Chủ đề đã đóng
Trang 4/4
1 ... 2 3 4
kết quả từ 31 tới 40/ Tổng số 40

Ðề tài: Gương Hướng Đạo - Ngài Liễu Tâm Chơn Nhơn

  1. #31
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar
    nghỉ tết dài ngày rảnh rỗi gõ tiếp vài dòng!
    khi nhắt đết Cơ Đạo Miền Trung có lẽ chúng ta cũng không quên nhắt đến gia đình đã có cống hiến rất nhiều cho Đạo Cao Đài tại làng Bất Nhị! đó là gia đình Họ Lê! Bà Mục Cưu người thôn phụ hiền hòa, phúc hậu,lanh lợi, đảm đang! nhưng chịu một sự mất mát to lớn! đọc dòng sử Đạo mà mình không khỏi ngậm ngùi có lúc nước mắt cũng rơm rớm ( hơi sến...kệ)
    " Lê Văn liêm và Lê Văn Bặc từ trần cách nhau chi 12 tiếng đồng hồ! ( ngày 3-8 - Giáp Tuất - 11-9-1934)
    vào đêm 14-8 Giáp Tuất (2-9-1934) Đức Lý Giáng Cơ tại Huỳnh Long Phủ cho biết:
    Lê Văn Liêm đắc vị: Lục My Chơn Thánh và Lê Văn Bặc đắc vị Ngọc Quê Chi Lan Thần
    mất hai người con cách nhau chưa đến 12 tiếng đồng hồ! Bà Mục Cưu lâm bệnh và từ trần vào ngày 20-11-Giáp Tuất ( 26-12-1934)
    ngày 12-4- ất hợi (14-5-1935) bà chị dâu Mai Thị Lệ ( vợ anh Tư Bặc) mắt bệnh sơ sài cũng từ trần.
    sau Lễ Khánh Thành Thánh Tịnh Thanh Quang Đêm 30 rạng 01-6 ất hợi ( 1-7-1935) qua ngày sau Bạch Phụng về lo việc nhà và phá bệnh sáng 04-6 ất hợi ( 04-7-1935) Bạch Phụng trút hơi thở cuối cùng
    đến Ngày 03-9- ất hợi ( 30-9-1935) Kim Quy trút hơi thở cuối cùng theo anh theo Mẹ
    và một tháng sau ngày 7-10-ất hợi ( 02-11-1935) bé Lê Thị Huệ( con Lê Văn Bặc) cũng chết nốt!
    gia đình Bà Mục Cưu tan tác đến độ không còn ai để khóc thương! Chị Lê Thị Niệm đã xuất gia, chỉ còn anh Lê Văn Cưu tròi trọi......
    ( trích Ơn Gọi Miền Trung - Phạm Văn Liêm)
    ...............
    đêm 14 rạng 15-9 Giáp Tuất (22-10-1934) là đêm lịch sử ghi dấu thời điểm chính thức đưa Đạo Cao Đài về Trung
    Rạng ngày 15-9 Giáp Tuất ( 22-10-1934) đoàn sứ giả lên đường về Quảng Nam thi hành sứ mạng truyền Đạo Trung Kỳ
    khi Tứ Linh Đồng Tử về Làng "Bất Nhị" ! HQ có mấy ý thêm thắt chổ này! mỗi việc đầu có sự mầu nhiệm! tại sao Thầy không sai Tứ Linh về một làng nào đó mà lại về Làng Bất Nhị ! Bất nhị: là không hai! tức là một! có lẽ có ẩn ý rằng Thầy muốn duy nhất chơn truyền tâm công làm một, Quyền Pháp không hai!
    khi đưa Đạo về Làng Bất Nhị Thầy cho lập Thánh Tịnh Thanh Quang trước và Từ Quang Thánh Thất sau!
    trích một dòng của Huynh Đỗ Thế Hưng: " Thánh Sở đầu tiên là Thanh Quángn Thánh Tịnh, Thanh là Thanh tịnh trong trẻo, Quang là ánh sáng. Thánh Tịnh là nơi của người Tu Tịnh.Thanh Quang Thánh Tịnh là nơi nơi Thanh Tịnh trong sáng giành cho người xuất thế tu hành, biểu hiện cho cơ Tuyển Độ.lại nữa người đầu tiên sáng lập nên Thanh Quan Thánh Tịnh là Ngài Nguyễn Chơn Khai vốn xuất thân là một tu chơn, Ngài từ trong cửa Thánh đi ra. Thánh danh CHƠN KHAI của Ngài do ơn trên đặt có một ẩn nghĩa sâu kín của Đạo Pháp. Chơn Khai là chơn đạo được khai mở để cứu vớt chúng sanh"
    tiếp theo là Từ Quang Thánh Thất, là Từ Bi, Tình thương, Quang là ánh sáng, Thánh Thất là nhà Thánh, Từ Quang Thánh Thất là ánh sáng tình thương của Đức Chí Tôn ban rải xuống thế gian nhằm quy tựu nhơn sanh nương về Thánh ân để tu thành Thánh biểu hiện cho cơ Phổ Độ. Lại nữa người đầu tiên xây dựng nên Từ Quang Thánh Thất là Ngài Nguyễn NHƯ SƠ vốn xuất thân trong cảnh giang hồ phiêu bạt chu lưu khắp đồng quê chợ búa , phố thị phồn hoa không chổ nào Ngài không đến. Sau khi giác Ngộ Đạo Ngài quyết tâm phế đời hành đạo, đêm thân cùng gia sản hiến trọn cho Thầy và được Thầy phong Thánh danh là NHƯ SƠ.Người xưa có câu " tu hành NHƯ SƠ thành Phật hữu dư" . Ngài xuất thân từ giang hồ - một võ hiệp điều này cho thấy Từ Quang Thánh Thất là biểu hiện cho cơ Phổ Độ trên đất Quảng Nam.
    tất cả đều có sự mầu nhiệm! lúc đầu Khai Đạo tại Miền Nam Thầy truyền Đạo cho Đức Ngô Minh Chiêu tu tịnh trước, sau đó Ngài mới dạy cho nhóm Cao - Phạm sau. Điều này có Nghĩa Thầy Lập cái Tâm trước, cái tướng sau, hay có thể nói cơ tâm Truyền trước cơ Phổ độ sau."
    ( trích Kỷ yếu Lễ Thánh Đán Đức Chí Tôn - Từ Quang)

    "cuối Thu năm Đinh Sửu ( 1937) tiền bối Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang ra Trung lần hai để lo xây dựng Thánh Thất Trung Thành tạm thay cho Trung Hưng Bửu Tòa tạI Đà Nẳng.
    tiếp theo đó ông Huỳnh Văn Phát đưa đồng tử ra Trung dự đàn cơ phong thánh tại Ngũ Hành Sơn , các tiền bối Nguyễn Thế HIển, Nguyễn Bửu Tài cũng ra Trung. Tiền Bối Thượng Chưởng Pháp Lê KimTỵ lãnh sứ mạng hiệp lực với tiền bối Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang hoàn tất việc xây dựng Thánh Thất Trung Thành chỉ trong thời gian ngắn.
    Đức Trần Hưng Đạo giáng cơ ban cho ba câu đối treo ở ba nơi:
    1. tại BÁT QUÁI ĐÀI
    "Giáp tý hiệp không gian, nhượt thiệt nhượt hư cảm hóa tam thiên thế giới
    Bính dần khai Đại Đạo, vô nhơn vô ngã độ toàn cửu vị Nguyên Nhân"
    tạm dịch:
    " Giáp tý hiệp không gian, như hư như thật cảm hóa ba ngàn đại thiên thế giới
    Bính Dần mở Đại Đạo, không người không ta độ trọn chín mươi hai ức nguyên nhân"

    2. tại HIỆP THIÊN ĐÀI
    " Tiên, Phật, Thánh, Thần, Nhân bản do nhất thể
    Úc, Phi, Âu, Á , Mỹ nguyên thị đồng nhơn"
    Tạm dích:
    " Tiên, Phật, Thánh, Thần, Người gốc từ một thể
    Úc, Phi, Âu, Á, Mỹ vốn cũng môt loài"
    3. tại trước CỔNG
    " Bắc vãng Nam lai, Đại Đạo Tam Kỳ quy vạn chủng
    Đông tiền Tây hậu, cơ đồ nhất thống vĩnh thiên thu"
    tạm dịch:
    "Bắc đi Nam đến, Đại Đạo Tam Kỳ quy vạn loại
    Đông trước Tây sau, cơ đồ một mối mãi ngàn năm"

    ngày khánh thành Thánh Thất Trung Thành diễn ra đúng theo thánh ý và tháng 4 Mậu Dần ( tháng 5 - 1938) cũng là ngày Đại Hội Long Vân đệ Bát, ngày này được xem là ngày Công KHai nên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Trung Kỳ và sứ mạng truyền giáo Trung Bắc!.
    ( Trích Ơn Gọi Miền Trung của Phạm Văn Liêm)
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

  2. #32
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar
    Thành quả ngày lễ đã cho thấy nền Đạo mới Cao Đài đã quy tụ nhiều thành phần xã hội, từ các bậc chân tu Đạo hạnh, các bậc sĩ phu ưu thời mẫn thế đến các vị quan lại trí thức cựu học, tân học, các nhà điền chủ, nghiệp chủ, doanh nhân…

    Thành quả ngày lễ xóa tan định kiến của một số quan lại khoa bảng, các ông đồ nho, trí thức Tây học, nhân sĩ phú hào thời ấy vốn có mặc cảm tự tôn nên ngộ nhận rằng Đạo Cao Đài chỉ tập hợp giới bình dân ít học, nghèo khó. Ngoài ra lệnh nghiêm câm truyền bá Đạo Cao Đài có phần nơi tay.

