+Trả Lời Chủ Đề
Trang 5/5
1 ... 3 4 5
kết quả từ 41 tới 47/ Tổng số 47

Ðề tài: Những câu hỏi về Đạo?

  1. #41
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Bài viết
    506
    truongtam's Avatar
    Đệ hiểu hạ ngươn tam chuyển, còn thượng ngươn tứ chuyển là gì? Đệ mới nghe cụm từ này lần đầu, xin được giải đáp.
    Trân trọng.
    Tâm.

  2. #42
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    1.137
    hienhuu's Avatar
    Chào bạn truongtam ! Đạo thì có Tam-Nguơn chuyển thế gọi là Thượng, Trung, Hạ.
    Mà Địa cầu 68 chúng ta đang ở thì tuổi thọ là Thất-Chuyển, mà trong 1 chuyển thì nó có 3 Nguơn là Thượng, Trung, Hạ.
    Như hiện nay Tôn-giáo cho biết là chúng ta đang sống vào thời kỳ của Hạ-nguơn Tam-Chuyển mà hạ-nguơn lại phân ra làm 3 là Thượng hạ nguơn, trung hạ nguơn và hạ hạ nguơn là đúng vào thời kỳ của chúng ta hiện đang sống đây tức là thời kỳ của Hạ hạ Nguơn Tam-Chuyển tức là thời kỳ tận diệt để đi đến bảo tồn mà tái tạo lại đời Thượng Ngươn Tứ-Chuyển Thánh Đức.
    Như vậy trái Đất nầy tuổi thọ nó mới trung niên mà thôi chưa già lắm đâu vì 7 chuyển mà mới có giai đoạn cuối của chuyển thứ 3. Nếu mà nó đi tới giai đoạn trung nguơn Tứ-Chuyển thì nó mới đi được nửa đoạn đường thì tức là còn nửa đoạn đường như thế nữa thì trái đất phải bị tiêu hủy và thoát xác biến thành Địa-cầu 67 và cứ thế mà tiếp tục nâng cấp lên tới Đệ Nhứt Địa-Cầu . Do Đó mà thời kỳ nầy Trời mở Đạo tay bắt ấn tý kiết Quả tức hai tay ôm tròn như trái cây đã chín và nếu ai ngộ 1 đời Tu thì cũng đủ trở về cùng Thầy đặng vì Đây là Đại Ân xá, mà không cần phải đi từ 68 đến 67 và cứ thế cho tới Đệ Nhứt Cầu thì lâu lắm.
    Nói tóm lại mỗi Địa Cầu có Thất-Chuyển, và mỗi Chuyển thì có Tam-Nguơn là Thượng ,Trung, Hạ, và mỗi cái Thượng, Trung, Hạ lại chia thêm 3 phần nữa là ? Ví Dụ như Hạ-nguơn thì chia thêm 3 phần là Thượng Hạ-Nguơn; Trung Hạ Nguơn; Và Hạ Hạ-Nguơn, và Hạ Hạ-Nguơn của Chuyển thứ 3 nầy chính là giai đoạn chúng ta đang sống đây và cũng chính là thời đại của Nguyên-Tử Khí, của Bom Hạch-Tâm, của Hóa-Học, của Vi-trùng.../. Thân-Chào

  3. #43
    Tham gia ngày
    Apr 2010
    Bài viết
    213
    truonghuuduyen's Avatar
    Vì Kinh Dịch xuất phát từ thời vua Phục Hy bên xứ Trung Hoa, vận dụng Kinh Dịch mà lý giải các hiện tượng trong tự nhiên vũ trụ, nói như huynh truonghuuduyen là: Bát quái đồ chỉ dụng trong phong thủy như vậy theo đệ như vậy chỉ mới đúng có một ít (không phủ nhận là sai hoàn toàn). Theo đệ được biết, hiện tại Minh Lý Thánh Hội là một nơi học dịch lý tốt (có những bài thánh giáo dạy về Dịch Lý, các Quẻ, ứng dụng trong Cao Đài giáo ...) và các bài thánh giáo sưu tập của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, ngoài ra trong Cuốn Đại Thừa Chơn Giáo luận về Kinh Dịch và cách tu hành theo Dịch Lý rất nhiều và cao thâm. Còn nếu là kinh sách của Tòa Thánh Tây Ninh thì đệ chưa có duyên đọc được những cuốn sách nào dạy về dịch lý, duy chỉ có đọc qua tài liệu của tác giả - dịch giả Nguyên Thủy (tài liệu cá nhân). Nếu huynh tỷ nào có duyên đọc được các bài thánh giáo dạy dịch lý trong Cao Đài giáo xin cho truongtam đọc ké với. . Còn dẫn chứng của huynh dong tam đệ thấy đúng mà, có lẽ vì thiếu hình nên quý huynh tỷ chưa hình dung ra được: đệ xin góp sức tải lên một hình nhé:

    NÓI VỀ BÁT QUÁI THÌ QUÝ VỊ CỨ SO SÁNH











  4. #44
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Bài viết
    506
    truongtam's Avatar
    Xin cám ơn những hình của huynh truonghuuduyen đã upload lên diễn đàn để cho anh chị em nghiên cứu,
    Nhưng đệ tìm mãi mà không thấy các hình ấy nằm trong cuốn sách nào hay tài liệu nào, riêng hình của đệ được lấy trong tài liệu học tập của lớp Dịch Lý do Minh Lý Thánh Hội tổ chức.(tương ứng với các hình vẽ được lưu truyền từ rất xưa).
    Huynh có thể đưa ra nguồn dẫn chứng hay là tên của các hình vẽ để chúng đệ đối chiếu tìm hiểu,
    Xin được huynh chia sẽ sự hiểu biết
    Trân trọng.
    Bài viết của truongtam chỉ là tham khảo, có sai xót xin được chỉnh sửa và bổ sung.
    Đệ thấy huynh lại đổi "chữ ký", theo thiễn nghĩ của đệ: Tất cả dòng sông đều chảy ra biển ... mà không tự đánh mất chính mình, trái lại nó cùng hòa quyện vào nhau mà tạo thành dòng chảy lớn và mạnh. Rất vui khi được thảo luận cùng huynh.
    Tâm.

  5. #45
    Tham gia ngày
    Apr 2010
    Bài viết
    213
    truonghuuduyen's Avatar
    KÍNH HTDM DIỄN ĐÀN
    ĐỆ CÓ VÀI DÒNG VỀ BAT QUÁI..


    Tất cả quý hiền ai cũng có lúc chợt ước ao rằng một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống của quý hiền có thể diễn ra tốt đẹp hơn. Một khi chú tâm vào một lĩnh vực cụ thể nào đó, quý hiền thường có khả năng kích hoạt năng lượng để khiến mọi thứ diễn ra thuận lợi cho quý hiền.



    Bát quái đồ được xem như một công cụ để giúp quý hiền thực hiện được việc đó. Đồ hình bát quái này được phân chia thành tám cung đại diện cho tám lĩnh vực của đời sống: Quan Lộc, Tình Duyên, Gia Đạo, Tài Lộc, Quý Nhân, Tử Tức, Học Thức và Danh Vọng và mỗi khu vực lại có những đồ vật phát huy năng lực riêng của nơi ấy,để quý hiền có thể áp dụng với hy vọng rằng biết đâu quý hiền lại khai thác được cho chính mình một số điều “ảo diệu” trong thuật phong thủy.
    Những vật phát huy năng lực được sử dụng trong phong thủy với mục đích tập trung tinh thần.

    Ví dụ, quý hiền có thể tạo ra niềm tin cho rằng mình có khả năng ổn định điều gì đó trong cuộc sống bằng cách dùng những đồ vật nặng như đá hoặc tranh ảnh vẽ núi non. quý hiền có thể khai thông một tình huống “bế tắc” bằng cách tạo ra hoặc gián tiếp đề cập đến sự chuyển động, ví dụ, dùng nước hay những vật chuyển động khi có gió.
    Những hình ảnh được sử dụng phải có ý nghĩa với quý hiền, vừa cụ thể, nhìn là nhận ra ngay, vừa liên quan đến ý nghĩa tượng trưng của nó. Do đó quý hiền nên dùng những hình ảnh thuộc về đời sống văn hóa và kinh nghiệm riêng của mình. Nhưng cho dù dùng vật gì đi nữa, chúng cũng không được xung khắc với hành tương ứng với hướng đặt vật đó, mà ngược lại phải làm mạnh mẽ nó thêm nếu có thể.
    CUNG QUAN LỘC(Hướng Bắc)
    Cung Quan lộc liên quan tới những thành đạt trong cuộc đời quý hiền – hoặc trong nghề nghiệp hoặc trong đường đời. Điều này cũng có thể đánh dấu bước khởi đầu của một dự án. Vật phát huy năng lực: hình ảnh về sự chuyển động, một bức ảnh nói lên khát vọng, ví dụ ảnh một trường đại học hoặc tập sách giới thiệu về một công ty nếu quý hiền đang xin việc.
    CUNG TÌNH DUYÊN(Hướng Tây-nam)
    Tình duyên, gọi chung là các mối quan hệ, đóng vai trò thiết yếu trong đời sống quý hiền . Sống thân thiện với mọi người và nhận được hỗ trợ từ cộng sự, gia đình và bạn bè là yếu tố góp phần không nhỏ cho cuộc sống hạnh phúc của một người. Vật phát huy năng lực: hình một đôi uyên ương, hai bình cắm hoa hay hai chân nến, hình chụp chung bạn với người phối ngẫu hay chụp chung với một nhóm bạn, một tranh áp phích hay một tấm ảnh, hoặc một bộ sưu tập nào đó. Cây xanh được dùng để cải thiện khí, và các dải ruy-băng hoặc vật hứng gió sẽ giúp tạo sinh khí khi chúng chuyển động, với điều kiện gió nhẹ có thể thổi đến đây. Đừng sử dụng chúng nếu ở nơi kín gió.
    CUNG GIA ĐẠO(Hướng Đông)
    Môi trường gia đình, trong quá khứ hay hiện tại, chính là nơi hun đúc con người quý hiền, nơi tạo dựng cách ứng xử của chúng ta với thế giới xung quanh và sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống hạnh phúc của quý hiền. Vật phát huy năng lực gồm hình ảnh hay tư liệu về gia đình, và vật gia truyền.
    CUNG TÀI LỘC(Hướng Đông-nam)
    Cung Tài lộc chủ về tiền bạc và sự giàu có, nhưng nó cũng bao gồm sự phong phú của cuộc sống, sự thành đạt và sự tích góp các năng lượng có ích chung quanh ta. Vật phát huy năng lực: tiền cắc, cây xanh, chén bát rỗng và sự chuyển động, ví dụ một vật trang trí nội thất có nước.
    CUNG QUÝ NHÂN(Hướng Tây-bắc)
    Sự tương tác với người khác là một phần thiết yếu của cuộc sống, và khu vực này rất quan trọng. “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại” và “Gieo gì gặt nấy” là những kinh nghiệm sống có thể áp dụng ở mọi nơi, không phân biệt là ở phương đông hay phương tây. Nếu quý hiền sẵn lòng giúp đỡ người khác và cũng mong được người giúp lại thì đây là khu vực cần phải quan tâm. Những vật phát huy năng lực: điện thoại, danh bạ điện thoại và danh thiếp.
    CUNG TỬ TỨC(Hướng Tây)
    Không như cung Gia đạo, cung Tử tức (con cháu) thuộc về tương lai chứ không thuộc về giai đoạn nào trong quá khứ. Khu vực này cũng bao gồm các dự án riêng tư – nhiệm vụ hay công việc bạn nung nấu từ lúc nảy sinh ý tưởng cho đến khi hoàn tất nó. Vật phát huy năng lực: hình ảnh của con cái, chi tiết dự án, các thành tựu về nghệ thuật và các thành công khác của quý hiền
    CUNG HỌC THỨC(Hướng Đông-bắc)
    Đây là khu vực dành cho sự thông thái và học vấn, không thuộc về những thứ bị bắt buộc nhưng là thứ mà chúng ta tìm kiếm và có thể làm cho đời sống chúng ta thêm phong phú. Vật phát huy năng lực: sách, những câu danh ngôn được lồng khung và hình của thầy cô giáo.
    CUNG DANH VỌNG(Hướng Nam)
    Chữ danh vọng ở đây không có nghĩa là tiếng xấu mà là tiếng tốt được sự thừa nhận của nhiều người đối với một công trạng đã được hoàn thành. Vật phát huy năng lực: các loại văn bằng, các bài cắt ra từ báo, các thành tích.
    Thuật phong thủy không thể giúp quý hiền trúng số nhưng nếu quý hiền ra công làm việc và đi theo một con đường đạo đức và trung thực để đạt tới sự thành tựu bản thân thì sự kỳ diệu có thể sẽ đến với quý hiền. Nếu nó xảy ra, quý hiền có thể sẽ không muốn trúng số nữa và điều khác, có giá trị tưởng thưởng hơn, có thể đến tìm quý hiền.
    TRUNG TÂM CỦA BÁT QUÁI ĐỒ
    Trung tâm là khu vực đặc biệt. Trong nhà, đó là nơi những người trong nhà gặp nhau và nơi năng lượng kết tụ và chu lưu tiếp vì thế đây là nơi cần được quan tâm đặc biệt. Vị trí nơi này phải sáng sủa và thể hiện sự chào đón và tuyệt đối không nên để bừa bộn. Đừng chưng một bộ đèn gồm năm bóng tròn ở đây;quý hiền nên sử dụng các đèn bằng pha lê và thủy tinh vì chúng sẽ kích thích khu vực này tốt hơn nhiều. Một tấm thảm tròn thường đem lại hiệu quả tốt.
    ĐÚNG THỜI CƠ
    Phần đông trong quý hiền hẳn đã được nghe hay đọc các câu chuyện về những người áp dụng thuật phong thủy và thâu lượm được các kết quả tốt đẹp – một việc làm, một đứa con được mong mỏi đã lâu, hoặc một người bạn đời. quý hiền có thể bị mê hoặc mà rước thuật phong thủy vào nhà và bắt đầu thêm cái này, bớt cái kia ở mọi khu vực trong nhà với hy vọng đạt được sự mỹ mãn. Tuy nhiên, cuộc sống vốn không hoàn hảo và luôn thay đổi. Điều cốt tủy nên ghi nhớ đó là năng lượng ở các hướng thay đổi theo thời gian. Vì thế nếu quý hiền kích hoạt một khu vực đang có năng lượng tốt, sự việc sẽ không có gì đáng phàn nàn. Còn nếu quý hiền bỏ mặc những gì đã làm và không thay đổi gì khi năng lượng của khu vực này không tốt thì quý hiền sẽ tạo ra vấn đề đấy.
    Hãy ghi nhớ câu ngạn ngữ “Nếu không hư thì đừng vội sửa” và khi sử dụng những biện pháp có tính tượng trưng này thì nên lưu ý là các hướng la bàn và các hành tương ứng vẫn có ý nghĩa quan trọng.


    KÍNH HTDM...

  6. #46
    Tham gia ngày
    Apr 2010
    Bài viết
    213
    truonghuuduyen's Avatar
    KÍNH HTDM
    BÀI NÀY ĐỆ TRÍCH TỪ KHO SÁCH TÒA THÁNH TÂY NINH
    BAT QUÁI

    Bát: Tám, thứ tám. Quái: Quẻ, nghĩa là treo, vì khi xưa, văn tự thời thái cổ (trước Thương Hiệt) được khắc vào ngọc hay đá rồi đem treo trong các hang động. Quái được dùng làm những định pháp để quyết đoán sự nghi ngờ, chọn những quyết sách để dạy dân và đem khắc vào đá để lưu lại đời sau.
    Bát quái là tám quẻ. Bái quái đồ là một bức vẽ gồm tám quẻ xếp đặt trên tám cạnh của một hình bát giác đều.
    Mỗi quẻ của Bát quái có ba vạch liền hay đứt đoạn. Vạch liền tượng trưng Dương, vạch đứt đoạn tượng trưng Âm.
    Sách diễn giải Bát Quái và các quẻ do Bát quái biến hóa ra gọi là Kinh Dịch.
    Có 3 cách sắp đặt Bát quái trên Bát quái đồ:
    1. Thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, vua Phục Hy (2852-2737 trước Công nguyên) chế ra Bát quái để giải thích sự hình thành Trời Ðất, nên Bát quái ấy được gọi là Tiên Thiên Bát quái.
    2. Thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, vua Văn Vương (1136-1122 trước Công nguyên) nhà Châu biến đổi Tiên Thiên Bát Quái của vua Phục Hy để giải thích sự hình thành vạn vật, sau khi đã có Trời Ðất, do đó Bát quái do vua Văn Vương chế ra được gọi là Hậu Thiên Bát quái.
    3. Thời Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài, lập nên Tòa Thánh có Bát Quái Ðài để thờ phượng Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật. Bát quái đó do Ðức Chí Tôn đặt ra nên gọi là Cao Ðài Bát quái.
    Sau đây, chúng ta sẽ lần lượt trình bày ba kiểu Bát quái vừa nêu trên.

    I. Tiên Thiên Bát quái đồ:
    1. Tên và ý nghĩa của Tám quẻ:

    Vua Phục Hy căn cứ vào hai nguyên lý Âm Dương chế ra Bát quái, mà Âm Dương nầy do Thái Cực biến hóa tạo ra.
    Thái Cực được biểu thị bằng một vòng tròn:
    Nghi Dương được biểu thị bằng một vạch liền:
    Nghi Âm được biểu thị bằng một vạch đứt:
    * Ðem hai vạch Âm Dương chồng lên nhau thành từng đôi và thay đổi vị trí trên dưới giữa hai vạch ấy thì ta được 4 hình sau đây gọi là Tứ Tượng:
    Thái Dương Thái Âm Thiếu Dương Thiếu Âm
    * Nếu đem hai vạch Âm Dương đặt chồng lên nhau thành từng nhóm ba vạch và thay đổi vị trí trên dưới của chúng, ta được 8 hình sau đây, gọi là Bát quái:
    TT Quái Tên Hình tượng Thiênnhiên Thành phần Hình thức
    1
    CÀN
    Trời
    Con rồng
    3 Dương (thuầndương) Càn ba liền
    2
    ÐOÀI
    Ðầm
    Hơi nước
    2 Dương
    1 Âm
    Ðoài khuyết trên
    3
    LY
    Lửa
    Mặt Trời
    2 Dương
    1 Âm
    Ly rổng giữa
    4
    TỐN
    Gió
    Rừng
    2 Dương
    1 Âm
    Tốn đứt dưới
    5
    KHÔN
    Ðất
    Con trâu
    3 Âm
    (thuần âm)
    Khôn 6 đoạn
    6
    CHẤN
    Sấm
    Cây cối
    1 Dương
    2 Âm
    Chấn ngửa bát
    7
    KHẢM
    Nước
    Mặt trăng
    1 Dương
    2 Âm
    Khảm đầy giữa
    8
    CẤN
    Núi 1 Dương
    2 Âm
    Cấn úp chén
    2. Nguồn gốc của Bát quái:

    Ông Khổng An Quốc, một Nho gia đời nhà Hán có viết rằng: "Ðời vua Phục Hy có con Long mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà. Nhà vua quan sát thấy trên lưng của nó có những đốm đen trắng ở những vị trí đặc biệt, nhà vua ghi nhớ và vẽ lại thành một bức đồ gọi là Hà đồ, và từ Hà đồ nhà vua lập ra Bát quái." Vậy, nguồn gốc của Bát quái là Hà đồ và người lập ra Bát quái là vua Phục Hy.
    a). Vua Phục Hy (2832-2737) là vị vua thông thái thời thái cổ nước Tàu. Ngài tượng trưng cho ánh sáng mặt trời nên dân gọi Ngài là Thái Hạo. Ngài dạy dân đánh cá, chăn nuôi các giống vật dùng để tế Thần, nên còn gọi Ngài là Bào Hy. Ngài làm vua 95 năm, truyền lại 15 đời, tổng cộng 1260 năm.
    b) Long mã là loại thú linh, đầu rồng mình ngựa nhưng có vảy như rồng, xương cổ dài, cao lớn, mình không thấm nước. Long mã có đầu rồng tượng trưng Dương, mình ngựa tượng trưng Âm, nên Long mã là thú linh tượng trưng Âm Dương.
    Truyện thần thoại xưa chép lại sự xuất hiện của Long Mã trên sông Hoàng Hà như sau:
    Thình lình có một trận dông lớn nổi lên, nước sông Hoàng Hà dâng cao, giữa sông nổi lên một con quái, đầu rồng mình ngựa, đứng khơi khơi trên mặt nước. Dân chúng thấy lạ, cấp báo cho vua Phục Hy biết. Nhà vua liền đến nơi quan sát. Phục Hy là vị Thánh Ðế nên biết con quái ấy là Long mã, một loại thú linh biết hiểu tiếng người. Nhà vua phán: Nếu phải nhà ngươi đem vật báu đến dâng cho ta thì hãy lại đây. Long mã từ từ đi vào bờ, đến trước mặt nhà vua quì xuống. Vua Phục Hy thấy trên lưng Long mã có mang một cây kiếm báu và có một bức đồ gồm 55 đốm nhỏ đen trắng, vua ghi nhớ rồi gỡ lấy kiếm báu. Long mã liền đứng dậy đi ra khơi và biến mất.
    Mực nước sông Hoàng Hà trở lại như lúc bình thường.
    c) Hà đồ: Vua Phục Hy vẽ lại các đốm đen trắng thấy được trên mình Long Mã, tạo thành một bức đồ, gọi là Hà đồ. Ðồ là bức vẽ, Hà là sông Hoàng Hà. Hoàng Hà là một con sông lớn và dài ở Trung hoa, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, dài 8800 dặm, chảy ra biển Trung hoa.
    55 đốm đen trắng của Hà đồ tượng trưng những con số từ 1 đến 10, biểu thị Âm Dương: Các đốm trắng là những số lẽ: 1, 3, 5, 7, 9 tượng trưng Dương; các đốm đen là những số chẵn: 2, 4, 6, 8, 10 tượng trưng Âm.
    Lý do kỹ thuật, phần đồ hình chưa thực hiện được.
    Xin kính cáo.
    Dịch Hệ Từ Thượng viết: Trời 1 Ðất 2, Trời 3 Ðất 4, Trời 5 Ðất 6, Trời 7 Ðất 8, Trời 9 Ðất 10.
    Trời có năm số lẽ, là CƠ tượng trưng Dương. Cộng năm số lẽ nầy được 25: (1 + 3 + 5 + 7 + 9 = 25)
    Ðất có năm số chẵn, là NGẪU tượng trưng Âm. Cộng năm số chẵn nầy được 30: (2 + 4 + 6 + 8 + 10 = 30)
    Tổng cộng hai số của Trời Ðất, được 55: (25 + 30 = 55)
    Số 55 nầy biểu thị sự biến hóa vô cùng của Trời Ðất.
    3. Vua Phục Hy làm ra Bát quái thế nào?

    Ngày xưa, vua Phục Hy cai trị thiên hạ, ngẩng lên thì xem tượng Trời, cúi xuống thì nhìn hình trên mặt đất, xem các vẻ của chim muông, cùng những tiện nghi của mặt đất, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở mọi vật, lại quan sát cái tượng Âm Dương của Hà đồ, suy nghĩ sự biến hoá của Trời Ðất: Từ Thái cực là số 1 mới có Lưỡng nghi là số 2, từ số 2 mới có 3 và 4 tức là từ Lưỡng nghi mới có Tứ Tượng, rồi biến hoá ra số 5, 6, 7, 8, tức là tạo thành Bát quái, vv...
    Như vậy, việc phát minh ra Bát quái của vua Phục Hy là nhờ sự quan sát và suy luận của một bậc đại trí.
    Ðặt vị trí các quái theo phương vị, tiến hành như sau:
    Lý do kỹ thuật, phần đồ hình chưa thực hiện được.
    Xin kính cáo.
    CÀN là Trời (Dương), KHÔN là Ðất (Âm). Trời Ðất tức Âm Dương là gốc của muôn vật nên xuất hiện trước nhất.
    • CÀN thì ấm áp nên đặt ở phương Nam.
    • KHÔN thì lạnh lẽo nên đặt ở phương Bắc.
    Ấm và lạnh tạo ra hơi nước, sương mù, nên đặt ÐOÀI tiếp theo CÀN.
    Còn LY là lửa, là mặt trời thì đặt ở phương Ðông là hướng mặt trời mọc, nên đặt LY tiếp theo ÐOÀI.
    Hơi nước và khí nóng phát động tạo ra sấm sét, đồng thời giúp cây cỏ nẩy sanh, nên đặt CHẤN tiếp theo LY.
    Mặt đất thì lồi lõm, nơi cao thành núi, nên đặt CẤN kế bên KHÔN; còn nơi thấp thì nước đọng lại thành sông, biển, hồ, nên đặt KHẢM tiếp theo CẤN.
    Các chuyển động đều tạo ra gió, nên đặt TỐN sau cùng
    Ðó là Bát quái có đầy đủ: Trời Ðất, mặt trời mặt trăng, và Thủy Hỏa Phong.
    Phục Hy bố trí các quẻ theo hình tròn, đứng từ tâm điểm hướng ra ngoài, vì Phục Hy quan niệm Vũ trụ rộng lớn bao la đến đâu đi nữa nhưng khởi điểm vẫn ở trung tâm là Thái Cực.
    Trước khi có Âm Dương là thời Hỗn Ðộn (Hồng Mông) mờ mờ mịt mịt gọi là VÔ CỰC, rồi từ Vô Cực mới có THÁI CỰC, có Thái Cực mới có Âm Dương, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Bát Quái, rồi từ Bát quái mới biến hóa ra mãi để tạo thành CKVT và vạn vật.
    4. Ðặc điểm của Tiên Thiên Bát quái:

    Bát quái Tiên Thiên phân làm 2 phía, mỗi phía 4 quẻ.
    • Quẻ Dương là quẻ có hào Dương ở đáy (vạch liền ở dưới)
    • Quẻ Âm là quẻ có hào Âm ở đáy (vạch đứt ở dưới).
    • Bốn quẻ: Càn, Ðoài, Ly, Chấn thuộc Dương.
    • Bốn quẻ: Khôn, Cấn, Khảm, Tốn thuộc Âm.
    Các quẻ đối ngược với nhau từng đôi một xuyên qua tâm của vòng tròn: Hào Âm đối với hào Dương.
    • Quẻ CÀN đối với quẻ KHÔN,
    • Quẻ ÐOÀI đối với quẻ CẤN,
    • Quẻ LY đối với quẻ KHẢM,
    • Quẻ CHẤN đối với quẻ TỐN.
    II. Hậu Thiên Bát quái đồ:
    Vua Phục Hy đã lập ra Tiên Thiên Bát quái đồ, phát họa cả một thời gian dài của vũ trụ lúc khởi đầu còn là vô hình.
    Vua Văn Vương kế tục sự nghiệp đó, thiết lập Hậu Thiên Bát quái đồ, để mô tả giai đoạn biến hóa của vũ trụ vô hình qua hữu hình.
    Có Tiên Thiên Bát quái đồ mà không có Hậu Thiên Bát quái đồ thì quan niệm về vũ trụ chưa toàn diện, cũng như có Phục Hy mà không có Văn Vương thì Dịch lý còn thiếu sót.
    Văn Vương tham khảo ba đồ hình: Hà đồ, Tiên Thiên Bát quái đồ và Lạc Thư để thiết lập Hậu Thiên Bát quái đồ.
    Hà đồ và Tiên Thiên Bát quái đã trình bày ở phần trước.
    Còn Lạc Thư là gì ?
    Lạc Thư là sách có nguồn gốc ở sông Lạc, tức là sách ghi lại những nốt đen trắng trên lưng Thần qui xuất hiện ở sông Lạc, nơi vua Hạ Võ đang trị thủy. Do đó, Lạc Thư còn được gọi là Qui Thư. (Qui là con qui, giống như rùa; thư là sách).
    Hán nho Khổng An Quốc viết: "Ðời vua Hạ Võ có con Thần qui nổi lên ở sông Lạc. Nhà vua quan sát những nốt trên lưng qui, vẽ lại thành một bức đồ, gọi là Lạc Thư. Nhờ Lạc Thư, vua Hạ Võ thiết lập Hồng Phạm Cửu Trù."
    1. Lạc Thư:

    Sông Lạc phát nguyên từ tỉnh Thiểm Tây, chảy về hướng đông nam qua các đất Bảo An, Cam Tuyền, rồi hợp với sông Vị để cùng đổ vào sông Hoàng Hà.
    Thần qui là con rùa Thần, tức con rùa sống trên 5.000 năm, nên rất thiêng. Vua Hạ Võ đang trị thủy ở sông Lạc, thấy một con Thần qui rất lớn xuất hiện, có nhiều nhiều vết chấm đặc biệt trên lưng, đếm từ số 1 đến 9. Nhà vua theo đó sắp đặt thành Cửu Trù. Những vết chấm trên lưng Thần qui được ghi lại thành sách gọi là Lạc Thư hay Qui thư.
    Sau đây là biểu đồ của Lạc Thư:
    Lý do kỹ thuật, phần đồ hình chưa thực hiện được.
    Xin kính cáo.
    Lạc Thư mô phỏng theo hình lưng rùa, nên vuông, gồm 9 số, bố trí theo hình chữ TỈNH :
    Tổng cộng các chấm trên Lạc Thư là 45:
    (4 + 9 + 2) + (3 + 5 + 7) + (8 + 1 +6) = 45
    Số Dương là các số lẽ (số cơ) gồm 5 số, cộng lại là 25.
    1 + 3 + 5 + 7 + 9 = 25

    Số Âm là các số chẵn (số ngẫu) gồm 4 số, cộng lại là 20.
    2 + 4 + 6 + 8 = 20

    Theo biểu đồ của Lạc Thư, nếu cộng ba số theo hàng ngang, bất kỳ hàng nào; rồi cộng ba số theo hàng dọc, bất kỳ hàng nào; rồi cộng ba số theo hai đường chéo, ta thấy chúng đều bằng nhau và bằng 15.
    Do đó hình vuông của Lạc Thư được gọi là Ma phương, nghĩa là hình vuông kỳ dị như ma quái.
    Nhờ đặc tính kỳ lạ của Lạc Thư mà vua Hạ Võ đem ứng dụng để đặt ra Hồng Phạm Cửu Trù 洪範九疇 làm chuẩn mực cho việc cai trị Thiên hạ được trật tự, hòa bình và thịnh vượng. (Hồng phạm là khuôn phép lớn, Cửu trù là chín phương pháp gồm: Ngũ Hành, Ngũ sự, Bát chính, Ngũ kỷ, Hoàng cực, Tam đức, Kê nghi, Thứ trưng, Ngũ phúc, Lục cực.)
    Lý do kỹ thuật, phần đồ hình chưa thực hiện được.
    Xin kính cáo.
    2. Văn Vương lập Hậu Thiên Bát quái đồ thế nào?

    Khi vua Văn Vương bị vua Trụ nhà Thương (Ân) cầm tù 7 năm nơi Dũ Lý, Ngài để tâm nghiên cứu Hà đồ, Lạc Thư, Tiên Thiên Bát quái đồ của Phục Hy, để từ đó, Ngài thiết lập Hậu Thiên Bát quái đồ, phối hợp với Ngũ Hành, để giải thích vạn vật hữu hình trong CKVT.
    Vua Văn Vương sắp đặt tám quẻ theo một ước định về sự tương ứng giữa các hiện tượng thiên nhiên theo tứ thời bát tiết với tám hướng:
    Phương Bắc, mùa đông, tiết đông chí, khí trời giá lạnh, nước đóng thành băng, là hiện tượng Âm khí hãm Dương khí, nên Ngài lấy quẻ KHẢM có hình tượng hai hào Âm bao bọc một hào Dương đặt ở đó.
    Phương Nam, mùa hạ, tiết hạ chí, khí trời nóng, lửa dễ cháy, là hiện tượng Dương khí hãm Âm khí, nên Ngài lấy quẻ LY có hình tượng hai hào Dương bao bọc một hào Âm đặt ở đó.
    Phương Ðông, mùa xuân, tiết xuân phân, Dương khí ở trên giáng xuống, Âm khí ở dưới bốc lên, hai khí Âm Dương va chạm nhau thành tiếng sấm, nên Ngài lấy quẻ CHẤN có hình tượng hai hào Âm ở trên, một hào Dương ở dưới đặt ở đó.
    Phương Tây, mùa thu, tiết thu phân, khí trời hanh khô, dương khí chiếm hết mặt đất, nên Ngài lấy quẻ ÐOÀI có hình tượng một hào Âm ở trên, hai hào Dương ở dưới đặt ở đó.
    Phương Ðông Bắc, tiết lập xuân, Dương khí vừa thoát khỏi sự bao bọc của Âm khí, Ngài lấy quẻ CẤN có hình tượng một hào Dương ở trên, hai hào Âm ở dưới đặt ở đó.
    Phương Ðông Nam, tiết lập hạ, bắt đầu mùa gió chướng và mùa bão, đây là hiện tượng Dương khí lấn lướt Âm khí, Ngài lấy quẻ TỐN có hình tượng hai hào Dương ở trên, một hào Âm ở dưới, đặt vào đó.
    Phương Tây Nam, tiết lập thu, lúc nầy là vào mùa mưa, đây là hiện tượng Âm khí lấn lướt Dương khí, nên lấy quẻ KHÔN có hình tượng ba hào Âm đặt ở đó.
    Phương Tây Bắc, tiết lập đông, khí hậu lúc nầy là rất hanh khô, vạn vật trở nên cứng rắn, nên lấy quẻ CÀN có ba hào Dương đặt ở đó.
    III. Tương quan giữa Tiên Thiên Bát quái & Hậu Thiên Bát quái:

    Tiên Thiên là trước Trời, tức là trước khi thành hình vũ trụ hữu hình, lúc đó còn ở trạng thái vô hình, nên thuộc về Hình Nhi Thượng học, do vua Phục Hy hoạch định.
    Hậu Thiên là sau Trời, tức là vũ trụ đã có hình thể hữu vi, nên thuộc Hình Nhi Hạ học, do vua Văn Vương chủ trương.
    1. Ðứng về mặt không gian:

    Tiên Thiên là cái KHÔNG (Hư Vô) vĩ đại của vũ trụ lúc ban đầu, là cái ÐẠO hay cái LÝ gọi là Thái Cực, vô hình vô ảnh, vô thủy vô chung, được tượng trưng bằng một vòng tròn rổng.
    Hậu Thiên là cái CÓ (Hữu hình) vĩ đại của vũ trụ lúc đã thành hình cùng với vạn vật, thiên hình vạn trạng, được tượng trưng bằng Bát quái Hậu Thiên.
    2. Ðứng về mặt thời gian:

    Tiên Thiên là lúc từ vô thủy đến lúc có Âm Dương tác động sanh Ngũ Hành.
    Hậu Thiên là bắt đầu từ lúc có Ngũ Hành và Âm Dương hình thành vũ trụ và vạn vật cho đến vô chung.
    Như vậy, Tiên Thiên Bát quái và Hậu Thiên Bát quái chỉ là hai chặng đường trong quá tình diễn tiến của vũ trụ vạn vật từ vô thủy đến vô chung, mà trong đó các vấn đề: Xuất nhập, Hữu vô, Sanh diệt, đều do Thái Cực mà ra.
    Do đó, cái học về Tiên Thiên là cái học về TÂM, còn cái học Về Hậu Thiên là cái học về TÍCH. (Tích là dấu vết).
    3. So sánh phương vị của Tiên Thiên BQ và Hậu Thiên Bát Quái:

    Phương vị của Bát quái Hậu Thiên hoàn toàn thay đổi so với Bát quái Tiên Thiên, quẻ nào cũng bị đổi chỗ hết.
    Ở Bát quái Tiên Thiên, trục Nam Bắc do hai quẻ Càn Khôn trấn giữ, và trục Ðông Tây do hai quẻ Ly Khảm chế ngự.
    Ở Bát quái Hậu Thiên, trục Nam Bắc chuyển cho Ly Khảm, còn trục Ðông Tây chuyển cho Chấn Ðoài.
    Trong giai đoạn Tiên Thiên, sở dĩ trục Nam Bắc là Càn Khôn là vì Trời Ðất đóng vai trò chủ yếu trong công cuộc hình thành vũ trụ. Càn là Trời (Dương), Khôn là Ðất (Âm).
    Qua giai đoạn Hậu Thiên, vũ trụ thành hình xong thì Ngũ Hành đảm nhận vai trò quan trọng trong việc tạo ra muôn loài sinh vật.
    Trong Ngũ Hành (Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ) thì hai Hành THỦY và HỎA vượng khí nhất nên lãnh đạo ba Hành kia. Quẻ LY thuộc HỎA và quẻ KHẢM thuộc THỦY, nên LY KHẢM thay thế Càn Khôn để ngự trị trục Nam Bắc, khiến cho hai quẻ Càn và Khôn phải thay đổi vị trí.
    Trong Hậu Thiên Bát quái đồ, các quẻ đối xứng nhau qua trục Ðông Tây; còn trong Tiên Thiên Bát quái đồ thì các quẻ đối xứng nhau qua tâm điểm của Bát quái đồ.
    4. Chiết KHẢM điền LY: Chuyển Hậu Thiên Bát quái thành Tiên Thiên Bát quái:

    Lý do kỹ thuật, phần đồ hình chưa thực hiện được.
    Xin kính cáo.
    So sánh hai Bát quái đồ Tiên Thiên và Hậu Thiên:
    Theo trục Bắc Nam trong Bát quái Hậu Thiên, nếu thay quẻ KHẢM bằng quẻ KHÔN và thay quẻ LY bằng quẻ CÀN thì Bát quái Hậu Thiên trở thành Bát quái Tiên Thiên.
    Quẻ KHẢM khác quẻ KHÔN do nét giữa. Chiết KHẢM là bẻ gãy làm hai cái nét giữa của quẻ KHẢM thì nó biến thành quẻ KHÔN.
    Quẻ LY khác quẻ CÀN cũng do nét giữa. Ðiền LY là lấp đầy chỗ trống của nét giữa quẻ LY thì nó thành quẻ CÀN.
    Vậy chiết Khảm điền Ly là ý nói chuyển Bát quái Hậu Thiên thành Bát quái Tiên Thiên, tức là chuyển từ Hữu hình qua Vô hình.
    Trong phép luyện đạo, luyện cho Hậu Thiên trở thành Tiên Thiên, tức là luyện cho Hữu hình trở về Vô hình thì đắc đạo, thành Tiên, Phật tại thế.

    IV. Cao Ðài Bát quái:

    Bát Quái Ðài nơi TTTN là nơi để thờ phượng Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật.
    Bát Quái Ðài xây theo hình Bát quái tức là một hình tám cạnh đều nhau, mỗi cạnh là một quẻ, xây cao 12 bực, ngoài lớn trong nhỏ, làm như bực thang đi lên, tượng trưng Thập nhị Thiên (12 từng Trời), hình thức của nó cũng giống như Cửu Trùng Thiên đặt nơi Ðại Ðồng Xã trước Tòa Thánh, nhưng Cửu Trùng Thiên chỉ có 9 bực tượng trưng 9 từng Trời.
    Trên mặt cao nhứt của đài nầy có cẩn 8 cung Bát Quái.
    Thứ tự các quẻ trong Bát Quái Cao Ðài được Ðức Chí Tôn dạy trong Chú Giải PCT như sau:
    "Tòa Thánh day mặt ngay hướng Tây, tức là chánh cung ÐOÀI, ấy là Cung Ðạo, còn bên tay trái Thầy là cung CÀN, bên tay mặt Thầy là cung KHÔN.
    Ðáng lẽ Thầy phải để bảy cái ngai của phái nam bên tay trái Thầy, tức là cung Càn mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn đạo cho đủ Ngũ Chi nên Thầy buộc phải để vào Cung Ðạo là cung Ðoài cho đủ số. Ấy vậy, cái ngai của Ðầu Sư nữ phái phải để bên cung Khôn, tức là bên tay mặt Thầy."
    Các quẻ trong Bát Quái Cao Ðài có thứ tự giống như thứ tự các quẻ trong Bát Quái Hậu Thiên, nhưng lại chuyển theo chiều ngược lại.
    Thứ tự tám quẻ khởi đầu từ Càn: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài:
    • Bát Quái Hậu Thiên chuyển theo chiều kim đồng hồ.
    • Bát Quái Cao Ðài chuyển theo chiều nghịch kim đồng hồ.
    Bát Quái Hậu Thiên tượng trưng thời kỳ nhứt bổn tán vạn thù; Bát Quái Cao Ðài tượng trưng thời kỳ vạn thù qui nhứt bổn, nên có chiều quay ngược lại với Bát Quái Hậu Thiên.
    Trục Ðông Tây của Bát Quái Cao Ðài là Chấn Ðoài thì giống y trục Ðông Tây của Bát Quái Hậu Thiên.
    Trục Bắc Nam của Bát Quái Cao Ðài là Ly Khảm, ngược chiều với trục Bắc Nam của Bát Quái Hậu Thiên là Khảm Ly, để cho Thủy Hỏa trong hai Bát Quái đồ ký tế tương tác tức Âm Dương tương hiệp mà đắc đạo tại thế.
    Ngoài ra, trong dân gian, chúng ta còn thấy một loại Bát Quái đồ nữa gọi là Bát Quái đồ trừ tà, hay thường gọi là Bùa Bát Quái, người Tàu vẽ sẵn, bán ở các tiệm kiếng. Bát Quái đồ trừ tà, gồm các quẻ giống hệt Bát Quái Tiên Thiên, nhưng sắp thứ tự các quẻ theo chiều quay ngược lại.
    CKVT: Càn Khôn Vũ Trụ.
    TTTN: Tòa Thánh Tây Ninh.

    QUÝ HIỀN THAM KHẢO THEM TRANG WEST SAU

    http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/&index/a1.htm
    thay đổi nội dung bởi: truonghuuduyen, 07-06-2010 lúc 09:41 PM

  7. #47
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    1.137
    hienhuu's Avatar
    Nói về Cao-Đài Bát-Quái thì nó đặt biệt lắm là lấy Cung Đoài tức Cung Đạo làm Chủ có nghĩa là hễ là Đền-Thánh thì trước mặt là phải để Cung Đoài duy chủ và nếu là các Thánh-Thất mà có làm Cao-Đài Bát-Quái thì cũng phải để trước mặt là Cung Đoài mà không cần biết là nó hướng gì của La-Bàn như nam, bắc...
    Ở đằng trước mũi Thuyền Bát-Nhã có Cao-Đài Bát-Quái thì cũng phải để Cung Đoài hướng về trước mặt mũi thuyền.
    Tương tự như 3 cái Tháp Thượng-Phẩm, Hộ-Pháp, Thượng-Sanh ngó về thầy thì cũng phải để Cao-Đài Bát-Quái trước mặt cũng vẫn là Cung-Đoài mà Cung Đoài ý nghĩa của nó là nói lên sự tốt sự đẹp của Đạo nên Thầy mới nói ấy là Cung Đạo.
    Vậy Cung Đoài tức Cung Đạo của 3 cái Tháp Thượng-Phẩm Hộ-Pháp Thượng-Sanh ngó về đối diện với Cung Đoài tức Cung Đạo của Thầy thì đó là ý nghĩa Đạo đã gặp nhau tại Sân Đại-Đồng Xã tức cũng nhằm có ý nói rằng Nhơn-Loại gặp nhau tại Đại-Đồng mà dự Hội-Long-Hoa đó vậy và mình cứ hãy chờ đến Năm GIÁP-TÝ Sao khuê đã rạng; Lộ Ngũ Tinh trinh tượng thái hanh; Ơn trên vũ khí vân hành; kẻ thờ ký túy, người canh XUÂN-ĐÀI; Bản-đồ chẳng sót cho ai; Nghìn năm lại thấy mọi nơi vẹn-toàn.
    Nói về Cung Đoài theo Bát-Quái Hậu-Thiên nói về nhơn vật thì coi đó là một người thiếu nữ độ tuổi Xuân Thì tức là nói lên cái Đẹp của một người con gái không ai bằng.
    Còn Cung-Đoài theo Cao-Đài Bát-Quái là nói lên sự tốt, sự đẹp của Tạo-Hóa ấy là Cung Đạo đó vậy./. Thân-Chào

Trang 5/5
1 ... 3 4 5

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Những vần thơ!
    Bởi thanhthanh92 trong mục Thi - Văn - Nhạc - Họa
    Replies: 91
    Có Bài Mới: 18-01-2014, 12:34 PM
  2. Đố Vui :những câu đố cũ:D
    Bởi forever trong mục Đố vui
    Replies: 31
    Có Bài Mới: 11-03-2010, 09:56 PM