+Trả Lời Chủ Đề
Trang 1/4
1 2 3 ... 4
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 40

Ðề tài: Ngày thành Đạo của Đức Ngô Minh Chiêu

  1. #1
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar

     Ngày 13 tháng 3 Âm lịch sắp tới là ngày thành đạo của Đức Ngô Minh Chiêu, đệ tử đầu tiên của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.


    Xin Quý huynh tỷ có tài liệu nào nói về tiểu sử và đạo nghiệp của Người thì xin đăng tải cho mọi người tìm hiểu.


    Để tránh vi phạm Nội quy diễn đàn xin mọi người thật sự "hòa hiệp" tại diễn đàn này. 


    Kính.


  2. #2
    Tham gia ngày
    Oct 2006
    Bài viết
    3.036

    Các bạn,


    Ngày 13 tháng 3 năm nay, chúng ta nên tập trung cho đề tài KỶ NIỆM 100 NĂM VĨNH NGUYÊN TỰ thì hay hơn


    Lý do vì sao thì xin mọi người hãy theo dõi bắt đầu vào thứ hai tuần tới nhe


               "Ngày 13 tháng 3, Tiền Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn đã chọn ngày ấy phong Thánh cho tam vị Đại Thiên Phong Chức Sắc đầu tiên. Đó Là Thượng Trung Nhựt Lê Văn Trung, Ngọc Lịch Nguyệt Lê văn Lịch, Hộ Pháp Phạm Công Tắc.


              Ngày 13 tháng 3 cũng là ngày Chí Tôn Thượng Phụ thâu hồi người anh cả tín hữu Cao Đài. Đó là Ngô Văn Chiêu"


    Đông Phương Chưởng Quản, CQ Phổ Thông Giáo Lý, 20-02 Quí Sửu (24.03.1973)


  3. #3
    Tham gia ngày
    Mar 2008
    Bài viết
    999
     

    Tiểu sử Ngài Ngô Minh Chiêu





    Nhân ngày kỷ niệm Đức Ngô Minh Chiêu đăng thiên 13 tháng 3 âm lịch, NCGL trân trọng giới thiệu Tiểu sử của Ngài trích từ quyển Sử Đạo do Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo xuất bản năm 2005.


         Ngài


        NGÔ MINH CHIÊU


          (NGÔ VĂN CHIÊU)


                   (1878 - 1932)


     


     


                Ngài Ngô Văn Chiêu [1] sinh ngày mồng 7 tháng Giêng năm Mậu Dần (08-2-1878) trong một căn nhà nhỏ phía sau chùa Quan Thánh [2] ở Chợ Lớn.  Trong giấy Căn cước (Titre d’ Identité) số C.03007 cấp tại Hà Tiên ngày 11-6-1921, ghi nguyên quán (lieu d’origine) Ngài ở xã Điều Hòa, tổng Thuận Trị, tỉnh Mỹ Tho với ngày sanh theo dương lịch là 28-2-1878 (việc khai sanh sau ngày sanh thuở ấy thường gặp).


              Ngài là con duy nhất của cụ ông Ngô Văn Xuân và cụ bà Lâm Thị Quý (Lâm Thị Tiền) (1858 - 1919). 


     


            Năm lên 6, Ngài Ngô sống với người cô tên Ngô Thị Đây ở Mỹ Tho (có chồng là Hoa Kiều, bán thuốc bắc và cây ván, có nhiều uy tín, mọi người gọi là “Chú Phu”) do song thân phải đi làm tận Hà Nội[3].Ngôi nhà ấy nằm trong khu phố người Hoa ở cạnh “Nhà việc” xã Điều Hòa, và nơi đây được Ngài ghi là nguyên quán của mình.


     


           Đến năm 12 tuổi, Ngài Ngô bạo dạn đến nhà    ông Đốc Phủ Lê Công Xũng [4] (là người quen của cha),  nhờ được bảo lãnh giới thiệu vào học nội trú


     


    collège de Mỹ Tho (nay là Trường Nguyễn Đình Chiểu).  Tiếp đến, Ngài lên Sài Gòn học trường Chasseloup Laubat (nay là Lê Quý Đôn).  Đến năm 21 tuổi, Ngài  đậu bằng Thành Chung.  Ngày 23-3-1899, Ngài Ngô được bổ nhiệm làm việc tại sở Tân Đáo (Sở Di Trú) tại Sài Gòn.


     


                 Sau khi học thành tài, Ngài lập gia đình với bà Bùi Thị Thân (1879 - 1955), người làng Thạnh Trị,  lúc ấy đang buôn bán tại chợ Mỹ Tho. 


     


                 Ông bà có tất cả chín người con.  Người con gái đầu lòng tên Ngô Thị Ngữ mất khi mới sanh 5 ngày tại Mỹ Tho.  Người kế tên Ngô Thị Hồng mất năm lên  3  tại  Sài Gòn.  Các người con tiếp theo là:  Ngô Thị Yến Ngọc (1904), Ngô Thị Nguyệt (27-5-1906), Ngô Văn Nhựt (10-9-1908), Ngô Văn Tinh (20-11-1910), Ngô Tường Vân (1-9-1913), Ngô Thanh Phong (15-11-1915) và Ngô Khai Minh (9-9-1920).  [5]


     


                 Cụ bà Bùi Thị Thân tạ thế ngày 30-12-1955 và được an táng tại một nghĩa trang nhỏ trên đường từ quốc lộ 1 vào lăng Nguyễn Huỳnh Đức (Tân An).


     


                 Cuộc đời công chức của Ngài Ngô Văn Chiêu có thể được tóm lược như sau:


     


                -  Học việc thơ ký tại sở Tân Đáo từ 23-3-1899 đến ngày 1-1-1903, được chuyển qua Dinh Thượng Thơ (Bureaux du Gouvernement de Cochinchine).


     


    -      Ngày 1-5-1909,  Ngài về làm việc tại Tòa Hành Chánh tỉnh Tân An.  Đến 1-1-1917, Ngài thi đậu Tri Huyện, tiếp tục làm việc tại Tân An.  Làm công chức thanh liêm, không dư dả tiền bạc, Ngài mua một căn nhà lá giá 60 đồng (chung quanh là đất mướn), sửa lại thành 3 gian lợp ngói; số 31 đường Lagrange tại Tân An, để gia đình cùng ở (hiện nay đã đổi thành số 27 Phan Đình Phùng). [6]


     


     


           -  Ngày 1-3-1920, Ngài Ngô chuyển công vụ xuống Tòa Hành Chánh tỉnh Hà Tiên.  Làm việc tại đây được 8 tháng, ngày 26-10-1920, Ngài được lệnh ra làm chủ quận đảo Phú Quốc, cho đến 29-7-1924.   Ngài Ngô Văn Chiêu lên ngạch Tri phủ trong thời gian  này (1-1-1924).


     


                 -  Ngày 30-7-1924, Ngài Ngô chuyển  về Sài Gòn, tùng sự tại Phòng Thương Mại (Phòng 2) Dinh Thống Đốc Nam Kỳ.


     


                 -  Đến năm 1931, lúc 54 tuổi, Ngài xin nghỉ việc về an dưỡng tại Cần Thơ.  Ngài thường ở tại nhà ông Lý Trọng Quý (số 39 đường Nguyễn An Ninh - nay là 107 Châu Văn Liêm).


     


                 Kể từ khi trọn tin vào Đức Cao Đài - trong giai đoạn còn làm việc ở Hà Tiên (1920) đến khi quy Thiên (1932) - Suốt 12 năm ấy, Ngài Ngô Văn Chiêu thật sự đã sống ly gia cắt ái, tập trung vào việc tu hành, tuy vẫn lo tròn bổn phận với gia đình, hàng tháng trích tiền lương chu cấp cho vợ con.  Ông Lê Văn Ngưng (Tư Ngưng) vừa là đồng tử giúp Ngài học Đạo, vừa là người giúp việc thân cận trong suốt quãng đời hành đạo của Ngài Ngô.


     


              Năm Giáp Tý (1924), từ Phú Quốc trở về Sài Gòn, Ngài Ngô trọ tại Bá Huê Lầu,  54 đường Pellerin (nay là Pasteur).  Sau đó, nhiều lần thay đổi chỗ trọ. Có lúc ở đường Paul Bert (nay là Trần Quang Khải) vùng Đa Kao, thời gian này Ngài hay đến viếng chùa Ngọc Hoàng gần đấy. Sau, Ngài đổi về ngụ tại đường d’Espagne (nay là Lê Thánh Tôn), ở trên lầu một, tầng trệt là một phòng khám nha khoa, gần chợ Bến Thành.  Tại Sài gòn, cuối cùng Ngài ngụ tại lầu hai nhà số 110 đường Bonard (nay là Lê Lợi), tầng trệt là tiệm buôn Thái Sơn Hỏa của người Hải Nam.


     


                 Trong thời gian làm việc tại Sài Gòn, thỉnh thoảng Ngài Ngô Văn Chiêu nghỉ phép để đi hành đạo xa, có lần đến Tà Lơn (Campuchia).


     


                 Năm Tân Mùi (1931), Ngài nghỉ làm việc đời, lui về Cần Thơ an dưỡng.  Qua năm sau, Ngài quy Thiên vào khoảng 3 giờ chiều ngày 13-3-Nhâm Thân (18-4-1932) trong lúc đang trên phà Mỹ Thuận (sông Tiền, Cửu Long)  [7] .


     


                 Bửu tháp của Đức Ngô hiện còn tại Chiếu Minh Nghĩa Địa (Cần Thơ).


     


                 Với Ngài Ngô Minh Chiêu, ngày 13-3-âm lịch để lại nhiều dấu ấn đặc biệt, đó là:


     


    ·                     Ngày thấy Thiên Nhãn lần đầu.


    ·                     Ngày từ  tạ phẩm vị Giáo Tông.


    ·                     Ngày đăng Thiên trên sông Cửu Long.


    ·                    Và là ngày liễu đạo của ông Lê Minh Huấn,


               đệ tử đầu tiên của Ngài Ngô.


    ____________








    [1]   Họ Ngô lấy từ bà nội của Ngài là Ngô Thị Tồn (chồng là  ông Giang Văn Tài).


     



    [2]   Ngôi chùa này hiện còn.  Được xây cất vào 1873, chùa tọa lạc tại số 242 bến Lê Quang Liêm (nay là bến Trần Văn Kiểu).



    [3]   Cô và dượng của Ngài Ngô sau mất được an táng trong nghĩa trang Hoa Kiều ở gần Chợ Cũ, Cầu Quay (Mỹ Tho).


     



    [4]   Ông Lê Công Xũng (1853 - 1920), Đốc Phủ Sứ tại Mỹ Tho (nhiều sách ghi tên “Sủng” là không đúng).  Ngôi nhà xưa của ông cạnh rạp hát gần cầu Quay, nay vẫn còn.  Theo lời bà Trương Phụng Hảo (nữ nghệ sĩ Phùng Há) - Bà có một thời là vợ của ông Lê Công Phước (George - Bạch Công Tử) -  bà cho biết :  Ông Đốc Phủ Xũng có một người con gái tên Lê Thị Quyên (Madeleine) với người vợ trước, và một người con gái nuôi tên Marie.  Với vợ sau ông có người con trai tên Lê Công Phước. 


            Một số sử liệu ghi rằng:  Sau khi Ngài Ngô học thành tài, ông Đốc Phủ Xũng có ý muốn gả con gái cho Ngài (có lẽ là cô Quyên) nhưng Ngài Ngô “không dám” nhận vì nếp sống chênh lệch.  Theo lời khuyên của người cô, Ngài lập gia đình với một cô gái mồ côi, biết tháo vát buôn bán tên Bùi Thị Thân.



    [5]   Các con số trong dấu ngoặc kế sau tên là ngày sanh.


     


           Khi đã về Sài Gòn, một lần, ngày 12-10-1924, Ngài Ngô viết thơ cho các con ở Tân An:  “Ba đem về áo quần của cô Ba Lang may cho ba mấy năm nay đã hư hết, đặng cho bây nhiếp lại ...Ba nghèo lắm, không còn đồng nào hết.  Tiền trong kho để dành cho chúng bây. Phải biết tiện tặng ở đời cho khỏi tiếng xấu hổ …”.  Do ngoài tiền đưa về sinh sống, Ngài Ngô có mở cho mỗi người con một quyển sổ tiết kiệm (mà Ngài gọi là tiền trong kho), hằng tháng gởi một số tiền bằng nhau vào đấy, vì vậy, lương quan Phủ “không còn đồng nào hết”.



    [6]   Mãi sau này, ngày 28-4-1964, hai người con gái của Ngài là Ngô Thị Yến Ngọc và Ngô Thị Nguyệt mới mua lại khu đất trên từ ông Phạm Văn Hy và bà Trần Thị Nho (bằng khoán điền thổ số 355), nhà và đất trồng rau tất cả rộng 1082 m2. 


           Ngôi nhà đến nay vẫn được gia đình giữ gần như xưa:  Vách ván, cột gỗ, mái ngói.  Bàn thờ  Thầy trên cao, một vuông gác nhỏ để tu tịnh và nhiều vật kỷ niệm khác... Đây là một di tích lịch sử của Đạo cần được trân trọng vì là nơi đầu tiên trên thế gian thừa tiếp hồng danh “Cao Đài Tiên Ông”.



    [7]   Lúc ấy Ngài đang ở Cần Thơ.  Dường như biết trước giờ quy liễu, Ngài cho lệnh ông Hội Đồng Võ Văn Thơm lấy xe đưa Ngài  về Mỹ Thuận (sông Tiền), theo xe có đồng tử Lê Văn Ngưng, bà Huỳnh Thị Trình (bà Hội Đồng Thơm),bà Trần Thị Hường (bà Tư Huỳnh), và cô năm Ngô Thị Nguyệt.  Tại sao Ngài không thoát xác trên phà Cần Thơ (sông Hậu), cũng sông Cửu Long?  Bí ẩn này chưa có lời giải rõ.  Sông Hậu chảy ra biển chỉ tẽ ba nhánh.  Còn sông Tiền từ Vĩnh Long (Mỹ Thuận) bắt đầu tách nhánh để đổ ra biển bằng sáu cửa.  Phải chăng việc Ngài Ngô thoát xác trên sông Tiền đã đạt ý (hữu vi lẫn vô vi) câu kinh: “Thời thừa lục long...”



    © Trích Sử Đạo "Từ Khởi nguyên đến Khai minh"

  4. #4
    Tham gia ngày
    Mar 2008
    Bài viết
    999
     
    Lược sử Đức Ngô Minh Chiêu





    Ngày 13-03-Giáp Thân, kỷ niệm ngày qui thiên của Đức Ngô, chúng ta đọc lại lược sử của Ngài.

    LƯỢC SỬ ĐỜI Ngài NGÔ MINH CHIÊU


    Lilas, ngày 07/09/1999 - CHÍ TÍN

    1- Lược sử đời Ngài Ngô Minh Chiêu

    Sanh ngày mùng 7 tháng giêng, năm Mậu Dần, nhằm ngày 08/02/1878, tại quận Bình Tây, tỉnh Chợ Lớn. Liễu đạo ngày 13 tháng 3 năm Nhâm Thân, tức ngày 18 tháng 04 năm 1932 tại Cần Thơ, hưởng dương 54 tuổi. Ngài đã được bổn đạo an táng và xây bảo tháp tại nghĩa trang Chiếu Minh tọa lạc trước Thánh đức Tổ Đình cách châu thành Cần Thơ lối 3 cây số.

    Sanh trưởng trong một gia đình nghèo, đông con, Ngài có 9 anh chị em, nhưng không may có 2 người mất sớm, còn lại kể cả Ngài gồm 2 gái và 5 anh em trai. Bận kế sinh nhai, cha mẹ Ngài phải rời bỏ nhà máy Bình Tây (Chợ Lớn) để theo chủ ra tận Hà Nội, miền Bắc Việt Nam nên phải gửi các con lại cho người em gái nuôi dưỡng.

    Xa tình phụ mẫu rất sớm từ khi lên bảy, Ngài đã được người cô dưỡng nuôi và cho đi học tiểu học tại Mỹ Tho. Nhờ bẫm chất thông minh, Ngài nhận được học bổng để tiếp tục học tiếp chương trình trung học tại trường Chasseloup Laubat tại Sài Gòn, và đổ bằng Thành Chung vào năm 21 tuổi.

    31/12/1902, Ngài được bổ nhiệm làm việc tại sở Tân Đáo (sở di trú) , sau đó đổi về dinh Thượng Thơ thành phố Sài Gòn. Thuyên chuyển về làm việc tại Tòa bố tỉnh Tân An ngày 01/05/1909, Ngài tiếp tục học sự và thi đổ Tri huyện năm 1917.

    Bất đồng ý kiến và không muốn liên can đến việc làm không liêm chính của một số bạn đồng liêu, Ngài xin đổi đi Hà Tiên, một tỉnh ở cực nam nước Việt, cạnh biên giới Việt Miên và vùng vịnh Thái Lan.

    Nhờ vào cảnh trí xinh đẹp, trời nước mênh mông, núi non thanh lịch hữu tình, nên Ngài thường hay đến thạch động để cầu Tiên và đã được các đấng Thiêng Liêng dẫn dắt đưa về nẻo Đạo huyền vi.

    Trấn nhậm quận Dương Đông, trên đảo Phú Quốc, trong vịnh Xiêm La (Thái Lan). Ngài đã ngộ được Đạo Trời và đã được Đức Cao Đài Tiên Ông trực tiếp truyền trao bí pháp tu luyện cho đến khi đắc đạo. Cũng tại giữa huyện đường Dương Đông, Ngài đã 2 lần tiếp kiến ánh nhiệm mầu Thiên Nhãn xuất hiện với hào quang chói lòa rực rỡ, để rồi khiến Ngài tiếp nhận để làm biểu tượng mà thờ phượng Đức Chí Tôn, giáo chủ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức tôn giáo Cao Đài.

    2- Đức độ của Ngài Ngô Minh Chiêu

    Vốn là người con chí hiếu với mẹ cha, phụng dưỡng phụ mẫu chí tình, nhất là đối với bà mẹ già thường hay đau yếu. Ngài hay đi hầu Đàn Tiên để xin toa thuốc trị bệnh cho mẹ, có khi ở Thủ Dầu Một, có lần tại Cái Khế, tỉnh Cần Thơ. Nhân dịp này, Ngài thường được các đấng Thiêng Liêng giáng cơ nhắc nhở, khuyến khích Ngài con đường tu hành.

    Với vợ con, Ngài đối xử trọn vẹn bổn phận chồng, cha, cấp dưỡng lương phạn đầy đủ hàng tháng và chăm lo dạy dỗ con cái theo truyền thống đạo đức dân tộc. Trong hoàn cảnh thanh bần của một vị quan thanh liêm, mẫn cán, thương dân và thường hay giúp đỡ người nghèo khó, Ngài thường du hành ban đêm để tìm hiểu đời sống của người dân. Ở Tân An, người ta kể rằng Ngài thường hay giúp đỡ dân nghèo bằng cách chờ tối, đến nhét tiền vào cửa mà không cho người khác thấy, Ngài luôn binh vực người nghèo thế cô, trong việc quan, Ngài hay hòa giải và khuyên dân chẳng nên kiện cáo để tránh thưa kiện đến công đường.

    Cũng vì đối xử dễ dãi với tù nhân chánh trị nên Ngài đã đã bị Pháp nghi kỵ, theo dõi, sau cùng thuyên chuyễn về Sài Gòn vào tháng 07 năm 1924.

    3- Cách Tu Thân của Ngài

    Vừa làm việc để trả nợ đời, vừa dốc lòng vào việc đạo, phép tu luyện của Ngài Ngô Minh Chiêu dựa vào lý thuyết: hễ Nhơn Đạo chu toàn thì Thiên Đạo cũng sẽ hoàn thành cùng một lúc. Vâng lời dạy Đấng Thiêng Liêng do bởi: "Kín ngoài rồi lại kín trong", Ngài ít khi cho biết phương pháp tu hành của mình.

    Tại Dương Đông Phú Quốc, sau 3 năm chịu nhiều kham khổ được Đức Cao Đài Tiên Ông chân truyền đạo pháp và kiên trì tu luyện, Ngài đã được Đức Cao đài Tiên Ông ban cho 4 câu thơ

    Ba năm lao khổ độ nhứt nhơn,

    Mắt Thầy xem rõ lòng dạ chắc,

    Thương vì con trẻ hãy còn thơ,

    Gắng chí tầm phương biết đạo mầu.

    Tu luyện theo phép Thượng Thừa, chịu trường trai tuyệt dục, không tham luyến sắc, tài,danh, lợi, Ngài còn phải hàng ngày bốn buổi khó nhọc công phu, không hề xao lãng. Có người hỏi, Ngài dạy rằng: hễ tu thì phãi chịu cho ma nó khảo thì mới đặng thành vì vô ma khảo, bất thành Đại Đạo và Đạo cao nhứt xích, thì Ma cao nhứt trượng, mà nếu Đạo cao nhứt trượng thì Ma cao đầu thượng, có vào lửa đỏ mới biết đặng vàng cao.

    Ngài sống giản dị và thanh đạm. Mặc dù làm quan phủ phải phục sức mủ áo chĩnh tề nơi công chúng, nhưng tại gia, Ngài chỉ mặc áo thô, đi giày vải, không thích dùng cao lương, mỹ vị, chỉ ăn tương chao, rau cải, dưa muối đạm bạc. Trong nhà Ngài chỉ đặt vỏn vẹn một chiếc bàn thờ Thầy (Đức Chí Tôn), một cái bàn khác để dùng cơm, và một chiếc ghế để ngồi thiền. Tiền bạc có dư, Ngài đem giúp đỡ người nghèo khó, Ngài còn dạy đệ tử rằng: nếu có phước, thì chớ nên hưởng tận, phải biết làm phước, bố thí âm chất, nhưng có làm thì chớ khoe khoang, mong được người trả ơn hay để cầu phước cho con mình... Ngài cũng còn dặn đệ tử: hễ có tu, thì đừng cho người biết mình tu, bằng cách này hay cách khác, vì cái áo không phải là thầy tu. Luôn biết nhẫn nhục, nhẫn nại đi cho đến nơi, đến chốn, phải noi gương người quân tử, tánh như nước, lúc nào cũng phải hạ mình dưới thấp, lấy thấp làm cao, lấy dở làm hay, không luận người khen chê cao thấp, phải giữ sao cư trần mà bất nhiễm trần, như sen mọc giữa bùn mà không lấm mùi bùn.

    Ngài truyền Đạo chỉ có một kinh (kinh Cảm Ứng) và một pháp (pháp Vô Vi) mà thôi.

    Một kinh Cảm Ứng để hằng đọc hàng ngày và noi theo đó dể mà sửa đi điều sai trái. Một pháp Vô Vi thanh tịnh, lấy một chữ không làm gốc, có nghĩa không ham không muốn, không tính không toan, không giận không hờn.

    Ngài không tự tôn, tự cao, không chịu cho người gọi bằng Thầy, không chịu cho người tôn thờ, lạy lục. Muốn thọ pháp, Ngài khuyên đến bàn thờ Đức Chí Tôn mà xin keo, khi được keo và đã cam kết giữ đúng giới luật thì Ngài mới chỉ Đạo cho.

    Ngài chọn lọc người có căn cơ mới truyền đạo, Ngài thường bảo các đệ tử rằng: Chiêu học Đạo nơi Thiên Thai, ăn lộc nước, giữ bổn phận làm tôi con lo tu tâm dưỡng tánh, không xưng ngang vai với người. Cao Tiên truyền dạy một kinh Cảm Ứng và cách tu thân, nào có gạt người để cho mình vui hưởng trên sự cực nhọc của người khác. Một kinh một pháp đủ rồi.

    4- Gương Tu Chứng Tại Tiền

    Ngài ngồi liễu Đạo trong lúc qua phà trên sông Tiền Giang, một trong 9 nhánh của sông Cửu Long (Mékong), vào lúc 3 giờ chiều ngày 13 tháng ba, năm Nhâm Thân, đúng theo như vần thơ 4 câu mà Đức Cao Đài Tiên Ông đã tiên tri cho Ngài biết trước:

    Giờ này Thầy điểm thâm công,

    Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên.

    Ngoài trong sạch tợ Bạch liên

    Khá lòng gìn giữ mối giềng chớ xao

    Các đệ tử đưa nhục thể Ngài về tại thảo lư Cần Thơ, nơi xây dựng Thánh Đức Tổ Đình Chiếu Minh sau này. Điều kỳ lạ dù liễu Đạo đã 3 ngày mà nhục thể Ngài vẫn còn mềm mại và tươi như hồi còn sống, điều đặc biệt là mắt trái của Ngài vẫn mở rộng và tinh anh như còn tại thế, còn mắt phải thì khép như người bình thường. Vì lý do có quá nhiều người trong vùng đến chiêm ngưỡng trước ấn chứng tại tiền của bậc chân tu, nên gia đình và các đệ tử đành phải tẫn liệm và chôn theo như phép nước.

    Nhục thể Ngài được liệm ngồi, để trong một quan tài hình tháp, có sáu cạnh (6 mặt là ý nghĩa của: Lục Tự Chơn Ngôn đó là Thuần Dương Nhất Mục hay còn do ở 6 chữ Nam Mô Cao Đài Tiên Ông) chứng minh Ngài đã đắc thành chánh quả.

    Theo như đệ tử của Ngài thuật lại, thì Ngài đã đắc đạo ngay khi còn sanh tiền, Ngài đã xuất thần để giáng cơ cho một vài Đàn giữa ban ngày và tại Cần Thơ, bằng cách bảo cho các đệ tử biết trước những gì họ muốn và định làm trong lúc Ngài đang ngồi tịnh ở tư thất tại Sài Gòn (xem lịch sử Cao Đài, phần Vô Vi của Đồng Tân, và lịch sử Đức Ngô Minh Chiêu của phái Chiếu Minh xuất bản)

    5- Cơ Phổ Độ

    Khi được đổi về làm việc tại Sài Gòn, vào cuối năm Ất Sửu (1925), Đức Cao Đài Tiên Ông mới dạy Ngài đem mối Đạo truyền ra. Trước tiên Ngài độ dẫn được: ông Phủ Vương Quang Kỳ, ông phán Nguyễn Văn Hoài, ông Võ Văn Sang và ông Đốc học Đoàn Văn Bản (sau này cai quản Thánh Thất Cầu Kho, là Thánh Thất Cao Đài đầu tiên). Kế đến, Ơn trên (qua tá danh của Đức Cao Đài Thượng Đế là A, Ă, Â lúc ban đầu) đã khuyên nhóm xây bàn cầu cơ gồm có các ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Nguyễn Trung Hậu đến gặp Ngài Ngô Minh Chiêu để được Ngài hướng dẫn cách thờ Thiên Nhãn như Ngài đã 2 lần tiếp kiến ở Phú Quốc.

    Nhằm đêm Giáng Sinh, năm 1925, Đức A, Ă, Â tá danh từ lâu nay mới cho các người hầu đàn biết rằng: Người chính là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phưong. Bấy lâu nay Thầy ẩn danh là để mục đích dìu dắt các con đường đạo đức hầu sau này sẽ giúp Thầy khai Đạo.

    Tiếp đó, một hôm vào hạ tuần tháng chạp năm Ất Sửu, Đức Cao Đài Thượng Đế dạy các ông Trung, Cư, Sang, Hậu phải vâng lệnh chung hiệp với Ngài Ngô Minh Chiêu lo khai Đạo và còn dặn các vị trên rằng: Trong mọi việc phải do nơi Chiêu là anh cả. Đàn cơ Tý thời ngày mùng một Tết năm Bính Dần (13/02/1926), Đức Cao Đài Thượng Đế có giáng dạy rằng: Chiêu buổi trước có lời hứa truyền Đạo để mà dìu dắt chúng sanh. Nay phải y lời mà dẫn dắt các môn đệ ta vào đường đạo đức cho đến lúc đắc thành, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt ta mà dạy dỗ chúng nó. Trung, Kỳ, Hoài, các con hãy thay mặt Chiêu mà đi độ người. Nghe và tuân theo.

    Đêm vía Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mùng 9 tháng giêng năm Bính Dần (21/02/1926). Ngài Ngô Minh Chiêu mới xin Đức Cao Đài Thượng Đế lấy tên mấy người môn đệ đầu tiên đề cho một bài thơ kỷ niệm. Đức Chí Tôn đã ban cho 4 câu như vầy:

    Chiêu, Kỳ, Trung, độ dẫn Hoài sanh,

    Bản đạo khai Sang, Quí, Giảng thành

    Hậu, Đức, Tắc, Cư thiên địa cảnh

    Hườn, Minh, Mân đáo thủ đài danh

    ** Các vị Chiêu, Kỳ, Trung, Hoài, Bản, Sang, Quí, Giảng, Hậu, Tắc, Cư là 12 vị tông đồ đầu tiên, còn 3 vị sau Huờn, Minh, Mân là các vị mới vào hầu Đàn

    Vâng lệnh Đức Chí Tôn, ngày 23 tháng tám năm Bính Dần (29/06/26), ông Lê Văn Trung hiệp cùng 247 môn đệ khác đứng ra lập tờ khai Đạo gửi đến chánh phủ Pháp qua Thống Đốc Nam Kỳ là ông Le Fol (trao toàn quyền Pasquier ngày 07/10/26).

    Đến đây Ngài Ngô Văn Chiêu nhận thấy đã xong nhiệm vụ xây dựng giềng mối cho cơ Phổ Độ, nhường lại cho ông Trung quyền Giáo Tông, để trở về ẩn tu, tịnh luyện cho được thành công viên mãn. Sau đó ông đã khai mở cơ tuyển độ Chiếu Minh Vô Vi Tam Thanh, để dẫn độ cho một số người đại nguyên căn quyết cầu tu giải thoát, hầu tu chứng tại tiền cho nhơn sanh tin tưởng nơi Tân Pháp Cao Đài do Đức Thượng Đế truyền trao cho Ngài hồi còn ở Dương Đông (Phú Quốc) năm Tân Dậu (1920).

  5. #5
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar
     

    PHẦN ĐỜI



    LỊCH SỬ ĐỨC NGÔ VĂN CHIÊU


    ____________


    PHẦN ĐỜI


    ____________


    I. THỜI KỲ NIÊN THIẾU:


    a) Lúc thơ ấu. - Đức Ngô-Văn-Chiêu, đạo-hiệu Ngô-Minh-Chiêu, thuộc dòng-dõi một Quan Thị-Lang của Triều-Đình Huế, nhân lúc Quốc-Gia loạn-lạc (1851-1866) di cư vào Nam, sinh nghiệp tạm ở  Khu Hòa-Hưng (ngoại ô Sài-Gòn - Chợ-Lớn).  Thân phụ Ngài là Ông Ngô-Văn-Xuân sánh duyên với Bà Lâm-Thị-Quí.  Ngày mùng 7 tháng giêng năm Mậu-Dần (28-2-1878) bà hạ sanh người con duy nhứt là Đức Ngô-Văn-Chiêu.  Ngài ra đời nơi quê mẹ tại Bình-Tây (Chợ-Lớn).  Trong một căn nhà lá nhỏ, ở vùng nê-địa, phía sau ngôi chùa Quan-Thánh (còn gọi là Chùa Ông Nhỏ).(1)


    Khi sanh ra, Ngài không chịu bú sữa, mà nếu có ép cho bú thì mình mẩy lại sưng phù lên, cho nên bà thân Ngài phải cho uống nước cơm với đường, lần lần tập cho ăn cháo, rồi ăn cơm.


    Ít năm sau ông thân và bà thân Ngài tìm được việc làm, phải đi Hà-Nội, mới đem gởi cho người em gái ở Mỹ-Tho.  Lúc đó, Ngài vừa được 6 tuổi.  Cô của Ngài tên Ngô-Thị-Đây có chồng khách-trú bán thuốc bắc và cây ván, cũng khá giả nên nhận nuôi.


    b) Lúc đi học. - Nhỏ tuổi, sớm lìa cha mẹ, từng trải cực khổ, Ngài rất cố gắng học hành.  Nhưng một hôm vì chúng bạn lôi cuốn, nên bỏ hai ngày học, và bị cô quở, đánh.  Ngài ăn năn khóc hoài và từ đó không bao giờ tái phạm nữa.


    Năm được 12 tuổi, Ngài đánh bạo tới nhà Ông Đốc Phủ Sủng, tùng sự tại Toà Hành-Chánh Mỹ-Tho, chỗ quen với ông thân Ngài, nhờ chỉ bảo làm đơn, và giới thiệu với ông Chủ-Tỉnh để xin vô học nội trú ở trường Trung Học Mỹ Tho (bây giờ là trường Nam Trung Học Nguyễn Đình Chiểu).  Mặc dầu còn nhỏ, Ngài cũng bạo dạn trình bày hoàn cảnh côi cúc nghèo nàn của mình: nhờ Ông Đốc Phủ Sủng thông ngôn, nên ông Chủ-Tỉnh chuẩn y lời xin của Ngài (2).


    Ngài học ở đó và sau lên trường Chasseloup-Laubat Sài-Gòn (nay là trường Jean Jacques Rousseau) tiếp tục đến năm 21 tuổi thi đậu bằng Thành Chung và ngày 23 tháng 3 năm 1899 được bổ làm việc tại Sở Tân Đáo Sài Gòn cho tới ngày 31-12-1902.


    II. LẬP GIA ĐÌNH:


    Khi Ngài thành tài, thì người ân của Ngài là Ông Đốc Phủ Sủng muốn gả con gái cho.  Việc đó làm cho Ngài đắn đo thắc mắc không ít vì không biết tính sao cho dung hòa được cảnh phú quí của ân nhân để khỏi phụ lòng thương của người với nếp sống thanh bạch tầm thường của cha mẹ mình.  Cô của Ngài lại khuyên Ngài nên cưới vợ con nhà cần lao, đặng sau kia nếu có thất thế thì vợ con có thể đi làm lụng nuôi con được, chớ vợ sang trọng quá, e chịu cực khổ không quen.


    Vì lẽ trên, Ngài vâng lời cô, tự hẹn sẽ tìm dịp đáp đền ân xưa của Ông Đốc Phủ Sủng, và kết hôn cùng bà Bùi-Thị-Thân, người làng Thạnh-Trị lúc bấy giờ đang buôn bán tại chợ Mỹ Tho.


    Bà sanh được 9 lần: Người con đầu lòng tên Ngô-Thị-Ngữ chết, 5 ngày sau khi sanh tại Mỹ-Tho, kế đó là Ngô-Thị-Hồng lại chết năm 3 tuổi ở Sài-Gòn.


    Người thứ tư       là Ngô-Thị-Yến-Ngọc.


         --     --  năm   --   Ngô-Thị-Nguyệt.


         --     -- sáu   --   Ngô-Văn-Nhựt.


         --     --   bảy   --   Ngô-Văn-Tinh.


         --     --  tám   --   Ngô-Tường-Vân.


         --     --  chín   --   Ngô-Thanh-Phong.


         --     --  mười  -- Ngô-Khai-Minh.


    Ngài sống thanh bần, làm việc hết mực liêm chính lại hay giúp đỡ người hoạn nạn túng quẫn nên ít có tiền dư.


    Nhưng sau đó ít lâu Ngài cũng có mua một cái nhà lá với giá $60.00 trên một khu đất mướn, ở đường Lagrange số 31 tỉnh Tân An (bây giờ là đường Phan Đình Phùng) và cất lại thành 3 căn lợp ngói.  Ngôi nhà nầy vẫn còn và hiện nay hai người con gái thứ tư và thứ năm của Ngài ở đó.


    III. BƯỚC HOẠN LỘ:


    a) Ở Sài-Gòn - Làm việc tại Tòa Tân Đáo từ ngày 23-3-1899 đến ngày 31-12-1902, qua 1-1-1903 thì Ngài đổi về tùng sự tại Dinh Thượng-Thơ cho tới 30-4-1909.


    b) Về Tân-An - Qua 1-5-1909, Ngài được đổi về làm việc tại Tòa Hành Chánh Tân An.  Qua năm 1917, thi đỗ Tri Huyện.  Với chức vị mới, quyền hành có nhiều thêm, nhưng Ngài vẫn một mực không đổi tánh.


    c) Đi Hà-Tiên - Đầu năm 1920, buồn vì mẹ mới tạ thế lại không muốn liên can vào công việc thiếu liêm chánh của vài bạn đồng liêu nên Ngài quyết định đưa đơn xin đổi đi Hà Tiên.


    Vì lòng quí Ngài, các bạn hữu đặt tiệc tiễn hành nhưng Ngài không nhận, nên có vài ông làm thi tặng: Ông Cai Tổng Nhơn ở Tân An gởi cho Ngài một bài thi như sau:


    Cám cảnh Huyện quan đã lắm nhiều.


    Đau lòng đi ở biết bao nhiêu,


    Hà Tiên tách dặm lòng khoăn khoái,


    Cù Úc chia trời luống quạnh hiu,


    Bẻ liễu trông theo vò chín khúc,


    Nhành mai toan gởi quặn trăm chiều,


    Cái phần nam tử xưa nay vẫn,


    Cầu chúc cho Ông nổi tiếng biêu.


    Ông Trần Phong Sắc và Ông Cao Văn Lỏi cũng tiễn hành Ngài với bài chúc như vầy:


    Nay Trưởng Tòa đãi tiệc,


    Đưa Quan Huyện lên đường:


    Nhóm bạn vàng đủ mặt hiền lương,


    Dưng lời chúc đưa người phước đức.


    Từ thi đỗ Ông lên Quan chức,


    So tánh thường người ở trung dung.


    Tổng làng cám cảnh không cùng,


    Há phải quan yêu thì bạn ghét.


    Dân chúng kính thương chi xiết,


    Thiệt là gần mến lại xa trông.


    Tánh thanh liêm giữ mực chí công.


    Lòng trung hậu vẹn câu chỉ tín.


    Yến-Bình-Trọng giao lâu càng kỉnh,


    Hứa-Kỉnh-Chi nhơn trọng đặng truyền.


    Nay chỉ sai thuyên nhậm Hà Tiên,


    Nên mình tách tạm ly Cù-Úc.


    Mới biết người lành Tri trả phúc,


    Đã thêm lương lại đặng thêm quyền.


    Cho hay lòng tốt dễ tầm Tiên,


    Khi dạo núi, có khí dạo nước.


    Nhằm ngày rảnh du hồ hóng mát,


    Sò huyết kia, khô mực nọ,


    Đưa theo chén rượu Thanh-Liên.


    Gặp đêm thanh thưởng nguyệt giải phiền.


    Sầu riêng ấy, Phật thủ nầy,


    Phụ với bình trà Bạch Cúc.


    Cảnh Tiên người chẳng tục,


    Say vui sơn thủy khác tình trần.


    Lòng chánh ứng như thần,


    Khuyên dạy hiền lương nuôi kẻ khó.


    Xem phong cảnh một mình vui thể đó,


    Có ngày đem gia quyến sum vầỵ


    Tiệc tiễn hành các bạn nhóm nơi đây,


    Còn khi gặp tri âm bàn bạc.


    Cơn hẩm hút vì tình lợt lạt,


    Lời quê mùa tỏ dạ mặn nồng.


    Tiệc hôm rồi đã nhượng mấy Ông,


    Thơ bực chót xin dưng năm vận.


    Vậy có thi rằng:


    Mừng nay Quan Huyện đổi Hà Tiên,


    Có đức Trời cho đặng có quyền.


    Trăm dặm Vũng-Gù còn tiếng mến,


    Một đường sau trước nổi danh hiền.


    Hòn-Nghê cầm báu đưa theo gió,


    Đảnh-Hạc hoa tươi rắm tới triền.


    Âm chất sẽ ngồi xe ngựa mã,


    Trùng phùng đồng ước hội Đào-Viên.


    Bữa 1-3-1920, Ngài rời Tân-An để đi Hà-Tiên.


    d) Ra Phú Quốc - Làm việc tại Tòa Hành Chánh Hà-Tiên được non 8 tháng thì Ngài đắc lịnh ra trấn nhậm Quận Phú-Quốc, và ở đó non 4 năm, từ 26-10-1920 đến 29-7-1924.


    e) Trở về Sài-Gòn - Ngày đổi về Sài-Gòn nhằm ngày 30 tháng 7 dl, 1924.  Đối với đi, việc thuyên chuyển ấy là thường, nhưng trên phương diện Đạo thì đó là do Thiên-ý sắp đặt cuộc "hoát-khai mối Đạo Cao-Đài".


    IV - ĐỨC-TÍNH:


    a) Phận làm con - Là một người hiếu nghĩa vẹn tròn, nên khi có lương bổng rồi, Ngài bèn viết thơ mời ông thân bà thân từ ngoài Hà-Nội về để trọn bề phụng dưỡng.


    Làm việc ở Tòa Tân-Đáo Ngài mướn phố ở hẻm Chaigneau (bây giờ là Tôn-Thất-Đạm) sau công sở Triều-Châu, ở với ông thân bà thân.  Về sau ông thân Ngài có vợ lẻ ở riêng; mỗi khi cần dùng tiền bao nhiêu thì Ngài cung phụng đầy đủ và không bao giờ để một lời than vãn.  Để tránh sự thiếu hụt cho gia đình, ban đêm, Ngài đi dạy thêm tiếng Pháp cho các người Tàu.


    Đối với mẹ, Ngài là người con chí hiếu.  Mỗi ngày đi làm việc về, Ngài không bao giờ quên hỏi thăm mẹ ăn cơm chưa hoặc ăn có ngon không?  Những lúc bà Cụ đau nhiều, thì Ngài đi cầu Tiên xin thuốc và tự lo giặt giủ cho mẹ vì sợ vợ con chểnh mảng.


    b) Phận làm cha. - Đối với người ngoài, Ngài rất khoan dung, nhưng đối với con trong nhà thì công bình nghiêm khắc.


    Lúc Ngài làm việc ở Tân-An, một con trai của Ngài, bấy giờ còn nhỏ tuổi, ngày Tết lén theo chúng bạn ra chợ, rủ nhau lăn dưa của người ta bị lính bắt đem về bót.  Ngài hay được, cho thả hết mấy đứa kia, còn con Ngài thì giam lại đến chiều mới tha.


    Ngài thường dạy con khiêm cung, nhẫn nhịn, an phận thủ thường.  Ở gần, thì dùng những câu chuyện xảy ra trước mắt mà dạy; ở xa, thường viết thơ nhắc nhở bổn phận làm người.


    c) Ngoài xã-hội. - Ngài rất từ thiện, hay giúp đỡ người hữu sự.  Nhưng Ngài thường bố thí một cách kín đáo, không muốn cho người biết để cảm ơn mình.


    Thấy trong xóm có người nghèo quá, muốn giúp cho họ, Ngài mượn cớ, nhờ làm việc lặt vặt quanh nhà, rồi trả tiền gấp 5 gấp 10 cho họ.


    Ngày Tết, gặp người vùng quê bán hàng ế, Ngài mua giùm hết để họ có tiền mua sắm lễ vật cúng ông bà trong 3 ngày xuân.


    Ban đêm, Ngài mặc quần áo thường dân, đi len vào xóm nghèo.  Nghe ai than thở cảnh túng quẫn, con đau vợ yếu, Ngài sẽ lén bỏ tiền theo kẹt cửa, rồi đi luôn, không cho họ biết.


    d) Trong hoạn trường


    - Trấn nhậm đâu, Ngài để lại tiếng thanh-liêm chánh-trực.


    - Đối với nhiệm vụ thì công bình mẫn cán.


    - Đối với đồng liêu thì khiêm-nhượng khoan-dung.


    - Đối với quần chúng thì thân-dân, đức-độ.


    - Tuy có cứu giúp người, nhưng không bao giờ khoát-nạt hống-hách.


    - Gặp những nghi-án, Ngài chẳng nài khó-nhọc và nguy-hiểm hết lòng điều tra cho ra lẽ chánh-tà, để người khỏi phải chịu hàm-oan hoặc bị húng-hiếp.


    - Ngài hay giải hòa, khuyên người chớ ham tranh tụng.


    - Gặp những tội nhỏ sơ-phạm, Ngài dùng lời ôn-tồn khuyên-răn, chớ không buộc tội, có khi lại còn giúp tiền bạc để họ về lo cải thiện nữa, nhưng nếu tái-phạm thì Ngài không vị.


    Lúc Ngài trấn nhậm Phú-Quốc và tu rồi, nhân-dân có việc tới thưa kiện thì Ngài thường khuyên lơn cả đôi bên nên giữ chữ hòa với nhau, lo làm ăn chớ nên sanh chuyện.  Bằng có ai khó tánh, quyết thưa kiện cho ra lẽ, thì Ngài làm giấy tờ giải đi Hà-Tiên.
     





    1 Ngôi chùa Quan-Thánh, nay hãy còn, được xây cất vào năm 1873 ở tại số 1 đường Chùa, bây giờ là số 242 Lê-Quang-Liêm Chợ-Lớn Bình-Tây.


    2 Câu chuyện trên đây do cô Ngô-Thị-Nguyệt thuật lại theo lời Ngài và lời Bà Cô nói hồi còn tại tiền.


     


    Sưu tầm quyễn: Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu (1878-1932) in lần thứ 5 , năm 1962


  6. #6
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar
     

    PHẦN ĐẠO
    I - LÚC NHỎ CÒN ĐI HỌC:


    PHẦN ĐẠO

    __________


    I - LÚC NHỎ CÒN ĐI HỌC:


    Lúc còn ở nhà Cô mà đi học, Ngài bắt chước Ông Dượng sắp một cái kệ nhỏ thờ Quan-Thánh Đế-Quân.


    Tiền Cô Dượng cho ăn bánh trái, Ngài để dành một phần, mua nhang đèn.  Tối học bài rồi, Ngài đọc kinh, cúng lạy rồi mới đi ngủ.


    ____________


    II - TRONG LÚC LÀM QUAN:


    a) Thời kỳ mới ra làm việc tại Sài-Gòn. -- 


    Tấm lòng Ngài rất từ-thiện, hằng kính trọng Thánh-Thần Tiên Phật luôn luôn.  Lớn lên Ngài cũng thờ Đức Quan-Thánh, ăn chay một tháng 2 ngày và thường tụng kinh Minh-Thánh.


    Năm 1902, Ngài lên hầu Đàn Tiên Thủ-Dầu-Một đặng cầu-thọ cho Bà Thân Ngài và muốn biết việc tiền-trình.


    Tiên-Ông giáng-cơ cho Ngài một bài kệ như vầy:


    Thủ bôi vị lễ, diệt khả thông,


    Trung-dung hữu Đạo thị tâm không,


    Đắc vọng kỳ sự giả thân du,


    Minh phong khả đối giữ thành công.


    Theo bài kệ nầy thì Tiên-Ông khuyên Ngài lo tu, ngày sau đắc-lộ.


    b) Trong thời-gian tùng-sự ở Tân-An 


    Lúc bấy giờ sự cầu cơ cũng chớm nở ở Tân-An.  Ngài rất ngưỡng mộ nên đã cùng những người bạn thân như: Ông Đoàn-Văn-Kim (Một Kim), Ông Lê-Kiển-Thọ, Ông Trần-Phong-Sắc và Ông Nguyễn-Văn-Vân1 hiệp nhau cầu cơ xin chữa bịnh và cho toa thuốc.  Nhóm trên đều ăn chay được 2 ngày chỉ có Ông Trần-Phong-Sắc thì ăn chay trường.


    Trong nhóm lại chọn Ông Bộ Thọ làm đồng-tử, ngồi cầm cây bút son.  Ông Sắc làm pháp-đàn.  Ngài và Ông Vân thì độc-giả và điễn ký.  Như vậy mà chữa đặng nhiều bịnh hết rất kỳ lạ.


    Ở nhà Ngài thờ Đức Quan-Thánh và Phật Quan-Âm.  Nhà Ông Bộ Thọ thì thờ Bát-Tiên.


    Thỉnh thoảng những ngày rằm có cầu cơ tại nhà Ngài, bài cầu lúc bấy giờ rút lấy trong Vạn-Pháp Quy-Tông và nh mấy trẻ nhỏ tắm rửa sạch sẽ, ăn-mặc đường hoàng quì đọc.


    Ngài cũng thích những thú trăng thanh nước biếc.  Những khi trăng sáng trời êm, Ngài rủ nhóm anh em kể trên mướn ghe thả theo giòng nước, dòm trời ngắm cảnh, xướng-họa ngâm-thi.  Ngày Chúa-Nhựt thường hay đi chơi chùa, đàm đạo với mấy Ông Hòa-Thượng, lạy Phật rồi về.  Ngài ưa viếng Chùa Thầy Tịnh hơn [2] và thỉnh thoảng cũng ghé Chùa Bình-Lập.


    Lối gần cuối năm 1917, Bà Thân Ngài lâm trọng bịnh.  Ngài bèn đến đàn Cái-Khế (Cần-Thơ) đặng cầu thuốc.  Theo lời của một vị hầu đàn, lúc ấy là Bà Cụ Huyện Tiền, Cô của Bà Hội-Đồng Thơm (Cần-Thơ), hôm đó Ngài mặc đồ thông thường (quần vải trắng, áo dài đen).  Vì xuống trễ nên đứng ngoài hàng ba.


    Ơn Trên giáng-cơ liền gọi Ngài vào, và có cho Ngài bài thuốc và hai bài trường-thiên sau đây:


    Trời còn sông biển đều còn,


    Khắp xem cõi dưới núi non đượm nhuần.


    Thanh-Minh trong tiết vườn xuân,


    Phụng chầu hạc múa gà rừng gáy reo.


    Đường đi trên núi dưới đèo,


    Lặng tìm cao thấp ải trèo chông gai.


    Phận làm con thảo há nài,


    Biết phương Tiên, Phật, Bồng-Lai mà tìm.


    Xem qua xét lại cổ kim,


    Một bầu trời đất thanh liêm chín mười.


    [3]Vàng trau Ngọc chuốc càng tươi,


    Bền lòng theo Phật cho người xét suy.


    Thần, Tiên vốn chẳng xa chi,


    Có lòng triêm ngưỡng nhứt thì giáng linh.


    Họ NGÔ gắng sức lòng mong,


    Tên CHIÊU xem thấy ở trong hay ngoài.


    Cõi trần tro bụi bèn nay,


    Quên ơn dưỡng-dục tháng ngày thuở xưa.


    Lâm gia [4] nguyên tích thừa ưa,


    Nữ môn thánh thị để vừa thiện căn.


    Sáu mươi hội điểm linh đằng,


    Cầu cho mẹ mạnh mới bằng lòng con.


    Ba ngày trong điểm vuông tròn,


    Sớ dưng cho mẹ điểm son tha rày.


    Cầu thuốc về, Bà Thân của Ngài mạnh được vài năm.  Sau đau lại, Ngài mới đến đàn Hiệp-Minh Cái-Khế lần thứ nhì, Bề Trên cho Ngài bài "Khai xuất Thiên-Hoàng" và bài "Hò xự xang".


    Bài "Khai xuất Thiên-Hoàng"


    Khai xuất Thiên-Hoàng nghiệp hồng quang,


    Tứ cảnh nhàn dị ngộ tam quang,


    Thiên-Địa tuần hoàn Ngọc ẩn san.


    Thủy triêm hàng, thủy triêm hàng,


    Bàn-cổ giang-san, ý ỷ y y y.


    Thương thay vận khiến là may,


    Muốn anh-hùng gặp gió buồm bay,


    Thiệt là may, thiệt là may!


    Năm, tháng, ngày, giờ, miệng liền tay,


    Tiếng tỳ-bà dấu trước thì bay.


    Phải cái nợ nầy, lăm-le bao quản rộng dài,


    Đất, Trời hay cứu khổ người ngay.


    Nhớ trong tay, nhớ trong tay,


    Ăn lông uống huyết hỡi ai bày, lửa củi mà day.


    Kéo cây rày bốn phương trời chớp nháng như sao bay


    Vận nước nhà, ơn tôi chúa, hềm náo nương.


    Ngày ăn chín, ơn năm dài, lộc Chúa thời may!


    Bài "Hò Xự Xang"


    Hò xự xang du nhàn sơn thủy,


    Tiếp tỳ-bà thiện mỹ giáo dân.


    Thái-bình bổn cảnh công thần,


    Phi vân lạc quốc thôn lân tiếp trình.


    Tân niên yết đế Thánh-Minh,


    Phò trì Đệ-tử hình qui mộ


    Ôn-hoàng cập ngộ đồ-tô,


    Dĩ trừ dịch-lệ tất cô sanh cầm.


    Cao sơn lưu thủy phong thâm,


    Thinh kha nhã thú sắt cầm trời-âm.


    Ú liêu dĩ nhã dĩ thâm,


    Hò xê khánh hỉ, dịch tầm CHIÊU lai.


    Phụng nghinh tiếp lễ an bài,


    Thượng quyền hạ quản diên trai đơn-trì.


    Nhạc vân chung cổ hòa nghi,


    Tâm thành ngọc bạch cảnh tùy chiếu thân.


    Làm trai chẳng nại xa gần,


    Một lần muốn bước hai lần muốn lui.


    Thuận lòng gặp gió buồm xuôi,


    Đứng trong Trời Đất mấy thu vuông tròn.


    Ơn cha nghĩa mẹ thon von,


    Biết câu nặng nhẹ làm con giữ bền.


    Trời cao soi khắp ở trên,


    Đất dài dễ lở nghiệp bền chỉnh lâu.


    Mống giăng khắp hết vòng cầu,


    Cái mưa, cái nắng, cái âu gió cùng.


    Ngủ quên thức biết thỉ chung,


    Làm trai nợ nước biết hung kiết rày.


    Tay cầm cây viết là may,


    Biết trong tội phước có ngày trả cho.


    Đã biết Tiên-Ông dạy cho hai bài Trường-thiên trên, Ngài cũng hiểu  qua ý nghĩa nhưng vì lòng thương mẹ quá, Ngài lại tìm đến đàn-cơ Thủ-Dầu-Một để xin thuốc một lần nữa.


    Ông Trần-Hiển-Vinh là con của gia-chủ thủ-đàn Minh-Thiện Thủ-Dầu-Một thuật lại rằng: Bữa ấy Ngài cùng Ông Phủ-Kim đến hầu đàn, Ông Kim quì ở phía trong còn Ngài thì quì ở góc ngoài.  Khi Đức Quan-Thánh giáng-cơ liền gọi Ngài và cho một bài thi bốn câu đại ý nói vườn thuốc của Phật-Tổ đã bị tróc gốc.  Qua bài thi đó Ngài biết số phận của Bà Thân Ngài.  Đến cuối năm 1919 thì Bà từ trần.


    Cô năm Ngô-Thị-Nguyệt còn nhớ được 2 câu trong bài thi trên:


    Dĩ thủy huê lưu thiên bán lạc


    Hạnh lâm huê đảo hội tiền phi


    ____________


    Đức Cao-Đài Tiên-Ông giáng cơ xưng danh lần đầu tiên với Ngài.


    Vào đầu năm 1920, vài tháng trước khi được lịnh đổi đi Hà-Tiên, Ngài được lịnh Bề Trên chỉnh đốn lại việc cầu Tiên-Tập dượt đồng-tử mới thủ ngọc-cơ.


              Lúc bấy giờ [5] Ông Nguyễn-Văn-Vân ngồi đồng dương, Ông Bộ Thọ đồng-âm, Ông Trần-Phong-Sắc pháp đàn, Ông Kim làm điễn-ký, Ngài làm độc-giả.  Đương đọc bài cầu đến câu:


    Ngũ chơn bửu khí lâm triều thế


    Giá hạ đằng vân xin tự nguyên ...


    Có một vị Tiên-Ông xuống xưng là Cao-Đài Tiên-Ông, cơ gõ mạnh và bảo Ông Trần-Phong-Sắc sửa lại hai câu ấy, Ông Sắc vốn là một nhà nho sành sỏi, nhưng không biết Cao-Đài Tiên-Ông là ai, nên mới trả lời một cách suồng sã rằng: Bài thỉnh-cơ nầy ra 100 năm rồi, từ bên Trung-Quốc qua đây không ai dám cho là sái, nay Ngài bảo sửa, nói vậy là thiệt trật hay sao?


    Tiên-Ông quơ cơ đập vào đầu Ông Sắc vì vô lễ, Ông lẹ sụt xuống né khỏi, kế Đức Cao-Đài Tiên-Ông gọi tên Ngài biểu  sửa.  Ngài bèn sửa như vầy:


    Bửu chơn ngũ khí, lâm triều thế.


    Tiên-Ông khen.


    Kể từ đó Ông Trần-Phong-Sắc không làm pháp-đàn nữa.  Cả một nhóm người đều chưa hiểu Ông Cao-Đài là ai.  Riêng Ngài tin rằng đó là Ông Trời mới dám sửa kinh sách từ xưa như vậy.


    c)  Thời-gian tùng-sự ở Hà-Tiên


    Vừa làm tuần bá nhựt cho Bà Thân Ngài xong là được giấy đổi đi Hà-Tiên.


    Trước kia ở Hà-Tiên mấy Ông: Đốc-Phủ Sự, Lâm-Tấn-Đức, Nguyễn-Thành-Diêu và Ông Phán Ngàn cũng thường tổ chức cầu Tiên; nhưng phải 5-7 lần mới có một lần có Tiên-Ông xuống cơ.  Nhưng khi có Ngài ra nhập vô tổ-chức trên thì lạ thay khi Ngài nguyện vái, đọc bài là cơ lên dễ dàng.


    Ở Hà-Tiên Ngài thường lên núi Thạch-Động cầu Tiên.  Có một vị Tiên-Cô xưng là Ngô-Kim-Liên cho hai bài thi khuyên Ngài rán lo tu hành:


                                            I


    Vẳng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,


    Rằng Trời cùng Đất vẫn xa mù,


    Non Tây ngoảnh lại đường gai gốc,


    Gắng chí cho thành bực trượng-phu.


                                            II


    Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu,


    Cái cảnh Tây-Phương vẫn mịt mù,


    Mắt  tục nào ai trông thấy đấy,


    Lắm công trình mới đúng công phu.


    Tiết Trung-Thu năm 1920, Ngài xin lập đàn-cơ tại nhà Ông Lâm-Tấn-Đức.  Đồng-tử: Ông Đức và Ông Sự.


    Tiên-Ông có cho bài thi sau đây:


    Cao-Đài Minh-Nguyệt Ngô-Văn-Chiêu


    Linh lung vạn hộc th Quan Diêu


    Vô thậm Sự Đức, nhiệm ngao du


    Bích-thủy, thanh-sơn, tương đối tiếu.


    d) Lúc trấn nhậm Phú-Quốc


    Ngài mộ đạo tu-hành đã lâu rồi nên bất luận sách nào kinh nào nói về sự tu-hành đạo-đức hễ gặp thì Ngài xem qua hết; song chẳng gặp đạo nào cho vừa ý Ngài, nên Ngài chưa chịu tu, cứ lo bồi-bổ đức-hạnh.


    Ngài thường nói Ngài không chịu học Đạo với thầy phàm, quyết chí nếu có thầy Tiên dạy đạo thì mới chịu tu.  Ở Phú-Quốc Ngài thường lên núi Dương-Đông cầu Tiên.


    Trước nhứt ở Chùa Quan-Âm-Tự thuộc phái Phật-Đường.  Mỗi khi đi cầu Tiên, Ngài thường đi với người em bạn dì là Cô Ba Lang và mấy người theo hầu đàn như: Hương-Hào Khâu, Ông Giáo Mẫn, Ông Hương Đa, Biện Tý, Ba Đồng, Bà Năm Vàng, Bà Phủ Phẩm, Hội-Đồng Phanh với năm ba đứa nhỏ sạch-sẽ, theo làm đồng-tử và độc-giả như: Hai Huỳnh, Tư Xuân, Tư Ngưng, Ba Nguơn, Năm Nhơn, Ba Xuân, Mười Đức, v.v...[6] Dân sự Phú-Quốc cũng lấy làm lạ hết sức như bà con ở Hà-Tiên, vì trước khi Ngài chưa ra trấn-nhậm thì cầu Tiên rất khó khăn, cầu 5-3 lần mới có Tiên-Ông giáng-cơ một lần.  Còn khi Ngài ra Phú-Quốc, khi thiết đàn, mỗi lần Ngài đứng vái, đọc bài cầu là có Tiên giáng.  Ngài cầu Tiên cũng đã nhiều lần.  Sau có một vị Tiên-Ông chẳng chịu xưng danh biểu Ngài phải chịu làm đệ-tử thì sẽ dạy Đạo, và biểu Ngài thôi đừng tụng kinh Minh-Thánh nữa.  Về sau nầy, Ngài mới biết Tiên-Ông đó tức là Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế.  Một bữa kia Tiên-Ông giáng-cơ dạy Ngài phải lo tu và ăn chay thêm cho được 10 ngày trong một tháng, Ngài nghĩ: "Mình đương làm quan, nay người nầy mời mai người khác thỉnh, nếu chịu ăn 10 ngày rồi sau rủi quên ăn mặn, thì có tội với Trời Phật.  Nhưng nếu theo lời dạy mà được có kết quả gì thì cũng rán mà ăn.  Nếu mà ăn chay 10 ngày rồi, chết còn phải chịu luân-hồi thì thà là ăn hai ngày còn hơn, miễn là mình lo tu-nhơn tích-đức, chẳng làm trái với lương-tâm thì thôi."  Trong trí Ngài định để có dịp cầu Tiên, Ngài sẽ bạch lại như vậy.


    ____________


    Đàn-cơ mùng 1 Tết Tân-Dậu (8-2-1921)


    Tiên-Ông giáng-cơ.


    Bữa ấy có Ngài chứng đàn thiết tại Chùa Quan-Âm-Tự.  Ngài chưa kịp bạch hỏi tâm-sự thì cơ viết như vầy:

    CHIÊU, tam-niên trường-trai

    Thấy vậy Ngài rất bối rối vì Ngài chưa chịu ăn chay 10 ngày mà nay Tiên-Ông lại bảo trường chay 3 năm.  Ngài mới bạch rằng:


    "Bạch Tiên-Ông, Tiên-Ông đã dạy thì đệ-tử phải vâng, song xin Tiên-Ông phải bảo-hộ đệ-tử, chớ trường chay 3 năm lâu quá chẳng biết đệ-tử có chịu nổi hay không và xin Tiên-Ông bảo-lãnh, nếu đệ-tử vưng theo lời dạy thì phải có chứng-quả chi mới được."


    Tiên-Ông bảo cứ giữ theo lời dạy sau đệ-tử sẽ hiểu  rõ.


    Quan Phủ NGÔ-VĂN-CHIÊU khởi sự trường chay và hành-đạo là kể từ "Mùng một Tết năm Tân-Dậu" (8 Février 1921), sau đàn-cơ thiết lập tại Chùa Quan-Âm-Tự. [7]


    Tiên-Ông thường giáng-cơ truyền đạo cho Ngài tu và dặn phải giữ kín bí-truyền chừng nào tới thời-kỳ khai-đạo thì Tiên-Ông sẽ dạy.


    Tuy Ngài mới ăn trường chay nhưng Ngài hiểu lý trường-trai lắm.  Một độ nọ có Ông Đốc-Phủ Sự đi công-cán với Ông Tỉnh-Trưởng ra Phú-Quốc.  Ngài mời Ông Sự ăn cơm.  Ngài thì ăn chay và bảo dọn cho Ông Sự một mâm mặn kế bên đó, hai người cùng ăn và đàm-đạo chơi.  Vốn vui tánh, Ông Sự giả vờ vói gắp đũa mặn qua mâm chay.  Ngài thân mật nói: "Chay lòng chớ không phải đồ ăn chay là đủ đâu."  Và sau nầy Ngài thường dạy những người trực tiếp thọ pháp Ngài đừng quá nê-chấp về hình-thức bề ngoài.


    Nguyên Chùa Quan-Âm-Tự của Ông Huỳnh-Đăng-Khoa tạo lập với sự chung góp của Ông Đổ-Minh-Châu tục gọi là Ông Cả Bốn.  Hai Ông trên qui liễu rồi thì con Ông Cả Bốn là Ông Đổ-Kim-Cự thay thế trông nom.  Sau giao lại cho Ông Đổ-Văn-Đồ tục gọi là Ông Tám Gia.  Ông nầy có tánh khật khùng nên ăn nói không dè-dặt phải quấy.  Ngài hầu cơ và cúng nơi Quan-Âm-Tự cũng 7-8 tháng trời, một hôm, đang lo sửa soạn bông trái cúng thì Ông Tám Gia la lối không kiêng dè lễ độ và không cho cúng tại đó nữa.  Ngài hiền lắm cũng hơi buồn vậy thôi, và hối bà con dọn đi xuống chùa dưới là chùa Sùng-Hưng-Tự, nói với Ông Hòa-Thượng mượn chỗ cầu cơ.  Từ đó sắp sau là cầu Tiên nơi Chùa Sùng-Hưng-Tự vậy, cách Chùa Quan-Âm-Tự cỡ 500 thước.


    ____________


    III. THỜ THIÊN-NHÃN:


    Tuy Ngài chịu làm đệ-tử của Tiên-Ông chớ chưa lập bàn thờ để thờ Tiên-Ông, vì không biết phải thờ làm sao?  Một bữa kia Tiên-Ông dạy Ngài phải tạo ra một cái dấu hiệu gì riêng để thờ.  Ngài bèn chọn chữ Thập.  Tiên-Ông nói chữ Thập cũng được song đó là dấu hiệu riêng của một nền Đạo đã có rồi.  Phải suy-nghĩ mà tầm cho ra, có Tiên-Ông giúp sức, Ngài xin huỡn lại một tuần lễ để có ngày giờ suy-nghiệm.  Mãn tuần Ngài tầm cũng chưa ra.


    Một bữa sớm mai, lối tám giờ, Ngài đương ngồi trên võng phía sau Dinh Quận, bỗng đâu Ngài thấy trước mặt cách xa độ hai thước tây, lộ ra một con mắt thiệt lớn, rất tinh-thần, chói ngời như mặt Trời, Ngài lấy làm sợ-hãi hết sức, lấy hai tay đậy mắt lại không dám nhìn nữa, đâu độ chừng nửa phút đồng hồ Ngài mở mắt ra thì cũng còn thấy con mắt ấy mà lại càng chói hơn nữa.


    Ngài bèn chấp tay vái rằng:


    "Bạch Tiên-Ông đệ-tử rõ biết cái huyền-diệu của Tiên-Ông rồi, đệ-tử xin Tiên-Ông đừng làm vậy đệ-tử sợ lắm.  Như phải Tiên-Ông bảo thờ Thiên-Nhãn thì xin cho biến mất tức thì."  Vái xong thì con mắt lu lần lần rồi mất.


    Như vậy mà Ngài cũng chưa thiệt tin, nên chưa tạo Thiên-Nhãn mà thờ.  Cách vài ngày sau Ngài cũng thấy y như lần trước nữa.  Ngài cũng nguyện sẽ tạo Thiên-Nhãn mà thờ thì con mắt  tự nhiên biến mất.

    Đức Cao-Đài Tiên-Ông xưng danh tại Quan-Âm-Tự

    Năm 1921, sau khi thấy Thiên-Nhãn hiện 2 lần, Ngài cầu cơ hỏi cách thờ phượng thì Tiên-Ông dạy vẽ con mắt  theo như Ngài đã thấy mà thờ và xưng tên là "Cao-Đài Tiên-Ông Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" và dạy Ngài phải kêu Tiên-Ông bằng THẦY mà thôi.  Từ đó Ngài chánh thức trở nên người đệ-tử đầu tiên của Đức Cao-Đài Tiên-Ông.


    Chư-nho hầu đàn thảy đều lấy làm lạ vì thuở nay chẳng hề thấy kinh sách nào nói đến danh Cao-Đài Tiên-Ông.  Duy có mình Ngài xem ý tứ trong mấy bài thi của Đức Cao-Đài cho thì Ngài đoán chắc rằng Thượng-Đế giá lâm, Chúa-Tể Càn-khôn võ-trụ, Cha chung của nhân-loại, mới dạy như thế mà thôi.


    Thường thường Ngài thiết đàn riêng để học Đạo.  Lần lần Đức Cao-Đài truyền Đạo cho Ngài.  Chừng Ngài đã quyết-chí tu-trì trường-trai giới-sát thì Ngài nguyện với Đức Cao-Đài rằng: Nếu độ cho Ngài thành-Đạo thì Ngài sẽ lo độ lại chúng-sanh tùy theo phước-đức của mỗi người.

    Lễ dưng rượu Champagne

    Khi Ngài tu được vài năm rồi thì Đức Cao-Đài giáng-cơ nói với Ngài như vầy:


    "Thầy đã hứa với chư Tiên, chư Phật rằng Thầy sẽ đem đệ-tử về, ngày nay đệ-tử gặp đặng chơn truyền cũng nên đền ơn chư Tiên, chư Phật, vì đã dày công hộ độ."


    Ngài bèn bạch rằng: "Bạch Thầy, đệ-tử ở chốn phàm-trần nầy biết lấy chi mà đền ơn chư Tiên chư Phật cho xứng đáng.  Vậy đệ-tử xin dâng cho chư Tiên chư Phật một tiệc rượu Champagne chẳng biết được hay không?  Xin Thầy dạy cho đệ-tử rõ."


    Thầy bèn trả lời rằng: "Tự nơi lòng đệ-tử."


    Qua bữa sau, thấy trên bàn thờ có những ly rượu Champagne.  Ấy là bữa lễ Ngài đền ơn chư Tiên chư Phật vậy.


    Lúc Ngài tu được 3 năm rồi thì Đức Thượng-Đế có khuyên Ngài như vầy:


    Ba năm lao-khổ độ nhứt nhơn


    Mắt Thầy xem rõ lòng dạ chắc


    Thương vì con trẻ hãy còn thơ


    Gắng chí tầm phương biết đạo mầu.


    Đức Chí-Tôn dạy Ngài lý kín về đạo-pháp.


    IV. CẢNH BỒNG-LAI [8]:


    Lúc ấy Ngài tu cũng được 3 năm rồi.  Tiên-Ông thường khen Ngài tu kỹ, Đạo phát, lắm công-phu.  Một bữa kia Đức Cao-Đài Tiên-Ông giáng-cơ, mới ban đặc-ân hỏi Ngài muốn chi sẽ ban cho.  Ngài mới bạch rằng: "Bạch Thầy, nghe rằng cảnh Bồng-Lai xinh đẹp vô cùng, Thầy có thể nào cho đệ-tử thấy cảnh ấy không?"


    Cơ gõ một cái mạnh chớ không trả lời.


    Cách ít lâu, một bữa chiều kia nhằm lối cuối tháng giêng âm-lịch năm Giáp-Tý (Fév. 1924) Ngài ra hứng mát ngoài mé biển, Ngài trèo lên một hòn đá ngoài Dinh Cậu ngồi ngó mong ra biển thấy biệt mù trời nước, sóng dợn ba-đào.  Bỗng chút Ngài trông thấy lần lần từ chỗ trời nước giáp nhau, lộ ra một cảnh chẳng biết là cảnh nào mà thiệt là xinh đẹp, cảnh ấy vừa khuất, lại lộ ra cảnh khác.  Chót hết Ngài thấy cảnh trên có Thiên-Nhãn sổ ngay xuống một hàng có Nhựt-Nguyệt-Tinh [9] cũng đẹp đẽ vô cùng.  Ngài ngồi coi mê-mẩn, quên lửng rằng thân còn ở chốn phàm-trần.  Được chừng lối 15 phút đồng-hồ thì cảnh ấy lu lần lần rồi tiêu mất.


    Sau hầu cơ, Đức Cao-Đài Tiên-Ông mới cho Ngài biết ấy là cảnh Bồng-Lai.  Theo lời của Ngài ước-nguyện nên cho Ngài thấy cho nong-chí mà lo tu.


    Vì Ngài hay khuyên dân đừng ham tranh-tụng và Ngài thường hay đứng ra hòa-giải đôi bên, nên có một ít người không ưa, xúi dục dân kiện Ngài, Ngài đắc-lịnh đổi về Sài-Gòn.  Khi xảy ra vụ kiện Ngài, Ngài hầu đàn-cơ Đức Cao-Đài Tiên-Ông dạy như vầy:


    "Trường trai cửu cửu họa vô ưu


    Lập chí như đồng sự như như


    Sanh sự tại nhơn, nhơn sanh sự


    Học Đạo Vô-Vi ngã tâm tu."


    Khi sắp đổi về Sài-Gòn thì Đức Cao-Đài có cho Ngài bài trường-thiên như vầy:


                              Kín ngoài rồi lại kín trong


    Đường xa phong cẩn thưởng lòng để vui


                              Công đầu chịu cực đừng lui


    Thiên-Tào thăng thưởng đạo mùi ngọt ngon


                   Ba năm lòng sáng như son


    Trèo non xuống biển vuông tròn công-phu


                              Chớ phiền mỏi mệt lòng tu


    Trăng kia mây vẹt Đường Ngu gặp hiền


                              Mựa toan vụ thấy thanh Thiên


    Các đào rõ biết mối truyền chánh tông


                              Giờ nầy Thầy điểm  thâm công,


    Ngày sau con sẽ cỡi Rồng về Nguyên


                              Ngoài trong, sạch tợ bạch-liên


    Khá hòng gìn giữ mối giềng chớ xao


                              CHIÊU chiêu nguyệt thấu thanh thao,


    Trên đầu cũng có Thiên-Tào xét xem


                              Thắm mùi con biết lân nem


    Đề-hồ con uống Thầy xem ân cần


                              Đạo luyện khắc kỷ phục thân


    CHIÊU con khá giữ Thầy phân cạn lời.


    Lại dạy rằng: "Con đổi về Sài-Gòn, đồng-tử không thể đi theo con được.  Vậy con phải rót một ly rượu, uống đi phân nửa, còn phân nửa thì cho đồng-tử uống, gọi là lễ tiễn biệt nhau."


    Ngài bèn làm y theo lời dạy. (Lúc đó đồng-tử Ngưng đương mê mà đôi hàng nước Mắt  chảy tuôn, tỏ nỗi đau lòng kẻ đi người ở.  Thấy vậy Ngài cũng khó mà cầm lòng cho được.)


     


    Sưu tầm quyễn: Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu (1878-1932) in lần thứ 5 , năm 1962


  7. #7
    Tham gia ngày
    Apr 2008
    Bài viết
    62
    Xin được đóng góp bốn điều nhỏ:

    * Thứ nhứt: Đức Ngô là người đã chứng quả tại thế. Ngài đã từng xuất hồn đi giáng cơ ở nhiều nơi.
    ( Xem thêm quyển Lịch sử Đức Ngô Minh Chiêu )

    * Thứ hai: Người đắc phẩm vị Đại Tiên, là phẩm vị đại giác, cao nhất trong hàng Tiên phẩm.

    * Thứ ba: hầu hết các chi phái (trừ một số chi phái) đều được Đức Ngô giáng cơ chỉ dạy,
    và các đệ tử đều xem Ngài là Chơn Linh của của Thầy.

    * Thứ tư: Ngày quy Thiên là ngày 13/3: một ngày đặc biệt của Thầy: ngày giáng cơ phong chức sắc đầu tiên, ngày triệu hồi người anh cả, ngày thọ phong của đức GT Nguyễn Ngọc Tương - BCĐ)...

  8. #8
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Bài viết
    512

    HDDD không hiểu bạn Lảng Tử muốn nói gì ở ý thứ ba mà bạn vừa nêu ra:


    * Thứ ba: hầu hết các chi phái (trừ một số chi phái) đều được Đức Ngô giáng cơ chỉ dạy,
    và các đệ tử đều xem Ngài là Chơn Linh của của Thầy.


    Theo HDDD được biết thì mọi người đều mang theo mình một Chơn Linh của Thầy ( Tiểu Linh Quang từ khối Đại Linh Quang ).


    Thân,


  9. #9
    Tham gia ngày
    Feb 2007
    Bài viết
    614
    Nhan Nai's Avatar

     


     Nhân ngày 13 tháng 3 Âm lịch hằng năm , là ngày thành Đạo của Đức Ngô Đại Tiên ( Ngô Minh Chiêu ) Ngài Ngô là người được Đức Cao Đài Ngọc Đế chọn lựa thâu làm đệ tử đầu tiên trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.


         Theo thiển nghĩ   : Chúng ta đều là đồ đệ của Ngài nên quyết tâm sùng kính, ngưỡng mộ học và làm theo gương sáng con đường Nhơn đạo của Ngài làm nền tảng ban đầu cho vững chắc thì công trình sau nầy mới tồn tại  vững bền.


          Ngài Ngô Văn Chiêu trước khi bước vào đường Thiên đạo tu chơn  đã hành tròn phần Nhơn đạo , ngay cả khi thành tài, vào chốn quan trường.  Một số đức tính , gương sáng của Ngài được ghi lại :   ( trích dẫn nơi  quyển KHAI ÐẠO    TỪ KHỞI NGUYÊN ÐẾN KHAI MINH, do Cơ quan Phổ Thông Giáo Lý Ðại Ðạo xuất bản năm 2005&nbsp


            a)- Lòng hiếu thảo với Cha mẹ :


           Thuở Ngài còn nhỏ ( 6 tuổi ) Cha mẹ Ngài vì công việc làm ăn phải ra tận Hà Nội , Ngài ở lại Mỹ Tho với Bà Cô.


          " Là một người hiếu nghĩa vẹn toàn , nên khi có lương bổng rồi , Ngài bèn viết thơ mời Ông Bà Thân tư Hà Nội về để trọn bề phụng dưỡng .


          Làm việc ở Toà Tân Ðáo, Ngài mướn phố ở hẻm Chaigneau ( bây giờ là Tôn Thất Ðạm , sau công sở Triều Châu , ở với Ôn Bà Thân. Về sau , Ông thân Ngài ở riêng ; Mỗi khi cần dùng tiền vào bao nhiêu thì Ngài cung phụng đầu đủ và không bao giờ để một lời than vãn. Ðể tránh sự thiếu hụt trong gia đình, ban đêm , Ngài đi dạy thêm tiếng Pháp cho các người Tàu.


          Ðối với mẹ , Ngài là ngưòi con chí hiếu. Mỗi ngày đi làm việc việc về , Ngài không bao giờ quên hỏi thăm mẹ ăn cơm chưa , hoặc ăn có ngon không? Những lúc Bà Cụ đau nhiều thì Ngài đi cầu Tiên xin thuốc và tự giặt giũ cho mẹ vì sợ vợ con chểnh mãng. "


            Sau khi đậu bằng Thành Chung, ngày 23.3.1899 , Ngài Ngô nhận việc tại Toà Tân Ðáo (nay gọi là Sở Di Trú ). Ðến 1.5.1909, được lệnh đổi đi làm Thơ ký tại Toà Bố ( Toà Hành Chánh ) ở Tân An , Ngài Ngô rước mẹ cùng theo để dễ bề phụng dưỡng.


         Riêng về Cha của Ngài là Cụ Ông Ngô Văn Xuân , sau một thời gian ở riêng, lúc tuổi già có lẽ cũng đã về thường trú tại vùng Tân An, sống gần con cháu.


          b.- Bổn phận làm chồng , làm cha :  


         Từ khi lập gia đình với Bà Bùi thị Thân ( 1879 - 1955 ). Ngài Ngô Văn Chiêu thường xuyên đi làm xa , tận Hà Tiên, Phú Quốc.  Với chức vị cao và điều kiện xã hội thội thời ấy dễ dàng có thêm thê thiếp , nhưng Ngài Ngô luôn giử tròn nghĩa vợ chồng  . Làm được đồng lương nào  , sau khi tính toán chi tiêu tiện tặn cho mình , Ngài gởi hết về cho gia đình sinh sống . Mọi việc ở nhà Ngài trọn giao Bà quán xuyến  như lời trong thơ gởi về các con : " Mẹ con tính làm sao thì Cha cũng y như một thể." 


         " Ðối với người ngoài , Ngài rất khoan dung , nhưng với con trong nhà thì công bình nghiêm khắc.


          Lúc Ngài làm việc ở Tân An , một con trai của Ngài bấy giờ còn nhỏ tuổi , ngày Tết lén theo chúng bạn ra chợ rủ nhau lăn dưa của người ta , bị lính bắt đem về bót.  Ngài hay được , cho thả hết mấy đứa kia , con Ngài thì giam lại đến chiều mới tha .


         Ngài thường dạy con khiêm cung nhẫn nhịn , an phận thủ thường . Ở gần thì dùng những câu chuyện xảy ra trước mắt mà dạy ; ở xa , thường viết thơ nhắc nhở bổn phận làm người. "


          Ðể đơn cử , xin mạn phép Ngài được trích ra đây một một vài đoạn trong bức thơ từ Phú Quốc Ngài gởi về cho hai con gái lớn ( cô Tư và cô Năm ) ngày 31.8.1923 :


        "....Cha thương hết các con , gái trai cũng đông... Cha khuyên các con điều lành hoài hoài , ngay thật.  Ðừng mua cân già mà bán cân non , pha đồ xấu mà nói đồ tốt . Trong việc buôn bán như vậy tội nhiều lắm... Các con nhớ lời Cha dạy ,ăn ở hiền lành , buôn bán ngay thật , không sanh chuyện với ai , cứ chịu khó chịu cực một bề, chịu khó làm ăn không biết trà rượu . Cái sự nhịn thua người là phép Thần Tiên dạy đời đời , xưa tới nay mấy muôn năm rồi, không phải mới..."


                          Trong thơ , Ngài căn dặn các con :


         " Phải nhớ rằng : " Chết rồi tiếng tốt để lại cũng như còn sống , vì người hay nhắc nhở." Còn sống mà nhơ danh xấu tiết  , thì sống đó cũng như chết rồi , tới đâu cũng thẹn thuồng."


             c.- Lòng Nhân ái với mọi người :


          " Ngài rất từ thiện , hay giúp đỡ người hữu sự. Nhưng Ngài thường bố thí một cách kín đáo , không muốn cho người biết để cảm ơn mình.


           Thấy trong xóm có người nghèo quá , muốn giúp cho họ , Ngài mượn cớ nhờ làm việc lặt vặt quanh nhà rồi trả tiền gấp gấp năm gấp mười cho họ . Ngày Tết , gặp người vùng quê bán hàng ế , Ngài mua dùm , để họ có tiền mua sắm lễ vật cúng ông bà trong ba ngày Xuân.


        Ban đêm , Ngài mặc quần áo thườngdân đi len vào xóm nghèo , nghe ai than thở cảnh túng quấn  , con đau vợ yếu , Ngài sẽ lén bỏ tiền vào kẹt cửa rồi đi luôn không cho học biết. "


         Với bạn hữu đồng trang , Ngài đối đải trọn vẹn nghĩa tình.  Dịp Ngài Ngô chuyểncông vụ từ Tân An đi Hà Tiên ( 1920 ), mến tình cảm của Ngài  , nhiều người làm thi tiển biệt . Ðơn cử một đoạn trong bài chúc của Ông Trần Phong Sắc và Ông Cao Văn Lõi ( Trưởng Toà tại Tân An ).


                           " Nay Trưởng Toà đãi tiệc ,


                            Ðưa quan huyện lên đường.


                      Nhóm bạn vàng đủ mặt hiền lương ,


                      Dưng lời chúc đưa người phước đức .


                          Từ thi đỗ ông lên quan chức ,


                     So tánh thường người ở trung dung .


                     Tổng làng cám cảnh không cùng  ;


                      Há phải quan yêu thì bạn ghét .


                          Dân chúng kính thương chi xiết ,


                     Thiệt là gần mến lại xa trông .


                      Tánh thanh liêm giử mực chí công ,


                      Lòng trung hậu vẹn câu chỉ tín..." 


           Những bài thơ khác cũng vậy , tất cả đều nói lên niềm thương mến của thân hữu khi tạm biệt người bạn hiền phúc hậu.


            Lòng hiếu thảo , lòng nhân ái và lòng kính ngưỡng Phật Trời của Ngài dần dần tạo nên nền móng vững chắc phần Nhơn đạo , góp thêm vào cơ duyên đưa Ngài Ngô Văn Chiêu đến cửa Ðạo Kỳ Ba , làm đệ tử đầu tiên của Ðức Cao Ðài.


                                       ______________________


            


     

           

  10. #10
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    427

     


                                                    Kính Đại huynh Nhẫn Nại


    Đại Huynh viết : Theo thiển ý Nhẫn Nại nghĩ : Chúng ta đều là môn đệ của Ngài nên quyết tâm sùng Kính,...


    Đức Ngô Minh Chiêu đúng là chơn linh của một vị Phật, nhưng không vì vậy mà chúng ta là môn đệ của Ngài. Đức Ngài chỉ là Anh Cả mà thôi. ( Anh Cả  Đức Ngài cũng không nhận )


    Huynh Đệ Tỷ Muội của chúng ta đều  là môn đệ của Đức Chí Tôn Cao-Đài Ngọc-Đế.


    Con là Đinh Thanh Sơn.Thề rằng :  Từ đây biết một Đạo Cao-Đài Ngọc-Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn-Đệ gìn luật-lệ Cao-Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục.  


                                        Kính cùng Đại huynh.


     

         

Trang 1/4
1 2 3 ... 4

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Thăm nhà Đức Ngô Minh Chiêu ở Tân An
    Bởi Hao Quang trong mục Cảm xúc Thành viên
    Replies: 4
    Có Bài Mới: 22-04-2013, 11:00 AM
  2. Ngày kỷ niệm Ðức Ngô Minh Chiêu
    Bởi Nhan Nai trong mục Bước đầu tìm hiểu Đạo
    Replies: 42
    Có Bài Mới: 03-04-2012, 09:52 AM
  3. Tại sao Đức Ngô Minh Chiêu...?
    Bởi Guests trong mục Quý I.2007 -
    Replies: 32
    Có Bài Mới: 11-11-2006, 01:12 AM