+Trả Lời Chủ Đề
Trang 1/5
1 2 3 ... 5
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 43

Ðề tài: Ngày kỷ niệm Ðức Ngô Minh Chiêu

  1. #1
    Tham gia ngày
    Feb 2007
    Bài viết
    614
    Nhan Nai's Avatar

     


       Ngày Kỷ niệm :


                              ÐỨC  NGÔ VĂN   CHIÊU


        Ngày lễ kỷ niệm Ðức Ngô Văn Chiêu , người đệ tử đầu tiên của Ðạo Cao Ðài  ; hay nói khác hơn là người sáng lập Ðạo Cao Ðài , chúng tôi tưỡng cũng nên nói lên cuộc đời và sứ mạng của Ngài trong nền Ðại Ðạo để chúng ta noi gương mà tu học .


                     Ngài Ngô Văn  Chiêu , danh đạo là Ngô Minh Chiêu , sanh ngày  mồng 7  tháng  Giêng  năm  Mậu  Dần,  nhằm  ngày 18.02. 1878 tại Quận Bình Tây, Chợ Lớn , là vị đã sáng khai  nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và cũng là người đệ tử đầu tiên của Ðức Cao Ðài.


         Năm 06 tuổi , Ngài sống với người cô tại Mỹ Tho và ăn học cho tới năm 21 tuổi thì thi đậu bằng Thành Chung và ra làm việc tại Toà án Sàigòn  từ ngày 22.3.1899 cho tới  ngày 31.12. 1902.


         Năm 1917 Ngài thi đậu Tri Huyện và qua cuối năm 1919 thì Ngài được lịnh đổi đi Hà Tiên. Lúc bấy giờ Ngài đã lập gia đình với Bà Bùi thị Thân , sinh quán tại Mỹ Tho và có với nhau tất cả 9 người con.


          Ngài làm việc tại Hà Tiên được một ít lâu thì đổi ra Phú Quốc , nhằm ngày 26.10.1920. Tại Phú Quốc , Ngài thường lên núi Dương Ðông cầu cơ và mỗi lần đều được cơ  Tiên giáng dạy .  Sau đó,có một Tiên Ông nhận Ngài làm đệ tử  và sau một buổi giáng cơ có dạy như vầy :"CHIÊU tam niên trường trai " Và kể từ ngày 9.2.1921 thì Ngài khởi sự trường trai học đạo với Tiên Ông và nhận bí truyền để tu luyện , nhưng được dạy phài giữ kín cho đến kỳ khai đạo.


          Theo kinh sách ghi lại, một chiều kia , theo sự ước nguyện của Ngài, trong khi Ngài đang hóng mát ngoài mé biển , thì từ từ hiện ra trước mắt Ngài một cảnh Bồng lai vô cùng xinh đẹp, khoảng chừng giây lát thì cảnh ấy  mới lu dần rồi biến mất.  Ðó là Tiên Ông đã cho Ngài thấy rõ sự nhiệm mầu để cho Ngài nung chí mà tu học.


           Sau đó , vào một buổi sớm mai , lúc 8 giờ, khi Ngài đang ngồi trên võng nơi nhà thì bỗng nhiên Ngài thấy trước mắt khoảng độ  2 thước , hiện ra một con mắt thật lớn, hào quang chói ngời như mặt trời . Ngài lấy làm sợ hãi, lấy tay bụm mắt, chẳng dám nhìn.  Một lát Ngài mở mắt ra thì lại thấy hào quang càng chói rạng thêm thêm lên.  Ngài bèn chấp tay và vái rằng :   " Bạch Tiên Ông , đệ tử đã rõ biết cái huyền diệu của Tiên Ông rồi. Ðệ tử xin Tiên Ông đừng làm vậy, đệ tử sợ lắm. Như phải Tiên Ông bão thờ như thế , thì xin cho biến mất tức thì ."  Ngài vừa vái xong thì con mắt lu dần rồi biến mất.


       Ít hôm sau , Ngài cầu cơ hỏi cách thờ phượng, thì Tiên Ông dạy vẽ con mắt như Ngài đã được thấy để thờ và bấy giờ mới xưng tên là : CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT và dạy Ngài phải gọi bằng THẦY mà thôi.  Ðó là vào năm Tân Dậu (1921) , Ðạo Cao Ðài ra đời , và từ đó mới phát nguyên  sự tích thờ phượng một biểu tượng chơn lý là Thiên Nhãn.  Mãi gần cuối năm Ất Sửu (1925) Ðức Cao Ðài mới dạy Ngài đem mối Ðạo truyền ra.


          Vào ngày mồng 9 tháng Giêng, nhằm ngày vìa Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế , Thầy có về đàn và dạy rằng :


         " Bữu Tòa thơ thới trổ thêm hoa


           Mấy nhành rồi sau cũng một nhà


           Chung hiệp rán vun nền đạo đức


           Bền lòng son sắt đền cùng ta. "


           Trong một đàn cơ được lưu lại. Vào ngày 14.4.1926 Ðức Thượng Ðế có dạy Ngài may một bồ Thiên phục màu trắng , có chữ Càn của Bát Quái , thêu chỉ màu vàng để lãnh chức Giáo Tông.   Tuy nhiên Ngài xin từ chối, vì ý nguyện của Ngài là quyết chi tu hành cho thành đạo , chứ không chú ý đến chức tước phẩm vị, áo mão cân đai. 


         Cũng theo Thiên ý , Ngài giữ đúng việc tu hành như Thượng Ðế chỉ dạy.  Ngài có khẩu truyền Bí Pháp cho một số  đệ tử sau nầy được biết đến qua danh từ Chiếu Minh hay Tam Thanh Vô Vi là phần tu thuộc về Nội pháp Tâm Truyền  của Cao Ðài Ðại Ðạo.  Ðức Ngô Minh Chiêu đã thọ lãnh bí pháp mầu nhiệm tinh vi, mới mẽ nhất trong cơ siêu phàm nhập Thánh của Ðúc Cao Ðài truyền dạy.  Theo chơn truyền của Ngài  , việc tu nhơn đạo  và thiên đạo phải song song . Hiện nay phần Vô Vi lấy quyển Ðại Thừa  Chơn Giáo làm phương châm tu học.


            Cuối năm 1931, Ðức Ngô Văn Chiêu tu được 11 năm. Ngài liểu đạo vào ngày 13 tháng 3 năm Nhâm Thân, tức ngày 18.4.1932, lúc 3 giờ chiều, trên đò giữa sông Tiên Giang ở Cần Thơ , đúng như tiền định mà THẦY đã cho biết trước :


                  " Giờ nầy THẦY điểm thâm công


                    Ngày sau con sẽ cỡi Rồng về Nguyên."


         Ðiểm đặc biệt là sau khi Ðức Ngô Văn Chiêu chết, con mắt bên trái Ngài lần lần mở ra  mỗi ngày một lớn , đầy đủ tinh thần như người sống vậy . Ðó là một  ấn chứng cho thấy rõ sự thành đạo của Ngài mà cũng là sư nhiệm mầu của Thiên Nhãn vậy.


         Cuộc đời của Ðức Ngô là một cuộc đời sáng tạo . Ngài là cái cửa mở vào vô vi mầu nhiệm , dẫn lối cho thiện căn tìm về  cựu vị.  Ngài sống trong sự cao vọi nhưng lại âm thầm kín đáo với lối ẩn tu khổ hạnh . Ngài là một gương mẫu trong cách tu tại gia ( đời đạo song tu )  không vì Ðời mà lơi Ðạo , mà cũng không vì Ðạo mà bỏ Ðời ( ly gia ). Ngài làm quan rất thanh liêm , mà cũng làm tròn bổn phận cha hiền con thảo.  Cuộc sống của Ngài rất thanh bạch, làm việc quan mà chẳng lạm của dân  " Nhất hào  vô phạm " là tâm niệm của Ngài đã nêu gương sáng trong cảnh thế nhân còn được truyền tụng.


          Hôm nay chúng ta là môn đệ Ðức Chí Tôn , tề tựu đông đủ về tại Thánh sở , để truy niệm , để kính mừng Người Anh Cả , mục đích không phải để tôn vinh Ngài, vì từ hồi còn sanh tiền Ngài đã không cần ai ca tụng để lãnh phần hãnh diện  nơi thế gian này . Luôn cả phẩm vị  Giáo Tông, một phẩm vị  trên  cả  trong nền Ðạo Cao Ðài được chính Ðức Thượng Ðế ban phong mà Ngài không nhận lãnh dù chúng ta có tôn vinh Ngài bằng những lời lẽ cao vọi đến đến đâu  chắc chắn điều đó cũng không hợp với ý Ngài.  Nhưng chúng ta là những kẻ uống nước , ăn trái phải nhớ đến công ngưòi đào giếng, trồng cây, nhớ  đến  công ơn khai sáng của một bậc tiền nhân  đã đến thế gian nầy để làm cho con người gương mẫu, đã hy sinh trọn vẹn  đời mình , để thể thể hiện cứu cánh của nền Ðại Ðạo, chúng ta không thể nào không nhắc đến Ngài để  hằng noi gương Ngài trên bước đường tu trở về hiệp nhất cùng Thượng Ðế. /-  


                                          ___________


     Trích ra bởi tập san TRUNG HÒA từ trang 122 -125.trong dịp lễ Lễ Kỹ Niệm ngày Khai Ðạo 15.10 năm Qúy Dậu.


  2. #2
    Tham gia ngày
    Oct 2006
    Bài viết
    370
    Xin thưa đạo huynh,



    Kỷ niệm đức Ngô Văn Chiêu là ngày nào ? Đó là ngày sanh hay ngày đắc đạo tại thế hay ngày "cỡi rồng về Nguyên" ?

  3. #3
    Tham gia ngày
    Feb 2007
    Bài viết
    614
    Nhan Nai's Avatar

     


                                                                        Ðấng Giáo Chủ Ðạo CAO ÐÀI là Ðấng Vô Hình.


            Ðể cho người Ðời muốn tìm hiểu về Ðạo Cao Ðài  hay Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và người tín dồ có một khái quát về mối Ðạo của mình đang tin tưỡng và noi theo để tu thân hành đạo trước để tự giác sau để giác tha.


               Và cũng để đánh tan sự hiểu lầm của một số tín đồ cho rằng Ðấng Giáo Chủ Ðạo Cao Ðài là một trong những bậc Tiền Bối Khai Ðạo do lòng suy tôn qúa mức cá nhân của vị mình tôn thờ để có thể phạm tội khi Thiên dù cho vị đó có được thấy tận mắt Thiên Nhãn  ( con mắt của Thượng Ðế ) hiện lên tại Phú Quốc ban ngày hai lần với hào quang rực rỡ chiếu lòa và đã tu chứng bằng sự đắc  Ðạo  tại tiền( Ngài Ngô Minh Chiêu ) hay vị đó đã dày công khổ nhọc  chủ xướng xây dựng được một Tổ Ðình của Ðạo Cao Ðài nguy nga đồ sộ là Toà Thánh hiện tại ở Tây Ninh ( Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ) .  


         Chúng tôi qủa quyết rằng :     Chính Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Chúa Tể Càn Khôn  vạn loại, mượn tạm hai tiếng Cao Ðài để mở mối Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ tại xứ Việt Nam  , để từ đó phóng phát ra năm châu bốn bể với tôn chỉ quy nguyên Vạn Giáo về nguồn gốc của Ðại Ðạo , đưa thuyền Bát Nhã rước khách trần thoát bể khổ trầm luân, trở về bến khởi nguyên để an hưỡng nơi cõi Cực Lạc Niết Bàn mà Ðạo Cao Ðài gọi là Bạch Ngọc Kinh , vì lòng đại từ đại bi thương xót chúng sanh đang bị  đoạ đày khổ lụy nơi trần tục nầy.


          Chính Thánh Ngôn, Thánh Giáo của Ðức Cao Ðài Thượng Ðế đã minh xác. ( xem Thánh Ngôn Hiệp Tuyển ).


          Thượng Ðế vốn là đấng Vô hình, vô ảnh, vô thinh, vô danh, nên chỉ mượn tạm  ( tá danh ) 2 chữ Cao Ðài để xưng danh với một ý nghĩa rất trừu tượng , bao quát, giải thoát mọi ranh giới ngăn chận che lấp .


               CAO ÐÀI  là cái Ðài Cao ,


           Vượt lên tất cả đón rào ngăn che.


                                 ( Ðức Quãng Ðức Chơn Tiên )


         Cái danh chỉ là tạm mượn để cho người đời dễ kêu gọi mà thôi.  Cho nên Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế có xác minh như vầy : 


             Tên là cái giả triền miên muôn đời ,


                  Xuống lên , lên xuống, luân hồi .


            Ðến tên NGỌC ÐẾ mấy hồi đổi thay .


                   Khi xưng Giáo Chủ CAO  ÐÀI ,


            Khi xưng THIÊN CHÚA , khi khai DI ÐÀ.  


               Lắm  lần  BỒ TÁT  MA HA.


            Bao lần KHỔNG MẠNH cũng già nầy đây.


         Chủ trương của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế  khai Ðạo kỳ Ba nầy là " Thiên Nhân hiệp nhất " để hành đạo độ đời cho có hiệu lực , vì là buổi Hạ ngươn Mạt Kiếp  nhân loại bỡi say đắm mùi tục lụy gây ra biết bao tội lỗi khôn phương  giải thoát  , nên chính Ðức Thượng Ðế phải đích thân giáng trần bằng huyền linh diệu điển hiệp cùng chư Thần, Thánh , Tiên, Phật  giáng điẻn linh giáo đạo để thức tĩnh người đời giác ngộ  lo tu hành để giải khổ cho mình.


         " Thiên Nhân hiệp nhất "  có nghĩa là các đấng Thiêng liêng , Trời, Phật, Tiên, Thánh Thần , hệp nhứt cùng phàm nhơn qua trung gian của các đồng tử  phò loan  viết ra những Thánh ngôn, Thánh giáo, để dạy đạo thức tỉnh , giác ngộ người trần thế.


           " Thiên nhân hiệp nhất " cũng có ý nghĩa là các Ðấng Thiêng liêng vô hình ở cung Bát Quái sử dụng các vị phò loan là hữu hình hữu thân ở cung Hiệp Thiên Ðài để giáng điễn linh dạy Ðạo, đó là sự hợp tác  giữa hai cõi vô vi và hữu hình, vì hữu hình mới phục vụ cho hữu hình được.


         Vô vi họp tác với hữu hình mới phục vụ nhơn sanh đắc lực hơn là có 1 vô vi hay 1 hữu hình.


             Ðấng Giáo Chủ  CAO ÐÀI cứu thế ,


             Là Vô hình, vô thể, vô danh ,


             Nên cần hướng đạo môn sanh ,


             Vô nhân , vô ngã , pháp quyền ban trao.


           " Thánh Ngôn Hiệp Tuytển " cũng có ý nghĩa là Thượng Ðế ban trao Quyền Pháp cho Chức sắc Cửu Trùng Đài từ Giáo Tông  đến Lễ Sanh  để Thiên hành hoá , thay Trời hành Ðạo , độ dẫn nhơn sanh thi hành nghiêm chỉnh đúng đắng luật lệ  của Ðại Ðạo là Tân Luật do các đấng thiêng liêng Tam Giáo , Ðức Lý Giáo Tông  ( phần vô vi ) phê chuẩn bộ luật do Chức sắc Cửu Trùng Ðài ( phần hữu hình ) soạn thảo theo lệnh của Ðức Chí Tôn.


           Nói tóm lại, nhơn sanh phải nhứt quyết  ; chỉ có Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế tá danh Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát là Giáo Chủ sáng lập ra Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Ðạo Cao Ðài là đấng Vô hình , vô danh ( đối với thế gian ) chớ không phải một người nào mang xác phàm đứng ra sáng lập, nên có chủ trương  " Thiên Nhân hiệp nhất "   là  yếu  lý  đặc  điểm của  nền  tân Tôn Giáo Cao Đài./-


                                       _______________


              Trích dẫn lời của sọan giả CHÍ TÍN nơi tập san Cao Ðài Giáo Lý  số 44 tháng 10 năm 1997, ( trang 23.24 và 25 ) 


  4. #4
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    38

    Nè nhannai sư huynh, nói khơi khơi Ngày Kỷ niệm Đức Ngô Văn Chiêu là chưa trúng đó nghen. Như câu hỏi của huynh DT đó.


    Tệ đệ không biết huynh ThienThan83 đi đâu rồi, chứ đọc tới đây làm chi cũng có chuyện "giữa đàng ra tay" đó.


    Theo thiển ý của đệ, phải ghi rõ là ngày Viên tịch (cưỡi rồng về nguyên), hay ngày Thành đạo... Ngày 13-3 âm lịch là ngày Viên tịch của Ngài Ngô đó.


    Tệ đệ có xem qua quyển "Lịch sử Quan phủ NGÔ VĂN CHIÊU". Theo đệ, khi làm quan tên Ngài là Ngô VĂN Chiêu, chỉ khi Ngài được Ơn Trên ban cho phép tu mới lấy Thánh danh là Ngô MINH Chiêu. Vì thế, gọi Đức Ngô VĂN Chiêu có khi là sai chăng?


    Không biết đệ nghĩ vậy có đúng không?


  5. #5
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    266
    Nguyên văn bởi Nhan Nai

     


       Ngày Kỷ niệm :


                              ÐỨC  NGÔ VĂN   CHIÊU


        Ngày lễ kỷ niệm Ðức Ngô Văn Chiêu , người đệ tử đầu tiên của Ðạo Cao Ðài  ; hay nói khác hơn là người sáng lập Ðạo Cao Ðài , chúng tôi tưỡng cũng nên nói lên cuộc đời và sứ mạng của Ngài trong nền Ðại Ðạo để chúng ta noi gương mà tu học .


                     Ngài Ngô Văn  Chiêu , danh đạo là Ngô Minh Chiêu , sanh ngày  mồng 7  tháng  Giêng  năm  Mậu  Dần,  nhằm  ngày 18.02. 1878 tại Quận Bình Tây, Chợ Lớn , là vị đã sáng khai  nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và cũng là người đệ tử đầu tiên của Ðức Cao Ðài.


         Năm 06 tuổi , Ngài sống với người cô tại Mỹ Tho và ăn học cho tới năm 21 tuổi thì thi đậu bằng Thành Chung và ra làm việc tại Toà án Sàigòn  từ ngày 22.3.1899 cho tới  ngày 31.12. 1902.


         Năm 1917 Ngài thi đậu Tri Huyện và qua cuối năm 1919 thì Ngài được lịnh đổi đi Hà Tiên. Lúc bấy giờ Ngài đã lập gia đình với Bà Bùi thị Thân , sinh quán tại Mỹ Tho và có với nhau tất cả 9 người con.


          Ngài làm việc tại Hà Tiên được một ít lâu thì đổi ra Phú Quốc , nhằm ngày 26.10.1920. Tại Phú Quốc , Ngài thường lên núi Dương Ðông cầu cơ và mỗi lần đều được cơ  Tiên giáng dạy .  Sau đó,có một Tiên Ông nhận Ngài làm đệ tử  và sau một buổi giáng cơ có dạy như vầy :"CHIÊU tam niên trường trai " Và kể từ ngày 9.2.1921 thì Ngài khởi sự trường trai học đạo với Tiên Ông và nhận bí truyền để tu luyện , nhưng được dạy phài giữ kín cho đến kỳ khai đạo.


          Theo kinh sách ghi lại, một chiều kia , theo sự ước nguyện của Ngài, trong khi Ngài đang hóng mát ngoài mé biển , thì từ từ hiện ra trước mắt Ngài một cảnh Bồng lai vô cùng xinh đẹp, khoảng chừng giây lát thì cảnh ấy  mới lu dần rồi biến mất.  Ðó là Tiên Ông đã cho Ngài thấy rõ sự nhiệm mầu để cho Ngài nung chí mà tu học.


           Sau đó , vào một buổi sớm mai , lúc 8 giờ, khi Ngài đang ngồi trên võng nơi nhà thì bỗng nhiên Ngài thấy trước mắt khoảng độ  2 thước , hiện ra một con mắt thật lớn, hào quang chói ngời như mặt trời . Ngài lấy làm sợ hãi, lấy tay bụm mắt, chẳng dám nhìn.  Một lát Ngài mở mắt ra thì lại thấy hào quang càng chói rạng thêm thêm lên.  Ngài bèn chấp tay và vái rằng :   " Bạch Tiên Ông , đệ tử đã rõ biết cái huyền diệu của Tiên Ông rồi. Ðệ tử xin Tiên Ông đừng làm vậy, đệ tử sợ lắm. Như phải Tiên Ông bão thờ như thế , thì xin cho biến mất tức thì ."  Ngài vừa vái xong thì con mắt lu dần rồi biến mất.


       Ít hôm sau , Ngài cầu cơ hỏi cách thờ phượng, thì Tiên Ông dạy vẽ con mắt như Ngài đã được thấy để thờ và bấy giờ mới xưng tên là : CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT và dạy Ngài phải gọi bằng THẦY mà thôi.  Ðó là vào năm Tân Dậu (1921) , Ðạo Cao Ðài ra đời , và từ đó mới phát nguyên  sự tích thờ phượng một biểu tượng chơn lý là Thiên Nhãn.  Mãi gần cuối năm Ất Sửu (1925) Ðức Cao Ðài mới dạy Ngài đem mối Ðạo truyền ra.


          Vào ngày mồng 9 tháng Giêng, nhằm ngày vìa Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế , Thầy có về đàn và dạy rằng :


         " Bữu Tòa thơ thới trổ thêm hoa


           Mấy nhành rồi sau cũng một nhà


           Chung hiệp rán vun nền đạo đức


           Bền lòng son sắt đền cùng ta. "


           Trong một đàn cơ được lưu lại. Vào ngày 14.4.1926 Ðức Thượng Ðế có dạy Ngài may một bồ Thiên phục màu trắng , có chữ Càn của Bát Quái , thêu chỉ màu vàng để lãnh chức Giáo Tông.   Tuy nhiên Ngài xin từ chối, vì ý nguyện của Ngài là quyết chi tu hành cho thành đạo , chứ không chú ý đến chức tước phẩm vị, áo mão cân đai. 


         Cũng theo Thiên ý , Ngài giữ đúng việc tu hành như Thượng Ðế chỉ dạy.  Ngài có khẩu truyền Bí Pháp cho một số  đệ tử sau nầy được biết đến qua danh từ Chiếu Minh hay Tam Thanh Vô Vi là phần tu thuộc về Nội pháp Tâm Truyền  của Cao Ðài Ðại Ðạo.  Ðức Ngô Minh Chiêu đã thọ lãnh bí pháp mầu nhiệm tinh vi, mới mẽ nhất trong cơ siêu phàm nhập Thánh của Ðúc Cao Ðài truyền dạy.  Theo chơn truyền của Ngài  , việc tu nhơn đạo  và thiên đạo phải song song . Hiện nay phần Vô Vi lấy quyển Ðại Thừa  Chơn Giáo làm phương châm tu học.


            Cuối năm 1931, Ðức Ngô Văn Chiêu tu được 11 năm. Ngài liểu đạo vào ngày 13 tháng 3 năm Nhâm Thân, tức ngày 18.4.1932, lúc 3 giờ chiều, trên đò giữa sông Tiên Giang ở Cần Thơ , đúng như tiền định mà THẦY đã cho biết trước :


                  " Giờ nầy THẦY điểm thâm công


                    Ngày sau con sẽ cỡi Rồng về Nguyên."


         Ðiểm đặc biệt là sau khi Ðức Ngô Văn Chiêu chết, con mắt bên trái Ngài lần lần mở ra  mỗi ngày một lớn , đầy đủ tinh thần như người sống vậy . Ðó là một  ấn chứng cho thấy rõ sự thành đạo của Ngài mà cũng là sư nhiệm mầu của Thiên Nhãn vậy.


         Cuộc đời của Ðức Ngô là một cuộc đời sáng tạo . Ngài là cái cửa mở vào vô vi mầu nhiệm , dẫn lối cho thiện căn tìm về  cựu vị.  Ngài sống trong sự cao vọi nhưng lại âm thầm kín đáo với lối ẩn tu khổ hạnh . Ngài là một gương mẫu trong cách tu tại gia ( đời đạo song tu )  không vì Ðời mà lơi Ðạo , mà cũng không vì Ðạo mà bỏ Ðời ( ly gia ). Ngài làm quan rất thanh liêm , mà cũng làm tròn bổn phận cha hiền con thảo.  Cuộc sống của Ngài rất thanh bạch, làm việc quan mà chẳng lạm của dân  " Nhất hào  vô phạm " là tâm niệm của Ngài đã nêu gương sáng trong cảnh thế nhân còn được truyền tụng.


          Hôm nay chúng ta là môn đệ Ðức Chí Tôn , tề tựu đông đủ về tại Thánh sở , để truy niệm , để kính mừng Người Anh Cả , mục đích không phải để tôn vinh Ngài, vì từ hồi còn sanh tiền Ngài đã không cần ai ca tụng để lãnh phần hãnh diện  nơi thế gian này . Luôn cả phẩm vị  Giáo Tông, một phẩm vị  trên  cả  trong nền Ðạo Cao Ðài được chính Ðức Thượng Ðế ban phong mà Ngài không nhận lãnh dù chúng ta có tôn vinh Ngài bằng những lời lẽ cao vọi đến đến đâu  chắc chắn điều đó cũng không hợp với ý Ngài.  Nhưng chúng ta là những kẻ uống nước , ăn trái phải nhớ đến công ngưòi đào giếng, trồng cây, nhớ  đến  công ơn khai sáng của một bậc tiền nhân  đã đến thế gian nầy để làm cho con người gương mẫu, đã hy sinh trọn vẹn  đời mình , để thể thể hiện cứu cánh của nền Ðại Ðạo, chúng ta không thể nào không nhắc đến Ngài để  hằng noi gương Ngài trên bước đường tu trở về hiệp nhất cùng Thượng Ðế. /-  


                                          ___________


     Trích ra bởi tập san TRUNG HÒA từ trang 122 -125.trong dịp lễ Lễ Kỹ Niệm ngày Khai Ðạo 15.10 năm Qúy Dậu.


     


    Đôi lời trao đổi cùng huynh NhanNai,


    Thiển nghĩ của đệ, bài viết trên, tác giả đã có một vài trích dẫn cũng như suy nghĩ không phù hợp với thực tế về tiểu sử và đạo nghiệp của Đức Ngô.


    Xin Huynh hiệu đính các điểm này (chữ màu đỏ, in đậmnghiêng ở bên trên, đệ chỉ nhận được vài điểm mà thôi) cho phù hợp.


    Trong trường hợp huynh NhanNai không thực hiện thì đệ xin BQT xem xét hiệu đính, chỉnh sửa hoặc di chuyển nội dung bài viết trên.


    Trân trọng. 


     


  6. #6
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar

     Đọc bổn "Tánh Đức của Thầy "
    Bổn tánh đức sửa lại như vầy :
    "Tánh Đức Của Thầy Hồi Còn Sanh Tiền"
    ---------

    Kiểu tu của Thầy là Thiên đạo và nhơn Đạo đi một lượt, nghĩa là vừa tu mà cũng vừa làm việc trả nợ đời .
    Đến ngày Đạo thành , thì Nhơn Đạo cũng mãn .



    * Tu giữa chợ không ai biết .
    * Tửu , sắc, tài, khí, không nhiễm.
    * " Cư trần, bất nhiễm trần"
    * Không tham luyến danh cao lợi cã .
    * Không kể xác thân. Tu rồi, coi thân như chết chưa chôn.
    Thầy nói : " Thân nầy chẵng kể, kể chi danh "
    * Không ham sự sang trọng .
    Thầy thường nói: " nếu ham sang trọng , khó theo Thầy "
    * Ai khen không mừng, chê không giận, ai nói xấu hoặc ai cười mặc ai .
    * Thầy thuờng nói : " Việc thị phị coi như lông nhạn " .
    * Ít hay cầu thân với kẻ giàu sang .
    * Hay thương kẻ nghèo hèn và mến người đạo đức . Thầy nói : "Tố phú quới hành hồ phú quới, tố bần tiện hành hồ bần tiện. Tố nào theo tố nấy, thủ phận an bần. Nếu hay can thiệp với kẻ giàu sang thì thường bị người khi ".
    * Không hay rước khách .
    * Tánh ưa tu ẩn.
    * Tuy ở chốn thị thiền mà ít ai biết chổ ở của Thầy .
    * Không chịu tựu hội .
    * Không ưa đông đão .
    * Không chịu ai lạy lục .
    * Không chịu ai tôn trọng .
    "Nhứt Hào Vô Phạm "
    * Không chịu thọ lảnh lễ vật gì của ai .
    Thầy thường dặn: "Ở nhà cũng có thờ, để ở nhà cúng, đừng đem đến làm cho Thầy phải mang câu hưởng cũa thập phương bá tánh .
    * Không chịu phô bày và vẽ viền .
    * Thầy lập Đạo một cách gọn gàng và phương tiện cho mọi người đều tu được .
    *Không khoe khoan cái Đạo .
    * Người ta biết Thầy tu , ăn chay, mà không hiểu Thầy tu làm sao ? .
    * Thầy hay ngâm câu " kín ngoài rồi lại kín trong" (xem lịch sử).
    " Tánh Thầy ít nói và không hay xen vô việc của ai. Thầy dăn trong hàng đệ tử rằng : Nếu tánh còn hay nhiều chuyện thì Thầy không nhận làm môn đệ ".
    * Thầy nói: "hể sanh sự thì sự sanh"
     Trường trai cửu cửu họa vô ưu
    Lập chí như đồng thị như như
    Sanh sự tại nhơn nhơn danh sự ...."
    * Tánh Thầy từ bi mà cứng cỏi .
    * Thầy thường nói : " Đại hùng, đại lực , đại từ bi "
    * Tánh Thầy hay vừa ý mọi người. Thầy nói : " Quân tử tánh như thủy", "Cao Đài  ứng hóa theo lòng chúng sanh, đố ai có biết cái danh Cao Đài ".
    Thầy nói: "Mình tu mà đừng cho người ta biết mình tu, giữ bề ngoài như người thường"
    * Thầy dạy trong đệ tử rằng: "Mình đừng làm ra như người ngu phẩm ".
    * Tuy ở chốn thiền-ba, các việc thấy như không thấy, nghe như không nghe .
    * Giữ tâm , không cho xao động như nước đựng trong bầu, các việc đều không .
    * Trong các việc làm, Thầy hay dè dặt . Thầy hay nói: " Tiên bảo kỳ thân " .
    * Thầy dạy trong đệ tử Thầy , phải hạ mình nhịn nhục, làm như Thầy Tam Tạng, đi tới đâu cũng lạy hoài cho xuôi việc .
    * Thầy hay biết ơn và hay lo báo ơn, đáp nghĩa. Thầy nói: "Tu hành đại kỵ vong ân bội nghĩa" .
    * Thầy hay làm âm chất, hay bố thí thầm .
    * Thầy nói : " Mua ruộng trên Trời vững bền hơn ruộng ở dưới thế gian. Bỏi vậy nên tuy làm quan, mà không dư giả như người ta,
    * Trọn đời Thầy giữ thanh bần .
    * Thầy hay nói câu: " Hữu phước bất khả hưởng tận; mình có lộc Trời cho đừng hưởng hết, phải làm phước đặng để sau cho con cháu."
    * Bình sanh hể làm việc chi một lần thì thôi, nên hư gì một lần, Thầy không chịu sửa đi đổi lại. Trong việc tu cũng vậy, Thầy không đổi ý .
    Đó là gương nhứt tâm .
    * Khi còn sanh tiền, Thầy không chịu làm Thầy ai hết .
    * Thầy ăn rất đơn sơ, ở rất giản dị, mặc rất thông thường .
    * Không ăn đồ chiên xào nhiều dầu và không chịu bày đồ ăn nhiều cách. Tương chao là gốc. Chuối xứ và đường thẻ là món tráng miệng thường. Thầy nói: "miễn ăn no bụng thì thôi" .
    * Chổ Thầy ở không chưng dọn nhiều chuyện, chỉ để vài cái ghế tu, vài cái ghế ngồi ngủ, và bàn ăn cơm đơn sơ ít món vậy thôi .". Thầy nói : "chổ nào cao trên bốn thước tây thì có thanh khí ".
    * Lúc ở nhà thì Thầy thường mặc đồ bô vải, còn khi đi làm việc hay đi đâu, thì Thầy  mặc khăn áo đàng hoàng chớ Thầy không làm cho nguời ta biết , hoặc để ý Thầy là người tu .
    * Trong việc ăn mặc và trong thân hình, Thầy giữ một cách sạch sẽ . Thầy nói : "Thân hình của mìnhđể dơ dáy và lèn xèn, đi nói Đạo có ai thèm nghe ".


    Để trọn bổn QUI-ĐIỀU trên Thiên Bàn rồi chư hiền thành tâm tiếp giá Sư Phụ .- Bần Đạo xuất cơ

    Tiếp Điển :
    Thi :
    Cao minh chúng chiếu tất lòng con
    Đài lịnh thũy chung giữ vẹn tròn
    Thượng  trí duy trì lòng đạo đức
    Đế phân đen trắng biện vàng son .
    Chưởng qua có thưở qua thành tựu
    Giáo huấn môn sanh quả đức bòn
    Thiên luật ban hành ngày lập giáo
    Tôn truyền qui tắc vững bền còn .

    Thầy mừng các con nam nữ

    Thi :
    Đàn tiền phê chuẩn bổn " QUI-ĐIỀU
    NỘI-LỆ lưu truyền hậu thế biêu
    Qui tắc Tam Thanh tồn vẹn cổ
    Ai người tỉnh ngộ bước theo chìu .

    Hựu :
    Chìu theo luật Đạo phép tu trì
    Mới rõ cơ Trời rất ẩn vi
    Mắt tục làm sao xem thấu đáo
    Lòng thành do bởi tâm minh triết
    Đắc ngộ là nhờ tánh huệ huy
    Kiên nhẩn vun bồi nền hạnh đức
    Ân Trời hạnh hưởng phước thanh vi .



    Thầy phê y bổn "QUI-ĐIỀU NỘI-LỆ" . Vậy LỘC nơi đàn nên sắm một cuốn sổ đạo. Cuốn sổ Đạo nầy chia ra làm hai phần cho nam và nữ, rồi đến ngày rằm Trung Thu năm Tân Mảo , Thầy ban hành giáo lý những con có đi hầu đàn thì ghi tên vô cuốn sổ Đạo đó, nam theo nam , nữ theo nữ. Nên thêm vào ngày thọ Đạo của mỗi con, rồi phải chừa chổ trống đặng khi có con nào qui liểu ghi ngày tháng vào, và như có đặng ân phong Thiên Tước cũng ghi vào đó. Rồi kể từ rằm tháng 8 về sau có người đến nhập môn cầu Đạo cũng cứ tiếp làm y như vậy. Mỗi kỳ đàn , để cuốn sổ Đạo ấy nơi bàn điển ký. sau Thầy sẽ do theo đó mà chọn người hành sự .
    Thầy  ban ơn chung các con .
    Thăng .


  7. #7
    Tham gia ngày
    Jul 2007
    Bài viết
    22

     


        kính Gởi HIền NHẫn Nại... 


    Về câu viết : Ngài Ngô văn Chiêu là người sáng lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ của tập san TRUNG HOÀ và người trích đăng là nhẫn Nại xin có ý kiến như sau:


      1- Để sự việc được sáng tỏ Nhẫn Nại nên đưa ra một văn bút nào đó của Ngài Ngô khi còn sinh tiền xác nhận Ngài là người sáng lập. Nếu không đưa ra được một chứng cứ nào; không biện chứng được danh nghĩa đó  thì chính nhẫn Nại nên tự giác mà rút bài ấy ra khỏi diễn đàn vì chính Hiền  đã không bảo vệ được vấn đề... bạn tin vào một bài báo mà bài báo ấy không có cơ sở...." Hiền  có thể nhờ tờ  TRUNG HOÀ  ấy hổ trợ để biện chứng"


     2- Theo Tôi biết danh nghĩa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Đức Chí Tôn dạy cho các ông Phạm Công Tắc , Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang chứ không hề dạy Ông Ngô Văn Chiêu... Nhẫn Nại nên xem lại Đạo Sử giai đoạn đó....


       3- Đã là diễn đàn để Học đạo thì người tham gia sẳn sàng nhìn nhận điều gì xác đáng, có biện chứng " cho dù nó ngoài sự suy nghĩ của chúng ta lâu nay"  nhưng cũng không chấp nhận những điều vô bằng cớ...  Nhẫn Nại nói riêng và tất cả chúng ta nên tự  giác chấp hành điều nầy.... để diễn đàn có giá trị... " chúng ta không sống trong ao nhà mà đang sống trong biển lớn " xin nhớ điều đó...


      kính


     


     


     


     


    .


  8. #8
    Tham gia ngày
    Jul 2007
    Bài viết
    36

     Kính cùng chư hiền : Tại Sao lại gọi Đức Ngô là Thầy và lại nói rằng Đức Ngô là người sáng lập nên ĐĐTKPĐ vậy kìa !


     Nếu nói như vậy cặp cơ Phong Thánh mà Đức Chí Tôn lập ( Hộ Pháp - Thượng Phẩm) hoàn toàn vô ích và công cán hỏng đáng chi à????????


     Ai Phò Loan cho Thầy Phong Thánh? Ai chấp bút cho Thầy lập Pháp Chánh Truyền??? Ai vâng lịnh Thầy tạo tác Tòa Thánh !?


     Thiệt hư ra sao ! Ai nấy đã rõ ! đừng vội kết luận mà tránh thất lễ với Ơn trên chư hiền ơi !


     Chút sự ngu dốt , mong được chỉ giáo !


     Chào thân ái !


     


  9. #9
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar
     

       2. Về phần CHẾ-ĐỘ.


              (a) – Giáo-chức và Hệ-thống.


              Mặc dầu lối tháng 9 dl. năm 1920 (lúc còn tại Hà-Tiên) Đức NGÔ-MINH-CHIÊU đã phụng lãnh thiên-mạng mở Đạo kỳ ba độ rỗi nhân-sanh, mặc dầu sau khi về Sàigòn (năm 1924) Ngài chỉ-huy, giám-định công việc xây dựng nền-tảng Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, mặc dầu Ngài ban truyền một Giáo-Lý qui-tắc phân-minh, mặc dầu Ngài điều-khiển Cơ-quan Vô-Vi Tâm-Pháp ấn-chứng hiển-nhiên, nhưng Ngài chẳng thọ nhận chức Giáo-Tông, ân-phong tại Tòa-Thánh Tây-Ninh (14 tháng 4 dl. năm 1926).  Chẳng những thế thôi, Ngài còn không nhận cho mấy vị học đạo trực-tiếp với Ngài, gọi là "Thầy" nữa.


              Ngài nói ở trần-thế không người nào được làm thầy người nào hết.  Ngài chỉ là người truyền-giáo mà thôi.  Mấy người học đạo, là học đạo với Đức THƯỢNG-ĐẾ.


              Phép tu-hành theo Ngài là phép "cư-sĩ, tu tại gia".  Không lập Tòa lập Thất, không tạo Chùa-chiền, Đạo-viện.  Không tổ-chức Giáo-Hội, Tập-Đoàn nơi Tu-viện (Monachisme).


              Đạo của Ngài không có đặt ra Giáo-chức (Sacerdoce).  Tất cả tín-đồ, nhứt thể đều là người còn đương học Đạo, không phân giai-cấp.


              Khác nhau là cũ và mới: Tín-đồ cũ có nhiệm-vụ dẫn-dìu người mới, chỉ kiểu tu-hành cho tường-tận, cho họ được hiểu biết như mình.  Song tuyệt nhiên không bao giờ được dùng tiếng "DẠY".  Tín-đồ mới có phận-sự phải hành y theo lời chỉ vẽ, và xem người cũ như người thay mặt Giáo-chủ trao bản-đồ cho mình dò theo mà hành-đạo.  Chính Ngài cũng không chịu ai tôn-trọng biệt-đãi mình.


              Mỗi nhà là một cảnh Chùa.


              Mỗi tín-đồ là một vị Mục-sư, có thể cảm thông trực-tiếp (en communion directe) với Thiêng-liêng.


              Nếu người nào có đủ phương-tiện, muốn lập ra một ngôi thờ, để cho có chổ nơi rộng-rãi hội-hiệp, cúng kiến chung, thì cũng tốt vậy .  Nhưng phải tự-túc, chớ chẳng đặng phép thâu chấp tiền bạc, nhận lãnh lễ vật chi hết.


              Ngài thường dặn phải theo gương Ngài: NHỨT-HÀO VÔ-PHẠM.


    ____________


              b)  Cách Sinh-Hoạt.


              Tín-đồ bề ngoài giữ như người thường: không cạo râu xuống tóc, đeo dấu hiệu, ăn-mặc cách riêng.  Nâu-sòng trong thâm-tâm.  Ngoài vẫn lẫn-lộn theo thế-tục.


              Phải có kế sanh-nhai, tự nuôi thân, chớ chẳng được phép nhờ người giúp đỡ, cấp-dưỡng.  (Lẽ cố-nhiên là trừ ra trường-hợp những người già cả phải nhờ con cháu phụng-dưỡng).  Công ăn việc làm phải cố-gắng đừng cho trái nhơn-đạo.


              Ngoài, phải giữ  tròn phận công-dân, khâm-tuân pháp-luật, giúp ích xã-hội.


              Trong gia-đình, sau việc cúng-kiến phượng-thờ, phải lo tròn nhiệm-vụ.


              Chính lúc còn tại tiền, Ngài cũng vừa làm công-chức, vừa lo tu-hành như thường, không giãi-đãi trong phần nào hết.  Ngài tu giữa chợ mà không ai biết.


              Ngài cúng bốn thời (Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu).  Cơm (ăn chay kỹ: toàn thảo-mộc) hai bữa như thường.  Phép tu theo Ngài không chịu Sơn, Xuyên, Am, Cốc.  Mà cũng chẳng dạy tịch-cốc, hành-thân.


              Bất luận giàu nghèo sang hèn, ăn uống phải thanh-đạm, chỗ ở, cách sống phải đơn-giản.  Như vậy mới đúng theo gương mẫu của Ngài và đúng theo câu Ngài thường nhắc: Hữu phước bất khả hưởng tận.


              Tín-đồ cũng có gia đình như người.  Cang-thường phải trọn thỉ-chung.  Nhưng đến một thờI-kỳ, phải GIỮ NHƯ SEN MỌC DƯỚI BÙN KHÔNG NHƠ.


              Còn câu "LY-GIA CẮT-ÁI" không có nghĩa lìa bỏ gia-đình, mà là phải đoạn căn-tâm: sống trong cảnh mà không đắm-mê tham-luyến.


    ____________


              c)  Cách Hành Trì -


              Khởi đầu, tín-đồ chỉ giữ trai-kỳ (mỗi tháng hoặc 6 ngày, hoặc 10 ngày chay toàn đồ thảo-mộc) và tập cúng tứ-thời.


              Tiến tới nữa thì tín-đồ phải trường-trai và cúng tứ-thời.


              Tín-đồ phải biết tự kiểm-thúc lấy mình và phải thi-hành một lượt ba bản-sự:


              1. CÔNG-PHU: là trau sửa tâm-tánh cho được trong sạch, thanh-tịnh.


    2. CÔNG-QUẢ: là làm việc phước-đức, giúp ích cho đời bằng mọI phương-tiện.


              3. CÔNG-TRÌNH: là phượng-thờ, cúng-kiến đúng phép qui-định với một lòng thành-tín.


              Ba phần phải cho đồng-đều, không đặng biếng-lảng trong phần nào.


              Tín-đồ chẳng đặng phép đi tuyên-truyền, hoặc rủ-ren, mời mọc người khác.  Phận-sự phải luôn luôn làm gương-mẫu, là cố-gắng hành-đạo cho đúng qui-giới, hầu có thể cảm-hóa người trông vào.  Đó là phép CHÁNH-KỶ HÓA-NHƠN.


              Tín-đồ phải lấy câu "TỰ GIÁC GIÁC THA" làm châm-ngôn (Devise).  Vì nếu không lĩnh-hội được Giáo-lý thì chỉ dẫn ai được (Ngô-thân bất-độ, hà thân độ).


              Tín-đồ phải trầm-mặc.  Chẳng nên bàn đến chánh-sự, chẳng nên luận đến Tông-giáo khác, chẳng nên xen vô việc đôi-chối của người.


              Đức NGÔ-MINH-CHIÊU hằng dạy: "Làm thinh mà tu là hay nhứt".  Càng tu lâu ngày, tín-đồ càng cương-quyết, càng trì chí, càng khép kỹ mình vào khuôn Đạo, cho đúng theo câu kệ của Ngài thường nhắc: "Người tu hành phải Đại-Hùng, Đại-Lực, Đại-Từ-Bi".


    --------


    Sưu tầm quyễn Lịch sử Quan Phủ Ngô Minh Chiêu


  10. #10
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Bài viết
    512

    Chào quí A C E,


    Nhắm bộ chúng ta lại quay vào vòng lẫn quẫn của cỏi nhị nguyên này nữa rồi, coi trọng xem ai là người "sáng lập" ra Đạo Cao Đài, hay ai mới là "Thầy".


    Có một điều HDDD có thể biết chắc là các bậc tiền bối đắc được "Đạo" của Cao Đài giáo không ai màng đến danh xưng "người sáng lập" ra Cao Đài giáo, hay là "Thầy" chi cả, mà chỉ lo hoàn thành tốt sứ mạng của mình với Ơn Trên là đạt Đạo rồi.


     


Trang 1/5
1 2 3 ... 5

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Thăm nhà Đức Ngô Minh Chiêu ở Tân An
    Bởi Hao Quang trong mục Cảm xúc Thành viên
    Replies: 4
    Có Bài Mới: 22-04-2013, 11:00 AM
  2. Kỷ niệm ngày Khai Minh Đại Đạo!
    Bởi Hao Quang trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 18
    Có Bài Mới: 21-12-2012, 06:16 PM
  3. Ngày thành Đạo của Đức Ngô Minh Chiêu
    Bởi Trung ngôn trong mục Cơ sở Đạo & Hội thánh
    Replies: 39
    Có Bài Mới: 28-05-2010, 07:25 PM
  4. Tại sao Đức Ngô Minh Chiêu...?
    Bởi Guests trong mục Quý I.2007 -
    Replies: 32
    Có Bài Mới: 11-11-2006, 01:12 AM