉnh Nam Kỳ và các tỉnh miền Đông nam bộ mỗi đêm số lượng người đến hầu đàn cơ xin nhập môn rất đông.

    Ngài Cao Thượng Sanh kể lại:

    Một đêm có thể đi phổ độ 2 tỉnh gần nhau như Tân An, Mỹ Tho hoặc Vĩnh Long, Sa Đéc... Mấy chỗ khác đi từ tỉnh trở về tới nhà thường là 6 giờ sáng. Nghĩa là ngồi cầm cơ từ 9 giờ tối tới 4 giờ sáng. Đức Chí Tôn giáng cho thi cầu đạo mỗi người một bài, hoặc tám câu hoặc bốn câu.

    Có khi cho thi tới 100 hay 150 bài một đêm
    ...” [Đại Hội Ban Đạo Sử ngày (15.12.1968)]

    Kết quả là có được mấy ngàn tín hữu Cao Đài vào thời điểm chính thức ra mắt nền Thánh Thể của Đức Chí Tôn (Lễ Khánh thành Thánh thất đầu tiên cùng Lễ Bái Mạng của chư vị Thiên Phong lưỡng đài Hội Thánh).

  6. #16
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    3. Tiếp tục “thâu nhập môn đệ ” sau Lễ Thánh Thất

    Sau ngày khai mạc, Đức Chí Tôn ban cho Pháp Chánh Truyền và dạy chư vị Tiền Khai soạn Tân Luật. Sau đó, Ơn Trên tiếp tục thâu nhập môn đệ từ người Việt cho đến người Tần Nhơn, Đường Nhơn, người Pháp v.v…:

    3.1. Thâu người Việt:

    Chúng ta hãy lướt qua vài đàn trong những tháng cuối năm Bính Dần:

    * Mardi 23 Novembre 1926 (rạng 19.10 Bính Dần)

    Ngọc Hoàng Thượng Ðế Viết Cao Ðài Giáo Ðạo Nam Phương.

    Cười ... Chư thiện nam cầu Ðạo thượng sớ.(…) (thâu 19 vị nam). (…)
    Chư ái nữ cầu Ðạo. Thầy thâu hết.
    Ca thị, con lấy tên hết rồi mai Thầy cho thơ.”

    Chúng ta hãy lưu ý đến thời gian lập đàn, đã 2 giờ sáng !

    * Mardi 11 Janvier 1927 (08.12 Bính Dần)

    “Thái Bạch
    Hỉ chư ðạo hữu, chư ðạo muội, chư chúng sanh. Bình thân.
    Thổ nhơn nam và nữ nhập nội đồng quì. Chư Sơn trước... toàn thâu... lui.

    Nữ phái thượng sớ.
    (Sau khi cho 7 bài thơ tứ tuyệt cho mỗi người và thâu nhận, đến người thứ 8 tên Bảy lại không được)

    Bảy:
    Bảy mươi chưa biết trọn mình lành,
    Ðừng thị khi đời ỷ miệng lanh. Lui.

    (Tiếp theo, từ người thứ 9 đến thứ 11 được thâu). Và số còn lại:

    Toàn thâu Nữ phái. Nam thượng sớ.
    (4 người nam đầu được thâu, đến hai người thứ 5 và 6 không được)

    Sơn:
    Sơn là cao đã có lời rằng,
    Ta thấy tên ngươi... nghiến răng;
    Học hỏi chưa thông ngoài chái bếp,
    Nhẫng lo cỡi phụng với đua tranh. Lui.

    Thay:
    Thay đời chẳng phải một tên ngươi,
    Thấy phách lối kia bắt nực cười. Lui.

    Tiếp theo

    Hào:
    Hào phú chưa ai dám sánh bằng,
    Dầu nghèo mà giữ Ðạo làm ăn;
    Trời soi dạ thẳng trăm oan thoát,
    Có lúc vinh huê bỏ nhọc nhằn.

    Thâu. Sau trọng dụng.

    Toàn thâu, bỏ tên: Thiện, Ðào, Ðài
    .”

