+Trả Lời Chủ Đề
kết quả từ 1 tới 5/ Tổng số 5

Ðề tài: Nhân Sinh Quan Cao Đài

  1. #1
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    648
    admin's Avatar
     
    NHÂN SINH QUAN CAO ÐÀI
                    GS. Ngọc Diêu





    Dẫn Nhập.

          I. Quan niệm về cõi thế gian.

          1.- Trường học để mở mang kiến thức,

          2.- Môi trường trui rèn đạo đức và cũng là trường thi công quả,

          3.- Môi trường tạo Nhị xác thân.

          II. Quan niệm về bản thân.

          1.- Thân xác,

          2.- Tinh thần,

                           a. Tâm trí,

                           b. Tâm đức,

                           c. Tâm linh.

          III.- Quan niệm về gia đình, Quốc gia dân tộc- Nhân loại, Thảo mộc,thú cầm.

          1. Về gia đình,

          2. Về quốc gia dân tộc,

          3. Về Cộng đồng nhân loại,

          4. Về thảo mộc,thú cầm.

          IV. Quan niệm về lý tưởng của cuộc sống loài người. Xây dựng xã hội đại đồng Thánh đức với 3 tiêu chuẩn: Nhân bản - An lạc - Tiến bộ.

          Kết Luận.

     

    NHÂN SINH QUAN CAO ÐÀI

    Dẫn Nhập:

          

          Con người từ đâu đến ? Ðến thế gian nầy để làm gì ? Sau khi chết rồi có còn gì nữa không ? Nếu còn thì cái đó sẽ đi về đâu và sẽ ra sao ?. Ðấy là những vấn đề mà bất cứ ai đã suy tư về thân phận con người cũng đều nghĩ đến và thắc mắc.

          Ngày nay,những vấn đề trên chẳng những đã được các tôn giáo giải đáp một cách rất là rõ ràng, mà còn được Thượng Ðế ban ơn thực chứng qua việc cho các Chơn linh người quá vãng nhập cơ nói chuyện với các thân nhân của mình, hoặc cho người chết đi sống lại nói chuyện bên kia cửa tử... để minh chứng rằng con người chẳng những có linh hồn mà còn có một cuộc sống rất phong phú sau khi bỏ xác thân này.

          Vì vậy mà ngày nay hầu như mọi người trên thế giới đều công nhận rằng: mỗi con người gồm có 2 phần: thể xác và linh hồn.


          1. Thể xác: hay còn gọi là thân tứ đại được kết hợp bởi 4 yếu tố vật chất: đất,nước,gió,lửa; phần này bị luật vô thường: thành,trụ,hoại,không, hay sanh,lão,bịnh tử chi phối, sẽ bị hủy diệt sau khi nhắm mắt từ trần.


          2. Linh hồn: hay còn gọi là điểm linh quang, là Chơn tánh, Chơn ngã, Phật tánh..... thì vô hình, vô ảnh nhưng lại rất linh hoạt sống động. Phần này sau khi chết vẫn trường bất diệt với thời gian, không gian và sẽ gánh chịu mọi hậu quả của những việc mà con người đã làm khi còn sinh tiền.

          Thể xác thì do tinh cha huyết mẹ tạo nên.

          Còn linh hồn do đâu mà có ? Sau khi chết rồi sẽ ra sao?.

          Ðiều này đã được Ðức Chí Tôn minh giải trong Ðại Thừa Chơn Giáo như sau:

          "Linh hồn hay điểm linh quang là một cái yến sáng.

          Thượng Ðế hay Ngôi Thái Cực là khối Ðại Linh Quang chia ra, ban cho mỗi người một điểm tiểu linh quang khi xuống đầu thai làm người. Nếu biết tu luyện, sau khi chết điểm linh quang ắt quay về hiệp nhứt với khối Ðại linh quang" (Ðại Thừa Chơn Giáo)

          Qua Thánh ngôn của Ðại Từ Phụ chúng ta hiểu rằng: linh hồn hay điểm linh quang đã được chiết ra từ khối Ðại linh quang của Thượng Ðế,nên con người có cùng một bản thể với Ngài. Con người là một sinh vật thiêng liêng cao cả, đứng vào hàng Tam tài sau Trời Ðất. Con người có đủ quyền năng sáng tạo, làm chủ mọi sự mọi vật trên thế gian và rất tự do. Nếu muốn con người có thể tu luyện tiến hóa lên hàng Thần Thánh Tiên Phật, hoặc đến mức tuyệt đỉnh như Trời, để trở về hiệp nhứt cùng Ngài.

          Thánh ngôn Thầy dạy:

                               " Con là một thiêng liêng tại thế,

                                Cùng với Thầy đồng thể linh quang,

                                   Khóa chìa con đã sẵn sàng,

                           Khi vào cõi tục khi sang Thiên Ðình".

                                                         (TGST,CQ)

          Hoặc:

          "Thầy là các con. Các con tức là Thầy. Có Thầy rồi mới có các con, có các con rồi mới có chư Phật Tiên Thánh Thần". (Ðại Thừa Chơn Giáo..)

          Vấn đề chỉ còn do chúng ta tự quyết định: muốn hay không mà thôi.

          Nhưng, nếu muốn thì chúng ta phải sống như thế nào cho xứng đáng với danh vị của một con người có dòng dõi sang cả- Con cái của Thượng Ðế -cho hợp lẽ Ðạo để còn "sang Thiên Ðình".

          Nói một cách cụ thể hơn thì người Tín Hữu Cao Ðài đã quan niệm thế nào về:

          - Cõi thế gian,

          - Bản thân,

          - Gia đình,Quốc gia dân tộc,Nhân loại,thảo mộc,thú cầm.

          Lý tưởng của cuộc sống loài người. Giải đáp các câu hỏi trên là phần trình bày về Nhân Sinh Quan của Cao Ðài giáo vậy.

     

  2. #2
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    648
    admin's Avatar
     

    I.- Quan niệm về cõi thế gian.

          Qua Thánh giáo Ơn trên dạy người tín hữu Cao Ðài đã xem thế gian như một trường học lớn để mọi người học hỏi mở mang kiến thức,đồng thời thế gian cũng là trường trui rèn đạo đức con người, là nơi để Con Người tu luyện tạo Nhị xác thân...

          Ðể mở đầu chúng ta hãy tìm hiểu xem tại sao thế gian là :

          1.Trường học để mở mang kiến thức:

          Thánh giáo Ðức Chí Tôn dạy: "Con người đã có sẵn cái Thiên tánh đặc biệt của Trời ban phát cho từ lúc mới đi đầu thai, rồi xuống thế gian nầy lại cần phải mượn lấy xác phàm mà kinh nghiệm mọi lẽ của cõi trần để cho lần hồi trở nên uyên bác,hầu tấn hóa mãi trên con đường đạo dức vậy. Vẫn biết thế gian là bể khổ sông mê, nhưng chính thế gian là một chốn học đường của muôn loài vạn vật. Nhờ học đường ấy mà muôn loài vạn vật mới mở mang tiến hóa,sáng suốt tinh thần để tiến bộ trên nấc thang cao thượng. (Ðại Thừa Chơn Giáo)

          Thượng Ðế đã tạo ra thế gian với muôn vàn sự huyền diệu bí ẩn, lại là nơi qui tụ của muôn loài vạn vật, nên có biết bao nhiêu sự kiện để học hỏi tìm tòi khám phá. Rồi ngoài ra còn có biết bao nhiêu vấn đề về con người, hay do sự liên hệ giữa con người và con người phát sinh. Thí dụ như muốn nâng cao giá trị con người nên phải nghiên cứu tìm tòi những phương pháp giáo dục,đào luyện thích ứng để phát triển các tiềm năng vốn sẵn có nơi con người. Rồi phát minh sáng chế các kỹ thuật tạo tiện nghi vật chất cho đời sống con người bớt khó khăn.

          Song song đó còn bao vấn đề tâm lý phức tạp như đố kỵ, thị phi, tốt xấu,chánh tà,chấp trước,kiêu mạn,hơn thua, tranh chấp hằng ngày giữa con người và con người với nhau... mà chúng ta cần học hỏi để trau sửa tự thân hoặc để xử sự với nhau cho vuông tròn khéo léo.

          Vì vậy mà Ðức Chí Tôn đã dạy tiếp:

          "Ðời là một trường học mênh mông vô tận, bao nhiêu những món bày trò ở trước mắt là bấy nhiêu bài học hay ho hữu ích cho con người. Bất cứ dữ hay lành,chi chi cũng có thể làm bài học được. Sự nào tốt đẹp,cao siêu,thuần khiết thì nên lấy đó mà làm mẫu mực để luyện trau,rèn đúc tinh thần. Việc nào xấu xa hèn mạt bạo tàn thì nên xem đó như tấm gương soi, để sửa đổi cải canh đức tính. Cái bước đường lầm lạc đã trải qua ngày nay tức là bài học phòng ngừa khỏi vấp ngã ngày mai. Trên đời nào có cái chi là vô ích bao giờ. Ích hay vô ích là chỉ tại nơi mình biết dùng hay không biết dùng đó mà thôi". (Ðại Thừa Chơn Giáo)

          Thật vậy,chi chi cũng có thể làm những bài học quí giá mà người tín hữu Cao Ðài cần phải hiểu biết kinh nghiệm để rèn luyện trau giồi cho mình một kỹ năng sống trên phương diện nhân sinh và một Thánh tâm trên phương diện tâm linh để lúc nào cũng có thể an nhiên tự tại và cư trần mà bất nhiễm. Vì vậy mà Ơn trên mới dạy thêm: thế gian còn là môi trương để thử thách và trui rèn đạo đức con người.


          2. Môi trường trui rèn đạo đức:

          Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Ðức Chí Tôn dạy:

          "Môi trường thử Thần Thánh Tiên Phật vì vậy mà phải lập nơi thế gian nầy...Thầy hằng nói cùng các con rằng ! thế gian là một trường thi công quả. Các con muốn đến đặng nơi cực lạc thì phải đi tại cửa nầy mà thôi".

          Thật thế, bên cạnh môi trường để con người học hỏi trau giồi kiến thức,thế gian còn là nơi để thử thách đạo đức con người. Với bao thắng cảnh thơ mộng trữ tình,hay bao rù quyến ma quái của tứ đổ tường luôn đặt lý trí con người trong sự tranh chấp giằng co giữa hai lực: phàm Thánh, chánh tà....

          -Nếu mê muội để phàm tâm lấn át,bản năng dục vọng chế ngự thì con người sẽ vui chơi sa đọa trác táng thâu đêm, gây tội lỗi khổ đau cho con người với nhau.

          -Nếu giác ngộ,biết chế ngự phàm tâm,dùng bàn tay Từ Mẫu xoa dịu mọi vết thương đau trần thế, dùng khối óc minh linh huyền diệu của Ðại Từ Phụ hóa giải mọi tranh chấp bất bình giữa con người và con người...biến thế gian thành Thiên đàng Cực lạc cho mọi người sống hòa bình hạnh phúc với nhau, thì đó là cách tô bồi âm chất và lập vị tốt nhứt cho chính mình sau nầy. Còn nếu chịu khó tham thiền nhập định thêm thì thế gian còn là nơi cần thiết để tạo Anh nhi xá lợi,đắc quả Phật Tiên.


          3. Môi trường tạo Nhị xác thân :

          Thật thế, qua Ðại Thừa Chơn Giáo chúng ta hiểu thêm rằng: thế gian còn là môi trường cần thiết giúp hành giả tạo Nhị xác thân. Ðấy là một thân hình bằng điển quang,thích ứng với cõi hư linh mà hành giả cần phải tạo dựng để thường trú nơi cõi nầy sau khi bỏ xác phàm.

          Thánh giáo Ðức Chí Tôn dạy:

          "Trời ban cho mỗi người một điểm linh quang (Nguơn thần). Ðiểm linh quang ấy phải đầu thai xuống thế gian mượn xác phàm tu luyện mới thành Tiên đắc Phật. Nhờ có xác phàm này mới thành Ðạo, tạo Phật tác Tiên tiêu diêu cảnh lạc. Tại sao vậy ?

          -Tại tuy có Nguơn thần mà không có Nguơn tinh, Nguơn khí thì làm tạo thành Nhị xác thân. Nguơn thần là dương, Nguơn khí là âm, Ðạo phải có âm dương mới sản xuất anh nhi tạo thành xá lợi.

          Mượn xác phàm nầy mà lấy Nguơn tinh (Khí huyết) rồi luyện Nguơn tinh thành Nguơn khí thì tính Hậu Thiên trở thành Tiên Thiên.

          Luyện Nguơn khí mà nuôi lấy Nguơn thần cho sáng suốt.

          Dầu cho vị Phật Tiên nào cũng vậy,phải chịu đầu thai vào thế giới vật chất, luyện cho thành Thánh thai Phật tử mới về thế giới Hư Linh. (ÐTCG)

          Thế thì qua Thánh giáo Ðức Chí Tôn dạy, người tín hữu Cao Ðài chúng ta đã hiểu rằng:

          Thế gian là một trường học minh mông vô tận về kiến thức,một là trui rèn đạo đức tâm linh,một môi trường cần thiết để tạo anh nhi xá lợi và là một trường thi công quả để lập vị về sau. Nhờ đó, người tín hữu Cao Ðài đã có một quan niệm sống rất chính chắn,không xem thế gian là nơi để hưởng thụ mọi lạc thú như bao nhiêu người đã lầm tưởng cũng không chán nản hay sợ hãi thế gian như những người bi quan yếm thế đã chủ trương,mà lúc nào cũng tích cực sáng suốt học hỏi mọi điều hay lẽ phải của cuộc đời, trau giồi kiến thức cho ngày một mở mang uyên bác,không sống buông trôi theo bản năng dục vọng, mà mạnh dạn phấn đấu với bản thân mình, cũng như với mọi nghịch cảnh xung quanh.... để vượt lên cái tầm thường vị kỷ của thói đời, tạo cho mình một đức viên dung tròn sáng của người giác ngộ để dẫn độ chúng sanh:

                                "Người tâm chí vẫy vùng cơ hội,

                                Ðem đạo mầu dẫn lối chúng sanh,

                                   Dạy đời dữ hóa nên lành;

                           Mở mang trí óc,lập thành quốc gia.

                                Gieo tư tưởng cộng hòa đoàn thể,

                                Chỉ phương tu đoạt huệ Thánh Tiên,

                                   Mỗi người có một tánh hiền,

                           Ắt là nước trị nhà yên thái bình.


  3. #3
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    648
    admin's Avatar
       II. Quan niệm về bản thân:

          1 Thân xác:

          Sau khi hiểu thế gian là một trường thi công quả,người tín hữu Cao Ðài đã xem thân xác như một phương tiện cần thiết để đạt tới cứu cánh đạo đức. Nên họ đã chăm sóc và bảo trọng nó như người kỵ sĩ chăm sóc con tuấn mã của mình. Họ không chủ trương tu khắc khổ hay sống ép xác trong thiếu thốn mọi phương tiện.

          Trái lại, cũng không xem thân xác là cứu cánh để rồi suốt cuộc đời chỉ biết lo kiếm tiền hầu cung phụng chiều đãi nó một cách thái quá. Ơn trên dạy người tín hữu Cao Ðài phải biết giữ Trung Ðạo. Sống bình dị ăn mặc đơn giản nhưng thẩm mỹ và sạch sẽ. Dinh dưỡng cơ thể bằng những thức ăn tinh khiết nhẹ nhàng như rau trái tươi chứ không cần thiết phải cao lương mỹ vị đắc tiền.

          Ðiều quan trọng là giữ được thói quen điều độ,không phải ngon thì ăn nhiều, dở ăn ít, mà phải nhớ rằng ăn để sống để giữ cơ thể khỏe mạnh. Nhà ở nên khang trang sạch sẽ và mỹ thuật, chứ không cần kiểu cách cầu kỳ để phô trương sự giàu có,dư giả của mình.

          Với quan niệm "một tinh thần sáng suốt trong một thân thể tráng kiện"      nên ngoài cách dinh dưỡng chay lạc người tín hữu Cao Ðài còn biết giữ gìn sức khỏe,áp dụng mọi phương cách để phòng bịnh chẳng hạn như điều động thân xác hướng về nẻo thiện,khép mình chặt chẽ trong năm giới luật căn bản: không sát sanh,không trộm cắp,không tà dâm không nói dối,không uống rượu hoặc dùng các thứ làm suy nhược thần kinh, ủy mị tinh thần như sì-ke, ma túy hay cờ bạc... Thường xuyên tập các phương pháp dưỡng sinh thể dục,khí công luyện mạng hay tham thiền nhập định tìm lại tự tánh hay chơn ngã của mình để phát huy huệ trí,tăng cường mọi khả năng mà Trời đã phú bẩm cho con người khi xuống thế gian.

          Ngoài ra,vì hiểu luật vô thường biến hoại nên người tín hữu Cao Ðài không bao giờ sợ chết như một hình thức thay xiêm đổi áo, hoặc đi từ cõi nầy sang cõi khác thôi. Thế nhưng họ lại không bao giờ dám xem thường sinh mệnh con người,luôn luôn cẩn trọng tối đa trong những công việc có thể gây thương tổn đến sinh mạng người khác như lái xe, sản xuất dược phẩm, chữa bệnh... Ðặc biệt nhất là không bao giờ dám hủy mình. Vì dù là thân của mình, nhưng hành động ấy vẫn bị luật Ðạo kết vào trọng tội sát nhân, hủy diệt sự sống của Thượng Ðế ban cho,nên người tín hữu Cao Ðài phải tập chấp nhận mọi nghịch cảnh đến với mình một cách bình thản, xem như lúc phải trả quả. Ngược lại, người tín hữu Cao Ðài cũng không khuất phục đệnh mệnh quả báo một cách thụ động. Mà luôn tìm cách lập công để giảm bớt nghiệp chướng tiền khiên,giải thoát mọi khổ não phiền lụy hầu tinh thần mới có đủ sáng suốt để học hỏi tiến hóa.


          2. Tinh thần:

          a./ Tâm trí : với tinh thần tích cực cầu tiến mà Thượng Ðế đã phú bẩm cho con người khi xuống thế gian,người tín hữu Cao Ðài quan niệm càng học được nhiều càng tốt,sở học càng được mở rộng càng hay bao gồm đủ mọi bộ môn vừa Ðạo vừa đời, vừa kinh nghiệm sống thực tiển cùng những ngành nghề chuyên môn và tay chơn... Các sở học đều quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, điều chủ yếu vẫn là phải học với tinh thần cầu tiến bất vụ lợi, học để phụng sự cho nhân quần đạo nghĩa. Với đích nhắm rộng rãi vô tư như thế người ta mới có thể thoái mái nghiên cứu và học hỏi, không nô lệ sách vở,bằng cấp,nên tránh kiểu học nhồi sọ từ chương. Học với bộ óc sáng tạo, nâng cao tri thức thì sự học ấy mới có thực chất,mới thực sự hữu dụng cho chính bản thân mình,cũng như đối tượng để phục vụ.

          Sự học nầy không phân biệt tuổi tác,già bảy tám mươi, nếu có cơ hội học thì vẫn nên học,sở học vừa thâu thập nếu chưa kịp sử dụng trong kiếp hiện tại thì vẫn rất bổ ích cho trí năng của ta trong kiếp sau. Nhờ vậy mà trong xã hội chúng ta mới có hiện tượng Thần Ðồng (Thần Ðồng toán học,thần đồng âm nhạc,thần đồng hội họa...) Vì sự học rất quan trọng như vậy nên Ðức Chí Tôn mới dạy rằng:

          "Làm người cần phải học hỏi,có học hỏi mới thông đạt minh mẫn,mới biết lẽ dữ điều lành,mới tường điều sự phải mà tránh cho khỏi tội tình. Chứ không học hỏi thì tiểu linh quang phải trở nên mê muội mà người cam dốt nát nghèo hèn.... (ÐTCG)

          Sau cùng,để tránh tình trạng "thông minh đa ám muội" nghĩa là ăn học cao,hiểu biết nhiều mà lại sử dụng những kiến thức ấy vào các mục tiêu ích kỷ,làm việc sai trái để mưu cầu lợi lạc cá nhân,nên Ơn trên đã dạy thêm:

          "Song song với phần học tập là tu tập".


          b./Tâm đức: Có học thức,có tài mà thiếu hạnh đức thì rất dễ đi vào con đường tà vọng,làm việc sai trái hại nước hại dân. Vì vậy,mà đức Cao Triều tiền bối mới dạy:

          "Song song với phần học tập là phải lo tu sửa tập rèn hạnh đức của mình cho đoan chính thì mới có thể ích chúng lợi dân.

          Hơn nữa, vì "Nếu học tập là kiến tạo tri thức để phụng sự xã hội thì tu tập là xây dựng ý thức để cải tạo xã hội".

          Ngoài ra,đức Lê Ðại Tiên cũng dạy thêm rằng:

                           "Chánh kỷ hóa nhơn"

          Thật đúng vậy,có đạo hạnh tác phong hơn người thế tục thì mới có thể làm mẫu mực hay cảm hóa người đời trở lại con đường đạo đức nghĩa nhơn. Muốn cải tạo xã hội hay xây dựng đời Thượng Nguơn Thánh đức,người tín hữu Cao Ðài phải đạt cho được phẩm hạnh của hàng Thánh nhơn mới đảm đương nổi. Nên ngoài các nghĩa vụ đối với gia đình, quốc gia dân tộc, lòng người Cao Ðài còn phải trải khắp nhân loại năm châu bốn biển. Vì mục đích cứu độ kỳ ba rộng rãi không còn ranh giới quốc gia hay chủng tộc,nên ngoài các hạnh đạo thường lệ của một người tu, người tín hữu Cao Ðài cần phải trau giồi cho rõ nét thêm những đức tính sau đây:

          Tự lực - Ðại đồng-phá chấp-xã hội.

          Tự lực: ý thức sâu sắc luật nhân quả luân hồi,lại được Ðức Chí Tôn trực tiếp dạy rằng:

          "Các con bị mang xác thịt nặng nề,ngũ trược chận đè, linh tánh lấp vùi trong đó. Thầy thương yêu các con thì Thầy điểm hóa cho các con. Còn phần các con cần phải vùng vẫy mà nhảy cho ra khỏi non đè núi chận,chớ đừng ngồi đó hoài đặng chờ Thầy bồng ẳm,không đặng đâu các con".

          Do đó, người tín hữu Cao Ðài bao giờ cũng tự cố gắng tu học, chủ động cuộc đời của mình bằng cách "gieo nhân tốt để gặt quả tốt",hoặc lo bồi công lập đức để giải bớt nghiệp trái oan, không khuất phục định mệnh một cách tiêu cực,vì hiểu rằng: con người có toàn quyền quyết định vận mạng của mình       chứ không phải do Trời đất đặt để, nên người tín hữu Cao Ðài không ỹ lại vào tha lực thần quyền, chẳng van vái cầu xin, nhứt là với những tha lực hạ đẳng thiêng liêng (như là Thần,vong linh người chết hay ma quỉ) 

          Họ thường phát thệ nguyện lớn để tự tu tự tiến trong chánh tín,chỉ tin vào thực hành chánh lý của các đấng Trời Phật Thánh Tiên, là cấp ở vào hàng thượng đẳng thiêng liêng dạy bảo mà thôi.

          Trên phương diện sinh sống hằng ngày,người tín hữu Cao Ðài cũng được dạy rằng: phải tự lực cánh sinh,không được lười biếng hay ỹ lại vào bất cứ nguồn tài trợ nào mà không do sức lao động của chính mình tạo nên, kể cả quí chức sắc xuất gia cũng không được nhận sự cúng dường của nhân sanh. Ðể giải quyết vấn đề sinh sống cho quí vị nầy,Ơn trên đã dạy tập thể Ðạo tổ chức những cơ sở kinh tế tự túc,để quí vị ấy có cơ hội đóng góp tài chánh (nếu có) hay công sức mình và sự sống của quí vị ấy sẽ được đảm bảo trên lợi tức của các cơ sở đó.

          

          -Ðại đồng: Với "Tam Giáo qui Nguyên,Ngũ Chi phục Nhứt" người Cao Ðài có bổn phận thể hiện và nêu cao tinh thần đại đồng,là tình thương rộng lớn bao la, không phân biệt ta, người thân sơ thù bạn, hay chủng tộc... lúc nào cũng thân ái hòa mình với tất cả mọi tầng lớp người trong xã hội, nhất là tín hữu các tôn giáo bạn để giúp họ cùng hiểu rằng "Vạn Giáo đồng nguyên,nên đồng nhất lý",để tất cả cùng quay vào nội tâm nhìn cái gốc chung của mình là Ðạo, là Thượng Ðế tính, Phật tính,hầu hành đúng theo chơn lý Ðạo, thấy mọi người đều bình đẳng như nhau nên mới rủ bỏ được mọi dị biệt do sắc tướng tôn giáo bên ngoài, cùng nhau nối vòng tay lớn để chung lo nhiệm vụ tận độ quần sanh theo cơ tiến hóa của đất Trời, đó mới là sứ mạng chánh yếu mà Thượng Ðế đã giao phó cho các tôn giáo trong thời nguơn hạ nầy.

          

          -Phá chấp: Chấp là hay ôm giữ, do tật thủ cựu và tự mãn phát sinh. Hai tật xấu nầy làm con người bị đình trệ, chẳng những không tiến bộ được mà còn thoái bộ sau đó, nên Ơn trên dạy người tín hữu Cao Ðài cần phải vượt lên khỏi bản thất tầm thường nầy,nghĩa là phải biết phá chấp phải luôn luôn khiêm tốn để học hỏi những tiến hóa vô cùng tinh túy của vũ trụ và của loài người, ngoài ra còn phải biết hiện đại,biết thay đổi những gì không còn hợp thời,không thích nghi với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại, biết uyển chuyển lèo lái con thuyền cứu độ sao cho hòa đời hợp Ðạo thì mới mong rước được nhiều tân khách quý. Muốn đạt đến trình độ phá chấp như thế người Cao Ðài cần phải biết tu tập như Ðức Giáo Tông đã dạy là:

          ".....hãy rèn luyện một bản tâm như biển rộng,như non cao, bao la thanh thoát, chứa đựng tất cả những gì thanh khiết ô-trược ở cõi trần,đón nhận những gì hay ho tốt đẹp, hay thị phi gièm siểm của nhân tình thế Ðạo....".

          Hoặc phải trau luyện tâm tánh như nước:

          "...tâm tánh là vật không mà có,có mà lại không. Cái bản thể như như hằng tại như nước vào chỗ thấp nhỏ,ở chỗ thật to,xuống chỗ thật thấp,lên chỗ thật cao,dù lửa đốt thật sôi cũng thành ơn mưa móc,gió thổi thật to thành sóng nước vẫn dịu mát trong lành...".(TGST,CQ)

          Thật vậy, tâm có như biển rộng bao la,có mềm mỏng dịu dàng như dòng nước trong mát thì ta mới thể hiện được tinh thần phá chấp triệt để như Ðức Giáo Tông dạy sau đây:

          "Cao Ðài mà không Cao Ðài mới chính thật là Cao Ðài".

          Và lúc đó tâm người Cao Ðài mới thật sự là "thuần chơn vô ngã",mới thật sự là cổ xe lớn để chở toàn tất nhân sanh về với Thượng Ðế (Thiên Ðạo Ðại Thừa)


          -Xã hội: với đức tính xã hội hay còn gọi là tinh thần cộng đồng, bao hàm ý nghĩa biết sống cùng sống với mọi người một cách hài hòa thân ái. Người có tinh thần xã hội là người có tình thân hữu biết quên mình vì người, dám hy sinh, biết thương yêu tương trợ, biết đoàn kết hợp tác cũng như biết tôn trọng kỹ luật để hòa mình vào tập thể,bảo vệ và xây dựng cho tập thể ngày một phát triển tốt đẹp thêm. Trên thực tế người tín hữu Cao Ðài với đức tính xã hội đi đến đâu cũng xem như đó là nhà mình,xem việc người như việc mình,xem thiên hạ như huynh đệ thân hữu,xử thế tiếp nhân với một tinh thần khoáng đạt, thông cảm và nụ cười luôn nở nhẹ trên môi, biểu lộ một tư thế hết sức thân ái,cởi mở và hòa hài với mọi người.


          -Tâm linh: Song song với phần học tập và tu tập,người tín hữu Cao Ðài còn có bổn phận luyện Thần cho mạnh mẽ, để tránh tình trạng phóng tán loạn động do ngoại cảnh bên ngoài chi phối, hầu mới đủ thần lực để hoằng khai chánh pháp Ðại Ðạo ra quảng đại quần chúng. Nên hằng ngày người tín hữu Cao Ðài còn phải áp dụng Tân Pháp Cao Ðài do Ðức Chí Tôn ban truyền trong Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ để đưa tâm trở về trạng thái an lạc tự tại cố hữu của nó :

           " Tâm có định rồi thân mới an,

                           Tâm còn điên đảo ắt nguy nàn,

                           Công phu là để tâm an định;

                           Nên Ðạo nên người chốn thế gian".

                                                        (Ðông Phương Lão Tổ)

          Ðấy là phương pháp công phu hay tham thiền nhập định mà người tín hữu Cao Ðài dù ở lứa tuổi nào cũng nên cố gắng tập luyện mỗi ngày theo bốn thời Tý Ngọ Mẹo Dậu,vì Công phu còn là phương pháp khử trược lưu thanh, giúp hành giả tháo gở lần hồi các bức màn vô minh đang che lấp Phật tính (Thượng Ðế tính) nơi mỗi người. Nếu biết dẹp mọi tham sân si nộ của phàm tánh,vượt lên mọi ngã chấp biệt phân,tâm như như mặc mặc,không vướng mắc vào bất cứ việc gì thì khi Công phu hành giả sẽ dễ dàng đạt đến trạng thái huyền đồng với Ðại Ngã (nói theo Lão giáo) hay phối Thiên (nói theo Khổng giáo,Cao Ðài giáo) lúc đó hành giả sẽ có những huyền năng siêu phàm như Thượng Ðế.

          Thế thì đối với bản thân người tín hữu Cao Ðài rất thực thiển ! Họ quan niệm một con người toàn vẹn phải là một con người đầy đủ cả Ðức lẫn Tài.

          Ðức tượng trưng cho Ðạo.

          Tài tượng trưng cho Ðời      .

          Cả hai đều cần thiết như nhau;cũng như Ðạo với Ðời là hai mặt của cuộc sống không thể tách rời nhau được "Ðạo không Ðời thì Ðạo không sức,Ðời không Ðạo thì đời loạn" Cũng như thân xác không có linh hồn là một thân xác bất động,ngược lại,linh hồn thiếu thể xác cũng khó làm công quả hay Luyện Ðạo. Do đó người tìn hữu Cao Ðài không bao giờ chủ trương duy tâm hay duy vật một cách riêng rẽ, mà là "Tâm vật bình hành" nghĩa là hai cuộc sống vật chất tâm linh phải được chăm sóc,phát triển song đôi với nhau.

           Ngoài ra,trong thời Hạ Nguơn mạt kiếp với chủ trương tận độ của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ,người tín hữu Cao Ðài không có quyền "độc thiện kỳ thân" nghĩa là tu một mình nơi thâm sơn cùng cốc,mà phải sống cùng sống với gia đình,quốc gia dân tộc,với nhân loại,với thảo mộc thú cầm... người tín hữu Cao Ðài đã sống và xử sự như thế nào cho hợp lẽ Ðạo với các thành phần kể trên là phạm vi của tiết mục thứ ba.


  4. #4
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    648
    admin's Avatar
     III. Quan niệm về gia đình, quốc gia, dân tộc nhơn loại, thảo mộc,thú cầm.

          Trên quan điểm "Dục tu Thiên Ðạo, tiên tu Nhơn Ðạo, Nhơn Ðạo bất tu Thiên Ðạo viễn hỉ" (Nghĩa là : muốn tu Thiên Ðạo thì trước phải tu Nhơn Ðạo,Nhơn Ðạo không tu tròn thì Thiên Ðạo xa xôi ngoài tầm tay với) người tín hữu Cao Ðài không thể phế đời hành đạo hay cắt ái ly gia để đi tu một mình,mà phải tròn xong nhơn Ðạo đi đã. Còn không thì tu tại gia vừa lo nhơn Ðạo vừa lo Thiên Ðạo song song mới được. Vì Ðức Chí Tôn đã dạy; trên Thiên Ðình không có vị Phật hay Tiên nào bất hiếu, bất trung, bất nghĩa cả, cũng như không có người nào không có công đức mà đắc quả Phật Tiên. Cho nên:

          1.- Ðối với gia đình: Người tín hữu Cao Ðài chân chính phải thấy rõ 2 trách nhiệm quan trọng sau đây:


          a.- Ðối với ông bà cha mẹ:

          Khi đã quá vãng; thì phải hết lòng nhớ ơn cầu nguyện hay cúng kính hồi hướng công quả để linh hồn quí vị được nhẹ nhàng siêu thoát, được hưởng luật đại ân xá của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ:"Con tu cứu được Cửu Huyền Thất Tổ".

          Khi còn sanh tiền: thì phải tận tâm báo hiếu, phụng dưỡng săn sóc từ miếng cơm đến chén thuốc. Nếu cha mẹ ông bà chưa biết tu thì tìm cách nâng đỡ, dẫn dắt lần đến cửa Ðạo. Hoặc khi ông bà,cha mẹ có làm điều chi sai trái thì cũng lựa lời can ngăn,phân tích giải bày để quí vị ý thức được điều tội phước phân minh của Thượng Ðế. Chứ không vì đó là bực trưởng thượng sinh thành mà ta phải tuân theo mọi lẽ không phân biệt đúng sai. Giáo Lý hai chiều từ nghìn xưa của Ðức Khổng Tử để lại là "Thượng bất chánh hạ tắc toạn" hoặc "phụ từ, tử hiếu, Quân minh Thần trung". Ðó là một loại giáo lý hành động quan lại hai chiều,chứ không phải một chiều duy nhứt từ trên xuống như nhiều người đã lầm tưởng.

          Hơn nữa, đức Cao Triều cũng dạy Thanh Thiếu niên:

          Các em hãy thoát ra ngoài những lối giáo dục từ nghìn xưa đang đóng khung con người trong khuôn vàng thước ngọc mang nhiều phạm trù sinh động: vị ngã cá nhân, vị ngã gia đình, xã hội, quốc gia dân tộc. Tất cả đều là những cái vị ngã đưa loài người đến chỗ cực đoan chia rẽ.

                                                        (TGST/CQ)

          Thật vậy, ông bà cha mẹ ta có thể vì sống trong thời phong kiến lạc hậu, ảnh hưởng những nếp sống chậm tiến quan liêu,nên tư tưởng bị hạn hẹp ích kỹ,do đó đã giáo giục con cháu theo chiều hướng"vị ngã vong tha" nghĩa là: vì mình quên người,hay vì quyền lợi gia đình mà quên quyền lợi chung của quốc gia dân tộc, hay vì quốc gia dân tộc mình mà quên đi quyền lợi chung của cả nhơn loại. Theo đức Cao Triều thì tất cả những điều vị ngã ấy đều đưa con người đến chỗ cực đoan chia rẽ,đó là chưa nói đến những trận chiến thần sầu quỉ khóc giữa các đại gia đình hay giữa quốc gia nầy và quốc gia nọ...Nếu là người tín hữu Cao Ðài chân chính thì ta phải mạnh dạn hoặc tìm cách xây dựng tư tưởng ông bà cha mẹ mình cho khoáng đạt, tiến bộ phải là thoát ly ra khỏi vòng kềm tỏa của quí vị ấy nếu tình trạng không cải thiện được.

          b. Ðối với đời sống hôn nhơn và việc huấn luyện con cái:

          Ai lớn lên rồi cũng đi lập cho chính mình một gia đình riêng để tạo sự nối dõi dòng giống con người. Ðó là một nghĩa vụ tự nhiên theo thói thường của người thế gian, nhưng đó không phải là nghĩa vụ bắt buộc tuyệt đối trong phần nhơn đạo của giáo lý Cao Ðài     . Nếu ta tự cảm thấy đủ sức vượt ra ngoài những cuốn lôi tầm thường của đời sống gia đình,chịu đựng được sự cô đơn của cuộc sống độc thân, dành tất cả thì giờ và năng lực quí báo của mình để phụng sự Thiên cơ,lo cho cuộc tiến hóa chung của nhơn loại,thì đó là một điều cao quí vô biên. Ðức Chí Tôn và công đồng Tam Giáo vô cùng hoan nghinh và ghi nhận công đức hi sinh nầy của chúng ta !. 

          Trái lại, nếu không vượt nổi những lôi cuốn tầm thường ấy thì ta cứ thẳng thắn mạnh dạn đi lập gia đình và nên nhớ rằng: gia đình là nơi sinh sản ra con người tiếp nối giống nòi... Ðây cũng là một chức năng quan trọng. Tương lai của dân tộc và nhân loại ra sao một phần lớn do sự ý thức chính chắn của cha mẹ trong đời sống hôn nhân và sự huấn luyện dạy dỗ con cái của hai vị nầy.

          Về ý thức chọn người hôn phối, điều thứ 6 ,chương thế luật, bộ Tân Luật Cao Ðài có ghi "Việc hôn phối rất hệ trọng cho đời người. Phải chọn hôn nhơn trong người đồng Ðạo,trừ ra khi nào người ngoài thuận ưng nhập môn thì mới kết làm giai ngẫu".

          Hơn nữa luật Ðạo cũng cấm việc vợ hai vợ ba hoặc hầu thiếp linh tinh. Chỉ trừ trường hợp vợ lớn không sinh con, bằng lòng đứng ra tìm người thay thế mình để sinh con nối dõi cho gia đình chồng thì lúc đó người chồng mới có quyền cưới thêm vợ lẽ.

          Ngoài ra,trong quyển Phương tu Ðại Ðạo,đức Hộ Pháp cũng hướng dẫn phương cách tạo ra những đứa con thông minh lành mạnh như sau:

          "Người mẹ giữ vai trò sản sinh ra nhân loại,phép uốn nắn trẻ thơ nơi tay người không ít. Người có thể sản sinh ra hạng hiền nhân quân tử,tài trí thông minh,nhưng cũng có thể tạo ra hạng đàng điếm lưu manh.

          Tinh thần của người mẹ như thế nào trong khi mang thai thì đứa con sẽ chịu ảnh hưởng giống như thế đó. Ấy là một phép "truyền thần",tuy không trọn vẹn nhưng rất quan hệ ! Bởi vậy trong việc ăn ở của vợ chồng ảnh hưởng tinh thần của cha mẹ trong lúc đó rất là hệ trọng,cần phải tạo ra sự thông minh cho đứa con trong tương lai,bằng cách chính cha mẹ chúng phải thể hiện với tinh thần thanh cao hướng thượng, để tinh thần ấy nhiễm vào bào thai từ từ.

          Ðành rằng sự tiến hóa của đứa trẻ còn tùy thuộc nhiều yếu tố khác nữa. Nhưng một khi đã hiểu Ðạo lý,con người vẫn có thể chủ định được phần nào tương lai của chính mình, bằng thái độ tích cực loại trừ những mầm móng của đau khổ vào bất cứ lúc nào có thể làm được,để đào tạo một thế hệ tương lai vừa thông minh vừa đạo đức".

          Thế thì vấn đề giáo dục mầm non là một việc hết sức quan trọng,không phải đợi đến khi đứa bé lớn khôn mới bắt đầu dạy dỗ. Qua lời dạy của đức Hộ Pháp,người mẹ phải ý thức trọng trách "truyền thần" của mình ngay khi bào thai mới vừa được tượng hình trong bụng mẹ. Sau khi chào đời, sự uốn nắn tinh thần đứa bé vẫn được tiếp diễn,dù nó chưa biết gì nhưng từ từ điển thanh trong của người mẹ, những lời ca ru em vừa đạo đức vừa xây dựng một ý thức sống thanh cao hướng thượng của người mẹ sẽ ăn sâu vào tiềm thức của đứa bé và chắc chắn sẽ trở thành ý thức khi đứa bé bắt đầu khôn lớn. Ngoài ra cũng tập cho đứa bé có những thói quen tốt ngay từ lúc mới sanh, về những việc hằng ngày như ăn uống, ngủ nghỉ, đại tiểu tiện....giờ giấc nên cố định để tạo một thói quen điều độ ngay từ lúc mới chào đời.

          Khi đứa bé lớn khôn, thái độ thương yêu chân thật và những lời dạy dỗ sống động qua cách cư xử mẫu mực điển hình của cha mẹ là những bài học cụ thể bổ ích và rất thành công trong việc giáo dục con em. Ngoài ra cha mẹ cũng nên hợp tác với nhà trường hay cơ quan Ðạo bằng cách theo dõi nhắc nhở con em mình thực hiện những điều đã được hai nơi ấy chỉ dạy, hay phụ họa giảng giải thêm cho con em mình những điều chúng đã học mà chưa nắm vững hết ý.

          Thế thì việc giáo dục tốt con em mình là một vấn đề rất quan trọng,đó là phương cách xây dựng nền tảng nhân lực tốt cho quốc gia và tôn giáo sử dụng. Một quốc gia có nhiều công dân tốt thì quốc gia ấy sẽ trở nên phú cường an lạc. Một tôn giáo có nhiều tín đồ tốt thì tôn giáo đó sẽ mau đạt đến cứu cánh của mình.

          2. Ðối với quốc gia dân tộc:

           Với chủ trương "tâm vật bình hành" nghĩa là nhân sinh và tâm linh đều quan trọng và cần thiết như nhau,cũng như "đạo đức tương đắc" tức là đời Ðạo cần phải hợp tác nhau để lo đầy đủ cho nhân sanh về cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần, người tín hữu Cao Ðài chân chính không thể đứng bên lề để nhìn guồng máy quốc gia dân tộc vận chuyển một mình. Ðây là lời của đức Lê Ðại Tiên dạy tại Cơ quan. PTGL:

                           Nước của mình dân mình đấy nhé,

                           Ổ chim hồng sẻ đẻ sao đang,

                           Tiền nhân công nghiệp huy hoàng,

                           Dựng nên biển bạc non vàng ngày nay.

                           Giờ ta hãy chung tay góp sức,

                           Giờ ta toan nổ lực thi công,

                           Hy sinh tư hữu chính mình,

                           Ðắp xây nền tảng thái bình Trời Nam.

          Qua đoạn thi bài trên, đức Lê Ðại Tiên dạy người tín hữu Cao Ðài chúng ta rằng:

          Nếu tổ quốc lâm nguy bị ngoại bang xâm lược thì chúng ta có bổn phận phải cùng nhau đứng ra giữ gìn bờ cõi quê hương,bảo vệ dân tộc,dù có phải hi sinh tư hữu,kể cả tính mạng cũng không thể từ nan. Công nghiệp dựng nước huy hoàng của tiền nhân để lại thì ngày nay chúng ta là những kẻ thừa kế phải nổ lực ra công ra sức giữ gìn, không để bất cứ ngoại nhân nào đến dày xéo quê hương đất tổ của mình,hay bốc lột hà hiếp đồng bào ruột thịt của mình.

          Thế thì trong thời chiến người tín hữu Cao Ðài chân chính có nghĩa vụ đắp xây nền tảng thái bình cho quê hương đất nước,trong thời bình thì đem hết tài năng sở học của mình có được để kiến thiết nước nhà, khai thác phát triển mọi tiềm năng của quốc gia dân tộc, hầu nâng cao trình độ văn hóa đạo đức,cũng như đời sống vật chất tiện nghi cho mọi người dân.

          3. Ðối với cộng đồng nhân loại:

          Thực tế cho chúng ta hiểu rằng: mọi tiện nghi vật chất không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống để đáp ứng mọi nhu cầu chúng ta,mà nền văn minh khoa học hiện có ngày nay là một công trình đóng góp của nhiều quốc gia nhiều thế hệ tạo nên. Nền văn minh đó càng ngày càng tiến bộ, càng hoàn hảo hơn là nhờ sự bồi đắp của nhiều thế hệ tiếp nối. Chúng ta đã thừa hưởng công nghiệp của tiền nhân để lại,thì nay đến lượt mình phải đóng góp phần phát triển gầy dựng thêm cho con cháu chúng ta sau nầy. Góp sức trong sự tận tâm thi hành nghề nghiệp đã đành,lại còn phải đóng góp trí sáng kiến,óc tìm tòi để bổ khuyết đổi mới hoặc làm cho tiến bộ,tinh xảo công trình của người đi trước.

          Ðể thực hiện sự góp phần vào công cuộc tiến bộ chung của nhân loại, trước hết chúng ta phải gạt bỏ hoàn toàn óc địa phương,vì tất cả mọi con người trên thế giới đều là con chung của Thượng Ðế ,thì không có lý do gì trong công cuộc phát triển chung, ta lại chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân hay địa phương mình thôi,mà phải thấy và đặt lợi ích chung cho toàn thể nhân loại. Có thế con người mới vượt qua được những nề nếp nhỏ bé sẵn có mà vươn tới những cuộc tìm kiếm và phát minh sâu rộng, mới dám hi sinh cá nhân mình để phụng sự cho khoa học,cho chính nghĩa chung của nhân loại.

          Nếu tất cả mọi người đều thắm nhuần tinh thần góp sức phát triển công đồng nhân loại một cách quảng bác như thế thì lâu đài văn minh nhân loại chẳng bao lâu sẽ được phát triển mở mang đến mức cùng cực của nó,để phụng sự con người một cách hoàn hảo nhứt và tình bang giao quốc tế trên căn bản đại đồng huynh đệ cũng nhờ đó mà ngày càng trở nên đậm đà khắng khít hơn.

          4. Ðối với thảo mộc thú cầm:

          Vũ Trụ Quan Cao Ðài cho biết rằng:

          "Thiên địa vạn vật đồng nhất thể" nghĩa là con người và thảo mộc,thú cầm... đều cùng một bản thể với Trời đất, tức là tất cả đều từ một nguồn gốc chơn Thần Thượng Ðế sinh ra,nên tất cả đều là anh em với nhau. Do đó mà người tín hữu Cao Ðài đã xem các loài thảo mộc,thú cầm như những đứa em nhỏ bé dại khờ, nên gần gũi tập luyện dạy dỗ cho chúng mau tiến hóa chứ không nên sát hại chúng để thỏa mãn sự khoái khẩu của mình.

          Ðây là Thánh giáo của Ơn trên dạy trong kinh Hiển Ðạo:

           "Rồng cọp dữ nơi đây khó sánh,

                           Người cầm dao giết đánh thú cầm,

                           Ăn ngon sướng miệng bao năm,

                           Hờn kia oán nọ ngàn năm còn hoài.

                           Thượng Ðế sanh muôn loài vạn vật,

                           Chiết chơn Thần ẩn cất bên trong,

                           Bởi nên những kẻ ác lòng,

                           Giết loài cầm thú sân rồng tội căn.

                           Con nên hiểu mỗi lần giết thú,

                           Là con làm hại đủ Thượng Thiên.

                           Sát sanh hại vật nên kiêng,

                           Là điều thứ nhứt dạy riêng năm lần".

          Vì vậy,mà trong ngũ giới cấm điều "cấm sát sanh" đã được đặt lên hàng đầu để dạy người tín hữu Cao Ðài thể hiện lòng nhân một cách cụ thể. Các loài cầm thú tuy không đầy đủ giác tính như con người,nhưng vẫn biết ham sống sợ chết,vẫn có những tình cảm gia đình của chúng,vẫn biết giận tức oán hờn... Do đó người tín hữu Cao Ðài chân chính là phải ăn chay suốt (lục trai, thập trai là để tập lần lần cho người sơ cơ mới nhập môn thôi).

          Chẳng những trường chay không sát hại sinh vật mà họ còn biết tỏ ra quí trọng sinh mạng của chúng, dạy dỗ chúng cho khôn ngoan và mau tiến hóa lên thành người. Thậm chí đến những loài thảo mộc cỏ cây vô tri vô giác người tín hữu Cao Ðài cũng chỉ được phép hái nhổ để làm thức ăn nuôi dưỡng cơ thể,chứ không được phép hái nhổ vô lối hay phí phạm chúng.


  5. #5
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    648
    admin's Avatar
     IV.Quan niệm về lý tưởng của cuộc sống loài người:

          Qua các tiết mục trình bày trên,chúng ta đã hiểu phần nào tính chất thực tiễn vị nhân sanh của Cao Ðài giáo,tính chất nầy còn rõ nét hơn qua Thánh giáo sau đây của Ðức Chí Tôn:

          "Thầy không đòi các con làm những gì đem lại lợi ích riêng tư cho Thầy,Thầy luôn luôn dạy các con phải thực hành đạo lý cho các con cái của Thầy nghĩa là phải giác ngộ cho nhau,thương yêu dạy dỗ đùm bọc cho nhau,bảo tồn cho nhau để cùng nhau được sống trong cảnh thái hòa,cùng hưởng hạnh phúc với nhau mãi mãi".

          Hoặc như đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã dạy:

          "Giáo lý Cao Ðài không đi xa thực tế với con con người thực tại...Sự mở Ðạo của Thượng Ðế là muốn cho tất cả nhơn sanh,dù trong thời kỳ trả quả cũ,không gây nghiệp mới biết cách tu thân lập hạnh, bồi công lập đức để mọi người, mọi chỗ đều hướng thiện, ăn ở, đối xử với nhau cho phải tình phải nghĩa, phải đức, phải nhân để trong cõi đời nầy có một xã hội Ðại đồng Thánh đức.      

          Ðó là mục đích mà Thượng Ðế muốn cho loài người hiểu tận ý mà hành tận sự,chứ giáo lý Cao Ðài không nhất thiết chỉ bảo người đời đi tìm hạnh phúc trong cõi hư vô vĩnh cửu, chốn niết bàn cực lạc, trong khi nhơn sanh còn nghèo đói, bịnh tật, dốt nát, kỳ thị rẽ chia, người bốc lột người trong cảnh mạnh được yếu thua bất công xã hội. Nếu phần nhơn sanh hiện hữu như thế chắc gì phần tâm linh được mẫn tuệ siêu thoát đâu".

          Qua hai đoạn Thánh giáo trên ta thấy rõ ràng Ðức Chí Tôn đã lập Ðạo ra để cứu rỗi nhơn sanh,dạy nhơn sanh biết sống đạo đức hòa ái với nhau để tạo cảnh thái bình an lạc cho thế gian. Cái xã hội cực kỳ vui vẻ đó là được Thánh giáo Cao Ðài gọi là xã hội Ðại đồng Thánh đức. Ðó là một xã hội lý tưởng mà ai muốn ở lại thế gian đều hoài bão và ước ao trong lòng, xã hội đó phải do chính con người,nhứt là người tín hữu Cao Ðài đã được nhiều sự giáo hóa của Ơn trên làm mẫu mực hi sinh đi đầu khai sơn phá thạch để mọi người noi theo,cùng xây dựng nên,với ba tiêu chuẩn:   

                           Nhân Bản - An Lạc và Tiến Bộ

          1.- Nhân bản: là nguồn gốc con người, mà gốc con người là Ðạo, là Chơn ngã, là Thượng Ðế tính, là Thiên lương, là tình cảm thiêng liêng mà Chí Tôn Thượng Ðế đã dành cho mỗi người,nếu thể hiện ra ngoài thì tình cảm nầy sẽ trở thành nhân tính hay tình thương.

          Do đó nếu nhân bản là Ðạo thì sống nhân bản là người biết làm sáng cái Ðạo,biết sống cho xứng đáng với danh vị cao cả của một con Người,biết quay vào nội tâm thắp sáng lại Chơn ngã hay Thượng Ðế tính vốn sẵn có trong lòng để mở rộng và phát huy mọi tiềm năng,nhân tính cố hữu trong mỗi con người.

          Con người biết sống nhân bản là con người biết quí trọng giá trị con người của chính mình cũng như giá trị của mọi người xung quanh lúc nào cũng tìm cách phát huy mọi tiềm năng của chính mình,cũng như tạo điều kiện nâng đỡ mọi người xung quanh cùng có cơ hội tiến lên về cả hai mặt : nhơn sanh và tâm linh. Một cách cụ thể thì sống nhân bản là phải biết:

          - Sống tự lực - tự chủ - tự cường không ỹ lại vào bất cứ tha lực ngoại lai nào dù cho đó là ân sủng của Thiêng Liêng, mà phải lo tự cứu bằng cách tự tu, tự khắc chế mọi bản năng dục vọng tầm thường của con người phàm tục, thực hành chánh lý Ðại Ðạo hầu hoàn thiện hoàn hảo hóa con người mình một cách tuyệt đối.

          - Biết mở rộng tình thương đến muôn loài vạn vật, không phân biệt sang hèn, thân sơ, hay chủng tộc... lúc nào cũng thân ái nâng đỡ nhau để cùng tiến hóa cho kịp Thiên cơ.

          - Biết phá chấp và hiện đại để hòa điệu cùng nhịp sống mỗi ngày một tiến bộ trong xã hội loài người.

          - Biết dung thông để vượt lên trên mọi tư duy phiếm diện,không duy vật mà cũng chẳng duy tâm,mạnh dạn đem Ðạo vào đời để lo toàn diện vừa vật chất lẫn tinh thần cho con người.

          Xã hội nhân bản là một xã hội trong đó mọi con người đạo đức chính danh biết sống hài hòa với nhau,thương yêu nhau,bình đẳng nhau và nâng đỡ nhau trong mọi cơ hội để làm thăng hoa giá trị con người, làm tươi đẹp thêm cuộc sống xã hội, hoàn toàn không có sự chà đạp nhân vị lẫn nhau.

          Thánh giáo đức Lê Ðại Tiên dạy:

          "Hiểu biết,hành động,phục vụ,phụng sự mà không nằm trong nhân bản sẽ đưa đến những hậu quả khốc liệt nhất cho xã hội. Nhân bản có sáng chói con người mới cảm thấy mình là con người,dầu ở bất cứ lãnh vực hay hoàn cảnh quốc thể nào đời sống tinh thần cũng phải tựa vào nhân bản. Có như vậy chủ nghĩa chánh trị hay giáo lý tôn giáo mới chẳng bị rơi vào chỗ mông lung huyễn ngã".

          Thế thì qua quan điểm Cao Ðài phục hồi nhân bản trong sáng là con đường trung nhất,dung thông cả tâm lẫn vật, Ðạo với đời, khoa học và Ðạo lý. Ðó là con đường chuyển loạn thành trị,con đường tạo thế nhân hòa cho cộng đồng thế giới,an lạc cho xã hội năm châu.

          2. An lạc : tức là sự an cư lạc nghiệp của cuộc sống con người. Nghĩa là sống thì phải có chốn ăn ở yên ổn,an ninh,có nghề nghiệp vững chắc,chẳng những mang lại đầy đủ sự no cơm ấm áo cho thân xác mà còn giúp cho trí não tinh thần ngày một mở mang tiến hóa. Nói chung một xã hội an lạc một xã hội mà con người không còn phải chứng kiến bất cứ một việc bất bình nào,dù hết sức nhỏ bé.

          Nhưng nếu phân tích sâu sắc thì sự an lạc ngoài sự bằng an về tinh thần,thể xác còn phải kể thêm niềm phúc họa hồn nhiên của niềm sâu thẳm tâm hồn hay còn gọi là niềm vui tâm linh. Cho nên sống an lạc là sống hạnh phúc toàn vẹn về cả hai phương diện nhân sinh và tâm linh. Do đó, ngoài thì giờ làm việc mưu sinh cho thân xác,còn phải có thì giờ dành cho việc tu học và thiền định để nuôi dưỡng linh hồn.

          Thế thì nhờ cuộc sống an lạc thân xác mới ấm no khỏe mạnh,trí óc mới mở mang,tinh thần mới tự tại và tâm linh mới sáng chói viên dung. An lạc là hệ quả của nhân bản.

          Thật vậy,vì nếu mọi con người trong xã hội đều biết trở về nguồn gốc nhân bản đích thực,biết phục hồi nhân bản một cách chân chính,tức là biết thương yêu nhau,giúp đỡ nhau,dìu dắt nhau tiến bộ...,để cùng xây dựng xã hội Ðại Ðồng Thánh Ðức hay cùng trở về cõi hằng sống thì không cần cầu nguyện đương nhiên xã hội nầy cũng trở nên an lạc thái hòa.

          3. Tiến bộ: là hệ quả của nhân bản và an lạc. Có nhân bản, có an lạc đương nhiên có tiến bộ. Là tiêu chuẩn thứ ba của 1 xã hội lý tưởng thì sự tiến bộ nầy ắt phải có một tầm mức quan trọng đặc biệt,bao gồm nhiều phạm trù ?

          Thưa đúng vậy,theo đức Lê Ðại Tiên dạy thì:

          "Sự tiến bộ là hoàn hảo hóa theo thời gian từ thô đến tế,từ chưa hoàn mỹ tới hoàn mỹ hơn,là quá trình gạt bỏ cái gì lỗi thời,không còn ích lợi và thay thế bằng cái mới sáng tạo,khế hợp được với thời đại mới".

          Hoặc theo nguyên lý vận hành châu lưu của Vũ trụ quan Cao Ðài thì:

          "Vạn vật được sinh ra để tiến hóa, tiến hóa theo một vòng tròn (châu lưu) để sau cùng sẽ trở về nguồn gốc với một sự hoàn hảo,hoàn thiện tuyệt đối như Trời".


    Mời quý huynh tỷ đóng góp ý kiến!


Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Đức Quan Thánh Đế Quân trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
    Bởi Trung ngôn trong mục Đề tài thảo luận
    Replies: 5
    Có Bài Mới: 03-08-2013, 09:36 PM
  2. Cao đài, mùa xuân của nhân sinh
    Bởi dong tam trong mục Bước đầu tìm hiểu Đạo
    Replies: 9
    Có Bài Mới: 09-02-2013, 11:00 AM
  3. Tìm Hiểu Nhân sinh quan Phật giáo
    Bởi Qui Khong trong mục Cao Đài và Tôn giáo
    Replies: 2
    Có Bài Mới: 16-05-2008, 04:56 AM