    Điều hơn nữa là tinh thần Đạo nghĩa thắm thiết, phóng khoán, hòa đồng nối tiếp truyền thống Tam Gíao đồng nguyên của dân tộc Việt, tiến lên xây dựng một nền tư tưởng Đại Đồng, không màu sắc, không giai cấp, không địa phương, thực thi lời dạy của Đức Cao Đài từ buổi Khai Đạo:

    “ Từ đây nòi giống chẳng chia ba
    Thầy hiệp các con lại một nhà
    Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc
    Chủ quyền chơn Đạo một mình ta”

    Các bậc chí sĩ có tinh thần Cách Mạng cũng đã bày tỏ thiện cảm với Đạo Cao Đài. Đơn cử là nhà cách mạng Sào Nam Pham Bội Châu ( 1867-1940) mừng lễ Khánh Thành với câu đối:
    Khế bách thánh vu nhất tâm, minh tắc thành hỹ, thành tắc minh hỹ
    Đoàn Tam Kỳ vu nhất thể, Thiên hữu nhân yên, Nhân hữu Thiên yên”
    Tạm dịch:
    “ Hợp các Thánh ở một Tâm, sáng ắt thành vậy, thành ắt sáng vậy
    Gom ba kỳ về một thể, Trời có người vậy, người có Trời vậy”

    Các nhà tu Minh Sư cũng quy hiệp Cao Đài. Sau lễ Khánh Thành, tiền bối Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang ( nguyên Thái Lão Sư của Đạo Minh Sư) chứng lễ quy hiệp Cao Đài của hai tu sĩ Minh Sư là tiên sinh Trần Nguyên Chất và tiên sinh Huỳnh Ngọc Trác
    ( sau này Trần Nguyên Chất đắc quả vị: Hộ Đạo Thiên Quân, và Ngài Huỳnh Ngọc Trác đắc vị : Liễu Tâm Chơn Nhơn)

    Nửa tháng sau, vào ngày 24-6-Mậu Dần ( 21-7-1938) toàn thể bổn đạo Minh Sư cũng hành lễ quy hiêp tại Tam Gíao Tự ở An Tráng. Tiên sinh Huỳnh Ngọc Trác đã bộc lộ tư tưởng của mình trong trong dịp quy hiệp bằng hai câu đối:
    Tam Gíao tiên định phương, vạn pháp thù đồ ngô thị thể
    Cao Đài vị xuất thế, ngũ châu tuy đại ngã vô gia”
    Tạm dịch:
    “ Tam Gíao trước kia định hướng, muôn nẻo khác nhau, với ta là một
    Cao Đài nếu chửa ra đời, năm châu tuy rộng, Ta lại không nhà”
    …………
    “trích Ơn Gọi Miền Trung – Phạm Văn Liêm)
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

  3. #33
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar

    QUYỀN THÁI PHỐI SƯ: NGUYỄN NHƯ SƠ
    (1905 - 1958)
    TIỂU SỬ:
    Ngài quyền Thái Phối Sư Nguyễn Như Sơ tức là Nguyễn Đán, tên thật là Nguyễn Văn Minh, tục gọi là Hương Niên, sinh năm Ất Tỵ (1905) tại làng Phú Bông, phủ Điện Bàn, Quảng Nam, thân phụ Ngài là Nguyễn Bình, làng Phước Long, huyện Nam Đàn, Nghệ An, nhà nho lỗi thời làm nghề Đông y di cư vào Quảng Nam gặp bà Nguyễn Thị Quán sinh được 2 người con gái và 1 trai là Ngài.

    Vì vậy, Ngài là con trai độc nhất, được Cha Mẹ nuông chiều, đi học chậm, cha lại mất sớm nên Ngài liêu lổng. Mười sáu tuổi chưa xong tiểu học đa phải bỏ học, tụ tập bạn bè đi chơi, luyện tập võ nghệ, đình đám hội hè rồi đến cờ bạc.

    Năm 18 tuổi Ngài lập gia đình với bà Huỳnh Như Thủy, được ít năm Ngài lại dấn thân vào chốn giang hồ phiêu bạt từ Quảng Nam đến khắp Miền Trung rồi Cao Nguyên và Miền Nam, Sài Gòn, Chợ Lớn, Nam Vang. Những nơi nỗi tiếng ăn chơi cờ bạc, võ nghệ Ngài đều bước chân đến, nên quen biết hầu hết những nhân vật to lớn có máu đỏ đen, giang hồ tứ chiến khắp mọi miền.

    Tuy vậy, trên bước giang hồ Ngài luôn giữ phong độ hiệp khách, nghĩa là chỉ tham dự những trận đánh lớn có danh, quyết ăn thua với những tay anh hùng tứ xứ và khi được bạc lớn, Ngài thường chia cho bạn bè nghèo khổ.

    ở đâu Ngài cũng chịu khó tìm Thầy học võ: Quảng Nam, Bình Định, Sài Gòn, võ ta, võ tàu đều biết đủ Nhưng quan trọng là võ đạo, võ công luyện tập thân thể, đồng thời rèn luyện tinh thần ý chí. Ngài thường biểu diễn cho bạn bè xem và danh đồng võ sĩ Hương Niên không ngoa.

    Về cờ bạc, Ngài cũng thuộc loại tay chơi thượng thặng, rành đủ ngón xảo thuật để ăn thua. Nhưng rồi sau 10 năm hành hiệp giang hồ, sau một trận đánh lớn và nguy hiểm tại một nhà lầu ở Sài Gòn với một tay anh chị có cỡ, Ngài cảm thấy băn khăn về cuộc đời vinh nhục đỏ đen.. Ngài liền từ bỏ chốn giang hồ trở về quê cũ sống với gia đình thanh đạm vào đầu năm 1934, hằng ngày đọc kinh sách Phật Gíao để làm lẽ sống tinh thần.
    ( Trận đánh lớn tại một nhà lầu ở Sài Gòn như sau: " lần nọ, có sòng bạc lớn tổ chức tại một ngôi nhà lầu ở Sài Gòn, hôm ấy tụ tập các tay nhà giàu, Giám đốc các hãng buôn, chủ đồn điền cao su. Như thường lệ Ngài bận chiệc áo dài đen, đội mũ phớt cùng đi với một tài chủ, một người hộ vệ mang theo một cặp tiền, phía khách chơi là một chủ đồn điền mang theo một cô đầm lai. Sòng bạc bày ra chơi tiếp đến hiệp thứ ba thì Ngài hốt trọn tiền cho vào cặp, còn lại xăng áo dài lên cho hết vào bọc. Tức thì 1 vị khách rút súng ra dọa Ngài phải trả tiền lại, lập tức Ngài chụp ngày cô đầm lai đưa sốc lên làm bia đỡ đạn và bảo: " nếu các ông nổ súng hay có cử động gì khác thì cô này phải chết trước", mặt khác Ngài cản đường cho Thày trò tài chủ đi với Ngài thoát khỏi vòng vây xuống lầu trước, còn Ngài vẫn nắm chặt cô đầm lai đưa về phía đối phương và đi xuống lầu đến chổ chiếc xe tài chủ đang nổ máy mới buông cô đầm ra và cùng tài chủ lên xe bỏ chạy.

    Thời gian này Ngài gặp Đạo và nhập môn Cao Đài rồi chóng trở thành bậc Hướng Đạo cốt cán của Hội Thánh Miền Trung suốt ba thời kỳ truyền Đạo, xây dựng và phát triễn. Ngài đã đem hết tâm lực để phục vụ nhân sinh cho đến hơi thở cuối cùng vẫn vì Thầy vì Đạo.

    Ngài sinh được cả thảy 4 người con ( 2 trai, 2 gái): Niên, Ngoạt, Nhựt, Thời. Người trai đầu mất sớm. Hiện còn 2 người con gái và một người con trai đã có đông con cháu ở Miền Trung và cả Miền Nam.

    ĐẠO NGHIỆP.

    Từ khi Ngài dừng bước giang hồ để trở lại quê nhà tu tỉnh thì duyên đưa Ngài gặp Ngài Thầy Giáo Châu vẫn thường ngày qua lại Phú Bông để dạy học tại Dinh Trận. Hai bên đều biết tiếng nhau và trở nên đôi bạn tâm đắc, dù tuổi đời có chênh nhau đến 5-7 tuổi.

    Vào một đem tháng chạp năm Giap Tuất ( 1935) Ngài đã mời Ngài Gíao Châu về nhà và nhờ giảng giải cho nghe những bài kinh Phật.

    Đến đêm 23- tháng chạp Ngài xin được hầu đàn cơ tại Thánh Thất Từ Quang ( nhà cụ xã xước). Từ đó Ngài thấm mùi Đạo lý và nhờ Ngài Nguyễn Quang Châu hướng dẫn nhập môn Cao Đài tại Thánh Tịnh Thanh Quang vào ngày Nguyên Đán Ất Hợi ( 1935) với Thánh Danh Như Sơ . Từ đó đoàn Truyền Gíao Trung Kỳ có thêm hai nhân vật lỗi lạc: một văn ( Nguyễn Quang Châu), một võ ( Nguyễn Đán). Nhưng cũng từ đó, dư luận quần chúng lại xôn xao chú ý vì sự đặt biệt của Đạo Cao Đài đã lôi cuốn được 2 con người đặc biệt của địa phương Điện Bàn.

    Tại Phú Bông lúc bấy giờ có bà Xã Nho ( Lê Thị Tịnh), chị dâu của Đạo Sư Võ Xương Kỉnh ( Thầy Chín Phú Bông) là một môn đồ Minh Sư cũng nhiệt tình với nền Đạo mới nên đã quy hiệp Cao Đài và xin cúng hiến 2 sào đất tư đễ làm Thánh Thất. Phần Ngài cũng xin hiến cúng ngôi nhà gỗ để làm Thánh Sở.


    Thế là trong đàn cơ vào đầu tháng 3/ Bính Tý ( 1936) tại Thánh Thất Từ Quang,Ơn trên đã chấp nhận cho dời hiệu Thất này ( nguyên ở nhà cụ Xã Xước- Trần Công Trác- thân sinh của Gíao Sư Trần Công Ban) qua chỗ nhà đất mới. và Ngài đã vận động công quả bổn đạo kiến thiết nhà Thánh, đến ngày 15-5- Bính Tý thì lễ An Vị lại trùng ngày tang lễ thân Mẫu Ngài vừ từ trần bất ngờ. Hai lễ cùng một ngày nên số người tham dự rất đông và nhập môn cũng nhiều, tạo không khí tưng bừng mới lạ chưa từng có tại Phú Bông.

    Tháng 10- Đinh Sửu ( 1937) Ngài tháp tùng Phái đoàn do Hướng Đạo Trung Kỳ do Ngài Lê Trí Hiễn lãnh đạo vào nam tiếp xúc với Liên Hòa Tổng Hội tại Thánh Tịnh Trước Lý Minh Đài.

    Từ đó Cơ Đạo ngày càng phát triễn ồ ạt nhờ sự hỗ trợ đắc lực của 2 Ngài cho Đoàn Truyền Gíao Trung Kỳ của Tứ Linh Đồng Tử. Vì vậy, Đàn cơ phong thánh đầu tiên tại Huyền Không Động ( Ngũ Hành Sơn) ngày 9-1 Mậu Dần ơn trên đã phong cho Ngài Phẩm vị Giáo Hữu cùng với Ngài Gíao Sư Nguyễn Quang Châu. Chỉ thời gian sau Ngài đã xây dựng Thánh Thất Từ Quang bằng gạch Ngói và tổ chức lễ Khánh Thành rầm rộ hơn, có Ngài Huỳnh Ngọc Trác đến thuyết pháp.
    Trích đàn cơ phong thánh:
    Ngọc Hoàng Thượng Đế Kim Viết Cao Đài. Thầy các con:
    "Thi
    Cơ Đạo mấy năm phổ hóa truyền
    Thấy thương con trẻ dạ nào yên
    Kìa xem Đạo Luật nơi Tòa Thánh
    Bế Mục Thiên Phong đã dĩ truyền
    Nhưng các con ôi! Thời dĩ đáo
    Nên Thầy giáng chỉ trước đàn tiên
    Hiển, Khai, Liên, tiếp trung ngộ
    Sắc tứ gia ân ngự đảnh thiên
    THI BÀI
    " tâm chánh y lời Thầy dạy
    Biết bao phen hồ hải thân con
    Từ Quang Thất trẻ lo tròn
    Độ nhân sinh biết chìu lòn ái tha
    Nay Ngọc bệ Thiên Tòa sắc chỉ
    Giáo Hữu phong Thiên Vị Thầy trao
    Vị cao trách nhiệm càng con
    Vững vàng tay lái ba đào sá chi"

    Tiếp đến việc xây dựng Thánh Thất Trung Thành ở Đà Nẳng làm Trung Tâm Truyền Đạo Trung Bắc, Ngài đã đóng góp rất nhiều công lao để hoàn thành sứ mạng. Rồi sau đến các Tiểu Hội Vạn Linh ở các Thánh Thất vào đầu năm Kỷ Mão ( 1939), Ngài cũng bị bắt cùng quý Hướng Đạo Quảng Nam và bị tuyên án 2 năm tù treo rồi phải vào tù năm 1941 nhân ngày tang lễ của Thân Mẫu Ngài Huỳnh Ngọc Trác ở Thánh Thất Trung An.

    Từ ngày thành lập Quyền Hội Thánh Trung Kỳ ( 15-1-Kỹ Mão) Ngài đã được đề cử làm Lương viện và công viện Hội Thánh. Mặc dầu đang trong lao lý nhưng Ngài vẫn có những kế hoạch ưu tư lo lắng cho công việc cơ đạo rất nhiều.

    Mãn tù ra nằm 1943. Ngài lại bị đưa đi an trí ớ Trà Khê và Đarto, cùng chỗ với Ngài Trần Nguyên Chí và các Hướng Đạo Quảng Ngãi. Đến ngày Nhật đảo chính Pháp ( 19-3-1945) mới được thả về.

    Tháng 6 năm Ât Dậu ( 1945), Ngài đi cùng với Phái Đoàn Hội Thánh do Ngài Huỳnh Ngọc Trác hướng dẫn vào Quảng Ngãi. Sau khi tổ chức đại hội và dự lễ “ Đại Đạo Phục Hưng” được vài Thánh Thất thì Thánh lệnh dạy Ngài cùng Ngài Nguyễn Trinh Cán và cô Trần Thục Cơ phải về Quảng Nam. Khi các Ngài vừa ra khỏi bãi biển Sa Kỳ bằng ghe thì trong đất liền Khởi Nghĩa và 2 ngày sau thì Phái Đoàn Hội Thánh nạn. đến mùa Thu năm 1945, Ngài bị bắt gian 3 tháng.

    Cuối năm Bính Tuất ( 1946), chiến tranh Việt Pháp bùng nổ ác liệt, thành phố bị Pháp chiếm. Cơ Quan Truyền Gíao Trung Bắc Bộ phải dời lên sở Nông Phước Hội. Tại đây Ngài Trần Nguyên Chất và Ngài là 2 trường cột xây dựng cơ sở Hội Thánh và cuộc sống cho bổn đạo.

    Đến ngày 9-4 Mậu Tý ( 1948) các đại biểu Hướng Đạo Nam Ngãi, Bình Phú họp tại Thánh Thất Trung An, thành lập cơ quan Truyền Gíao Trung Bộ. Ngài được giao nhiệm vụ quả lý Cơ Quan Dân Sinh của Hội Thánh ( gồm Công, Nông, Lương viện) nên Ngài phải ở lại trong co Nông Phước Hội. Nhưng đầu năm Kỷ Sửu ( 1949) Ngài lại bị bắt cùng các Hướng Đạo Miền Trung và bị xử trong phiên tòa quân sự tại liên khu 5 ở Bồng Sơn ( vào cuối năm 1949) 10 năm tù ở và bị giam ở rất nhiều nhà lao.

    Đến sau Hiệp định giơnèvơ 1954, Ngài mới được đoàn tụ và thọ phong Gíao Sư ( được Thiên Phong 1952) trong thời gian mấy năm Hội Thánh mất đi nhiều vị Hướng Đạo cốt cán ( Ngài Trần Nguyên Chất 1950, Cao Hữu Chí 1953, Nguyễn Quang Châu 1 955) nên công việc Hội Thánh càng đè nặng lên vai những người còn lại. Thế rồi Hội Thánh phải cử người làm Đầu Tỉnh Đạo Quảng Nam từ 1954 đến 1957 để thay thế cho Ngài Cao Hữu Chí đã hy sinh.

    Để đáp ứng tình hình phát triễn của Cơ Đạo lúc bấy giờ, quý Ngài phải nỗ lực chung lo công cuộc kiến thiết Trung Hưng Bửu Tòa. Ngài được phân công nhập tịnh chủ trì cầu nguyện trong thời gian thi công.

    Sau khi Khánh Thành Đền Thánh Trung Hưng và thành lập Hội Thánh Truyền Gíao Cao Đài, Ngài vừa làm việc tại Hội Thánh với phẩm vị Thiên Phong Quyền Phối Sư, vừa làm đầu tỉnh đạo Quảng Nam cho đến cuối năm Đinh Dậu.

    Ngày 27-7 Bính Dần Ngài tham gia khóa tịnh 72 ngày tại Hội Thánh và đến ngày 9-1 Đinh Dậu cùng đăng đàn hồng thệ với quý chức sắc lãnh đạo Hội Thánh.

    Ngài giáo sư Trần Nguyên Chí vừa mới ra đi hôm cuối năm trước ( 1957) thì đầu năm sau lại đến lượt Ngài trong lúc Hội Thánh còn đang nhiều việc ngổn ngang và các nơi con phải nhiều xây dựng cả vật chất, lẫn tinh thần.
    Ngài ngọa bệnh bất ngờ và quy tiên đúng vào ngày đại lễ Đức Chí Tôn mồng 9 tháng giêng – mậu tuất ( 26-2-1958) tại Hội Thánh ( Trung Hưng Bửu Tòa), tuổi mới 54.

    Ngài được an táng tại Thánh Thất Trung Thành ( tức Trung Tông Thánh Tịnh của Hội Thánh) ở Đà Nẳng. Sau đó Ngài được Thiêng Liêng cho du địa phủ 100 ngày và về cơ dạy đạo.

    GIAI THOẠI:

    1/ Đức Nhẫn Nhục

    Sau khi xây dựng Thánh Thất Từ Quang, ông rễ bà Xã Nho là ông Vu ghen tức vì bà hiến cúng cả đất và tiền để làm Thánh Thất. ông Vu tiềm cách Hạ nhục Ngài, Mục đích để người ngoài ngi ngờ không theo Đạo và bà xã Nho mất lòng tin không tán trợ cho công việc Đạo của Ngài nữa.
    Ông Vu nhờ người viết bài đăng báo “ Tiếng Dân” đại ý là kể chuyện Hương Niên là một tay cờ bạc giang hồ thượng thặn…..nay cùng thời vận …trở về mượn lốt Tôn Gíao, lợi dụng lòng mê tín của quần chúng, thu gom tiền bạc ..v..v

    Đọc báo Ngài Bực tức, xin ý kiến Ngài Nguyễn Quang Châu để viết bài phản công. Ngài Gíao Châu một mực ngăn cản, giải thích chủ tâm người ta đăng báo là để hạ nhục mình, mình phải lặng thinh như không hay biết, họ sẽ cụt hứng mà làm thinh, vì gọi mà không có người đáp. Nếu bấy giờ mình viết bài trả lời để phản công, tức là mình nhảy vào vòng chiến vô tình chuyện sẽ to ra và gây sự chú ý của mọi người. Chuyện cứ ngày càng phanh phu ra đủ thứ chuyện công kích lẫn nhau, thành bại chưa nói nhưng phần thiệt trước hết là mình. Huống chi biết đâu Chính Phủ nhân cơ hội này khủng bố chúng ta luôn.

    Ngài nghe lời can gián chí tình bèn bỏ qua. Nhưng tuần sau lại thấy bài báo thứ hai, thứ ba nữa , càng đả kích nặng nề hơn. Ngài tức quá không nhịn được vì nghĩ không thể đối thoại với họ bằng lời lẽ chữ nghĩa nữa mà phải xử bằng vũ lực.

    Ngài xin ý kiến Ngài Gíao Châu, Ngài giáo Châu là can ngăn mạnh hơn trước: “ chủ tâm của ta là không muốn xé to câu chuyện mà đi đến thù hận. Nếu dùng vũ lực thì ngày trước cũng đã chẳng có vinh dự gì, huống chi ngày nay mình tu hành lại càng không nên, đừng để cho bổn đạo nghi ngờ hiểu lầm về anh lớn. Người ta nhổ nước bọt trên mặt, mình chùi đi, họ càng tức càng nhổ thêm nữa. cứ để như vậy cho khô, thỏa mãn tính kêu căng ngạo mạn của người ta, họ sẽ hết nhổ. Đó là đức tính nhẫn nhục của bậc thượng trí vậy”

    Nghe Ngài Gíao Châu phân giải, Ngài rất thán phục ý kiến sáng suốt và độ lượng nên Ngài chịu bỏ qua mọi việc. thế là câu chuyện hạ nhục Ngài chẳng gây ảnh hưởng gì trong quần chúng, rồi thời gian cũng im bặt luôn.

    2. sức mạnh và mánh lới:

    Có lần Ngài vào thăm và tổ chức thuyết đạo tại một Thánh Thất ở Quảng Ngãi, nhóm thanh thiếu niên nghịch ngợm của địa phương khoản vài mươi tên kéo đến phá phách và muốn gây rối tổ chức. Vì là người tu hành ở chùa thất nên các vị chức sắc chỉ dùng lời nói nhỏ nhẹ để nói chuyện, nhưng chúng vẫn bướng bỉnh và hồ đồ. Cuối cùng Ngài ra quan sát tình hình, bằng nghĩ ra một kế phải thị oai mới dọn dẹp được bọn này. Thế rồi ngài bình tĩnh lấy rựa đẽo một gốc tre nhọn dài khoản 1m5, rồi lấy cùi chỏ đóng xuống đất, gốc tre càng lúc càng xuống sau trước sự thán phục của mọi người.
    Xong Ngài kêu bọn ấy lại thách đứa nào nhổ cái cọc lên thì muốn làm gì đó thì làm ( vì Ngài vốn là một võ sĩ có luyện nội công), bèn không thì phải đi hết, láng quáng ở đây thì đừng có trách.

    Thế là bọn ấy chạy vào, một tên rồi ba tên, năm tên ráng sức nhổ mà cọc vẫn không lên. Bấy giờ Ngài mới ung dung bước ra dùng một tay nhổ lên một cách nhẹ nhàng. Bọn gây rối thấy vậy lè lưỡi, hoảng hồn nhìn nhau ra hiệu rồi chuồn êm. Từ đó không đứa nào dám bén mảng tới Thánh Thất nữa!

    Ngài Nguyễn Như Sơ quy tiên để lại niềm tiếc thương cho toàn đạo. trên 20 câu liễn đối tiễn đưa Ngài. Xin trích ít câu:

    1/
    "Từ khai cơ Phổ Độ đến Chỉnh Pháp Trung Hưng, Trung với Đạo, hiếu với Thầy, sứ mạng hoàn thành, cõi Phật chói lòa muôn ánh sáng.
    Nào vạch lối quy nguyên cùng mở đường giải thoát, giải cho đời, lo cho bạn, sứ mạng hoàn thành, đường tiên hứa hẹn một ngày mai."

    2/
    "Tưởng đến ơn khai hóa tác thành, giải thoát công trình, Anh lớn ghi đầu trong sử Đạo
    Trông vào thời giáo pháp khai cơ, Nữ đoàn quạnh quẽ, chị em buồn nghĩ giọt châu sa."

    3/
    "Từ Pháp thuộc đến Việt Minh, nào An Trí, nào lao tù, mùi gian khổ, miếng gian truân, Hướng Đạo đã thành công nghiệp cả.
    Dưới Tông Đồ trên Hội Thánh, những ưu tư, những lo liệu, cảnh tang thương người quá cố, giáng linh xin hộ lũ em thơ."

    4/
    "Đền Thánh Trung Hưng còn đó, Anh vội vàng chi để lại buồn thương, toàn Đạo nhớ nhung cơn cách biệt.
    Con đường Truyền Giáo giờ đây, đời cam go thế đi về khuya sớm, quần sinh chờ đón ánh vinh quang"

    5/
    "Trông cảnh cũ tiếc người xưa, không chi buồn hơn nữa, về Phúc Cẩm, xuống Hội An, nước bước đường đi, khuất bóng Sư Huynh nhờ ai dắt??
    Nhớ ơn sâu ghi đức lớn, chả lẽ khóc mà thôi, ở Từ Quang lên Tuý Xé, phương tu lẽ sống, như tình cốt nhục được Anh lo."
    thay đổi nội dung bởi: Hao Quang, 28-04-2012 lúc 01:43 PM
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

  4. #34
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar

    Ngài THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ: NGUYỄN CHƠN KHAI
    (1912 - 1955)
    A.Tiểu Sử:
    Ngài Nguyễn Quang Châu Tự Vị Huyền biệt hiệu Thương Hải, Dạ Quang thường gọi Giáo Châu. Ngài sinh giờ Tý ngày 20-5 Nhâm Tý ( thứ 5 ngày 4-7-1912) tại làng La Kham, Phủ Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam.

    Thân phụ là cụ ông Nguyễn Duy Trinh là người đã từng vào ra cửa Khổng sân trình, sau khi thi hỏng tú tài, cụ ông về mở trường dạy học tại quê nhà, sau Cụ làm Chánh Tổng Tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn được nhiều người tín phục ( thường gọi là cụ Chánh Diệm). Thân Mẫu cụ bà Phan Thị Vận pháp danh Tịnh Chuyển là người thuần hậu.

    Ngài xuất thân trong một gia đình Trung Nông, nho giáo danh vọng, là anh cả trong một gia đình có 3 trai, 4 gái, là cháu đích tôn thừa tự Tộc Nguyễn lại tu Đồng Chơn Đạo Minh Sư, Đạo hiệu là CHƠN KHAI.

    Lúc còn nhỏ có nhiều người đoán số Tử Vi nói: “ nếu Ngài không hiễn đạt theo đưởng danh vọng thế gian thì sẽ xuất gia cầu Đạo, tu thành chánh quả”. Bài thi có đoạn như sau:
    “ Thử nạn cốt cách quả như hà?
    Tăng Đạo môn trung y lộc đa
    Ly tổ xuất gia phương vi diệu
    Chung triêu bái Phật niệm Di Đà”

    Ngài mồ côi Cha sớm nên học xong trung học phải nghĩ để phụ Mẹ nuôi em. Ngài làm nghề dạy học ở thôn quê nên người ta gọi Ngài là ông Gíao. Có cốt cách phi thường, nho nhã, tuấn tú, bặt thiệp, ưa tìm hiểu sách báo về Tôn Gíao và Đạo Đức.

    Năm 18 tuổi Ngài phát nguyện Tu Chơn thọ giáo Minh Sư với Lão Sư Trần Văn Định ở làng Quảng Đợi, Duy Xuyên ( thường gọi là Lão Đương, môn đồ của Đức Thái Lão Trần Đạo Quang)

    Năm 23 tuổi Ngài cầu Tam Bộ Minh Sư, chuẩn bị cầu Châu Viên để vào hàng Thiên Ân lãnh Thiên Mạng, nhà Ngài biến thành “Đồng Chơn Tự”

    Khi nghe Đức Thái Lão Trần Đạo Quang quy hiệp Cao Đài, các môn đồ Minh Sư tại Quảng Nam chia làm hai phái:
    Phái già nhứt thiết suy trì pháp tu Minh Sư.
    Phái trẻ thì hăng say với nền Đạo mới.
    Ngài ở trong phái trẻ nên tích cực trong việc quy hiệp và sớm trở thành bậc hướng Đạo lỗi lạc cốt cán của Hội Thánh Cao Đài Miền Trung trong giai đoạn đầu truyền bá.

    Ngài thường thay mặt Hội Thánh xông xáo đó đây để xây dựng cơ sở và nhiều lần tù tội với anh em. Cuối cùng Ngài quy tiên trên đường hành đạo ở tuổi còn quá trẻ tại Thánh Thất Liên Thành Nha Trang năm 1955.

    B. Đạo Nghiệp.

    Khi Tứ Linh Đồng Tử về phổ thông chơn đạo tại Miền Trung 1934( ở nhà cụ Xã Xước tại làng Bất Nhị) thì Ngài Nguyễn Quang Châu đang ngồi dạy học tại nhà ông Kiểm Huyền ở làng Dinh Trận. Ngài được nghe đến Cơ Bút Cao Đài và tự tìm đến. Tại đây, Ngài gặp lại người bạn học cũ trong đoàn Truyền Gíao là Ngài Trần Quang Châu ( con cụ Chánh Tổng Trần Hoán)

    Ngài tìm hiểu các bài Thánh Ngôn, Thánh Gíao do Cơ Bút dạy ở Tứ Linh Đồng Tử và phát nguyện xin hầu đàn cơ. Đêm mùng 1-10-Gíap Tuất đàn cơ tại nhà cụ Xã Xước( thân phụ của Gíao Sư Trần Công Ban),Đức Cao Đài khuyên Ngài quy hiệp Cao Đài để hoằng dương Chánh Pháp tận độ chúng sanh.

    Tiếp đàn cơ ngày 8/10/ Giáp Tuất, Ngài xin phục mạng.

    Vào đêm ngày 15/10/ Giap Tuất, Nhân Lễ Kỷ Niệm Khai Đạo, Ngài xin lập đàn cơ tại nhà Ngài ( tức Đồng Chơn Tự), Ngài đã phát nguyện hành Đạo theo tôn chỉ Cao Đài.Và kỳ đàn sau, thân mẫu Ngài ( bà Chánh Diệm) cùng cả gia đình đều lập nguyện quy y Cao Đài. Từ đó đoàn Truyền Gíao lại có thêm một tay đắc lực có uy tín tài ba, làm mọi người nhập đạo đông đảo.

    ngày 15/11/ Giap Tuất, nhân đàn cơ tại nhà, Ngài bạch xin hiến cúng trọn Ngôi từ đường “ Đồng Chơn Tự” cho Đạo để làm Thánh Sở với sự đồng ý của Thân Mẫu Ngài. Ơn trên đã ban Thánh Hiệu là “Thanh Quang Thánh Tịnh” hàm ý tiếp nối dòng đạo Tiên Thiên từ Thánh Tịnh Đại Thanh. Đây là ngôi Thánh Sở Cao Đài đầu tiên ở Miền Trung.

    ngày 1/12/ Giap Tuất, Đàn Cơ tại nhà cụ Xã Xước Đức Lý Gíao Tông đã ban cho nhà cụ Thánh hiệu “ Từ Quang Thánh Thất”. Đây là thánh sở đầu tiên mang danh Thánh Thất để mở đầu cho cơ Phổ Độ.

    Vì số bổn đạo phát triển quá đông, ngôi nhà bằng tranh tre quá chật hẹp không đủ chỗ tín ngưỡng, nên Ngài cho đốn cây và vận động công quả bổn đạo xây dựng ngôi Thánh Sở mới khang trang, rộng rãi hơn trong khi Đoàn Truyền Giáo vẫn tiếp tục hành Đạo.

    Dù đang trong thời kỳ khó khăn, Ngài Nguyễn Quang Châu vẫn dõng mãnh đi khắp đó đây, đêm nền Tân Pháp Cao Đài hóa độ khắp nhân sinh. Vào Đạo không bao lâu Ngài độ được Ngài Nguyễn Đán một tay cự phách giang hồ, là người tạo lập nên Thánh Thất Từ Quang ở Phú Bông sau này, thật Trời khéo sắp đặt hai người tuy tánh ý khác nhau nhưng lại bổ túc ăn khớp nhau, sớm trở thành hai trụ cột hùng mạnh trong mọi hoạt động Phổ Độ.

    Đến ngày 1/06/ Ât Hợi ( 1935) , tổ chức lễ Khánh Thành trọng thể Thánh Tịnh Thanh Quang, bị chính phủ đến lập biên bản và ngày hôm sau Ngài và Gíao Sư Trần Công Ban bị quan phủ đòi lên phạt 2 tháng tù treo vì tội “ tập hợp cúng kiến bất hợp pháp”

    Lúc bấy giờ gia đình bà Mục Cưu ( Trần Thị Cải, em gái cụ Xã Xước) đang bị khảo đảo vì những cái chết liên tiếp làm đau lòng mọi người. Đồng tử Xích Lân ( Trần Công Sĩ, con cụ Xã Xước, em Gíao Sư Trần Công Ban) mất đức tin bị khảo đảo theo.

    Ngài Trần Quang Châu phải thay đồng âm ( cặp với Thanh Long). Tứ Linh Đồng Tử rẽ gánh, bấy giờ chỉ còn Thanh Long – Bạch Hổ.

    Đoàn Truyền Gíao toàn là những người nghèo túng về vật chất, nhưng rất giàu lòng tin Đạo, tin Thầy. Người nòng cốt của đoàn lúc ấy là Ngài Nguyễn Quang Châu. Qua bao nhiêu thử thách gian nan, cơ đạo Miền Trung phải nhờ rất nhiều vào bàn tay khối óc của Ngài Nguyễn Quang Châu xoay xở.

    Từ đầu năm Bính Tý (1936) Ngài đi Phổ Độ ở nhiều nơi. Sau lễ An Vị Thánh Thất Ngọc Vân ( 15-7-Đ Đ 11) Ngài bị án 2 tháng tù ở.

    Tháng 1 – năm Đinh Sửu (1937) Ngài tháp tùng phái đoán Hướng Đạo Trung Kỳ do Ngài Lê Trí Hiển lãnh đạo vào Nam tiếp xúc với Liên Hòa Tổng Hội tại Thánh Tịnh Trước Lý Minh Đài.

    Đến rằm tháng 8 – Đinh Sửu, Ngài hướng dẫn phái đoàn Truyền Gíao lên thăm chùa Tam Gíao Minh Sư ở An Tráng của hai Ngài Trần, Huỳnh.

    Đến mùng 9/1/ Mậu Dần ( 1938), đàn cơ phong thánh đầu tiên ở Ngũ Hành Sơn với Đồng Tử trong Nam, ơn trên đã Ân Phong cho Ngài là Gíao Sư và Ngài Nguyễn Đán là Giáo Hữu. Từ đó 2 Ngài Nguyễn Chơn Khai và Nguyễn Như Sơ là hai rường cột của Hội Thánh Trung Kỳ.
    Bài giáng cơ:
    “ Ngọc Hoàng Thượng Đế! Thầy các con.
    Thi
    Cơ Đạo mấy năm phổ hóa truyền
    Thấy thương con trẻ dạ nào yên
    Kìa xem Đạo Luật nơi Tòa Thánh
    Bế Mục Thiên Phong đã dĩ truyền
    Nhưng các con ôi! Thời dĩ đáo
    Nên Thầy giáng chỉ trước đàn tiên
    Hiển, Khai, Liên, tiếp trung ngộ
    Sắc tứ gia ân ngự đảnh thiên
    Thi bài
    Khai con bảng ngọc danh nêu
    Giáo sư phẩm vị dắt dìu Thanh Quang
    Trải mấy năm khổ nàn lao lý
    Chí thương đời vong kỷ duy tha
    Con đường sứ mạng còn xa
    Càng ra bể cả phong ba càng nhiều.

    Sau các Tiểu Hội Vạn Linh tại các Thánh Thất vào đầu năm Kỷ Mão ( 1939), Ngài bị bắt và phạt 2 năm tù treo và Quyền Hội Thánh Trung Kỳ ra đời, Ngài được cử làm quả lý nội ngoại viện và phổ thông giáo lý viện

    Đại Đạo 15 ( 1940) Ngài thành lập “Thanh Xuân Sinh Hoạt Đoàn”, để hướng dẫn các Thanh Thiếu Nữ sinh hoạt tu học theo tinh thần văn minh Đạo Đức.

    Đến năm 1941, trong đám tang của Thân Mẫu Ngài Huỳnh Ngọc Trác, Ngài cùng các Hướng Đạo đã bị bắt giam ở tù Quảng Nam 3 năm. Sau khi mãn tù về năm 1943, Ngài bị bắt lần nữa đưa đi an trí tại dakto mãi đến khi Nhật đảo chính Pháp ( 9/3/1945), Ngài mới được ra về. Rồi đến mùa thu năm 1945 Ngài bị bắt giam 3 tháng nữa.

    Trong thời gian chiến tranh Việt Pháp diễn ra ác liệt ( 1945 – 1947) Thành Phố Đà Nẵng bị Pháp chiếm. Hội Thánh phải dời lên Sở Nông Phước Hội ( 1946) rồi lại bị Pháp thả bom phải dời lên Thánh Thất Trung An ( 1947). Bao nhiêu biến cố dồn dập làm cho Chức Sắc và Bổn Đạo khó khổ trăm bề. Nhưng những sinh hoạt Đạo vẫn tiến hành mạnh mẽ: nào Thanh Xuân Tân Sinh Hoạt Đoàn, Tráng Anh Đoàn, Đoàn Gíao Hữu Phổ Thông hoạt động rầm rộ để phát triển cơ đạo đi lên.

    Khi phái đoàn Hội Thánh Trung Kỳ do Đạo Trưởng Thanh Long hướng dẫn ra Hà Nội can thiệp với Chính Phủ, hợp tác với Phối Sư Phùng Văn Thới thành lập Cơ Quan Truyền Giáo Trung Bắc Bộ ( 15/5/1946). Thì Ngài Nguyễn Quang Châu đượcc cử làm Phó Chủ Tịch và trụ sở tại Miền Trung được đặt tại Thánh Thất Trung Thành. Nhưng sau đó, Hội Thánh phải dời lên Sở Nông Phước Hội vì Thành Phố Đà Nẵng bị Pháp chiếm.

    Ngày 15/8 Đinh Hợi ( 1947) Ngài chủ trì việc thành lập Đoàn Gíao Hữu Phổ Thông tại Thánh Thất Trung An. Sau đó đoàn phân công các Gíao Hữu đi mở khóa tại các Tỉnh Đạo.

    Trong thời gian này Văn Phòng Hội Thánh dời lên Thánh Thất Trung An vì Phước Hội bị thả bom dữ dội! Cơ Đạo Miền Trung lúc bấy giờ không liên lạc với Miền Bắc cũng như Miền Nam, nên cuộc họp đại biểu các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên tại Thánh Thất Trung An ngày mùng 9 – tháng giêng – năm Mậu Tý ( 1948) đã Thành lập Cơ Quan Truyền Gíao Trung Bộ. Ngài vẫn giữ chức vụ Quản lý Cơ Quan Dân Trí. Sau đó Ngài đi các tỉnh mở các lớp huấn luyện đào tạo chức sắc, chức việc trong khi Hội Thánh phải dời văn phòng một lần nữa xuống Hiền Lộc vào cuối năm 1948.

    Ngày 8/1/ Kỷ Sửu ( 1949), Ngài là mục tiêu đầu tiên của các Hướng Đạo Cao Đài, bị giam ở nhà lao Tiên Hội.

    Phiên tòa Quân Sự tại Liên Khu V tại Bồng Sơn ( 15-9 – Kỷ Sửu), 120 Hướng Đạo và nhân viên Cơ Quan Truyền Gíao Trung Bộ bị đưa ra xét xử. Trong số bị can được biện hộ trước Tòa, Ngài là người ăn nói hùng hồn và mang tính thuyết phục nhất, đã làm thay đổi một số quyết định của Tòa, để cuối cùng chỉ còn 22 người bị kết án từ 1 đến 10 năm tù ( mà lúc đầu nghe công tố viên buộc tội ai cũng tưởng bị tử hình hết), đưa đi giam tại các nhà lao khắp các tỉnh ( trong đó Ngài bị 10 năm, giam ở nhà lao Tiên Hội, Nghĩa hành, Phối Sở, rồi vào Phú Yên). Còn lại đa số được miễn nghị, miễn tố!

    Trong lao lý, Ngài thường hay nhại câu thơ của Nguyễn Công Trứ ( một nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ 19) để tỏ chí mình:
    “ Kiếp sau xin nguyện làm người
    Tùy duyên hóa độ, giúp đời văn minh”

    Sau hiệp định genève 1954, hòa bình được lập lại tại Đông Dương, Ngài được ra tù trở về đoàn tụ với bổn đạo ngày 17-10 – 1954 và sau được ơn trên phong Phẩm Vị Phối Sư.

    Cơ đạo được Phục Hưng, Ngài lại đi đây đó để xây dựng cơ sở và đức tin của tín đồ ở khắp Hội Thánh.
    Cuối năm ấy, Ngài vào Nam tham gia Cao Đài Thống Nhất của cụ Phan Khắc Sửu tại Thánh Thất Minh Tân ( Tam Giáo Điện ở Vĩnh Hội).
    Đến ngày 15/1/ Ât Mùi ( 1955) Ngài hướng dẫn phái đoàn Cơ Quan Truyền Gíao lên dự lễ Khánh Thành Tòa Thánh Tây Ninh.

    Thế rồi, chỉ 4 tháng sau, trên đường hành đạo tại Thánh Thất Liên Thành Nha Trang ( Thánh Thất này trước thuộc Hội Thánh Trung ương Tam Quan, và lúc bấy giờ chuyển qua sinh hoạt với Cơ Quan Truyền Gíao Trung Bộ. Ngài Nguyễn Thanh Giang được hội thánh cử làm đầu tỉnh đạo Khánh Hòa đặt văn phòng thường trực tại đó), Ngài bị bạo bệnh và quy tiên bất ngờ vào ngày 19/5/ Ât Mùi – Đại Đạo 30( 8/7/1955) mới 44 tuổi đời.

    Linh cửu Ngài được Hội Thánh tổ chức lễ an táng trọng thể tại Nha Trang.

    Đến năm 1961 Hội Thánh mới cải táng về Đà Nẳng ở nghĩa Trang của Hội Thánh tại Hòa Cầm, Hòa Vang.

    Đàn cơ ngày 25/5/ Đại Đạo 30 Ngài được sắc phong là Thượng Chánh Phối Sư. Ngài chứng quả vị Chơn Khai Đạo Nhơn và có nhiều lần giáng cơ dạy đạo.

    Đàn cơ năm Ât Mùi 1955 tại Thánh Thất Trung An Ơn Trên đã tiên tri:

    " Khai minh đạo lòng lòng chung một
    Nhờ góp phần rường cột dựng xây
    Còn ai chung gánh đỡ tay
    Đỡ tay chung gánh râu mày phải sao?

    Hội Thánh đã điếu Ngài câu Đối với lời lẽ thống thiết như sau:

    “Thượng phương chuyển kiếp, Tiên Huynh chi tố bẩm dị thường, kỷ tằng khổ hải tế nhân, ma Phật đề huề y bát nhã.
    Đại Đạo hoằng Khai, quân tử dĩ tự cường bất tức, cập tử liên thành biệt giá, Trung Nam Phổ Độ tiễn A Nan”

    C.Những Sáng tác của Ngài:

    Với Ngài Nguyễn Như Sơ là một người võ nghệ cao cường, thì Ngài Nguyễn Chơn Khai Là một hướng Đạo lỗi lạc, Ngài viết rất nhiều tài liệu giáo lý và thơ văn nhưng rất tiếc đã thất lạc hết! may mắn sưu tầm được 3 bài thơ! Xin trích ra đây:

    Hận Lòng:

    “Một mình ghĩ quẩn lại lo quanh
    Thức chẳng an tâm, ngủ chẳng đành
    Tưởng nợ giang sơn, lòng thảm thiết
    Nhớ ơn cúc dục, cảnh buồn tênh
    Xót tình cốt nhục sầu trăm ngã
    Bậu nghĩa tào cang lệ suốt canh
    Tri kỷ hằng mơ cơn gió bụi
    Mảnh hồn trong trắng gởi đêm thanh”(Nghĩa hành – 1950)

    Cảm Tác:

    Cùng thông lưu lạc mấy phong trần
    Trong đục dãi dầu một chiếc thân
    Chí dốc trau mình về tận độ
    Lòng toan đưa chúng thoát mê tân
    Năm châu dải đất không biên giới
    Sáu giống loài người chẳng biệt phân
    Quyết vẹt sương mù bươn nẻo cả
    Vui miền cực lạc hiện trần gian ( phối sở - 1952)

    Kỷ Niệm Khai Đạo:

    Kỷ sử lần chương đậm nét ba
    Niệm cầu vạn pháp hiệp liên hòa
    Khai đời Thánh Đức yên trăm họ
    Đạo chuyển càn khôn chuyển một Cha
    Tam giáo lưu hành hằng chánh kỷ
    Kỳ truyền giác ngộ hiện duy tha
    Phổ minh chơn lý Đại Đồng thể
    Độ tận tàn linh rỗi Quốc Gia ( Phối Sở - 1952 – họa bài của Trần Hoanh)

    Liễn Đối phúng điếu của Đạo hữu khi Ngài Quy tiên! Xin trích ít câu

    1/
    Thiên Sứ bước vân trình, nhẹ gót tiên gia vui cõi thọ
    Qủa công nền Đại Đạo, chạnh niềm đệ tử xót Tiền Nhân

    2/
    Khí thế vẫn không quên, nhắt nhở bao lần, nẻo Đạo đường Tiên tình cố cựu
    Sinh tiền nhiều tưởng nhớ, ra vào mấy thuở, lời vàng tiếng ngọc chạnh tiền nhân

    3/
    Kể từ Đại Đạo sơ khai, mở lối quy nguyên nhiều tù tội, lắm hi sinh, Anh lớn còn ghi công quả đó
    Đến nay thành Đạo nên danh, rẽ đường Thiên Quốc, chạnh sinh ly, buồn tử biệt, chúng em đồng khóc nghĩa tình sâu.

    4/
    Thế hệ đã đi lên, dĩ vãng còn ghi bao khổ hạnh
    Thanh niên cùng tiến bước, tiền đồ bao nỗ lực tiền nhân

    5/
    Khi bế tắc, lúc xiển dương, vì Đạo vì Thầy, chỉ gió gọi mưa, mấy đoạn cùng nhau gìn mối Đạo
    Xưa trần gian, nay Tiên cảnh, để thương để nhớ, chân trời góc bể, một phen ly biệt lệ khôn nguôi.

    6/
    Hơn hai mươi năm chung đắp Đại Đồng, khi nắng sớm, lúc mưa chiều, tòng bá vẹn niềm trời giá tiết
    Mới bốn bốn tuổi vội về Bạch Ngọc, nào Thầy Tiên, nào bạn Thánh, nhân sinh một dạ xé tâm can

    7/
    Cõi tục ngổn ngang đời loạn lạc
    Cảnh nhàn vui thú Đạo trường sinh

    8/
    Noi gương Bồ Tát, học hạnh Từ Bi, đối xử trong ngoài tròn đạo nghĩa
    Xốc gánh nhân sinh, mở đường giải thoát, dắt dìu sau trước, xứng Thiên Ân

    9/
    "Gương hy sinh chói lọi nghìn thu, thước ngọc khuôn vàng, Tiền Bối đã tròn câu mẫu mực
    Bầu nhiệt huyết nung sôi muôn thuở, ơn Thầy nghĩa bạn, hậu sinh xin vẹn tấm lòng son."
    thay đổi nội dung bởi: Hao Quang, 28-04-2012 lúc 01:45 PM
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

  5. #35
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Xin Hao quang xem lại những chi tiết sau:

    1. "Thời gian này Ngài gặp Đạo và nhập môn Cao Đài rồi chóng trở thành bậc Hướng Đạo cốt cán của Hội Thánh Miền Trung suốt ba thế kỷ truyền Đạo, xây dựng và phát triễn. Ngài đã đem hết tâm lực để phục vụ nhân sinh cho đến hơi thở cuối cùng vẫn vì Thầy vì Đạo."

    2. "Đến đêm 23- tháng chạp Ngài xin được hầu đàn cơ tại Thánh Thất Từ Quang ( nhà cụ xã xước). Từ đó Ngài thấm mùi Đạo lý và nhờ Ngài Nguyễn Quang Châu hướng dẫn nhập môn Cao Đài tại Thánh Tịnh Thanh Quang vào ngày Nguyên Đáng Ất Hợi ( 1935) với pháp danh Như Sơ."

    Trong Cao Đài giáo không có "pháp danh" lúc mới vừa nhập môn!

    3. "Sau khi Khánh Thành Đền Thánh Trung Hưng và thành lập Hội Thánh Truyền Gíao Cao Đài, Ngài vừa làm việc tại Hội Thánh với phẩm vị Thiên Phong Quyền Phối Sư, vừa làm đầu tỉnh đạo Quảng Nam cho đến cuối năm Đinh Dậu.

    Ngày 27-7 Bính Dần Ngài tham gia khóa tịnh 72 ngày tại Hội Thánh và đến ngày 9-1 Đinh Dậu cùng đăng đàn hồng thệ với quý chức sắc lãnh đạo Hội Thánh."

    Ở tựa bài dưới tấm hình ghi là THÁI CHÁNH PHỐI SƯ!

    Từ vị trí Quyền Phối Sư phải lên Phối Sư chánh vị, rồi Quyền Chánh Phối Sư sau đó mới là Chánh Phối Sư. Như vậy có 3 cấp phải vượt qua. Vậy chính xác sau cùng là phẩm vị nào của Ngài Như Sơ?

    Nên lưu tâm: "Quý hồ tinh, bất quý hồ đa!"

    Chép sử phải cẩn trọng, chính xác.

  6. #36
    QuanTriVien1 Khách Viếng Thăm
    Kính gửi thành viên Hào Quang,
    Thưa thành viên, như đã nhiều lần thưa về việc đăng bài có nguồn theo đó các bài viết buộc ưu tiên có nguồn để người đọc có thể tiện theo dõi hoặc tra cứu cũng như đối chiếu và hơn nữa cũng thể hiện tinh thần tuân thủ pháp luật - ở đây là Nội quy diễn đàn.
    Xin vui lòng bổ khuyết những điểm lỗi cơ bản như đã nêu, thành viên diễn đàn đóng góp.
    Vui lòng đọc lại Nội quy diễn đàn một lần nữa trước khi đăng bài.
    Bài viết này thay lời nhắc nhở, sau 72 giờ kể từ lúc có thông bào này, nếu các lỗi trên không được khắc phục thì QTV1 xin được di chuyển bài viết để thỉnh cầu ý kiến BQT.
    Rất mong hồi đáp.
    QTV1 - Thành viên Ban quản trị.

  7. #37
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar
    HQ đã đọc bài góp ý của Huynh DT mấy ngày trước nhưng do bận việc nên nghĩ: để cuối tuần đi ca fe rồi sửa lại!
    trước hết HQ cảm ơn Huynh DongTam đã phát hiện ra sai sót!
    1.suốt ba thế kỷ truyền Đạo ----HQ gõ lầm " thế kỷ" sửa lại: " thời kỳ"
    2.pháp danh Như Sơ ---- HQ gõ lầm " Pháp" sửa lại " Thánh"

    ý thứ 3 HQ có đọc mấy ý trong một cuốn khác:

    Đàn cơ Khai xuân năm Mậu Tuất ngày mùng 3 tháng giêng Đại Đạo 33 ( thứ 5 ngày 20-2-1958) tại Trung Hưng Bửu Tòa. Đức Cái Thiên Cổ Phật giáng cơ dạy Hội Thánh. Trích Đàn cơ năm Mậu Tuất:

    " Đàn ngọ mai nhị vị Thiên Ân Quyền Phối Sư bái mạng Thọ Phong lãnh Bửu Pháp nhiệm quyền hành chánh. Vậy Hội Thánh hôm nay đã có người lãnh đạo, thì sau trước đã thành cơ chỉ, vậy phải lập đại thệ nơi Án Ngủ Lôi đến Hiệp Thiên Đài mà Thọ Pháp. Vị Quyền Thái Phối Sư Thầy đã có ý ban thưởng tại thế để đến vị Thiêng Liêng dễ bề Hành Pháp"

    cũng trong đàn cơ này Đức Chí Tôn giáng dạy:

    " Ngày nay Thầy lại Gia Phong cho Hội Thánh Tông Đạo Trung Hưng hai Quyền Phối Sư, Hội Thánh sẽ lần tới Chánh Phối Sư để trọn quyền của cơ đạo. thì các con cũng thấy đó làm hồng ân chung, mặt dù kẻ khuất người còn ấy cũng Thiên Cơ mà các con biết sao được sự mầu nhiệm của Thầy.
    Nếu các con có tài lẫn đức cũng không thể làm được những điều phi thường của Sứ Mạng Trung Hưng, thì phải cần sự hỗ trợ bên cạnh là các Thánh Thiên Đồ, số ấy để làm môi giới giữa các con, cùng các con và các con ở những nơi Sứ Mạng khác.

    sau ngày Ngài Nguyễn Đán quy tiên Ơn trên sắc phong cho Ngài là Phối Sư Chánh Vị. Đàn cơ tại Trung Hưng Bửu Tòa Rằm Tháng Giêng Mậu Tuất ( thứ 3 ngày 4-3-1958) Đức Chí Tôn cho biết Ngài được du địa phủ 100 ngày
    trích đàn cơ năm Mậu Tuất:

    " Gần đây chư Tiên đến phàn nàn về việc Cầu Phong và Cầu Truy Phong, Hội Thánh sơ sót một số linh hồn lạc ngoài hồng danh Thánh Vị, chúng nó cầu nài nên Thầy cho Thái Sơ Thanh du Địa Phủ quan xét lại và cầu nơi Tạng Vương châm chước"

    đàn cơ tại Trung Hưng Bửu Tòa ngày 20-4 Mậu Tuất ( thứ 7 ngày 7-6 1958) Đức Lý Giáo Tông gián đàn co biết Ngài Nguyễn Như Sơ đã đủ 100 ngày du Địa Phủ trở về phục lịnh.

    tiếp đến Tam Trấn và Đức Đông Phương Lão Tổ đến chúc mừng Ngài đã hoàn thành sứ vụ cứu độ Chư Linh nơi Địa Phủ.
    sau cùng Đức Chí Tôn lâm đàn tuyên dương công trạng và ban Phong Ngài vào hành Nhị Đẵng " Thất Phẩm Nhị Thừa Hoan Hỷ Chơn Quân" và cho Chơn Linh Ngài nhập đàn chào mừng, thăm hỏi Hội Thánh, gia đình nói về công cuộc Du Địa Phủ.

    HQ cảm ơn HTDM đã góp ý! hi vọng sẽ có những bài góp ý của HT trong những bài tiếp theo ( nếu có)
    (dữ liệu lấy trong 2 cuốn: Sơ lược tiểu sử chư vị Hướng Đạo Hội Thánh Truyền Giáo của NS và cuốn Tiểu luận tốt nghiệp Hạnh Đường khóa đặc biệt hệ Hoằng Giáo)
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

  8. #38
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.416
    dong tam's Avatar
    Hao quang,

    Trước tiên, hoan hô cho những đính chính và bổ sung thông tin.

    Kế là, nhắc thêm: HQ có xem lại những thông tin trong phần của Ngài CHƠN KHAI chưa?


    Các bạn,

    Hãy thử đếm số lớp khăn đóng của 2 Ngài Chơn Khai và Như Sơ xem, thấy có gì khác thường chăng?

  9. #39
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar
    kính Huynh DT! HQ cảm ơn Huynh nếu Huynh chỉ ra những sai sót lúc HQ " mổ cò"! hì

    HQ tìm hiểu như sau:
    ÐẠO PHỤC CỦA CHÁNH PHỐI SƯ
    VÀ PHỐI SƯ


    "Ðạo Phục cũng có hai bộ phân biệt nhau (Ðại Phục và Tiểu Phục)
    Chánh Phối Sư thì áo chín dải, còn Phối Sư ba dải. Chánh Phối Sư phái Thái thì choàng ngoài Ðại Bá Nạp Quang màu Ðỏ, còn Phối Sư phái Thái thì Tiểu Bá Nạp Quang. Ðầu đội Bát Quái Mạo y như của ba vị Ðầu Sư song tùy theo sắc phái mình, chơn đi giày vô ưu màu đen, trước mũi không có chữ chi hết.
    Còn Tiểu Phục cũng như Ðại Phục, đầu không đội mão mà bịt khăn tùy theo sắc phái mình, chín lớp chữ nhứt."

    HQ cũng muốn biết ý nghĩa đạo phục của Hai Ngài Như Sơ và Chơn Khai thế nào? Huynh DT có thể chỉ giúp? hình như Mão của Ngiài Chơn Khai ít hơn một lớp?
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

  10. #40
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar


    Ngài Tiếp Văn Pháp Quân: CAO HỮU CHÍ
    ( 1904 – 1953)


    1. Tiểu Sử:

    Ngài Tiếp Văn Pháp Quân Cao Hữu Chí sinh ngày 20/03/1904 ( Gíap Thìn) tại làng Hòa Duân, Đại Lộc, Quảng Nam trong một gia đình nho học trung nông. Ngài là con trưởng nam của cụ Cao Hữu Duyên và cụ bà Lê Thị Học, bản chất thông minh, hoạt bát, cởi mở.

    Năm lên 6 tuổi Ngài học Hán văn, 8 tuổi học quốc ngữ ở trường làng rồi lên Hội An học tiểu học, 12 tuổi đậu bằng sơ đẳng vào trường Trung Học Huế, sau khi vào trường Quốc Bảo học thời gian thi hỏng lại xin vào trường Dòng. Đến 20 tuổi mới đậu Diplome rồi vào Sài Gòn học thêm.

    Khi tốt nghiệp xong, gia đình đã chọn và cưới cho Ngài một người vợ môn đăng hộ đối nhưng Ngài không chịu và tìm cách vào Nam. Mấy năm sau người vợ này có tìm vào Sài Gòn thăm Ngài rồi trở về, mấy năm sau bà mới tái giá.

    Ngài xin thi vào ngạch công chức đậu Tham Tá được bổ làm Phán Sự Tòa Trước Bạ tại Sài Gòn, làm việc 10 năm được ân thưởng Hàn Lâm Viện Chánh Thất Tùng Lục, đối hàm Tri Huyện.

    Năm 28 tuổi, Ngài lập gia đình lần nữa với một nữ sinh Sài Gòn, sinh được một trai nhưng sau này bà bị bệnh thần kinh rồi mất sớm.

    Thời gian ở Sài Gòn, Ngài để tâm nghiên cứu Thông Linh Học và tham gia công tác xã hội với Đoàn Thanh Niên Hướng Đạo Việt Nam. Ngài cùng một số công chức họp nhau xin phép lập hội “ Trung Kỳ ÁI Hữu” mục đích quy tụ những người miền Trung đang làm ăn ở Miền Nam, để tương trợ nhau trong cuộc sống.
    Ngày 15/2/ Nhâm Thìn (1932) Ngài nhập môn Đạo Cao Đài tại Thánh Tịnh Huỳnh Long Phủ của Ngài Lê Kim Tỵ Phái Tiên Thiên, nơi có những Hướng Đạo người Quảng Nam như Ngài Trần Công Ban(con cụ Xã Xước) , Lê Văn Liêm, Lê Văn Bặc ( con bà Mục Cưu) , Thân Đức Giang… về sau sáng lập Thánh Tịnh Đại Thanh ( 1934) Ngài đã có mặt sớm trong buổi tiễn đưa Đoàn Sứ Gỉa về Trung Phổ Thông Chơn Đạo tại Thánh Tịnh Đại Thanh ngày 15/9/ Giap Tuất ( 1934)

    Năm 1936 Ngài được phong phẩm vị Gíao Sư trong Hội Thánh Tiên Thiên nhưng lại hành sự Pháp Sư trong bộ phận HIệp Thiên Đài của Hội Thánh. Ngài rất giỏi về bùa chú trừ tà ma quỷ quái

    Năm 1938 Ngài chuyển về làm Trưởng Ty Trước Bạ Quảng Nam tại Hội An và hợp tác gắn bó với Gíao Hội Cao Đài Miền Trung qua bao nhiêu gian lao sóng gió, mãi cho đến ngày bị tù và bị xử bắn năm 1953 tại Quế Sơn Quảng Nam.

    Khi về lại Quảng Nam, Ngài tái hôn lần nữa với bà Trần Thị Kim Trảng người Hoa Kiều tại Hội An ( khoản trước năm 1950) sinh được một người con trai là Cao Hữu Dũng và hai người con gái là: Cao Thị Ngọc Bội và Cao Thị Liên. Bà Trần Thị Kim Trảng sau có vào nhà tu Phước Huệ Đàn và chết bệnh năm 1975 tại Tam Kỳ - Quảng Nam.

    Hiện Cao Hữu Dũng có được 3 con trai và 1 con gái, đang sinh sống bằng nghề nông tại Quê vợ là xã Bình Triều, Thăng Bình, Quảng Nam. Cháu nội đích tôn là Cao Hữu Đức học Đông y sĩ tại Sài Gòn vừa ra trường năm 1995. Còn Cao Thị Ngọc Bội có chồng theo gia đình sang Mỹ năm 1979 ở bang California. Ut Liên cũng có chồng con hiện sống tại Đà Nẳng.

    Người vợ trước ở Sài Gòn có một người con trai tên là Cao Hữu Nhựt hiện có gia đình sinh sống tại Miền Nam, hình như cũng ít liên lạc với những người con cháu sau này.

    2. Đạo Nghiệp

    Khi Ngài về làm công chức tại Quảng Nam năm 1938 nhằm lúc bổn đạo Miền Trung đang xây dựng Thánh Thất Trung Thành tại Đà Nẳng để chuẩn bị cơ sở cho việc Truyền giáo Trung Bắc. Ngài được dịp đóng góp tài đức của mình vào công trình to lớn sôi nổi này là do Ngài rất tháo vát và có tài tổ chức.

    Ngày lễ Khánh Thành Thánh Thất Trunh Thành và và Đại Hội Long Vân Đệ Bát tại Đà Nẵng, Ngài là xướng ngôn viên hoạt bát và có sự thu hút rất mạnh bằng hai thứ tiếng Việt – Pháp.

    Đầu năm Kỷ Mão ( 1939), Thánh Lệnh lập Quyền Hội Thánh Trung Kỳ, Ngài được cử giữ chức vụ phụ tá Gíao Sư Nguyễn Quang Châu trong Nội Ngoại Giao Viện và Phổ Thông Gíao Lý viện.

    Từ đó, cuộc đời Ngài gắn liền với Đạo sự tại Quảng Nam với nhiều đóng góp to lớn, song mật thám Pháp vẫn không đủ bằng cớ để bắt tù Ngài như các Hướng Đạo khác.

    Thế rồi, khi Nhật đảo chính Pháp ( 9/3/1945), các Hướng Đạo ở tù về, Cơ Đạo phục hưng, Đạo sự cần rât nhiều bàn tay xôn xáo của Thanh Niên đóng góp và Xây dựng. Vốn Ngài đã quen với tinh thần tháo vát của một Huynh Trưởng Thanh niên Hướng Đạo Việt Nam, Ngài xin phép Hội Thánh lập một đoàn thể gọi là “TRÁNG ANH ĐOÀN “ vào tháng 4-1945 quy tụ các Thanh Niên con nhà Đạo có tinh thần tháo vát và phụng sự Gíao Hội nhân sanh. Chính việc làm này đã gây sự chú ý của Chính Quyền và quần chúng nhân dân tưởng Cao Đài lập Đảng, lập Đoàn để tranh đấu nên đã đem tai họa cho Ngài sau này. Đến mùa thu năm 1945 Ngài bị bắt giam 3 tháng.

    Từ năm 1936 khi Cơ Quan Truyền Gíao Trung Bắc Bộ ra đời Ngài được Hội Thánh tạm thời cử làm Đầu Họ Tỉnh Đạo Quảng Nam. Đến đầu năm Mậu Tý ( 1948), Cơ Quan Truyền Gíao Trung Bắc Bộ được thành lập gồm các tỉnh Đạo Nam, Ngãi, Bình, Phú. Ngài vẫn tiếp tục trọng trách Đầu Tỉnh Đạo Quảng Nam, chăm lo bổn Đạo khắp tỉnh nhà.

    Đầu năm 1949 Ngài bị bắt giam tại nhà lao Tiên Hội Tỉnh Quảng Nam và bị kết án 3 năm tù tại phiên tòa Quân Sự Liên Khu 5 ở Bồng Sơn( tháng 11 năm 1949)

    Năm 1952, Ngài ra tù lại cùng các Hướng Đạo ngoài vòng lao lý như Ngài Liên Hoa, Ngài Trần Nguyên Chí vận động tổ chức lại Hội Thánh, sau khi Ngài HIệp Lý Trần Nguyên Chất liễu đạo trong tù từ đầu năm 1950. Ngài Phan Thiện Trì được cử làm Hiệp Lý đại diện Cửu Trùng Đài và Ngài Cao Hữu Chí đại diện Hiệp Thiên Đài. Buổi lễ được tổ chức long trọng tại Thánh Thất Thái Hòa( Thăng Bình) vào ngày rằm tháng 2 năm Nhâm Thìn( 1952) để biểu dương tinh thần phục hồi Cơ Đạo.

    Đến tháng 6 năm ấy, Ngài và Ngài Gíao Hữu Trịnh Trung Tín đại diện Hội Thánh đến chứng lễ thành lập Thánh Thất Liên Hòa tại Quế sơn.

    Sau các chuyến hành đạo rộn rịp này, Ngài và các Hướng Đạo còn lại đều bị bắt giam và đưa đi nhiều địa phương trong tỉnh để nhân dân lên án tố cáo vì Ngài bị qui tội làm việt gian phản động… vụ tố khổ nặng nề nhất là hôm mồng 8/2/ Qúy Tỵ ( 1953) tại khe Vân Tây ( Bình Triều, Thăng Bình), sau mới đưa lên Hiền Lộc ( Bình Lãnh) giam 4 tháng.

    Cuối cùng, Phiên tòa Nhân Dân tại Hiền Lộc vào đem 16/6/1953 đã kết án Ngài tội tử hình. Và ngài đã bị xử bắn tại Rừng Dương ( Quế Sơn) ngày 19/6/ Qúi Tỵ ( 29/7/1953) với 7 phát súng liên thanh khi tuổi vừa đúng 50. Trước lúc thọ hình Ngài vẫn bình thản và điềm nhiên niệm danh hiệu Chí Tôn cho đến tắt thở.
    Thế là hết, Ngài đi và đi mãi, không mong gì ngày trở lại với nhân sinh.

    Trước khi bị bắt tố khổ, một đàn cơ kỳ đàn Xuân Nhâm Thìn tại Thánh Thất Thái Hòa Đức Chí Tôn có điểm Hồng Danh Ngài như sau:

    “Chí cao chí một mười con biết
    Biết nhưng thôi giả điếc giả khờ
    Chuyện đời con cũng nên lơ
    Để tâm thanh tịnh mà chờ lịnh trên
    Lòng nhân nghĩa tuổi tên Thầy chép
    Chí hộc hồng tạm xếp cánh vây
    Để cho sức đủ chí đầy
    Long Hoa đến đó cùng Thầy phân minh”

    Đến tháng 7 năm Nhâm Thìn Đức Chí Tôn lại để lời tiên tri về cuộc đời Ngài như sau:



    “ CHÍ gánh đạo chừ giao ai gánh?

    Cũng là người kiến tánh minh tâm
    Mối dây ai giữ ai cầm?
    Con thuyền ai lái? Âm thầm ai lo?

    Đàn cơ ngày 23/8/Đại Đạo 30 (thứ bảy ngày 8-10- 1955) tại Thánh Thất Thái Hòa. Đức Lý Gíao Tông sắc phong cho Ngài quả vị “Cao Tiếp Văn Pháp Quân”, hộ trì cho Cơ Quan HIệp Thiên Đài Hội Thánh.
    Ngài đã nêu cao cho đoàn Hậu bối một tấm gương hy sinh vì Đạo muôn thở không phai mờ.
    Đến năm 1961 Hội Thánh đã di dời hài cốt của Ngài về an tang tại Nghĩa Trang Hội Thánh ở Hòa Cầm – Đà Nẳng.

    Ngài đã nêu cao cho đoàn Hậu bối một tấm gương hy sinh vì Đạo muôn thở không phai mờ. xin chép vào đây câu đối của Ngài Hiệp Lý Trần Nguyên Chất đã tặng Ngài trong lúc đồng lao Tiên Hội 1949:

    “ Khi hành xác lúc xiển dương, tài mẫn cán đủ đầy trong tình Đạo

    Hết tự do vào luy tiết, đức dung hòa dìu dắt mấy đàn chiên”

    Và câu đối kỷ niệm trong lễ Truy Điệu Ngài tại Thánh Thất Trung Thành:

    “ Trang lược sử Đạo Trung Tông, Thiên Sứ kể vào đây những đoạn phổ truyền chan giọt máu

    Nhẹ long hồng nặng non thái, xuân thu dầu tuyệt bút ngàn năm công luận vẫn sôi gan”

    Và Cụ Nguyễn Quốc Khương, một nhân sĩ Quảng Nam, người bạn vong niên của Ngài thời niên thiếu đã viết câu phúng điếu tỏ mối ai hoài:

    “ Xung hàn tiết cả, tòng bá mấy ai, đã bao năm hồn Tổ Quốc bơ vơ, thuyền Đạo nhà nghiên ngửa, quyết ra tay cởi sóng chém kình, sáng chói non sông gương Thiệu Trị

    Tam bát chí cao, trượng phu mấy kẻ, vừa gặp lúc lửa cường quyền phừng phực, gươm ngược quỷ dọc ngang, đành cam thế phơi xương đẫm máu, bàng hoàng trời đất hận Kinh Kha”

    Giai Thoại:

    1.Hành Đạo là nghĩa vụ và lý tưởng

    Năm 1952, khi sắp mãn tù được về, cán bộ trại tù đến huấn dụ Ngài:

    - “ ra tù rồi, về nhà Anh không được hành Đạo nữa nghe không!

    Ngài Thẳn thắn trả lời:

    - “ Hành Đạo là nghĩa vụ, là lý tưởng của tôi, hết tù là dĩ nhiên tôi phải đi Hành Đạo, vì tôi không thể bỏ lý tưởng Tôn Gíao của tôi được. Nếu mấy ông sợ tôi đi hành Đạo thì cứ nhốt tôi nữa đi! Đừng thả ra”
    Lời nói khẳng khái đó đã làm mấy ông cán bộ ngán ngẩm và hết hạn tù thì phải thả thôi, nhốt thế nào được nữa!

    2.Mua kén tằm

    Tất nhiên, mãn tù ra thì Ngài lại đi hành Đạo. Song cũng phải kín đáo vì đâu có được hành Đạo công khai. Ngài quảy một đôi bầu và một cái cân tay, giả dạng đi mua kén tằm
    Ngài đi khắp hang cùng ngõ hẻm, nơi nào có Bổn Đạo là Ngài đến “mua kén” để rao giảng Đạo và cũng cố Đức Tin. Ngài vừa đi vừa rao:

    “ ai mua kén không?"

    Và dĩ nhiên trong đôi bầu của Ngài lúc nào cũng có vài ký kén thật. Bổn Đạo nghe tiếng rao là biết Ngài đến thăm, bằng gọi Ngài vào để “ bán kén”

    Phần đông thời kỳ này Qúy Hướng Đạo Cao Đài đi hành Đạo như vậy đó: mua kén, bán vải, bán quế, bán thuốc… không khác gì những người đi hoạt động Cách Mạng.
    ….
    thay đổi nội dung bởi: Hao Quang, 12-08-2012 lúc 11:15 AM
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

Trang 4/4
1 ... 2 3 4

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Phước Thiện của Đức Liễu Tâm Chơn Nhơn
    Bởi Hao Quang trong mục Gặp gỡ, Giao lưu
    Replies: 2
    Có Bài Mới: 15-06-2011, 04:05 PM
  2. Tài Liệu quý: Kỷ Yếu Ban Sơ Khai Đạo - Biên soạn Nữ Đầu Sư Hương Hiếu
    Bởi TinHuuDao trong mục Bước đầu tìm hiểu Đạo
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 22-11-2010, 10:12 AM
  3. NHƠN-ĐẠO (Nhơn Đạo Và Về Vấn Đề Tình Dục)
    Bởi truonghuuduyen trong mục Bài học từ cuộc sống
    Replies: 1
    Có Bài Mới: 24-07-2010, 04:40 AM
  4. Ai tín: Nữ Chơn Nhơn Võ Thị Hoành
    Bởi Văn Kim Hương trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 11
    Có Bài Mới: 17-05-2010, 05:02 PM
  5. Ngài Hiền Nhơn Lê Tâm Chí qui vị
    Bởi Văn Kim Hương trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 6
    Có Bài Mới: 25-01-2010, 06:01 PM