  7. #17
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Trong thời gian Đại Lễ Khai Minh Đại Đạo, một hôm tại Thánh thất Gò Kén trong lúc thâu nhận người xin nhập môn, Thầy ban ơn điểm danh đồng thời khéo léo để lời dạy dỗ về ý nghĩa của Thiên Nhãn:

    Phan Văn Võ:
    Tai phân nạn trả lẽ thường thường,
    Chớ tưởng mắt Trời ngó thiếu phương;
    Non Thái dầu cao, cao hóa thấp,
    Chậu kia dầu kín thấy thông thương. Thâu

    Hồ Văn Cho:
    Thông thương ngó rõ tánh lòng người,
    Con chớ tưởng lầm tiếng nói chơi;
    Ví thử Thầy cho con đặng phép,
    Làm sao cho khuất bóng Thần ngươi. Thâu

    Tr. Văn Giáo:
    Thần ngươi xem khắp cả Càn Khôn,
    Coi khắp nhơn sanh với giữ hồn;
    Nếu trẻ biết quyền cầu khẩn thử,
    Sang năm đổi số lạnh ra ôn. Thâu


    Như vậy có nhiều người được thâu nhận làm tín đồ nhưng cũng có người chưa được! Những người nào được phê chữ “thâu” hay “Thượng” thì là được thâu nhận làm tín đồ. Còn những ai không có lời phê hoặc phê chữ “Lui” thì chưa được thâu nhận, phải về nhà lo tu sửa mình một thời gian sau đến thượng sớ xin nhập môn lại.

    Trở lại với ông Dương Văn Hoài. Rạng sáng đêm rằm tháng 10 tại chùa Gò Kén, Đức Chí Tôn ban ân Thiên Phong cho những vị ở lục tỉnh. Trong danh sách được ân phong hôm đó có tên ông Hoài:

    “Tái Cầu:

    Thầy, Các con.
    Trung! ra mời chư Thiên Phong lục tỉnh còn sót lại vào hầu.

    … Viễn, Hoài! Thầy khen hai con, hai con quì đó.

    Thầy kêu vài đứa nữa. Hoài (Cần Giuộc), Lai, Son, Bút, Hoài (hai Hoài)... Tín, Viễn.

    Tín, Thầy phong chức Giáo Sư; còn Bút, Bích chức Giáo Hữu. Nhơn đã là Giáo Hữu, Thầy thăng lên chức Giáo Sư ... ...
    Thầy dạy các con nhớ ngày nầy là ngày kỷ niệm. Trung, con phải lấy tên của chư môn đệ có mặt tại đây ngày nay mà giữ gìn để lưu lại cho hậu thế biết nghe à!

    Thầy cần dùng ba chục đứa tình nguyện để phổ cáo xứ xa, ai đâu? Lấy tên, con Tương. Trung Kỳ, Bắc Kỳ.
    (Hồ Văn Đình, Nguyễn Minh Đức, Trần Văn Nhạc, Phạm Văn Thông, Huỳnh Trung Tuất, Dương Văn Hoài, Nguyễn Văn Thiện)... ... Cả thảy Thầy phong chức Giáo Hữu ... Thầy buộc học hết Thánh ngôn rồi mới đi phổ cáo nghe à!


    Sau buổi Lập Vị bái mạng Thiên Phong Chức Sắc của Hội Thánh lần đầu tiên, Thầy yêu cầu 30 người tình nguyện đi phổ độ ở miền Bắc và miền Trung, trong bản văn điển ký chép tay còn lưu lại tên quý vị tình nguyện có tên ông Dương Văn Hoài. Bên cạnh mấy vị được Thầy phong Giáo Sư, các vị được điểm danh còn lại đều vinh dự được phong Giáo Hữu trong đêm Khai Minh Đại Đạo. Nhờ bền chí và thành tâm công quả phổ độ ông Hoài mới đạt được phẩm vị Giáo Hữu, về sau thăng lên phẩm Giáo Sư.

  8. #18
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    3.2. Thâu Tần nhơn: tín đồ và chức sắc

    Để chuẩn bị nhân lực cho việc khai phá rừng xây dựng Thánh Địa Tây Ninh, Ơn Trên thâu nhận người Thổ nhơn xin nhập đạo.

    a. Buổi đàn đầu tiên có hai người đàng Thổ được Đức Chí Tôn điểm danh là ngày Samedi 4 Décembre 1926 tức là (30.10 Bính Dần): hai vị tên là Trì Chia và Hòa Rấu.

    b. Chức sắc Tần nhơn đầu tiên là một vị Cựu mẹ sóc tên Gồng

    Thái Bạch,
    Thượng Trung Nhựt, hiền hữu kêu Gồng và Niên.
    Gồng, Lão phong cho hiền hữu chức Giáo Hữu đặng phổ độ Thổ nhơn nghe à. Tuân mạng (... )
    Niên, Lão phong cho chức Giáo Hữu, tuân mạng.
    Nhị vị hiền hữu lui ra ngoài lấy tên người Thổ chẳng kịp cầu Ðạo. Niên lui đi. Nữ phái toàn thâu
    .”

    3.3. Thâu Đường nhơn:
    Thuở ban đầu đã có một ít người Hoa được thâu nhận như Ngài Ca Minh Chương, bà Lê Văn Trung (được Thầy gọi là Đường thị) v.v… Tài liệu Đạo Sử Xây Bàn của bà Hương Hiếu cho thấy trong đợt Lễ Khai Minh, Xiếu Ngó là người Hoa đầu tiên được thâu nhập vào đàn ngày Samedi 18 Décembre 1926 (14.11 Bính Dần)

    Xiếu Ngó:
    Xiếu Ngó mà nên bởi có người,
    Dắt dìu rồi lại dạy thông đời;
    Lửa hương ví bẳng ngày sau đượm,
    Phải nhớ công ơn của Ðất Trời. Thâu.

    Khá phổ độ con cái Trung Huê của Thầy nghe
    .”

    Về sau có hàng ngàn người Hoa ở Campuchia nhập môn.

    3.4. Thâu người Pháp:

    Trong thời gian này, có một số người Pháp tìm đến hầu đàn rồi cũng xin nhập môn và được thâu nhận.

    Thí dụ: đêm Noel năm 1926

    Thứ bảy, 25-12-1926 (âl 21-11 Bính Dần)

    Thái Bạch,
    Frère Latapie, je vous nomme Evêque d’équipe Française, c’est au rang de Giáo Sư que vous êtes placé
    .”
    (tạm dịch: Hiền hữu Latapie, Ta điểm danh phong phẩm Giáo Sư trong nhóm những người Pháp)

  9. #19
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Tình hình thâu nhập môn đệ sau một tháng Đại Lễ Thánh Thất (Khai Minh Đại Đạo) rất khả quan. Vào cuối tháng 11 Bính Dần, một hôm, Thầy cho biết số lượng tín đồ được thâu qua cơ bút sắp “gần đủ số

    Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài giáo đạo Nam phương. (Chúng sanh xin cầu Đạo)

    (…) Vậy các con muốn cho chúng sanh cầu Đạo thì Thầy cho phép, song từ đây phải làm sớ như Minh Thệ mà xin nhập môn đặng có thế phổ độ cứu vớt chúng sanh thêm một chút ít nữa.

    Thầy cho các con hay trước rằng: Đại Đạo tại Nam Kỳ gần đủ số rồi, hễ đủ số rồi thì phải bế lại mà hành Đạo.
    Còn một phần thì đi ngoại quốc phổ thông nền Chánh đạo.

    Thầy toàn thâu cả chúng sanh nam nữ
    .”

    Trong đàn giao thừa đầu năm Đinh Mão 1927, theo lời dạy của Thầy, số tín hữu Cao Đài đã vọt lên hơn 40 ngàn.

    Khi đó, việc nhập môn cầu đạo trở thành một hiện tượng trong quần chúng. Đi hầu đàn, xin nhập môn để được điểm danh đã trở thành phong trào trong đời sống xã hội. Có một số người a dua, chạy theo chứ chưa phải thật tâm cầu đạo cho nên có lần Đức Giáo Tông răn đe:

    Như Lão chẳng vì lời Thầy dặn bảo thì đã cấm Cơ Bút rồi. Vậy Đạo chưa thành, Lão kỳ tới cuối tháng 6 năm tới thì cấm tuyệt Cơ Bút.”

    Vào ngày Vía Thầy:

    Thái Bạch… Nay là ngày Vía Đức Chí Tôn, nhiều kẻ cầu Đạo không đáng thâu nạp, nhưng mà Đức Từ Bi biểu Lão ân xá, nên toàn thâu, không đuổi ai hết.”

    Đến cuối tháng 2 Đinh Mão, sau khi dời Thánh Thất Gò Kén về vùng đất mới mua ở làng Long Thành – Tây Ninh. Trong khi bắt đầu xây dựng Thánh địa và Tổ đình, việc phổ độ thâu nhận tín đồ vẫn tiếp diễn ở nhiều địa phương.

    Vào ngày mùng 2 tháng 5 năm Đinh Mão 1927, khi khuyến khích chư chức sắc áp dụng Tân Luật để phổ độ nhân sanh, một lời Thánh ngôn của Đức Chí Tôn về sau đã trở thành đề tài có nhiều ý kiến khác biệt nhau ngay trong nội bộ nhà Đạo Cao Đài:

    Còn cuối kỳ tháng sáu đây thì Thầy phải ngưng hết cơ bút truyền Đạo”.

    Ngày 13 tháng 5 Đinh Mão, Đức Chí Tôn giáng đàn, dạy:

    Trong nội tháng sáu đây thì trách nhậm của mấy đứa phò loan gần hoàn toàn.”

    Vào ngày đầu tiên của tháng 7 Đinh Mão, Đức Chí Tôn giáng đàn ở làng Long Thành – Tòa Thánh Tây Ninh:

    * Long Thành, 29.7.1927 (âl 01.7 Đinh Mão)

    Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương.

    Các con, Thầy thâu nhập môn đệ, cho Thánh bút kỳ nầy là chót. Định ngưng cơ phổ độ, từ đây do theo Tân Luật mà hành đạo và thâu nhập chúng sanh. Nhưng nếu có chuyện bí yếu chi về nền Đạo và về đường trách nhậm của các con thì Thầy sẽ lấy từ bi mà khuyến dạy.

    Trang bạch: . . . . . . . . .

    - Được con, Thầy cho thượng sớ. Trang, Thầy thâu nhập hết chư nhu. Con giải sơ cách hành Đạo và ái kỉnh cho cả thảy biết.

    Thầy ban ơn cho các con. Thầy thăng
    .”

    Qua nội dung của đàn này cho thấy hôm đó là lần cuối cùng Đức Chí Tôn ban ân thâu nhận người xin nhập môn và dặn dò từ nay cứ “theo Tân Luật … thâu nhập chúng sanh”.

    Nhưng không có nghĩa là Thầy ngưng giáng cơ hoàn toàn: “… nếu có chuyện bí yếu chi về nền Đạo và về đường trách nhậm của các con thì Thầy sẽ lấy từ bi mà khuyến dạy”.

  10. #20
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    KẾT LUẬN

    Gần chín mươi năm đã vụt qua đi, ngày nay chúng ta mới có điều kiện để có đủ thông tin: Về những câu chuyện, những hình ảnh Ơn Trên “thâu nhập môn đệ” trong những năm tháng đầu tiên của Cao Đài giáo.

    Tất cả các số liệu cho thấy rõ diễn tiến lịch sử phát triển số lượng tín hữu Cao Đài trong 18 tháng đầu tiên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Cùng với những lời dạy của Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông về việc chấm dứt cơ bút “thâu nhập chúng sanh” giúp chúng ta hiểu chính xác lời dạy “Còn cuối kỳ tháng sáu đây thì Thầy phải ngưng hết cơ bút truyền Đạo”.

    Điều này giúp cho toàn Đạo:

    1. Xác định việc Thầy ngưng cơ bút truyền Đạo chỉ là chấm dứt một giai đoạn lịch sử của “Cơ phổ độ” hết sức đặc biệt, Ơn Trên trực tiếp thâu nhập môn đệ qua hình thức cơ bút. Và kể từ thời điểm đó trở về sau bắt buộc chư chức sắc phải áp dụng theo Tân Luật, điều thứ chín của Chương II Về người giữ Đạo.

    Ngài Thượng Sanh Cao Hoài Sang có nói:

    “Đức Chí Tôn giáng cơ truyền Đạo cho nhơn sanh mãi tới cuối tháng 6 năm 1927 (năm Đinh Mão), Đại Từ Phụ mới ra lịnh ngưng phổ độ bằng cơ bút. Về sau, người xin nhập môn cứ dâng sớ và lập minh thệ theo luật Đạo.”

    2. Xác định tên gọi cho một giai đoạn lịch sử có một không hai trong cơ cứu độ Kỳ Ba: Thời kỳ “Cơ Bút thâu nhận sanh linh (…) theo Thiên thơ”.

    3. Và giúp cho hậu thế hiểu đúng Thánh ý của Thầy. Điều này cũng sẽ góp một phần khá quan trọng cho việc thống nhứt tư tưởng nhà đạo ở tương lai.

Trang 2/12
1 2 3 4 ... 12

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền