+Trả Lời Chủ Đề
Trang 2/8
1 2 3 4 ... 8
kết quả từ 11 tới 20/ Tổng số 75

Ðề tài: Lược sử văn hóa Cao Đài

  1. #11
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar



  2. #12
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    2. Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gobron trong quyển Histoire du Caodaїsme của mình viết năm 1938 có đoạn ghi lại lời của Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc như sau:

    "Ngài Phạm Công Tắc, vị lãnh đạo cao cấp của Đạo Cao Đài hay Phật giáo canh tân, Tòa Thánh Tây Ninh, gởi ông Chủ nhiệm nhựt báo La Vérité, Nam Vang.(…):

    “Vào một buổi chiều tối của tháng 11, bạn tôi lập lại cho tôi nghe nhiều lần sự huyền diệu của cái bàn xây mà cậu đã học trong các tác phẩm của những vị chủ xướng Thần linh học Pháp mà ngày nay đã mất: Allan Kardec và Léon Denis…


    Xuất phát điểm cơ phổ độ của Đức Chí Tôn trong Tam Kỳ Phổ Độ đã khởi đầu vào thượng tuần tháng 6 Ất Sửu 1925 tại nhà của ông Cao Hoài Sang ở phố Hàng Dừa đối diện chợ Thái Bình quận 2 Sài Gòn (hiện nay là đường Cống Quỳnh, quận 1 - gần bên Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo).
    Với chiếc bàn tròn 3 chân , theo phương pháp thông linh của Âu Mỹ , con người có thể tiếp xúc được với thế giới vô hình. Về mặt kỷ thuật, chiếc bàn có 2 chân được kê cao lên vài phân để chân thứ 3 bị hỏng khỏi nền nhà một ít vừa đủ để tạo ra sự gập ghềnh. Khi bàn chuyển động lắc lư qua lại, chân thứ 3 chạm lên nền gạch phát ra những tiếng cộp cộp vừa đủ nghe.

    Khởi đầu, sau vài hôm chịu khó tập dượt, quý vị đã tiếp xúc được với một số vong người Việt, Chà Và, Các chú (người Hoa), Anh, v.v… Đêm mùng 6 tháng 6 Ất Sửu, chư vị liên lạc được với vong trong gia đình như Cao Quỳnh Lượng, Cao Quỳnh Tuân.

    Trong quyển Đạo Mạch Tri Nguyên, có thể xem là quyển sử Đạo đầu tiên của Cao Đài, tác giả đã ghi:

    Chừng tịnh lần này, cả thảy ngồi im lìm; thoạt nhiên bàn giở lên, gỏ lia, gỏ lịa. Mấy ổng cũng cho là nội bọn phá, bèn hỏi thăm nhau. Ai nấy đều tỏ rằng, cả thảy đều để thật lòng, mà thử cho hết sức, cho nên không xô đẩy chi.

    Ấy là bàn diêu động tự nhiên. Khi đó, người thì nói tê tay, kẻ lại nghe gần như bị điển. Trong khi mấy ổng hỏi nhau, bàn dứt gỏ, nhưng cũng còn linh chinh, dường như có sự sống vậy.

    Chừng nghĩ rằng có vong nhập; thảy đều kinh tâm: mấy ổng lụi đụi, không biết phương chi mà thông đồng với vong đặng.

    Chú Tư tôi liền dặn mấy ổng để như cũ, đừng ai lấy tay ra khỏi bàn mà làm xao động, e vì vong xuất ngoại. Dứt lời, chú Tư tôi lật đật nói với vong rằng:

    - Xin khoan đi, để cho tôi hỏi ít lời. Bây giờ chưa tìm đặng thế nào cho hiểu nhau, thì duy cứ gỏ hai nghĩa là: Ừ chịu. Có hoặc phải (Oui).Còn gõ một là: không, hay là chẳng phải (Non)

    Vong tiếp gỏ hai: Tỏ rằng, chịu theo lời dặn.

    Ðoạn chú Tư tôi liền ngụ ý, rồi nói với vong như vầy:

    - Ta hiểu theo đây, thì có thể nói với nhau tiện hơn. Nếu tôi hỏi chi, muốn trả lời lại, cứ theo vần alphabet quốc ngữ mà gõ, đến chữ nào dùng thì ngưng lại, nghĩa là lấy chữ chót; rồi bắt đầu trở lại mà nối chữ khác, xong rồi sẽ ráp lại mà đọc, giống như điệu giây thép vậy.

    Vong liền gõ hai (ừ chịu)

    Hiểu nhau rồi, bàn gõ, chú Tư tôi khởi đọc.

    Nhưng sự chi cũng vậy, lúc đầu sao cũng lộn xộn năm bảy phen, đọc cho đến hết hai mươi mấy chữ vần, mà cũng còn gõ mãi. Tức mình chú Tư tôi cắt nghĩa lại một lần nữa.

    Thật lấy làm tội nghiệp cho vong quá, lại cũng thương cho mấy ổng, vì muốn thấu đáo nên ráng chịu khó cho đến cùng. May sao lối mỏn hơi rồi, chú Tư tôi đọc từ a ă â b c d đ... tới chữ L thì dứt gõ. Chú tư tôi dặn M. Cao Hoài Sang nhớ chữ ấy, đủ rồi sẽ ráp lại.

    Ðoạn bàn tiếp gõ lượt thứ nhì. Chú Tư tôi đọc a ă â b c d đ... cho đến chữ Ư, bàn ngừng lại, rồi cũng cứ nối đuôi theo như trước, cho đến khi ráp được ba chữ: "Lượng Cao Quỳnh"

    Khi tiếp đặng mấy chữ ấy rồi, thì mấy ổng hớn hở vui cười. Dứt tiếng, chú Tư tôi suy nghĩ rồi nói rằng:

    "Như phải là Cao Quỳnh Lượng, thì chắc biết mấy người ngồi đây; cứ nói tên mỗi người coi có trúng chăng?
    "

    Vừa dứt lời bàn gỏ, chừng ráp lại nguyên chữ thì thành ra tên: Diêu, Cư, Tắc, Sang, Ðức, Thân, Nguyên, thảy đều rộ cười lên, còn cái bàn thì hỏng một bên chân, lắc qua lắc lại, dường như cũng cười theo vậy.

    Khi ấy ông thân tôi tiếp hỏi Lượng rằng:

    - "Con có ở hầu ông nội chăng?
    Ðáp: có

    - Mời ông nội đến đây, tiện không?

    Ðáp: đặng

    Dứt lời thì bàn giở lên, rồi để xuống, không còn diêu động, như khi nãy nữa. Chú Tám tôi nói rằng: "Bộ khi nó đi rồi". Nghe vậy mấy ổng đều dang ra nghỉ hết.

    Chừng ấy tôi có ý coi, thì thấy ông nào ông nấy cũng lấy làm lạ, mà nhất là ông thân tôi, với chú Tư tôi, vì từ ấu chí trưởng, hai người không chịu tin chi hết, cho kiếp chết là mất rồi, chẳng tin rằng có hồn. Nay lại thấy điều lạ kỳ như vậy, thì hai ông ngồi nhìn nhau, tình hình như trời đã hé cửa cho mấy ổng nhìn, thấy đặng sự bí mật vậy.

    Cách nửa giờ sau, vầy nhau ngồi, để tay lên cũng tịnh như trước; kỳ này mấy ổng có màu kiêng dè, không dám cười giỡn nữa. Ðoạn bàn gõ. Chú Tư tôi tiếp đặng chữ, ráp lại như vầy: "Cao Quỳnh Tuân".

    Ấy là tên ông nội tôi, cả thảy đều đứng dậy xá, rồi ngồi xuống. Ông thân tôi hỏi sơ, ít điều đã qua rồi, kế chú Tư tôi tiếp nói rằng:

    "Vì buổi thầy quá vãng, anh em con vẫn còn nhỏ dại, cho đến đổi anh của con đã trộng, còn không nhớ đặng, hình ảnh của thầy, huống chi là con còn nhỏ quá, duy buổi lớn khôn nghe người truyền ngôn lại cái hạnh đức của thầy mà thôi.

    Nếu có thể tiện, xin thầy dùng dịp này cho anh em con một bài thi tự thuật, hầu để rao truyền ngày sau, cho con cháu thờ làm kỷ niệm".

    Ông nội tôi chịu cho, liền tiếp đánh ra bài thơ như vầy:

    Ly trần tuổi đã quá năm mươi,
    Mi mới vừa lên ước đặng mười;
    Tổng mến lời khuyên bền mộ chép,
    Tình thương căn dặn gắng tâm đời.
    Bên màn đôi lúc trêu hồn phách,
    Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi;
    Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm,
    Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời.”

    Tiếp theo, tối thứ bảy 12 tháng 6 Ất Sửu tại nhà ông Cao Quỳnh Cư số 134 Bourdais quận 1 Sài Gòn (nay là đường Calmette, khu vực Ngân Hàng Eximbank), chiếc bàn vuông 4 chân được sử dụng . Về mặt kỹ thuật cũng tương tợ như đã áp dụng khi xây bàn với bàn tròn 3 chân: có 3 chân bàn được kê cao lên một chút còn chân thứ 4 để hỏng khỏi mặt gạch một ít.

    Tuy về mặt chi tiết thời gian của các sự kiện được ghi nhận, ngày nay có điều kiện suy gẫm chúng ta thấy có đôi chỗ chưa thật hẳn chính xác nhưng về tổng quát, các nét căn bản của sự kiện đã được ghi nhận lại khá đầy đủ.

  3. #13
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    - Đạo Sử Nhật Ký của Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng có ghi nhận những câu chuyện liên quan đến việc xây bàn của một số vị Tiền Khai, sau này cũng được Đức Chí Tôn ban ân có chân trong Hiệp Thiên Đài như là Ngài Trương Hữu Đức, Nguyễn Trung Hậu, v.v...

    . Ngày 26 tháng 9 Ất Sửu (12-11-1925), ông Hậu đến dự xây bàn, Đức AĂÂ giáng cho bài thi:

    Thuần văn chất đức tài cao,
    Tên tuổi làng thơ đã đứng vào;
    Non nước muốn nêu danh tuấn kiệt,
    Đến hồi búa Việt giục cờ Mao.

    Câu đầu nêu lên bút danh “Thuần Đức” của ông Hậu, lúc đó chỉ có một mình ông biết mà thôi… Nhân dịp này ông bạch cùng Đức AĂÂ rằng: tôi còn nhớ 2 câu đối xưa nay chưa ai đối được. xin đem ra cho ngài đối giùm. Đấng AĂÂ đáp: Bần đạo xin hầu đối, nhưng nếu đối ra không chửng (chuẩn), quý vị chớ cười và niệm tình Bần Đạo mà chấn chỉnh lại cho.

    Câu đối ông Hậu ra: Ngồi lưng ngựa đừng bò con nghé.
    Đức AĂÂ đối lại: Cỡi lưng trâu chở khỉ thằng tê.
    Câu đối ông Hậu ra: Ngựa chạy mang lạc.
    Đức AĂÂ đối lại: Cò bay le bè.

    Ông Hậu phục tài Đức AĂÂ, từ đó hết lòng tin tưởng có các Đấng vô hình.
    [Đạo Sử Nhật Ký – Hiền tài Nguyễn Văn Hồng trang 70]

    . Ông Đức thấy ba ngài Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang xây bàn thì hoài nghi ba vị này giả ngộ chơi nên không tin. Về nhà, ông Đức tự đem bàn ra đặt tay xây thử để xin thơ, tức thì có vong linh người anh nhập bàn. Nhưng thay vì cho thi lại cho 2 vị thuốc để ông Đức uống, nhờ vậy ông Đức được lành bịnh hậu trên 20 [Đạo Sử Nhật Ký – Hiền tài Nguyễn Văn Hồng trang 71]

  4. #14
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    3. Thủ cơ – chấp bút:

    Sau hơn một tháng xây bàn tiếp xúc với thế giới vô hình; vào thượng tuần tháng 8 Ất Sửu; Cô Đoàn Ngọc Quế (Vương Thị Lễ) cho ba vị Cư, Tắc, Sang biết mình thật ra là Thất Nương nơi Diêu Trì Cung. Khi ba vị ngỏ lời xin được giới thiệu với Đấng Chưởng Quản Diêu Trì Cung, Thất Nương ra điều kiện: phải trai giới ba ngày trước khi hầu lễ và phải dùng đại ngọc cơ. Đức Thất Nương có mô tả cấu trúc và giải thích ý nghĩa vì sao phải thực hiện Đại Ngọc Cơ như thế. (Giống như chòm sao Đại Hùng Tinh)

    Trong lúc chư vị đang phân vân chưa biết phải tìm ngọc cơ nơi đâu, khiến sao có người bạn của ông Cư là Phán Tý vừa thỉnh chiếc ngọc cơ nơi đàn Minh Thiện – Thủ Dầu Một nghe biết chuyện nên đem cho mượn đồng thời hướng dẫn luôn cách phò cơ cùng bài kinh cầu “Chốn bồng lai là nơi thanh tịnh...”. Như thế buổi Hội Yến Diêu Trì vào Rằm tháng 8 Ất Sửu – 1925 là lần đầu tiên Đại ngọc cơ được sử dụng để thông công bên nhóm phổ độ.

    Hiện nay chúng ta vẫn chưa tìm được bản Thánh giáo nào của Ơn Trên mô tả kích thước và hình dáng của Đại ngọc cơ vào lúc khởi đầu của thời Tam Kỳ bên cơ Phổ Độ. Do đầu ngọn cơ được chạm khắc hình đầu chim Loan vì thế việc phò cơ vào thuở đầu của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được gọi là phò Loan.

    Sau khi thực hiện “Vọng Thiên cầu Đạo” vào mồng 1 tháng 11 Ất Sửu – 1925, ba ông Cư – Tắc – Sang được dạy chuyển sang thường xuyên sử dụng Đại ngọc cơ: “Cầu Đạo rồi, Đức Chí Tôn dạy phải dùng Ngọc Cơ để tiếp xúc với Đức Chí Tôn thì cái giai đoạn xây bàn đến đây là cáo chung”

    Ông Gabriel Gobron – Tiếp Dẫn Đạo Nhơn của Tòa Thánh Tây Ninh trong quyển Histoire du Caodaїsm có ghi nhận một bài báo. Qua đó, chúng ta được biết trước đó ông Phạm Công Tắc đã có đi tìm hiểu việc chấp bút của Chi Minh Lý.

    Ngài Phạm Công Tắc, vị lãnh đạo cao cấp của Đạo Cao Đài hay Phật giáo canh tân, Tòa Thánh Tây Ninh, gởi ông Chủ nhiệm nhựt báo La Vérité, Nam Vang.(…)

    Đó là vào năm 192…, tôi cư ngụ trong một căn phòng của tòa nhà Audouit, hôm nay trở thành tòa nhà Huỳnh Đình Khiêm. Tại nhà tôi, có nhiều thanh niên nam nữ tới lui với tôi, (…). Một sáng Chúa nhựt, một thanh niên lạ mặt tiến vào văn phòng tôi, ngồi xuống ghế đối diện và nói một cách tự nhiên, những lời nói không làm tôi ngạc nhiên:
    (…) Sau đó, tôi mới nhận thấy bạn mới ấy là người rất thông thái, cậu ấy thông thạo triết lý tâm linh và đặc biệt Thần linh học làm cho cậu thích thú. Nhờ thế mà tôi biết được phong trào xây bàn và sự thông công bằng đồng tử.
    (…) Vào một buổi chiều tối của tháng 11, bạn tôi lập lại cho tôi nghe nhiều lần sự huyền diệu của cái bàn xây mà cậu đã học trong các tác phẩm của những vị chủ xướng Thần linh học Pháp mà ngày nay đã mất: Allan Kardec và Léon Denis. Bấy giờ tôi tỏ ra một nghi ngờ quả quyết trên sự xác thực của các hiện tượng nầy, thách đố cậu ta thử thí nghiệm. Tức thì cậu dẫn tôi đến nhà của vị cầm đầu chánh thức của trường phái thần bí mới được phát sanh, mà diễn tiến về sau có ảnh hưởng lớn đến sự thành lập và phát triển Đạo Cao Đài: phái ấy tự xưng là “Minh Lý Đạo” có thể dịch nghĩa từng chữ: con đường của lẽ phải rõ ràng.

    Tôi vội vàng nhìn nhận ở đây rằng, tôi được hiện diện với những người vô cùng dễ thương và chơn thật. Đó là những công chức khiêm tốn của các cơ quan hành chánh và thương mại, khao khát học tập và tự vươn mình lên trong xã hội, nhờ vào các nổ lực thường xuyên của họ.

    Họ được 10 người và tự kết thành nhóm như một loại câu lạc bộ để bàn cãi về triết lý tâm linh và kế đó, khi những lý thuyết đã được đồng hóa, nhờ vào một qui tắc mà họ tự tạo ra để tổ chức và tôn thờ những vị Thánh Hiền của họ. Tôi rất ngạc nhiên về kiến thức tâm linh cao siêu và rộng rãi của họ. Tất cả họ đều có khả năng thuật lại cho tôi nghe những Thánh giáo trong các tác phẩm lớn Thần linh học.(…).
    Tôi yêu cầu tham dự một đàn cơ quan trọng, ông Âu Kích, người được kính mến nhứt của nhóm, lo sửa soạn đàn cơ nầy.

    Trên một cái bàn dùng làm bàn thờ, ông Âu Kích cắm 9 cây đèn cầy theo hình tam giác. Sau diễn biến nầy, ông giải thích cho tôi biết, số 9 mà sự sắp đặt theo hình học đó bao hàm con số 3 (thật vậy, 3 góc trong tam giác) có một sự quan trọng tượng trưng, chỉ có những người đã thọ giáo mới có thể hiểu được. Lúc đó, các lễ dâng cúng khởi sự liên tiếp. Những tín đồ của nhóm làm lễ trước bàn thờ, ông trưởng nhóm Âu Kích quì ở chính giữa. Họ tụng kinh cầu nguyện Đấng Thượng Đế và các Đấng thiêng liêng. Sau khi dâng hiến tâm hồn thì tiếp theo là lễ Dâng Hoa, Dâng Rượu và Dâng Trà.(…).

    Nhưng ở đây, thình lình, người đứng đầu vẽ trong không khí những cử động lạ thường với cánh tay mặt của ông. Tất cả đều im lặng như bị phù phép. Ông Xung nói vào lỗ tai tôi rằng các Đấng thiêng liêng sắp thông công qua trung gian của ông Âu Kích. Thật vậy, ông Âu Kích cầm một cây bút chì lớn mà người ta đặt trước trên một cái bàn nhỏ với giấy trắng, tự đặt mình phận sự viết lại những lời nói thiêng liêng, đôi mắt nhắm lại. Người ta giải thích cho tôi biết rằng, ông ấy là đồng tử được các Đấng thiêng liêng ưa thích, được tôn kính bởi các tín đồ, rằng Đức Quan Âm Bồ Tát đã đề tặng cho tôi, nhờ bởi phương cách của người đầu nhóm nầy.

    Quả thật tôi rất hãnh diện được báo cho biết, qua những tiền kiếp của tôi, tôi đã hoàn thành nhiều công trình lớn lao và tôi bị đày xuống thung lũng đầy nước mắt nầy (cõi trần) để đền cái tội kiêu căng mà tôi đã phạm phải. Tôi là một kẻ kiêu căng khó chịu nổi trong nhiều kiếp liên tiếp.

    Như thế, các bạn tôi tin tưởng đồng cốt, nghĩa là sự thông công với thế giới vô hình, do đó tin tưởng sự tồn sinh của linh hồn (…)
    ”.

    Đồng thời lúc ấy, với sự hợp tác cùng nhóm cầu cơ của Ngài Ngô, chư vị bên nhóm Xây bàn đã được hướng dẫn và truyền lại một số bài kinh trong đó có kinh cầu cơ cùng nghi thức lập đàn thông công với Thần Tiên.

    Bà Chánh Phối Sư Hương Hiếu đã ghi lại trong Đạo Sử Xây Bàn I trang 36: “Xin quý ông nhớ ngày 2-1-1926 Thầy khởi dạy Đạo”. Và lời dạy Đạo đầu tiên của Đức Chí Tôn cho ba vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang từ lúc phôi thai của nhà đạo là những lời dạy về việc thủ cơ chấp bút. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển 1, ghi là đàn ngày 03 Janvier 1926.

    Thủ cơ hay là chấp bút phải để cho thần, tâm tịnh mới xuất Chơn Thần ra khỏi phách, đặng đến hầu Thầy nghe dạy:

    Khi chấp thủ thì tay tuân theo Chơn Thần nói lại mà viết ra, mường tượng như con đặt để, con hiểu đặng vậy… Còn chấp bút. Khi Thầy đến thì làm cho Thần con bất định một lát cho Thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết. Ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn Khôn, tinh thông vạn vật đặng.

    Trước khi thủ cơ hay là chấp bút, thì phải thay y phục cho sạch sẽ, trang hoàng tắm gội cho tinh khiết; rồi mới đặng đến trước bửu điện mà hành sự, chẳng nên thiếu sót mà thất lễ.(…)

    Kẻ phò cơ chấp bút cũng như Tướng Soái của Thầy để truyền Đạo cho thiên hạ. Các con đừng tưởng việc bút cơ là việc tầm thường... Vậy khi nào chấp cơ thì phải đợi lịnh Thầy rồi sẽ thi hành
    .”

