Ngày mùng 5 tháng 6 Nhâm Tuất (1982) chúng tôi có đến phỏng vấn ông Tổng Mũi Nguyên về căn gốc việc Chèo Thuyền Bát Nhã; chúng tôi xin đại lược để quí đồng Đạo được tường lãm.

Từ ngày khai Đạo đến năm thứ 12 tức năm 1938, Đức Di Lạc Vương Phật có giáng cơ cậy Đức Hộ Pháp tạo một chiếc thuyền Bát Nhã để dẫn độ chơn linh của 92 ức Nguyên Nhân về Bạch Ngọc Kinh. Đức Ngài cũng không biết hình thức của thuyền ấy ra sao, thì Đức Di Lạc dạy tạo 1 chiếc như chiếc ghe lường, mũi có đầu rồng, lái có đuôi rồng, giữa làm mui như nóc nhà, nhưng thuyền lại để trống không có đáy.

Bà Bát Nương dạy thêm, nên ra Huế rước người của Triều Đình chuyên hát Chèo để tế lễ Nam Giao vào dạy mẫu bài bản, điệu bộ, nhạc trống họ chỉ dẫn thì sẽ làm nên Ban Chèo Thuyền của Đạo.

Sẳn dịp có Lễ Sanh Chính là người Huế Chức Sắc Trung Tông về chầu lễ Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp cậy thi hành việc ấy. Ông Chính than thở rằng: Từ thử không dám lén vào Hoàng Cung, ra đó biết ai mà sở cậy, song lịnh Đức Giáo Chủ phải cúi đầu. May thay có Chánh Trị Sự Hào (sau là Giáo Sư Thái Hào Thanh) nhận rằng mình hồi nhỏ có làm Bá Trạo cho bên hát chèo nên biết chủ chốt của họ. Rồi hai ông Chính và Hào cùng lảnh lịnh đi ra Huế.

Khi đến nơi gặp được ông Giác và ông Biện, hai ông bằng lòng vào Tòa Thánh dạy 2 tháng thành nghề với số tiền thù lao là 300 đồng.

Đức Hộ Pháp ra lịnh cho Lễ Viện chọn một số Lễ Sĩ đem lên Đức Ngài lựa. Ngài chọn Năm Le làm Tổng Lái, Chính Nguyên làm Tổng Mũi, ông Phát làm Tổng Thương cùng 12 người Bá Trạo.

Bài vỡ đã ra mà kép họ cũng chưa thuộc tuồng, thuộc giọng, điệu bộ cũng chẳng lào thông thì tới Lễ Khai Đạo Rằm Tháng Mười, có Bà Giáo Sư Hương Phụng ở Nam Vang về, Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh ở Vĩnh Long lên. Có Bà Giáo Sư Hương Hồ cùng Chức Sắc địa phương về Tòa Thánh dự lễ. Đức Hộ Pháp dạy Lễ Viện cất rạp mượn Kim Khôi, hắc giáp làm y phục cho Tổng Lái, bạch khôi, bạch giáp làm y phục cho Tổng Mũi cùng dậm mặt đỏ cho Tổng Thương, đêm 11 tháng 10 Đinh Dần (1938) ra mặt khán giả. Chỉ học có 10 ngày làm sao hát được nên ông Tổng nhờ Lễ Viện trình Thầy xin hoãn lại ít hôm. Thầy bác đơn và buộc đến ngày 11 phải hát, cả thảy đều sợ lịnh mà thi hành.

Đến 8 giờ tối, khán giả đều đủ mặt, Đức Hộ Pháp kêu ra tuồng. Giáo Sư Minh kêu Tổng Lái ra trước, vì không thuộc tuồng Tổng Lái chần chừ, Đức Ngài lại thúc giục nên buộc ông Minh phải đạp đích Tổng Lái ra sân khấu. Có lẻ lúc ấy chơn linh nhập thể nên Tổng Lái cất tiếng lanh lảnh, hát hay xuất sắc đến nổi tiền thưởng lúc đó đầy 1 rổ quả bạc cắc.

Tổng Thương và Tổng Mũi đến phiên mình cũng bị đạp đích ra sân khấu mà hát, điệu bộ không thua hát bội chánh tông nên khán giả hài lòng thưởng bạc.

Đức Hộ Pháp hài lòng hơn cả vì đã thành công làm tròn phận sự của Đức Di Lạc sở cậy. Thầy biểu mỗi đứa hát sao thì phải nhớ ghi lại lời hát của mình, rồi ráp 3 đứa lại thành tuồng chèo thuyền hôm nay chớ bản chánh của Triều Đình Huế không giống với bây giờ.

Sau sáu tháng hai ông được mướn, thấy tinh thần của Đạo Cao Đài đẹp quá nên xin nhập môn theo Đạo và không nhận tiền thù lao, chỉ xin đủ tiền xe về xứ sở.

Còn Chèo Hầu, đầu tiên hết là chèo đám xác ông Giáo Sư Thành. Thuyền đưa từ Sài gòn lên Tây Ninh do xe lôi kéo. Chổ nào có chợ búa thì xe chạy chậm lại hát. Dân chúng hai bên lộ thấy lạ chạy chen nhau như xem hát Sơn Đông. Lúc ấy Đạo còn yếu mà nhờ Ban Chèo Thuyền dẫn độ được nhiều người thấy vẽ đẹp của Đạo và ý nghĩa của sự Chèo Thuyền, cứu vớt chơn hồn về Cực Lạc Cảnh. Nhứt là bên Phật giáo, họ đã hiểu nó mà không thấy nó. Nay nó sống lại trước mắt họ nên họ giác ngộ theo Đạo rất nhiều. Những người có đọc Tây Du Diễn Nghĩa cũng nhớ lại tích Tam Tạng thỉnh kinh đến Nại Hà Kiều thấy thuyền không đáy lên ngồi đưa qua Tây Thiên Trúc mà thỉnh kinh.

Ban Chèo Thuyền bị gián đoạn một thời gian khi Thầy lưu vong Miên Quốc (1956). Đức Thượng Sanh ra lịnh cấm hoạt động cho rằng chúng thất lễ, dám chỉ trích Chức Sắc công khai trong cách hành sự tại Báo Ân Từ.

Khi Tổng Khậu Giác qui vị, nhờ Tổng Mũi Nguyễn cầu khẩn và giải thích cặn kẻ nên Đức Thượng Sanh chấp thuận chèo cho ông Giác và từ đó được hoạt động trở lại.

Nhưng đến trào XHCN cho nó là mê tín dị đoan nên bị cấm đến nay (lưu ý bài này viết năm 1982).

Ông Nguyễn là người chót hết còn sống sót trong ban đầu tiên của Ban Chèo Thuyền sáng lập năm 1938.

Ông ước một ngày sáng lạng, Ban Chèo Thuyền được tự do hoạt động lại để chở chơn linh Chức Sắc hưởng Bí Pháp của Đức Di Lạc tại thế, ông sẽ làm huấn luyện viên dẫn dắt đoàn hậu tấn tiếp nối công trình của đàn anh đang bỏ dở.

Trích Tầm Ngọc III - Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài Bùi Văn Tiếp