+Trả Lời Chủ Đề
Trang 1/3
1 2 3
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 24

Ðề tài: Kính mừng Lễ giáng sanh Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc - Năm Canh Dần 2010

  1. #1
    Tham gia ngày
    Apr 2010
    Bài viết
    29

    KÍNH MỪNG LỄ GIÁNG SANH ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC

    Chân dung Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc

    Đức Hộ Pháp ban phép lành.

    Giáng linh Hộ Pháp Di Đà
    Chuyển Cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.


    Trót đã ba năm, ở xứ người,
    Ðem thân đổi lấy phúc vui tươi.
    Ngờ đâu vạn sự do Thiên định,
    Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi.
    Nhớ tiếc sức phàm, thừa chống chỏi,
    Buồn nhìn cội Ðạo, luống chơi vơi.
    Rồi đây ai đến cầm Chơn Pháp,
    Tô điểm non sông Ðạo lẫn Ðời.

    Bài thài Đức Hộ Pháp
    Giáng-sinh vào tiết Đoan Ngọ
    1890


    1. Một thiếu niên diệu thường
    Vào tiết Đoan Ngọ (5-5) năm Canh Dần (21-6-1890), bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, thuộc làng Bình Lập, tại tỉnh lỵ Tân An (nay là Long An), một chơn linh giáng lâm trong gia đình ông Phạm Công Thiện, một công chức. Đó là Phạm Công Tắc (Theo giấy tờ hộ tịch thì Ngài sanh tại Bình Lập; và cũng được xác nhận trong quyển "Tiểu Sư Đức Hộ-Pháp Phạm Công tắc", xuất bản năm 1954 lúc Ngài còn sanh tiền ).Ngài sanh nhằm năm Thành Thái thứ hai, lúc bấy giờ, Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, do Pháp trực tiếp cai trị. Vì thế Nam Kỳ coi như một phần lãnh thổ của Pháp. Phủ Thống Đốc Nam Kỳ đặt tại Sài gòn.
    Ông Phạm Công Thiện kết hôn với bà La thị Đường, sanh được tám người con mà Ngài Phạm Công Tắc là người con thứ bảy. Song thân Ngài trước ở làng An Hòa, quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Vì là công chức, ông Phạm Công Thiện được đổi đến Long An.
    Thuở thiếu thời, Ngài Phạm Công Tắc là một thiếu niên khỏe mạnh, tư chất thông minh đỉnh ngộ. Có điều lạ, vì sanh nhằm ngày Khuất Nguyên trầm mình xuống sông Mịch La, cũng là ngày Lưu Thần, Nguyễn Triệu nhập Thiên thai, nên thỉnh thoảng Ngài ngủ thiếp đi như người chết, linh hồn lạc khuất đâu đâu, khiến cho huyên đường âu lo; nhất là bà cụ cố tỏ vẻ buồn rầu sợ Ngài mệnh bạc.
    Cảnh trạng Ngài chết đi sống lại như thế, cả làng xã đều biết (*). Người ta cố gắng lo thuốc thang cho Ngài, nhưng vốn tiền định, lâu lâu Ngài ngủ lịm đi đôi ba giờ, có khi kéo dài nửa ngày.
    ~~~~~~~~~~
    (Nhật báo Điện Tín số ra ngày 9/9/1911 có đăng tin "1 thiếu niên 19 tuổi sau khi đỗ tú tài thì đôi mắt tự nhiên lòa hẳn đi, kéo dài trong 1 tháng thì thiếu niên lâm trọng bịnh. Trong lúc mê sảng thiếu niên cho cho già biết là anh được Thiên tướng xuống đưa về Thiên đình chữa bịnh. Anh sẽ chết rồi 15 ngày sau mới sống dậy, miễn đừng đem xác chôn và ngày ngày vẫn cho anh uống 3 lần nước lạnh vào 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 8 giờ tối". Dẫn chuyện xảy ra ở Tân Châu (Châu Đốc) này để chứng tỏ chuyện thiếp đi của Ngài Phạm Công Tắc là chuyện thật )


    Năm 1896, đến tuổi cấp sách đến trường tiểu học, có lúc học chữ Nho, rồi sau theo học trường Chasseloup-Laubat (nay là trường Jean-Jacques Rousseau, đường Hồng Thập Tự, Sài gòn). Bằng hữu ai cũng thích Ngài vì tính tình khoan hòa, ưa họat động, nhất là nhiều sáng kiến, bày biện các cuộc chơi, hay đánh đổ một vài nhân vật trong lịch sử nước Pháp. Việc này khiến cho các bạn ái ngại xa lánh Ngài. Phong trào Đông Du (1904 - 1907) do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Minh chủ và hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng để nâng cao dân trí, bằng cách gởi các thanh niên du học ngoại quốc nhất là Nhật Bản.

    Tại Sài gòn, phong trào Đông Du do hai ông Gilbert Chiếu (tức Trần Chánh Chiếu) và Dương Khắc Ninh lãnh đạo. Các ông thành lập các Kinh Thương Hội như: "Minh Tân công nghệ" và khách sạn "Nam Trung" làm nơi lưu trú hội họp cho đảng viên. Ngài Phạm Công Tắc dù đang theo học năm thứ hai trường Chasseloup-Laubat, cũng lén bỏ học đến họp với anh em.
    Hai ông Gilbert Chiếu và Dương Khắc Ninh tập họp các đảng viên chia nhiều nhóm để xuất dương. Ba nhóm đã tới Nhật. Ngài được ghi tên vào nhóm thứ tư. Lòng Ngài như mở hội, bao nhiêu mộng hải hồ viễn phương kéo lũ lượt qua võng mô Ngài. Bút nghiên tạm xếp, hành trang sẵn sàng chờ ngày lên đường. Đùng một tiếng, phong trào bị khám phá. Mật thám Pháp đến tra xét cơ sở Minh Tân công nghệ. Ông Dương Khắc Ninh đã lẹ tay hành động, tiêu hủy tất cả hồ sơ và tài liệu nên không ai bị lôi thôi gì cả. Tuy nhiên mật thám vẫn chú ý, luôn luôn theo dõi, dò xét các nhà lãnh đạo và chính Ngài cũng bị chúng để ý và nhà trường lưu tâm. Buộc lòng Ngài phải nghĩ học về làng An Hòa (Tây ninh) tạm tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp. Khi tình hình êm dịu, Ngài lại lăn mình vào trường tranh đấu. Lần này Ngài hoạt động cẩn thận hơn, rồi tham gia viết báo như: Công luận, La Cloche Fêlée (Chuông rè) của Nguyễn An Ninh, La Voix Libre (Tiếng nói tự do) vv... Tờ Lục Tỉnh Tân Văn của ông Pierre Jeantet, ông Gilbert Chiếu làm chủ bút. Ngài cộng tác thường xuyên với tờ này vì là đồng chí. Hơn nữa, ông Chiếu ngấm ngầm làm cơ quan tuyên truyền chống Pháp và khích động lòng yêu nước của nhân dân rất đắc lực. Các bài "Thượng bất chánh, hạ tắc loạn" (đăng ngày 12/12/1907), bài "Dân tộc đoàn kết và thời đàm" (đăng ngày 23/01/1908) là những lời thẳng thắn cảnh cáo nhà cầm quyền Pháp. Khi ông Chiếu bị bắt, tờ báo đình bản, Ngài lại về quê.
    Vì ảnh hưởng cách mạng và các tiên Vương, về sau Ngài lập Báo Quốc Từ thờ Tổ Hùng Vương, bôn ba sang Nhật rước tro Cường Để, về Sài gòn rước linh vị Thành Thái và Duy Tân đem thờ nơi Báo Quốc Từ (gần chợ Long Hoa). Tất cả các sự việc đó để cho tấm lòng nuôi dưỡng ý chí các liệt sĩ bất khuất và di dưỡng vang bóng một thời của tuổi trẻ hào hùng.
    Âu cũng là thiên thơ dĩ định, mộng Đông Du không thành, bạn bè cùng chí hướng mỗi người mỗi ngã, Ngài chẳng lẽ ngồi đây nhìn quê hương mỗi ngày một thêm tan nát, hay chỉ còn biết làm bạn cùng cây cỏ gió trăng. Đêm rằm tháng Giêng năm Đinh Mùi, Ngài nằm trên sập kê trước nhà nhìn vầng trăng hư ảo mà khẽ ngâm bài "Nhân nguyệt vấn đáp", rồi tâm thần dần dần tê mê theo cơn gió nhẹ ru. Khi mở mắt ra Ngài thấy chan hòa một thứ ánh sáng huyền diệu mà Ngài đang lửng thửng đi trên đường bằng phẳng sạch sẽ và trắng như tuyết.
    Bỗng thấp thoáng đằng xa đi lại một vị sư già, mặc áo cà sa vàng, nét mặt từ bi và cất tiếng hỏi: "Em có nhớ qua không?". Ngài nhìn vị sư, chợt nhớ ra vội đáp: "Dạ nhớ".
    Vì năm lên mười tuổi theo học chữ Nho, thường hầu Thầy đi cân thuốc ở tiệm Đức Vọng, chợ Tây Ninh, Ngài đã gặp vị sư này bàn với thầy Ngài về tương lai Ngài như vầy: "Cậu bé này vào bậc siêu phàm, sự nghiệp vô cùng cao cả".
    Vị sư già đưa Ngài đến một tòa lâu đài, một màu trắng tinh "Một tòa thiên các ngọc làu làu" và bảo Ngài: "Em chờ ngoài này qua vào trong một chút nhé". Ngài chờ lâu quá không thấy vị sư trở lại, bèn vừa kêu vừa gõ cửa, vẫn không thấy ai trả lời. Ngài mới đi vòng quanh thấy nhà có tám góc và tám cửa đều giống nhau và đóng kín. Nhìn kỹ, Ngài mới nhận ra mỗi cửa đều có một con đường trắng chạy về phía chân trời xa. Trong lúc băn khoăn chưa biết chọn con đường nào, bỗng thấy phía có bóng đèn loé sáng, Ngài liền phăng tới, gặp một tòa nhà mà cửa vẫn đóng. Ngài gõ liên tiếp mấy tiếng, không thấy ai trả lời. Ngài bấn loạn, muốn thối lui thì một tiểu đồng xuất hiện và chỉ tay vào Ngài mà hỏi:
    "Anh có phải là anh Tắc không?".
    "Sao em biết qua?".
    Cậu bé mĩm cười: "Sao tôi lại không biết".
    Nói xong tiểu đồng tiếp: "Thầy gọi anh trong nhà".
    Ngài ngạc nhiên hỏi: "Thầy là ai hở em ?".
    "Rồi anh sẽ biết".

    Nói xong tiểu đồng bước vào nhà. Ngài bước theo gặp "con chó lông vàng" nằm chặn ngang đường, Ngài ngần ngại nên tiểu đồng giục: "Có gì mà sợ, nó không phải là chó nên chẳng cắn đâu. Anh cứ theo tôi đừng sợ gì cả." Ngài vừa bước qua, cửa từ từ đóng lại. Ngài và chú tiểu đứng trong hành lang rộng mênh mông. Theo chiều dài hành lang có năm phòng lớn, mỗi phòng có một cửa đều đóng. Chú tiểu đưa Ngài đến cuối phòng và dặn: "Anh chờ đây. Lúc nào Thầy kêu tôi sẽ cho anh hay". Chờ lâu quá sốt ruột, phần vì sợ con Kim Mao Hẩu (tức là con chó lông vàng), nên Ngài bạo dạn gõ cửa. Chú tiểu nghe tiếng gõ cửa gắt gỏng: "Anh làm gì rối thế? Anh nhát quá, thôi ở đấy mà chờ Thầy". Ngài ngắm xung quanh phòng, thấy dài đến 20 thước, rộng 10 thước, bốn mặt tường và nền nhà là một khối cẩm thạch phẳng liền cực đẹp. Từ ngoài một ông già cao lớn, mặc áo xanh, râu tóc bạc trắng bước vào, Ngài chấp tay xá. Nhìn kỹ, Ngài nhớ ra, ông già này là người đi với nhà sư mà Ngài đã gặp trong tiệm Đức Vọng độ nào. Ông đi thẳng lại chiếc ghế bành ung dung ngồi xuống và bảo Ngài: "Con ngồi xuống đi". Trước nhất, ông già hỏi thăm về gia đình, nhưng trừ người chị thứ tư đã mất thì không hỏi, làm Ngài ngạc nhiên vô cùng.
    Sau lúc phê phán từng người trong gia đình, ông già gọi tiểu đồng: "Con đem bánh cho anh con ăn".
    Tiểu đồng mang vào đặt trước mặt Ngài một đĩa bạc lớn, trên đựng đầy bánh bốc hơi thơm phức. Các bánh trong ngần như bột lọc, hình tròn, nửa đỏ nửa trắng, sắp theo hình nón. Ngài được ông già mời ăn và uống nước bằng tô lớn vàng ròng. Đợi Ngài ăn xong, ông già trầm ngâm nói:
    "Hôm nay con ăn hai cái bánh rưỡi và uống một tô nước. Những thứ đó sẽ ám hợp vào đời hành đạo của con sau này".

    Ngài tạ từ ông già, nhưng nhớ đến con Kim Mao Hẩu, Ngài vái xin con vật đó. Ông già tỏ vẻ ưng lòng và đáp:
    "Con cứ về đi, sau này nó sẽ xuống với con".

    Khi trở ra, Ngài bước lên lưng con Kim Mao Hẩu và đạp lên mông thì cánh cửa tự mở. Lúc đến tòa lâu đài tám góc, tiểu đồng ra từ tạ:
    "Bây giờ em chưa thể cùng đi với anh được. Sau này Thầy sẽ cho em xuống với anh. Thôi anh về đi".

    Ngài sực nhớ đi chơi lâu quá, vội chạy nhanh về, vô ý vấp phải mô đất, té lộn đi một vòng. Ngài giựt mình tỉnh dậy, thoang thoáng bên tai tiếng kêu khóc vang vầy, mở mắt ra thấy mọi người tấp nập chung quanh mình. Kẻ thì kéo tóc, người thì giật tay, gọi tên ầm ĩ. Ngài chờn vờn ngồi dậy nói như trong mơ: "Con chó của tôi đâu rồi?". Người người ngơ ngác, nhưng Ngài lại nhớ đến con Kim Mao Hẩu trong giấc mộng dài diện kiến Thiên Cung. ập Thật ra, đây không phải là một giấc mộng mà là một cuộc xuất hồn của một chơn linh hiển đạo. Cuộc vân du này, năm 1927, Đức Ngài viết thành quyển "Thiên Thai Kiến Diện" đúng hơn là "Tam thập lục thiên hồi ký" mà bài số 75 gần như gom ý cuộc hội kiến với Đức phân thân Đức Cao Đài mặc áo xanh nói trên:
    Bài 75
    Xa trông cảnh vật đã xây tròn,
    Bát hướng Đài ngưng thấy nước non.
    Động cũ Thần Tiên còn để dấu,
    Chùa xưa Phật Tích nát hư mòn.
    Chấp Kinh Khổng sĩ nho phong dõi,
    Nắm nghiệp Đào quân nhấp thuốc khôn.
    Nẻo Thánh tuy quên tay đẩy cỏ,
    Nền Văn miếu thấy khói hương còn.

    Trong cuộc vân du kể trên, trước hết Ngài gặp vị sư già mặc áo vàng (biểu tượng Đạo Phật), ông già mặc áo xanh (biểu tượng Đạo Lão) đó là nhân vật chính Đức Hồng Quân Lão Tổ phân thân của Đức Cao Đài. Đĩa bánh bạc màu trắng (màu Đạo Cao Đài) đựng những chiếc bánh hình tròn (biểu tượng Trời hay Thái Cực) có hai màu đỏ và trắng (biểu tượng Âm Dương) tức Thái cực sanh lưỡng nghi. Âm Dương hay Khôn Càn là đầu mối sinh biến sinh ra vạn vật. "Đạo vốn chỉ một Âm một Dương mà thôi..., có cái gì thích hợp mà chẳng một Âm một Dương(Trần Thúc Lượng, Tống nguyên học án. quyển 3, trang 643 ).
    Ngài được uống một tô nước cam lồ. Theo Dịch lý mọi việc khởi đầu ở cung Tý (Thủy) tức Thiên khai ư Tý, 12 giờ đêm thuộc Thiếu Dương số một, ứng vào quẻ Phục (biểu tượng phục hưng nền Đạo mới).
    Thật sự, Ngài chỉ ăn có hai cái bánh, cái bánh thứ ba chỉ ăn nhưn mà bỏ vỏ hàm ý chỉ gom lấy cái tinh hoa của các Đạo mà bỏ những điều cặn bã, phản tiến hóa. Ông già áo xanh nói: "Con ăn hai cái bánh rưởi và uống một tô nước.
    Những thứ đó sẽ ám hợp vào đời hành đạo của con sau này". Nếu Ngài ăn đủ ba cái thì xong không còn gì để nói. Như vậy không phù hợp với đạo Âm Dương: "Sinh rồi lại sinh". Thế nên Ngài chỉ ăn có hai cái rưởi mà lại " ám hợp vào đời hành đạo sau này", tức là chưa xong. Cuộc đời, trường đời, việc Đạo là hỏa thủy vị tế (quẻ Ly trên, quẻ Khảm dưới). Đó là quẻ thứ 64 trong Kinh Dịch, quẻ 63 ký tế mà quẻ 64 lại bắt đầu biến hóa. Trường đời, việc Đạo biến hóa vô thường, Ngự Mã Thiên Quân phải đối phó để giữ vững thuyền Đạo lướt qua những cơn sóng dữ và đá ngầm của biển cả. Đó là lời tiên tri của ơn Trên:
    "Muốn giàu Thầy hứa đem cho của, Cái của cái công phải trả đồng"
    (Xem hình "Ngôi mộ tổ nhà họ Phạm).


    Sau đây, chính Đức Ngài kể lại về thời thanh thiếu niên của mình:
    "Bần Đạo thứ tám, còn con em thứ chín ở trong cái ổ nghèo, ổ rách. Mấy anh chị họ lớn hơn, lập nên danh. Kẻ có chồng, người có vợ chỉ có Bần Đạo chưa biết gì hết chỉ biết thương nhau mà thôi, thương cha có công sanh dưỡng, thương mẹ bảo trọng gia đình lo tảo tần nuôi con, thương anh em trong gia đình, duy có biết thương mà lo học, sợ không học ông bà buồn rầu..."
    "Cha đã chết hồi Bần Đạo mới 12 tuổi, chỉ ở với mẹ. Thương mẹ sợ mẹ chết nữa không biết ở với ai? Ở tỉnh Tây Ninh, người ta thường chôn đám xác vào ban đêm. Khi ngủ nghe họ hò giựt mình dậy mò kiếm bà già. Bà già hỏi con làm gì vậy? Con nghe người ta đưa đám xác, con sợ mẹ chết quá. Cũng vì sự thương yêu, được 17 tuổi quyết định ra làm việc để trả hiếu cho mẹ".
    "Lúc ấy Bần Đạo đã thi đậu, nếu ra làm việc với hãng buôn ăn lương lớn mà không biết nuôi mẹ được không? Người anh rễ nói "Em làm việc hãng buôn tư không có danh dự gì hết". Bần Đạo nghe lời nên xin làm việc ở sở nhà nước, làm việc mỗi tháng lương 70-80 đồng, ăn xài cũng còn dư một đôi chục bạc để nuôi mẹ. Đến chừng lương còn 20 đồng một tháng, lúc đó thiếu nợ lại thêm một bà vợ nữa, công việc bối rối không biết bao nhiêu, tới chừng đó không còn lo cho mẹ nữa. Trong gia đình, khi đó chưa tạo được hạnh phúc thì bà mẹ đã chết" "Năm Bần Đạo được 22 tuổi, đau đớn biết bao nhiêu, chỉ biết lo một điều là lo lập thân danh đặng nuôi mẹ bảo trọng anh em. Đến chừng thành danh rồi khổ đáo để, cha mẹ đã khuất hết, dẫu thương bao nhiêu cũng không còn, lại tai ác nữa là vợ con gia đình sanh đẻ mãi, đâu có lo bên ngoài được nữa, khởi thống khổ tâm hồn. Tới chừng cao sang sung sướng ngó lụng lại không thấy cha mẹ. Hai Đấng ấy đã chết hết, thôi mình đeo theo anh em. Em chết nữa, lần lượt bao nhiêu người thân ái cũng đều chết hết. Bao nhiêu cái thương nồng nàn chỉ để nơi một người anh rễ, thương hơn anh ruột. Người em thứ chín là người bạn thân mến trong kiếp sanh của Bần Đạo mà đã qui liễu. Tới chừng ấy tâm hồn ngơ ngẩn, xác thịt bơ thờ, nghe tiếng chim, tiếng hát của mấy em cấy lúa, nghe tiếng hò của người chèo ghe cũng nhắc tới nỗi đau thương.
    Từ ngày ấy không buổi nào vui chỉ muốn tu, muốn tìm cảnh tu. Hễ biết tu, thì biết Đạo rồi biết dìu dắt anh chị em tới tình yêu thương nồng nàn"(Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Tây Ninh 1970, trang 76-77 ).
    Trích "Chân dung Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc" của Hiền Tài Trần Văn Rạng
    Đạo cao thâm, Đạo cao thâm.
    Cao bất cao, thâm bất thâm.
    Cao khả xạ, hề thâm khả điếu.
    Cao thâm vạn sự tại nhân tâm.

  2. #2
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    20
    caodo's Avatar

    Hộ trì sanh chúng thoát binh đao
    Pháp chuyển cơ Đời quy cội Đạo
    Phạm môn nẻo Phật khơi tâm ái

    Công bình Thiên Đạo phẩm vị cao
    Tắc khổ khai thông mối Đạo nhàn
    Lưu truyền hậu thế hưởng bình an
    Thiên thơ định sẵn cơ nhân quả
    Sử nhân... hoài niệm vẫn nghẹn ngào.

    Trung Từ kính tệ bút gửi đôi dòng thương nhớ Tôn Sư

    ( sau khi đọc được reply của QTV1,tiểu đệ xin chuyển bài thơ này qua chuyên mục khác trong thoi gian tới)

    thay đổi nội dung bởi: caodo, 15-06-2010 lúc 11:19 AM
    TRUNG DUNG DUYÊN PHẬN DO THIÊN ĐỊNH
    TỪ ÁI ĐẠO TÂM TẠI CHÍ THÀNH.
    ------------------
    Bốn bể năm châu cũng một nhà
    Vạn đường thiên lý cũng về Cha
    Nghĩa nhân xin vẹn đường tu bước
    Cửu phẩm thần tiên, Nhơn gắng qua.
    TRUNG TỪ(23/4/Canh Dần)

  3. #3
    Tham gia ngày
    Apr 2010
    Bài viết
    29
    Xin thành tâm đồng nguyện:
    NAM MÔ TAM CHÂU BÁT BỘ HỘ PHÁP THIÊN TÔN
    Ban phép lành: Toàn Đạo bình an, sanh chúng thoát ách tiêu tai, hằng trì chánh pháp, thế giới an lành, hòa bình hạnh phúc. Cửu Huyền Thất Tổ siêu thăng tịnh độ.
    Bài vọng cổ: Hoài niệm Đức Hộ Pháp
    Xin quý HT thân tâm an lạc.
    http://hathaykhongbanghayhat.org/node/2069
    Đạo cao thâm, Đạo cao thâm.
    Cao bất cao, thâm bất thâm.
    Cao khả xạ, hề thâm khả điếu.
    Cao thâm vạn sự tại nhân tâm.

  4. #4
    Tham gia ngày
    Apr 2010
    Bài viết
    213
    truonghuuduyen's Avatar
    KÍNH HUYNH TY ĐỆ MUỘI
    ĐỆ XIN ĐĂNG TÀI LIỆU SAU ĐỂ TẤT CẢ CHÚNG TA CÙNG SUY GẨM
    CẢM ƠN QUẢN TRỊ VIÊN1 ĐÃ CHO ĐỆ HIỂU THÊM CHÚT ÍT NỮA

    Giáo: Dạy, truyền dạy, tôn giáo. Chủ: người sáng lập và làm chủ.
    Giáo chủ là người sáng lập và làm chủ một tôn giáo.
    Giáo chủ của Phật giáo là Đức Phật Thích Ca, những vị kế truyền cầm đầu Giáo Hội Phật giáo được gọi là Tổ Sư.
    Giáo chủ của Thiên Chúa giáo là Đức Chúa Jésus (Gia Tô Giáo Chủ), những vị kế truyền cầm đầu Giáo Hội Thiên Chúa giáo ở La Mã được gọi là Giáo Hoàng.
    Trong Đạo Cao Đài, hai phẩm Chức sắc lớn nhứt là Giáo Tông và Hộ Pháp. Đức Giáo Tông không phải là Giáo chủ của Đạo Cao Đài; cũng như Đức Hộ Pháp không phải là Giáo chủ của Đạo Cao Đài.
    Vậy ai là Giáo chủ của Đạo Cao Đài?
    Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế đã giáng cơ sáng lập Đạo Cao Đài, nên Đức Chí Tôn là Giáo chủ.
    Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài với hình thể 3 Đài có sự phân quyền rất rõ rệt, gồm:
    • BQĐ cai trị phần hồn, do Đức Chí Tôn chưởng quản.
    • CTĐ cai trị phần xác, do Giáo Tông chưởng quản.
    • HTĐ làm trung gian liên lạc giữa BQĐ và CTĐ, và nắm giữ Pháp luật, do Hộ Pháp chưởng quản.
    Để phòng tránh sự độc tài và lộng quyền, Đức Chí Tôn lấy quyền Giáo chủ phân ra làm hai: một nửa giao cho Giáo Tông và một nửa giao cho Hộ Pháp. Khi Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp lại, đồng ký tên ra lịnh một điều gì thì đó là quyền của Giáo chủ, tức là là quyền của Đức Chí Tôn, tất cả đều phải tuân mạng, bất tuân là phạm Thiên điều.
    Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên, vì tình hình nền Đại Đạo đang gặp cơn khủng hoảng khó khăn, nên Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch giao quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Đức Phạm Hộ Pháp, để dễ bề đối phó các khó khăn và điều hành nền Đạo. Lúc đó Đức Phạm Hộ Pháp là Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng, nên quyền của Đức Hộ Pháp bấy giờ là quyền Chí Tôn tại thế, tức là quyền Giáo chủ tại thế của Đạo Cao Đài. (Quyền Giáo chủ thiêng liêng vẫn do Đức Chí Tôn nắm giữ).
    Do đó, Đức Phạm Hộ Pháp đôi khi xưng mình là Giáo chủ (tại thế) của Đạo Cao Đài.
    BQÐ: Bát Quái Ðài.
    HTÐ:
    Hiệp Thiên Ðài.
    CTÐ: Cửu Trùng Ðài.


    ĐƯỜNG DẪN : http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/

  5. #5
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Giáo Chủ có 2 nghĩa:

    1. Là người sáng lập một tôn giáo.(theo cách hiểu truyền thống) = GIÁO CHỦ
    2. Là người đang đứng đầu một tôn giáo. Thí dụ: gọi Giáo Hoàng là Giáo Chủ

    CAO ĐÀI hay DDTKPD có:
    1. GIÁO CHỦ: là Cao Đài Giáo Chủ tức Ngọc Hoàng Thượng Đế dạy thờ Thiên Nhãn và bắt Ấn Tý
    2. NGÔI HAI GIÁO CHỦ: Đức Ngô Minh Chiêu xưng danh sau khi thoát xác, con mắt trái mở (ấn chứng)
    3. Ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc xưng là Giáo Chủ của Cao Đài Tây Ninh khi Chưởng Quản Nhị hữu hình đài = Giáo Hoàng (chấp tay theo Nhị Kỳ của nhà Phật; xem hình thấy rất rỏ không có bắt ấn Tý)
    Sau khi ông thoát xác, Đức Ngài nhiều lần về giáng cơ tại Cung Đạo Tòa Thánh Tây Ninh xưng danh trở lại là Hộ Pháp chứ không còn xưng là Giáo Chủ như khi còn sống vì Ngài đã biết ai mới thật sự là GIÁO CHỦ.

  6. #6
    Tham gia ngày
    Nov 2006
    Bài viết
    85
    Xin kính mừng ngày sinh nhật của Đức Phạm hộ pháp.
    Kính mừng.


    Nguyên văn bởi CAO ĐÀI TỰ ĐIỂN
    Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên, vì tình hình nền Đại Đạo đang gặp cơn khủng hoảng khó khăn, nên Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch giao quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Đức Phạm Hộ Pháp, để dễ bề đối phó các khó khăn và điều hành nền Đạo. Lúc đó Đức Phạm Hộ Pháp là Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng, nên quyền của Đức Hộ Pháp bấy giờ là quyền Chí Tôn tại thế, tức là quyền Giáo chủ tại thế của Đạo Cao Đài. (Quyền Giáo chủ thiêng liêng vẫn do Đức Chí Tôn nắm giữ).
    Do đó, Đức Phạm Hộ Pháp đôi khi xưng mình là Giáo chủ (tại thế) của Đạo Cao Đài.
    Kính HTDM,
    Theo diễn giải của Đạo huynh Nguyễn Văn Hồng thì Đạo Cao Đài chúng ta có 2 Giáo chủ:
    - Giáo chủ vô vi là Thầy.
    - Giáo chủ hữu hình là Đức Hộ pháp.
    Học trò nghĩ hoài không ra:
    1. Thầy đã không giữ lời khi nói "không giao chánh giáo cho tay phàm nữa". Đọc lại hoài không thấy thánh ngôn do Thầy giáng dạy giao cho ai cả. Sau đó, huynh Nguyễn Văn Hồng có nói thêm câu kết: Do đó, Đức Phạm Hộ Pháp đôi khi xưng mình là Giáo chủ (tại thế) của Đạo Cao Đài. (nguồn: Cao Đài Tự Điển).
    Suy luận như vậy không biết đúng không:

    Vậy thì Thầy vẫn giữ lời: Không giao chánh giáo cho tay phàm.

    Việc "giao" là của Thầy còn việc "xưng" là của con người - hữu hình.


    2. ....
    Suy nghĩ đến giờ vẫn chưa thấy cơ bí nhiệm tiềm tàng của hữu hình đâu cả, mong được chỉ giáo .

    Kính HTDM.
    Học trò

  7. #7
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    1.137
    hienhuu's Avatar
    Bạn truonghuuduyen nói chính xác lắm !
    Bạn dongtam nói chưa đúng lý ! chỉ đúng điểm 1 mà huynh nói.
    Điểm 2 thì khi tại thế Đức Ngô không phải là Giáo-Chủ của Đạo Cao-Đài thì khi về Thiêng-Liêng vẫn là Đức Chí-Tôn là Giáo-Chủ chớ không phải là Đức Ngô như QTV1 đã từng nhắc nhỡ.
    Điểm 3 khi còn tại thế trong thời gian Đức Lý Giáo-Tông đã giao nửa quyền phần xác của Quyền Giáo-Tông lại cho Hộ-Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài tại thế thì lúc đó Đức Hộ-Pháp trong giai đoạn đó mới xưng là Giáo-Chủ để thay quyền Giáo-Chủ của Đức Chí-Tôn tại thế. Nhưng khi thoát xác về Thiêng-Liêng thì Giáo-Chủ vẫn là Đức Chí-Tôn.
    Còn xem hình mà thấy chấp hai tay đó là Đạo có ba nguơn: Thượng, Trung , Hạ thì đến Trung Ngươn Đức Hộ-Pháp mới :
    " Đến Trung-Nguơn bắt ấn Hiệp-Chưởng biến hóa, Gián-Ma Xử để nằm ngang, đuôi bên Thế, cán bên Đạo, ý nghĩa Đạo cầm cán trị Đời. Bắt ấn Hiệp-Chưởng, cầm cả cơ pháp của vạn-vật biến sanh đặng bảo tồn không cho tương tranh, tự diệt nhau." ( trích trong Q TĐ 2 của ĐHP trang 27 )
    Nếu nói Giáo-Chủ của Tôn-Giáo Cao-Đài thì phải là Giáo-Chủ chớ không có phân ra Giáo-Chủ Cao-Đài Tây-Ninh ? Mà Đức Hộ-Pháp trong giai-Đoạn đó đã cầm Quyền Giáo-Chủ Cao-Đài tại mặt thế. Nhưng khi trở về Thiêng-Liêng thì Đức Chí-Tôn vẫn là Giáo-Chủ. Để chép lại bài thi khoán Thủ: Hộ-Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài mà Đức Lý đã ban cho:

    HỘ giá Chí-Tôn trước đến giờ,
    PHÁP luân thường chuyển máy Thiên-Cơ.
    CHƯỞNG quyền Cực-Lạc phân Ngôi-Vị,
    QUẢN xuất Càn-Khôn định cõi bờ.
    NHỊ kiếp Tây-Âu cầm Máy Tạo,
    HỮU duyên Đông-Á nắm Thiên-Thơ.
    HÌNH hài Thánh-Thể chừ nên Tướng,
    ĐÀI trọng Hồng-Ân gắng cậy nhờ./.

  8. #8
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    1.137
    hienhuu's Avatar
    Bạn họctrò lại còn hỏi !
    Hộ-Pháp là Hộ-Pháp về phần Hữu-Hình với Vô-Vi vẫn là Hộ-Pháp.
    Từ khi Đức Chí-Tôn chọn người có Chơn-Thần phù hạp như Ngài Phạm Công Tắc thì Đức Chí-Tôn mới hành pháp trục thần cho Hộ-Pháp hòa vào làm một mà giáng linh Hộ-Pháp Di-Đà thì là Hộ-Pháp tại thế, khi trở về thiêng liêng thì cũng vẫn là Hộ-Pháp có nghĩa là cả Hữu-Hình và Vô-Vi thì Hộ-Pháp vẫn nắm Quyền./.

  9. #9
    Tham gia ngày
    May 2010
    Bài viết
    44
    Hoàn Không's Avatar

    Kính
    Là Tín-Đồ Đạo Cao-Đài thì phải biết Đức Ngô Minh Chiêu là chơn linh một vị Phật hạ phàm . Nhưng từ ngày Đức Ngài không nghe lời dạy của Đức Chí Tôn mà từ chối Ngôi vị Giáo-Tông thì phải suy-xét . ( Ở thế nầy con cải lời Cha, Mẹ, mình hiểu Đạo, mình có chơi với người đó không ? )
    Nhưng, tại sao Đức Chí Tôn truyền Bí-Pháp cho Ngài đặng Ngài luyện Đạo mà Phục hồi Ngôi vị ? ( Bí-hiểm là chổ nầy ??? )
    Ôi ! cơ khảo đạo cả tâm phàm lẫn Thánh chất .
    Kính


  10. #10
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    1. Huynh hienhuu

    Bên Thiên Chúa Giáo, Đức Jesus được xem là NGÔI HAI = là con của Đức Chúa Trời.(GIÁO CHỦ)

    Đức Ngô Minh Chiêu sau khi thoát xác, đắc vị, khi được xưng danh NGÔI HAI GIÁO CHỦ có Tam Giáo Đạo tổ giáng cơ chúc mừng

    Ngài Hộ Pháp có chơn linh là Hộ Pháp VI ĐÀ chứ không là HP Di Đà

    2. Chúng ta luôn ghi nhận công đức RẤT LỚN LAO của đức Hộ Pháp với DDTKPD, tuy nhiên việc một số chư tín đồ Cao Đài Tây Ninh đã "Thần Thánh hóa" Ngài như vị Phật sống thì có nhiều tín hữu Cao Đài Tây ninh cũng như Cao Đài nơi khác và cả nhiều người ngoại đạo e rằng không phải như thế!

    Nếu Ngài là Phật sống đã đắc đạo tại thế thì làm sao nhà cầm quyền Pháp có thể bắt đày đi ra đảo Madagascar xa tít mù vào đầu thập niên 40 hay giữa thập niên 50 phải "tránh nạn" sang Campuchia mới thoát được việc truy bắt của tay chân Ngô Đình Nhu và kết thúc cuộc đời trên giường bệnh vì căng thẳng thần kinh gây tai biến mạch máu não do đau buồn và quá lo lắng cho thiệt hại tiền của công sức nhơn sanh bởi Thái Tử Norodom Shihanouk ra lệnh tháo dỡ Ngôi Đền Phật Mẫu ở PhnomPenh đang được Ngài Hô Pháp cho xây dựng kiên cố sắp hoàn thành, nhưng không có giấy phép của chánh quyền thủ đô Nam Vang! (trích Hồi Ký Tiểu Sử của Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa viết theo yêu cầu của Ban Đạo Sử Tòa Thánh Tây Ninh vào thập niên 80)

    Tóm lại Người có công luôn được hậu thế tôn sùng kính mến nhưng tôn sùng huyễn hoặc như mê tín thì e rằng đã không làm sáng danh của Đức Hộ Pháp mà còn làm cho DANH THẦY, DANH ĐẠO bị lu mờ!
    thay đổi nội dung bởi: QuanTriVien1, 17-06-2010 lúc 12:45 PM Lý do: Có chỉnh sửa bởi QTV1: thay thế bằng cụm từ "lén trốn" bằng "tránh nạn" theo yêu cầu của Huynh hienhuu

Trang 1/3
1 2 3

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Kính Mừng Giáng Sinh & Chúc Mừng Năm Mới!
    Bởi Đại Đồng trong mục Gặp gỡ, Giao lưu
    Replies: 12
    Có Bài Mới: 31-12-2011, 01:34 PM
  2. Mừng Xuân Canh Dần - 2010
    Bởi Đại Đồng trong mục Gặp gỡ, Giao lưu
    Replies: 7
    Có Bài Mới: 27-02-2010, 08:43 AM