    Trong khi bên nhóm vô vi chỉ sử dụng Độc đồng thì bên nhóm phổ độ lại thường xuyên sử dụng Song đồng âm dương mỗi khi thủ cơ, trừ khi chấp bút. Buổi đầu, cặp Đồng tử thường là 2 ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc. Về sau, Đức Chí Tôn ban ân cho thêm 5 cặp nữa .

    Về phần “chấp bút”, ngay từ những buổi đầu trong lịch sử nhà đạo ngoài cách chấp bút bằng “viết chì” viết chữ trên giấy, Đức Chí Tôn còn dạy sử dụng hình thức “chấp bút nhang” để Thầy họa phù trấn thần hay ban ân giải tà. Qua đây, hình thức Độc Đồng hiện diện trong phương cách thông công của Hội Thánh Tây Ninh. Về sau còn có thêm một dạng chấp bút khác với ngọn bút bằng gỗ được chạm khắc như cây bút viết mực tàu dài khoảng 2 tấc và đường kính khoảng 2cm, được sử dụng như Đại ngọc cơ thường dùng trong các đàn truyền pháp tu luyện.

    Từ khi có sự phân để hóa thành nhiều nhánh hầu tận độ nhân sanh kịp lúc với Thiên cơ, các ban Thông công của các Hội Thánh sau này trong Cao Đài thường được Ơn trên sử dụng Độc đồng hơn. Tuy nhiên trong một buổi lập đàn, có khi lại được Thiêng Liêng ban ơn cho lập cùng một lúc nhiều ban cơ với sự phối hợp phận sự của nhiều Bộ phận Thông công thuộc các đơn vị khác nhau. Đồng tử có thể vừa chấp cơ viết bóng cho vị Độc giả đọc đồng thời xuất khẩu cho bộ phận Điển Ký ghi chép. Thí dụ: trong Đại hội Chơn Giác Đồng Đăng tại Thánh tịnh Tam Thanh – Long An vào tháng 7 Quý Tỵ (1953) có 5 ban cơ thực hiện nhiệm vụ cùng một lúc.

  5. #15
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar

  6. #16
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar



  7. #17
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    LƯỢC SỬ NGHI THỨC BÁI LẠY

    Theo những tài liệu sử còn lưu lại, buổi ban đầu của nền Tân Tôn Giáo Cao Đài các vị Tiền Khai Đại Đạo thuộc Nhóm Phổ Độ còn rất bở ngở với nghi thức hành lễ.

    Sau khi Đức Chí Tôn vận chuyển cho hai Nhóm Vô Vi và Phổ Độ gặp nhau vào đêm mùng 9 tháng chạp Ất Sửu (22-2- 1926), Ngài Ngô Văn Chiêu đã hướng dẫn cho những người bạn đạo mới về cách thờ phượng Đức Cao Đài, một vài bài kinh và cách bái lạy lúc ban sơ.

    Như hiện nay, chúng ta thấy có sự khác biệt trong hình thức “chấp tay” giữa các tín hữu Cao Đài Vô Vi và Cao Đài Phổ Độ. Chư vị tu Chiếu Minh vẫn chấp tay theo Nhị Kỳ giống bên nhà Phật, còn chư vị bên Phổ Độ chấp tay ấn Tý.
    Theo thứ tự thời gian diễn tiến của các lời Thánh Ngôn liên quan đến lễ bái, chúng ta thấy lúc ban đầu các đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài Tiên Ông chưa biết đến cách bắt Ấn Tý và cách lấy dấu Tam Quy.

  8. #18
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    140
    luutunha's Avatar
    Chư vị tu Chiếu Minh vẫn chấp tay theo Nhị Kỳ giống bên nhà Phật, còn chư vị bên Phổ Độ chấp tay ấn Tý.

    Nhiều người có thắc mắc tại sao phai Chiếu Minh không chấp tay Ấn Tý thì có phải người Cao Đài không? Vì chỉ nhìn bên ngoài thì không rõ nên người ta nghĩ vậy, hơn nữa cách tu của Đức Ngô căn bản là " ẩn " không lập giáo - tu tại gia, nên bên ngoài không thấy ấn tý nhưng khi ngồi tu luyện thì lại " ẤN TÝ ".

  9. #19
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Trong Đạo Sử Xây Bàn, bà Chánh Phối Sư Hương Hiếu có ghi lại đoạn Thánh Ngôn ngày 18 tháng chạp Ất Sửu (31-1-1926) như sau:

    Cư, Tắc, Sang muốn theo anh con vào xem hội Minh Lý?
    Kỳ, có con Thầy mới cho ba đứa nó đi... Con chỉ những sự bái quị của Thầy buộc thế nào và cắt nghĩa cho nó hiểu...


    (Anh Phủ Kỳ: những sự bái quị bên Minh Lý lạy đủ 12 lạy, còn bên Tam Kỳ Thầy cho mỗi lạy 4 gật thì 3 lần đủ 12 lạy)
    Như vậy khi ấy, sau khi đi xem lễ bên Minh Lý Đạo, chư vị Tiền Khai Đại Đạo đã thực hiện nghi thức “bái quị” Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát như thế nào? Phải chăng chỉ là cách chấp hai tay như bên Phật rồi lạy Trời mà thôi?

    Lúc đầu cả 2 nhóm Vô Vi và Phổ Độ đều lạy Đức Chí Tôn chỉ có một lạy nhưng gật 12 cái. Chúng ta thấy hình thức bái lạy của phái Chiếu Minh vẫn được duy trì như lúc ban sơ, có ghi trong Kinh Cúng Tứ Thời phái Vô Vi, như sau:

    “(…) thắp năm cây nhang.
    Đứng ngay thẳng trước Thiên Bàn:
    Xá ngay giữa một xá và niệm Nam Mô Phật, xá bên tay trái một xá và niệm Nam Mô Pháp, xá bên tay mặt một xá và niệm Nam Mô Tăng.
    Kế đó quỳ xuống hai tay chấp năm cây nhang ấy để nơi ngực, niệm: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Niệm rồi xá một xá, đoạn đứng dậy đem nhang cắm nơi lư hương trên Thiên Bàn.
    (…) Xong rồi quỳ trước Thiên bàn lạy một lạy gật đầu sát đất 12 cái…


    Như vậy, cách lấy dấu Tam Quy đã được Đức Chí Tôn hướng dẫn cho chư vị tiền bối vào khi nào? Lâu nay đây là một câu hỏi chưa có lời giải.

  10. #20
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Chúng ta thấy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển không có ghi nhận việc này. Và câu hỏi này đã luôn hiện diện trong đầu của chúng tôi trong suốt nhiều năm.

    1. Lấy dấu Tam Quy:

    1.1. Cách lấy dấu Tam Quy lúc ban sơ
    Gần đây, nghe nói Tam Giáo điện Chi Minh Tân vẫn còn lưu giữ được tủ sách quý của Ngài Vương Quan Kỳ với nhiều đầu kinh sách đã được phát hành trong những năm đầu của Cao Đài giáo. Vào giữa tháng 9 năm Quý Tỵ (2013), chúng tôi đến xin phép để tìm tài liệu. Kết quả, chúng tôi đã tìm được một số kinh sách Cao Đài được xuất bản vào những năm cuối của thập niên 20 thế kỷ trước.

    May thay, trong quyển “Kinh Tang Tế và Cầu Siêu” xuất bản vào cuối năm Đinh Mão, đầu năm 1928, nơi trang 28 và trang 29 có đoạn Thánh Ngôn sau:
    Lễ Bái.
    Ngọc Hoàng Thượng Đế, tá danh Cao Đài Tiên Ông, Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, giáng cơ ngày 26 tháng chạp Ất Sửu 1925 , dạy lễ:
    Chấp hai tay để lên trán niệm: Nam mô Phật.
    Chấp hai tay để qua vai tả niệm: Nam mô Pháp.
    Chấp hai tay để qua vai hữu niệm: Nam mô Tăng.
    Chấp hai tay để trước ngực niệm: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
    Cúi lạy, tay trái bắt ấn Tý và gật đầu bốn lần và niệm: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
    Cũng còn quỳ đó, lạy đủ ba lần.


    Đối chiếu đoạn Thánh Ngôn này với hướng dẫn bái lạy của nhóm Vô Vi, phải chăng chúng ta có thể đi đến kết luận rằng lời dạy này đã được Đức Cao Đài hướng dẫn chung cho chư vị Tiền Khai của cả hai nhóm.

Trang 2/8
1 2 3 4 ... 8

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền