+Trả Lời Chủ Đề
Trang 2/4
1 2 3 4
kết quả từ 11 tới 20/ Tổng số 40

Ðề tài: Ngày thành Đạo của Đức Ngô Minh Chiêu

  1. #11
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar


    V.  KHI THUYÊN CHUYỂN VỀ SÀI-GÒN


    a) Thời kỳ gầy dựng Cơ Phổ-Độ của Cao Đài Đại-Đạo.



    Thời-kỳ truyền-bá Đạo Cao-Đài đã đến và năm 1924 được Ngài gọi là năm 1 Cao-Đài Đại-Đạo.  Về tới Sài-Gòn, trước nhứt Ngài ở tại Bá-Huê-Lầu đường Pellerin (nay là đường Pasteur), sau lên ở Đakao đường Paul-Bert bây giờ Trần-Quang-Khải sau nữa đường d'Espagne (Lê-Thánh-Tôn) rồi đường Bonnard số 110, trên từng lầu nhì (nay là Lê-Lợi) tới ngày chót.


    Ngài thường tới lui chơi ở Chùa Ngọc-Hoàng (Đakao), mỗi ngày đi làm việc hai buổi về Ngài đóng cửa tu-hành ít giao thiệp với người thế.


    Gần rốt năm Ất-Sửu (1925) Đức Cao-Đài mới dạy Ngài đem mối Đạo truyền ra.



    Ở Sài-Gòn, Ngài gặp trước hết là Quan-Phủ Vương-Quan-Kỳ là bạn đồng-song tâm-đầu ý-hiệp.  Ngài mới khuyên Ông Kỳ lo tu-tâm dưỡng-tánh và thờ Đức Cao-Đài.  Ngài độ trước hết bốn Ông sau đây:


    Nhóm thứ nhất:
     
    Ông Phủ Vương-Quan-Kỳ


    Ông Phán Nguyễn-Văn-Hoài


    Ông Phán Võ-Văn-Sang


    Ông Đốc-Học Đoàn-Văn-Bản.



    Phần Ông Phủ Vương-Quan-Kỳ thì Ông cũng khuyên được nhiều Ông vào Đạo như là:



    Ông Nguyễn-Thành-Cương


    Ông Nguyễn-Thành-Diêu


    Ông Nguyễn-Hữu-Đức


    Ông Lê-Văn-Bảy dit Tý


    Ông Võ-Văn-Mân



    Nhóm thứ nhì:


    Đằng nầy Ông Cao-Quỳnh Cư [10], Ông Phạm-Công-Tắc và Ông Cao-Hoài-Sang, và quí Ông Diêu - Đức - Thân - Nguyên trước hết vào hạ tuần tháng 7-1925 tập xây bàn chơi tại nhà Ông Cao-Hoài-Sang.  Ban đầu thì là hồn người quá-vãng nhập vào họa-thi chơi, như con Ông Cao-Quỳnh-Cư là Cao-Quỳnh-Lương, kế đó Cụ Cao-Quỳnh-Tuân là thân-sinh Ông Cư.


    Sau có một vị Tiên-Ông xuống cơ xưng A Ă Â.  Cũng làm thi cũng họa-vận.  Và Đức A Ă Â bảo mấy Ông Sang, Cư, Tắc phải kêu bằng Thầy cho tiện bề đối-đãi.  Ngược lại Đức A Ă Â kêu mấy Ông là "Các con."


    Rồi kế đó có vị Tiên-Cô xưng là Thất-Nương dạy phải kiếm Ngọc-cơ mà dùng cho tiện.


    Nhờ sự giải-thích và dẫn-dắt của Tiên-Cô lần lần các Ông tin-tưởng, tôn-kính Thần Tiên, Tiên-Cô còn nói có thể cầu Đức Kim-Mẫu nhưng phải trai giới 3 ngày, Tiên-Cô lại chỉ dẫn cho cách phò ngọc-cơ nữa.  May lúc đó mấy Ông mượn được ngọc-cơ của Ông Tý cũng ở chung đường Bourdais (nay đường Calmette).


    Đến đêm Lễ Sanh-Nhựt (Noel 24-12-1925) thì Thất-Nương giáng cơ dạy phải chỉnh đàn cho nghiêm mà tiếp giá.  Nghe vậy mấy Ông Cư, Tắc, Sang nửa mừng, nửa sợ lật đật sắm hương-đăng trà quả, chỉnh-đàn cho có nghi-tiết.  Hai Ông Cư, Tắc ngồi lại phò-loan thì cơ viết như vầy:


    Ngọc-Hoàng Thượng-Đế viết Cao-Đài Giáo-Đạo Nam-Phương.


    THI


    Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,


    Vui lòng tu-niệm hưởng ơn Thiên,


    Đạo mầu rưới khắp nơi trần-thế,


    Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.



    Đêm nay phải mừng vì là ngày Ta đã xuống trần dạy Đạo bên Thái-Tây (Europe) Ta rất vui lòng mà đặng thấy chư đệ-tử kính mến Ta như vậy.  Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta.  Ta sẽ làm cho thấy huyền-diệu đặng kính mến Ta hơn nữa.


    Bấy lâu Thầy vẫn tá-danh A Ă Â là để dìu-dắt các con vào đường đạo-đức hầu chẳng bao lâu đây các con sẽ ra giúp Thầy mà khai-Đạo.  Các con thấy Thầy khiêm-nhượng dường nào chưa?  Các con nên bắt chước Thầy trong mảy mún thì mới xứng đáng là người đạo-đức.


    Sau đây là sự thu-phục Ông Lê-Văn-Trung của Đức Cao-Đài Thượng-Đế.


    Vào khoảng tháng 6 dl. 1925 trên Chợ-Gạo (Phú-Lâm) thường đêm có thiết-đàn cầu Tiên.  Ông Hội-Đồng Nguyễn-Hữu-Đắc một hôm gặp Ông Lê-Văn-Trung bèn rủ đi hầu đàn trên Chợ-Gạo.  Biết chỗ rồi sau mỗi kỳ cúng đàn có cầu cơ thì Ông Trung tới.  Lần lần Ông thâm-nhiễm mùi đạo rồi trường-trai giữ-giới mà lo việc tu-hành.


    Sau khi Thầy độ được Ông Trung rồi thì có lịnh bế đàn Chợ-Gạo làm chư-nho thảy đều ngơ-ngẩn không rõ cớ chi.  Mãi đến mùng 5 tháng chạp Ất-Sửu (28-1-1926) Đức Cao-Đài Thượng-Đế giáng-cơ dạy hai Ông Cư-Tắc đem cơ vô nhà Ông Trung đường Quai Testard Chợ-Lớn cho Thầy dạy việc.  Hai Ông lấy làm bợ-ngợ vì chưa hề quen biết với Ông Trung nhưng lịnh trên dạy phải khâm-tuân.


    Khi đến nhà Ông Trung rồi, Ông Cư thuật rõ đầu đuôi thì Ông Trung lộ nét vui mừng, lật đật lo thiết đàn.  Đức Thượng-Đế giáng-cơ dạy Đạo và khuyên việc tu-hành.  Thầy phán rằng chính Thầy đã sai Đức Lý-Thái-Bạch dìu-dắt Ông Trung nơi đàn Chợ-Gạo lâu rồi.


    Thầy dạy: "Trung, nhứt tâm nghe con.  Sống cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy mà đọa cũng nơi Thầy.  Con lấy sự sáng-suốt của con mà suy lấy."


    Một Trời, một Đất, một nhà riêng,


    Dạy dỗ nhơn-sanh đặng dạ hiền,


    Cầm mối Thiên-cơ lo cứu chúng,


    Đạo người vẹn vẽ mới là Tiên.


    Từ đây Ông Trung ngửa vâng Thánh-Ý, thu xếp việc nhà, xả-thân hành-đạo.  Đó là Thầy lựa chọn thành-lập đầu tiên những nhóm đệ-tử về Cơ Phổ-Hóa sau nầy.



    Sự hiệp-tác giữa nhóm 1 và 2.


    Quí Ông: Cư - Tắc - Sang xin Đức Thượng-Đế chỉ bảo cách thức đặng thờ Ngài thì Đức Cao-Đài Thượng-Đế dạy: mấy con phải đến hỏi Chiêu thì rõ [11].


    Một hôm vào hạ-tuần tháng chạp năm Ất-Sửu, Đức Cao-Đài Thượng-Đế giáng-cơ dạy mấy Ông Trung, Cư, Sang, Hậu, Đức phải theo lịnh Đức Thượng-Đế lại chung hiệp với Quan-Phủ Ngô-Văn-Chiêu mà lo mở Đạo.  Đức Cao-Đài Thượng-Đế lại dạy rằng mọi việc phải do nơi Chiêu là anh Cả.  Theo lời Ông Nguyễn-Trung-Hậu thì lúc bấy giờ, ngoài Đức Ngô-Minh-Chiêu còn có 12 người đệ-tử của Đức Cao-Đài là:


    1.-      -   Ông Vương-Quan-Kỳ


    2.-      -    Nguyễn-Văn-Hoài


    3.-     -    Võ-Văn-Sang


    4.-     -    Đoàn-Văn-Bản


    5.-      -    Lê-Văn-Trung


    6.-      -    Lê-Văn-Giảng


    7.-      -    Lý-Trọng-Quí


    8.-      -    Cao-Quỳnh-Cư


    9.-      -    Phạm-Công-Tắc


    10.-    -    Cao-Hoài-Sang


    11.-    -    Nguyễn-Trung-Hậu


    12.-    -    Trương-Hữu-Đức



    Đêm 30 tháng chạp năm Ất-Sửu (12-2-1926) Quan Phủ Ngô-Văn-Chiêu đi với hai Ông Cư - Tắc đến nhà mỗi vị đặng chúc mừng Tân-Xuân Ngài dặn hễ tới nhà mỗi vị thì hai Ông Cư và Tắc phò cơ cho Đức Thượng-Đế cho thì dạy bảo.  Trước hết lại nhà Ông Phán Võ-Văn-Sang rồi lần lượt tới chót hết là nhà Ông Lê-Văn-Trung
     
    BÀI THI CHO ÔNG VÕ-VĂN-SANG:


    Tân dân hỉ kiến đắc tân niên,


    Phổ-Độ Tam-Kỳ bá thế hiền,


    Nhứt tịnh chủ tâm chơn đạo lý,


    Thăng thiên huợt địa chỉ như nhiên.



    BÀI THI CHO ÔNG CAO-QUỲNH-CƯ:


    Sắp út thương hơn cũng thế thường,


    Cái yêu cái dạy ấy là thương,


    Thương không nghiêm trị là thương dối,


    Dối dạ vì chưng yếu dạ thương.


    Cư, trong năm mới nầy Thầy trông mong con rõ thấu đạo-đức hơn nữa, Gắng chí nghe!



    BÀI KỆ CHO ÔNG VƯƠNG-QUAN-KỲ:


    Nhựt nhựt tân hề nhựt nhựt tân,


    Niên đáo tân hề đạo giữ tân,


    Vô lao công quả tu đương tác,


    Niên quá niên hề đạo tối tân.



    BÀI THI CHO ÔNG LÊ-VĂN-GIẢNG:


    Trần-tục là nơi chỗ biển buồn,


    Nghe nơi Đại-Đạo rán nghe luôn,


    Ở trong nhà sẵn Thầy đưa khó,


    Ách nạn chi chi cũng chảy tuôn.



    BÀI THI CHO ÔNG NGUYỄN-TRUNG-HẬU tự THUẦN-ĐỨC:


    Thuần-phong mỹ-tục giáo nhơn sanh,


    Đức hóa thường lao mạc vị danh,


    Hậu thế lưu truyền gia pháp quí,


    Giáo dân bất lậu, tán thời manh.



    BÀI THI CHO ÔNG NGUYỄN-VĂN-HOÀI:


    Vô-vi tối yếu đạo đương cầu,


    Đệ-tử tâm thành bất viễn ưu,


    Thế-sự vô duyên, vô thế-sự,


    Tiêu tư bất xuất ngoại giang đầu.



    BÀI THI CHO ÔNG PHẠM-CÔNG-TẮC:


    Ngao ngán không phân lẽ thiệt không,


    Thấy thằng áp út quá buồn lòng,


    Muốn giàu Thầy hứa đem cho của,


    Cái của cái công phải trả đồng.



    Tắc, rán học Đạo, không Thầy biểu Chiêu đánh.



    BÀI THI CHO ÔNG ĐOÀN-VĂN-BẢN:


    Thương thay trung tín một lòng thành,


    Chẳng kể quan mà chẳng kể danh,


    Thiệt thòi bấy phận không con nối,


    Thấy rứa lòng Ta cũng chẳng đành.



    BÀI THI CHO ÔNG LÝ-TRỌNG-QUÍ:


    Lỡ một bước, lướt một ngày,


    Một lòng thành thật chớ đơn sai,


    Lôi thôi buổi trước nhiều ân xá,


    Lấp lửng đừng làm tội bữa nay.



    BÀI THI CHO ÔNG LÊ-VĂN-TRUNG:       


    Đã thấy ven mây lố mặt Dương,


    Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường,


    Đạo cao phó có tay cao độ,


    Gần gũi sau ra vạn dặm trường.
     


    Thăng [12]


    Khuya mùng một Tết năm Bính-Dần (13-2-1926) giờ Tý tái cầu thì Đức Thượng-Đế giáng dạy rằng:


    Chư đệ-tử nghe: "CHIÊU - Buổi trước hứa lời truyền-đạo cứu-vớt chúng-sanh, nay phải y lời mà làm chủ mối Đạo, dìu-dắt cả môn-đệ Ta vào đường đạo-đức đến buổi chúng nó thành-công, chẳng nên tháo-trúc.  Phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó."


    "Trung Kỳ Hoài, ba con phải lo thay mặt cho Chiêu mà đi độ người.  Nghe và tuân theo."


    "Bản - Sang - Giảng - Quí, lo dọn mình đạo-đức đặng truyền-bá cho chúng-sanh.  Nghe và tuân theo."


    "Đức, Hậu, tập cơ; sau theo mấy anh con mà độ người.  Nghe và tuân theo."



    Ấy là lời Thánh-Giáo đầu tiên - Và là ngày kỷ-niệm Khai-Đạo Cao-Đài về Cơ Phổ-Hóa: ngày mùng một năm Bính-Dần giờ Tý vậy (13 Février 1926)



    Qua đến ngày mùng 9 tháng Giêng (21-2-1926) nhằm ngày vía Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế.  Quan-Phủ Vương-Quan-Kỳ có thiết-đàn riêng tại nhà Ông, số 80 đường Lagrandière (bây giờ là đường Gia-Long.)  Đêm ấy có mời chư-nhu và mấy vị đạo-hữu hầu đàn.


    Thượng-Đế giáng-cơ dạy như vầy:


    Bửu Tòa thơ thới trỗ thêm hoa,


    Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà,


    Chung hiệp rán vun nền đạo-đức,


    Bền lòng son-sắt đến cùng Ta.



    "Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu.  Thầy vui muốn cho các con thuận-hòa nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trọng.  Phải chung lo cho Đạo Thầy.  Đạo Thầy tức là các con, các con tức là THẦY.  Phải làm cho nhau đặng thế-lực, đừng ganh gổ nghe.  Các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn.  Ngày kia sẽ rõ ý muốn của Thầy."


    Khi ấy Quan Phủ Ngô-Văn-Chiêu xin Thượng-Đế lấy tên mấy người đệ-tử mà cho một bài thi kỷ-niệm.


    Thượng-Đế bèn cho bốn câu như vầy :


    Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh,


    Bản đạo khai Sang Quí Giảng thành,


    Hậu Đức Tắc Cư Thiên địa cảnh,


    Quờn Minh Mân đáo thủ đài danh.



    Thượng-Đế lại phán: "Quờn Minh Mân, sau sẽ rõ"...



    Nguyên 12 chữ lớn trong 3 câu trên là tên của 13 vị môn-đệ trước hết của Thượng-Đế.  Có hai tên Sang: Võ-Văn-Sang và Cao-Hoài-Sang.  Thầy điểm-danh chung một tên Sang.  Còn 3 chữ lớn câu chót là tên ba vị hầu đàn.
     
    Vì Quan Phủ Ngô-Văn-Chiêu không thể đi chỗ nầy chỗ kia đặng nên Đức Thượng-Đế mới dạy: "Trung - Kỳ - Hoài phải lo thay mặt cho Chiêu mà đi độ người."


    Thường khi hễ tới bữa thứ bảy thì Ngài có thiết một tiệc chay tại căn phố Ngài ở 110 đường Bonnard (bây giờ là Lê-Lợi) trên lầu hai, mà đã các vị đã thay mặt Ngài đi giảng-đạo.  Luôn dịp đó Ngài cũng bàn bạc và chỉ vẽ điều cần-thiết để phổ-thông Cơ Đạo.  Ngài nói rất khiêm-nhường, đó là công quả chút it', chung góp ý-kiến với anh em trong việc truyền-bá Đạo Cao-Đài.


    Ngài lại còn xuất tiền may cho một ít vị áo xuyến đen hoặc áo hàng trắng để bận mà làm việc cho Đạo.


    Nhóm thứ ba:


    Sau đêm Khai-Đạo, Đức Cao-Đài Thượng-Đế đã thu phục được nhiều vị đệ-tử mới nữa như quí Ông: Lê Bá Trang - Nguyễn Ngọc Tương - Lê Văn Hóa - Mạc Văn Nghĩa - Nguyễn Ngọc Thơ - Lê Văn Lịch - Trần Đạo Quang - Nguyễn Văn Kinh - Lâm Quang Bính - Nguyễn Văn Tường.  Phần phò loan ngoài các Ông: Cư - Tắc - Sang - Hậu - Đức có thêm Ông Cao Quỳnh Diêu - Cao Minh Chương - Phạm Tấn Đài - Trần Duy Nghĩa v.v...[13]


    Ban đầu mấy Ông: Kỳ - Cư - Tắc - Trung - Sang - Hậu - Đức - Bản - Giảng mỗi đêm đều lưu lại nhà Ông Trung, khi nơi nhà Ông Cư, khi nơi Ông Bản (Cầu-Kho) để cầu cơ.  Về sau đàn ở Cầu-Kho thành ra đàn lệ.


    Trong lúc quí Ông: Kỳ - Bản - Hậu - Giảng - Thành (Tuyết Tân Thành) Giáo - Hiến - Vĩnh (Lê Thế Vĩnh) lo thiết đàn ở Sàigòn thì quí Ông Trung Cư Tắc Nghĩa lại xuống miệt Cần-Giuộc lập đàn khi ở Chùa Vĩnh-Nguyên, khi lại ở Chùa Hội-Phước.  Nơi ấy có quí Ông Phủ Nguyễn-Ngọc-Tương.  Lê-Văn-Hóa với quí Ông Lê-Văn-Lịch.  Ngô-Văn-Kim giúp sức vào nên mấy Quận Cần-Giuộc, Cần-Đước thiên-hạ nhập môn nườm-nượp, mỗi kỳ đàn, người cầu Đạo có số ngàn.


     


    Sưu tầm quyễn: Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu (1878-1932) in lần thứ 5 , năm 1962


  2. #12
    Tham gia ngày
    Apr 2008
    Bài viết
    62
    Trích:
    HDDD không hiểu bạn Lảng Tử muốn nói gì ở ý thứ ba mà bạn vừa nêu ra:

    * Thứ ba: hầu hết các chi phái (trừ một số chi phái) đều được Đức Ngô giáng cơ chỉ dạy,
    và các đệ tử đều xem Ngài là Chơn Linh của của Thầy.


    Theo HDDD được biết thì mọi người đều mang theo mình một Chơn Linh của Thầy ( Tiểu Linh Quang từ khối Đại Linh Quang ).


    Thân,

    À, xin nói rõ thế này:

    - Vì có một số chi phái không có dùng cơ bút nữa từ khi có thánh ngôn của Thầy.

    - Chúng ta ai cũng có linh quang của Thầy nhưng chơn linh để mở đạo dìu đời thì khác. Đây là chơn linh giáng thế.

    VD: Đức chúa Giêsu là phân thân, là chơn linh giáng thế của Thầy.

           Đức Phạm Hộ pháp là chơn linh của Vi Hộ Pháp.

           Đức  Nguyễn Ngọc Tương là chơn linh  của  Đức Lý Thái Bạch...

    Các đệ tử phái Chiếu minh thì xem Đức Ngô là Chơn Linh của Thầy (xin xem thêm Đại Thừa Chơn giáo)


  3. #13
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar
     

    Phần Đạo: Cơ Phổ-Độ bắt đầu phát-triển.



    b) Cơ Phổ-Độ bắt đầu phát-triển.


    Qua năm Bính-Dần (1926) Cơ Phổ-Độ qua khỏi thời-kỳ phôi-thai và vừa có đủ vây cánh để tiến-triển.


    Ngày 14-4-1926, Thánh-Ngôn dạy quí Ông Cư - Tắc - Trung phải lập tức cho Ngài Ngô-Minh-Chiêu hay rằng Thầy đã sắc-phong cho Ngài chức Giáo-Tông và bảo sắm một bộ thiên-phục màu trắng có chữ Càn của Bác-Quái.  Mặc dầu Ngài không chịu nhận chức Giáo-Tông nhưng Ngài cũng xuất tiền ra huờn lại bộ đồ Giáo-Tông mà quí Ông Cư - Tắc - Trung đã sắm sẵn đem xuống.


    Ngài gởi bộ đồ ấy trở về Tòa-Thánh Tây-Ninh và đã để thờ tại Tòa-Thánh tới nay.


    Ngày 23 tháng 8 Bính-Dần (29-9-1926) Ông Lê-Văn-Trung vâng Thánh-Ý hiệp với chư đạo-hữu hết thảy là 247 người tại nhà Ông Tường đứng tên vào tịch đạo để Khai-Đạo (Cơ Phổ-Hóa) với Chánh-Phủ.


    Ngày 7-10-1926 tờ Khai-Đạo được gởi lên Quan Thống-Đốc Nam-Kỳ là Ông Le Fol (Toàn-Quyền Đông-Pháp là Ông Pierre Pasquier nhằm Triều Bảo-Đại).  Trong tờ ấy có 28 người ký tên.


    Quí Ông:  Lê-Văn-Trung, Lê-Văn-Lịch, Trần-Đạo-Quang, Nguyễn-Ngọc-Tương, Nguyễn-Ngọc-Thơ, Lê-Bá-Trang, Vương-Quang-Kỳ, Đoàn-Văn-Bản, Lê-Văn-Giảng, Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, Cao-Hoài-Sang, Nguyễn-Trung-Hậu v.v...


    Quan Phủ Ngô-Văn-Chiêu biết bấy giờ Ngài đã xong nhiệm-vụ trong việc xây-dựng nền tảng Cơ Phổ-Độ của Cao-Đài Đại-Đạo.


    Ngài cũng thấy trước những cơn khảo-đảo và cũng có tiên-tri cho vài người (trong đó có Ông Mai-Thọ-Truyền) biết trước cuộc đại-náo đêm 14 tháng 10 Bính-Dần (18-11-1926) tại  Từ-Lâm-Tự (Gò-Kén – Tây-Ninh).


    Vì có cuộc đại-náo trên đây nên vị Hòa-Thượng Như-Nhãn, chủ nhân ngôi Chùa Từ-Lâm-Tự đòi lại ngôi Chùa.  Do đó mới có cuộc dời Tòa Đạo về làng Long-Thành tại một sở rừng 100 mẫu mới khai phá được 10 mẫu, mua với giá 25.000$00.  Đó là nền móng cơ-sở đầu tiên của Tòa-Thánh Tây-Ninh mà nhà nhà đều lợp bằng tranh với lá.


    c) Hoàn-thành sứ -mạng: Lập cơ-tuyển-độ Chiếu-Minh Tam-Thanh Vô-Vi.


             


    Vả lại Ngài còn phải đảm-đương một sứ-mạng khác, rất quan-trọng của Đức Chí-Tôn giao-phó, là phần việc lập-thành và điều-khiển Cơ Tuyển-Độ “Chiếu-Minh Tam-Thanh Vô-Vi”.


              Trọn đời, hành-động của Ngài về mặt Đạo nhứt nhứt đều thuận-tùng Thiên-ý, chẳng hề cố dụng tư-tâm.


    ____________


              Ngày 18 tháng 5 Bính-Dần (27-6-1926) tại Chiếu-Minh-Đàn Cần-Thơ, Đức Thượng-Đế giáng-cơ dạy Ngài như vầy:


              “Tại lời nguyện của con khi trước, nay Thầy đã hứa cho con ngồi yên-tịnh đặng Thầy dìu-dắt con theo Thầy, nhưng còn phải độ cả chúng-sanh cho kịp Hội Long-Hoa.[14]     


    Thầy cho con một bài thi coi theo đó mà làm.


                        CHIÊU an bá tánh khả hồi tâm,


                        NGHI thức Thiên-cơ, Đạo dị tầm,


                        ĐỘ thế giai do công mẫn cán,


                        MÔN thành duy hữu đức hoàng thâm,


                        SANH phùng Đại-Đạo tu cần bộ,


                        CHÍ ngộ chơn truyền khả tốc lâm,


                        LONG hổ tùng vân cu đẳng hội,


                        HOA khai hựu nhựt báo giai âm.


     


                                              Cho chữ nho:


     


                        Ta là Chúa cả Thánh—Thần—Tiên,


                        Cho khắp nhơn gian rõ Đạo Thiền,


                        Khá học theo CHIÊU lời dạy bảo,


                        Hễ vào một Đạo chớ nên phiền.


     


              Qua ngày 18 tháng 11 năm Bính-Dần (21-12-1926) Ngài xuống bái Đàn Tiên Cái-Khế Cần-Thơ, Ông Huyện Bảy Cần-Thơ có hầu đàn bữa đó, thuật chuyện lại như sau:


     


              Bữa ấy trong đàn, cơ đương dạy thì cơ gõ mạnh và bảo người ra ngoài đón vị “Tiên-Tịnh Hữu-Danh” vào. Có người chạy ra cửa ngõ thì gặp Ngài bận bộ đồ vải đen, vai vuông tay rộng, giống như người Tàu.  Không thấy ai khác nữa, y mới vô thì cơ lại gõ bảo ra rước.  Ngài bèn thay lễ-phục (áo tràng khăn đen) vào hầu đàn. Bề Trên cho Ngài bốn bài thi và một bài Trường-Thiên như vầy:


                       


                        Đạo tâm tự giác, giác nguyên tâm,


                        Kiệt lực bồ-đề thức đảnh tầm,


                        Ngoạn cẩm đương sơn Thiên thị ứng,


                        Biến du tạm kiểng lịch triều thâm,


                        Thất hườn thế cuộc an qui chánh,


                        Cửu chuyển trần tâm bát diển cầm,


                        Tinh đẩu Càn khôn canh hóa cổ,


                        Quân minh lập tấn yết toàn khâm.


                                             


                        Diệu lý hoằng khai diệu lý tâm,


                        Sơ quân ký tích chuyển khoan tầm,


                        Đề lao chánh niệm tùng kim cổ,


                        Nhã đạo tự an giác hậu thâm,


                        Lạc đức qui mô ban ứng tại,


                        Lưu nhơn tông chỉ khởi tương cầm,


                        Minh y cố lý minh y phục,


                        Vọng thủ hoài lai vọng thủ khâm.


                                             


                        Từ đây mới biết Đạo mầu linh,


                        Nghe thấy không con, hoại giáo trinh,


                        Mối đạo đâu vầy tranh nghĩa vậy,


                        Pháp môn cũng lạ gọi nhơn minh,


                        Biết rằng Tôn-Giáo sanh nhiều ngả,


                        Trong luật tu hành nhẫn nhục thinh,


                        Chê cũng dầu mà khen cũng thế,


                        Mặc ai tai mắt giữ công-bình.


                                             


                        Trời mù tối mắt biết chi linh,


                        Nỗi sống trò cười khắp nẻo trình,


                        Lúc thúc miệng trương trong giếng ếch,


    Se sua mắt thế chốn hang minh,


                        Sông sâu sào vắn chưa tường đáy,


                        Non cạn khôn đương ỏi tiếng thinh,


                        Mắt nghó coi con kia thấy Đạo,


                        Đạo cao ngàn thước nổi vang bình.


          ____________


                                  


    TRƯỜNG – THIÊN


     


                              Đạo là đường cả chông gai,


                        Biết thời lần mõ dốc mài ắt khi,


                              Một lòng quyết Đạo huyền-vi,


                        Có thân có phận chi chi phải dè.


                              Thầy nói thì con biết nghe,


                        Ông địch không lỗ gọi the là đời.


                              Làm cho trò lánh mặt hơi,


                        Có công có của biết tời nẻo kia.


                              Làm con cách mặt xa chia,


                        Van lưu bốn phía người chia Đạo lành.


                              CHIÊU con đừng tưởng chớ tranh,


                        Trước con có thấy đường quanh việc đời.


                              Tu  hành nhẫn  tiếng các nơi,


                        CHIÊU con khá biết trên đời kiết-hung.


                              Giữ lòng niệm chữ thiên tùng,


                        Mặc ai đua sự giáo tùng bớ CHIÊU.


                              Còn trời còn nước Thuấn-Nghiêu,


                        Vào ra lừa lọc đừng kiêu chử long.


                              Ngày sau thê-tử ấm-phong,


                        Phật, Tiên phổ-hóa con phòng hậu lai.


                              Thấy con luyện thuốc Thiên-Đài,


                        Lòng lo cầu nguyện hồng-thai giữ mình.


                              Ngày cơm hai bữa cho tinh,


                        Sớm lo việc nước chiều trình công-phu.


                              Một lòng một dạ rèn tu,


                        Dây lèo tay bánh rừng nhu tầm vào.


                              Ngọn đèn con tỏ như sao,


                        Con ôi!  giữ lấy khéo trao tay người.


                              Ở trong Cửu-lục sáng ngời,


                        Chiếc thoàn biển khổ Phật, Trời vượt qua.


                              Khắp trong trần thế ta-bà,


                        Khuyên con chăm bước Thiên-Tòa đề lai.


                              Thiện tai! Thiện tai! mặc ai,


                        Bồ-Đề nhứt cú luận bài siêu thăng.


                              Xét câu Nhựt, Nguyệt đồng đăng,


                        Hai vừng mây chiếu ngọc hằng bản danh.


                              Tưởng trong lưỡng hổ đấu tranh,


                        Phiêu phiêu chánh giáo khó hành thiện căn.


                              Mau mau xét lấy ăn năn,


                        Phản hồi cựu ước định hằng bổn tâm.


                              Thiên thính hề tịnh vô âm,


                        Bớ kia bốn đệ đạo cầm phổ thong.


                              Hai mắt ngó thấy vừng hồng,


                        Vẹt mây cung Quảng quang đồng nhơn gian.


                              Sanh sự thiệt sự không an,


                        Chi bằng hết dạ Tây-bàng lộc thân.


                              Thấy trong trần-thế tu cần,


                        Tu không nhằm nẻo dành phần công cao.

                      Làm cho thấu tới Thiên-Tào

                        Hô phong thiện ác sắc giao bốn thần.


                              Dưới đời sanh sự chẳng cân,


                        Cuồng phong lâm nhiễm một lần cuồng ngôn.


                              Thấy con Thầy tỏ chánh tôn,


                        Kìa kìa tứ đệ cho tồn qui mô.


    ____________


             


    Qua ngày 17 tháng 3 Đinh-Mão (18-4-1927) Đức Thượng-Đế có khuyên Ngài như vầy:


     


                        Mối Đạo gầy nên vốn bởi con


                        Trước sau, sau trước gắng công tròn


                        Tuy nay tứ-đệ đồ nơi tệ


                        Con học lòng Tiên sửa lại còn.


    ____________


                                             


              Trong tuần tháng 5 dl, 1927,  Đạo-Hữu Chiếu-Minh-Đàn Cần-Thơ lập-thành một sở Nghĩa-Địa, và có thiết-đàn cầu Tiên đặt tên Nghĩa-Địa và phê cho ít bài để làm kỷ-niệm.


     


              Ngày nay đọc kỹ lại, mới thấy trong mấy bài thi ấy có nói phần nhiều là việc tương-lai của Đức ngô-văn-Chiêu vậy.


     


              Đây là mấy bài liên-hườn nói trên:


    (Lý-Đại-Tiên)


             


                        Chiếu gương nhựt nguyệt rõ tâm thành


                        Minh cảnh đài trung rạng giá thanh


                        Nghĩa tụ ngàn năm bia tạc để


                        Địa trường hai chữ tặng môn-sanh.


             


                        Môn-sanh một dạ đẹp lòng Ta,


                        Dị tánh đồng môn tỷ một nhà,


                        Sống lập tâm kinh làm Đạo-Đức,


                        Thác về Nghĩa-Địa khỏe thân già.


             


                        Thân già an giấc bỡi tu hành,


                        Tham Đạo không màng nẻo lợi danh,


                        Sống kể ngày năm đời gọi yểu,


                        Thác về Tiên-cảnh mới trường-sanh.


     


                        Trường-sanh dưới thế tính sai lầm,


                        Lẩn bẩn dương trần đặng mấy lăm,


                        Một giấc quang-âm dường lửa nháng,


                        Về miền Cực-Lạc khỏe muôn năm.


     


                        Muôn năm Nghĩa-Địa chẳng phai mòn,


                        Ngọc-Đế hồng ân tạc sử son,


                        Hai chữ Chiếu-Minh làm kỷ-niệm,


                        Lưu truyền vạn kiếp vững bền còn.


     


    (CỬU-THIÊN HUYỀN-NỮ)


    ____________


     


                        Bền còn hai chữ Chiếu-Minh-Đàn,


                        Hiệp lực đồng tâm nghĩa mộ an,


                        Lập chí tu hành cho phải phép,


                        Ngàn năm xác dấu phách không tàn.


                                             


                        Không tàn phước lộc bỡi dày công,


                        Đạo-đức vuông tròn rạng núi sông,


                        Khỏe mắt sanh tiền xem Nghĩa-Địa,


                        Vui lòng tử hậu đến non Bồng.


                       


                        Non Bồng cõi thọ diệu hoằng thâm,


                        Muốn thoát trầm luân khổ chí tầm,


                        Một nắm xương tàn an Nghĩa-Địa,


                        Hồn về Tiên cảnh khỏe muôn năm.


     


                        Muôn năm giữ trọn tánh thiêng-liêng,


                        Muốn thấy Như-Lai Phật tại tiền,


                        Vui bữa tương rau ròng sám kệ,


                        Xác về Nghĩa-Địa phách phi thiên.


     


                        Phi thiên bửu pháp luyện thông đường,


                        Đắc lộ tinh thân rạng tợ gương,


                        Chư  sĩ nhớ ghi lời dặn bảo,


                        Cầu cho Nghĩa-Địa phước miên trường.


                                  


              Bữa rằm tháng chạp năm Đinh-Mão (7-1-1928) thì Quan Phủ Ngô-Văn-Chiêu tu gần được bảy năm,  Đức Thượng-Đế cho Ngài hai bài thi như vầy:


                        Thất niên dĩ cận thiểu nhơn tri,


                        CHIÊU dụ hồi tâm nhựt sở vi,


                        Tùng thử Tam-kỳ hành chánh đạo,


                        Trì nghi nan đắc Đạo Vô-Vi.


                                  

    Thích nôm

     


                        Bảy thu lấp xấp đã gần bên,


                        CHIÊU đốc các con gắng chí bền,


                        Muôn kiếp hội may gần Chánh-Giáo,


                        Trì nghi khó gặp nẻo mò lên.


             


    Bước qua năm Mậu-Thìn nhằm ngày mồng hai tháng Giêng (24-1-1928) Đức Bạch-Nhẫn Tiên-Trưởng cho  chư đạo hữu Cần-Thơ một bài thi chỉ rõ cái kiếp của Quan Phủ Ngô-Văn-Chiêu:


             


                        Nhựt triệu [15] tiên duyên nhứt vị cao,


                        Nãi lai thử kiếp thọ tân tao,


                        Kỷ niên dĩ mãn hồi Tiên-cảnh,


                        Nhựt dạ cần tu bất nại lao.


     


              Ngày 16 tháng Giêng năm Mậu-Thìn (7 Février 1928) Ngài xuống bái đàn Hiệp-Minh (Cái-Khế), Bề-Trên cho Ngài 6 bài thi và một bài trường-thiên như vầy:

     

  4. #14
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar
        Ngày 16 tháng Giêng năm Mậu-Thìn (7 Février 1928) Ngài xuống bái đàn Hiệp-Minh (Cái-Khế), Bề-Trên cho Ngài 6 bài thi và một bài trường-thiên như vầy:

     


                        Nguyệt Minh cao Chiếu thượng nguơn quang,


                        Chánh khí huyền đô Tử-Phủ đàn,


                        Nam kiệt huy đằng nhơn đạo chấp,


                        Bát Vương tá chánh giác khôn Càn,


                        Cửu-trùng hạc cáo Từ-Hàng giá,


                        Ngũ vọng đương lai thích-lịch gian,


                        Tri cổ Phan-Khê trung trực thế,


                        Hòa bình võ trụ tạc danh nhàn.


     


                        Nhựt CHIÊU đản tiết điểm xuân quang,


                        Đồ ảnh diêu phong khí hiệp đàng,


                        Huỳnh giá Minh khai quân Chiếu hội,


                        Bạch-san băng võ diệu qui Càn,


                        Thanh thiên yến nguyệt quang lai giá,


                        Bạch lộ nhựt qui khán cảnh gian,


                        Lạc hóa thi đề ban đức tánh,


                        Ngao du thù tửu chúng môn nhàn.


                                             


                        Thiên phong suy trục tấn minh quang,


                        Thủy tọa vân hoành náo động đàng,


                        Giai cú lãng ngâm hoan chước tửu,


                        Gia-đình vô dạng bảo nguơn Càn,


                        Võ thâu tịnh hấp thiên lam tẩy,


                        Tiết chí khâm lư bá khả gian,


                        Hồ điệp bất tri xuân dĩ khứ,


                        Suy tâm du tự luyến thi nhàn.


                                               


                        Đường trường khiu khúc bóng dương quang,


                        Vẻ ngọc đêm rằm chói rỡ đàng,


                        Mây phủ chín từng xanh mặt núi,


                        Tuyết phê muôn dặm trắng sông Càn,


                        Tiếng ngâm thảnh thót hoà phong thủy,


                        Chén rượu ngạt ngào đối tuyệt gian,


                        Trăng cảnh nước người bao xiết nói,


                        Trai lành gái tốt hưởng an nhàn.


     


                        Rừng xanh rậm nẻo vẽ hào quang,


                        Bóng phất ngày xuân chiếu dặm đàng,


                        Một túi quỳnh tương đưa ngọn gió,


                        Đôi bầu linh dược trải ơn Càn,


                        Tiếng phơi cửa Phật trăm năm tạc,


                        Nhuận đặc nhà tiên chính cõi gian,


                        Tỏ sáng trên đời màu bát-ngát,


                        Gái trai thong thả cuộc phong nhàn.


     


                        Tiên bồng vừa mở tiệc phong quang,


                        Chào khách bốn phang hiệp một đàng,


                        Thoan thoản ngoài đường tai rực rỡ,


                        Lăng xăng trong cửa tiếng ăn càng,


                        Chòm sao liễn chớp trên không nháy,


                        Luồn gió đùa mây dưới thế-gian,


                        Sơ dã thất trùng mê mãn nhãn,


                        Nửa về nửa ở cảnh u-nhàn.


                                                  ____________


     


                                   TRƯỜNG – THIÊN


     


                              Khắp trong Đệ-tử đâu đâu,


                        Một lòng cách trí ban đầu sơ giao.


                              Ngày kia sẽ thấu Thiên-Tào,


                        Gái trai chớ có khoe màu đục trong,


                              Tu hành để dạ đề phòng,


                        Chớ cho thất lật long đong việc đời.


                              Chớ đừng cái giọng hết hơi,


                        Phần hồn là khổ nợ đời thấy không?


                              Phải minh luật pháp chánh tông,


                        Chớ cho Xiển-Giáo chẳng đồng thấp cao,


                              Phải cho hòa huỡn đừng mau,


                        Khí trì tất chú khôn bao vận hành,


                              Xét coi tỏ Đạo chiếu danh,


                        Ta-bà huyền mật lòng thành hoàn cung,


                              Cam-lồ nhứt điểm sáng cùng,


                        Một vòng tóm sạch tùy tùng Thánh-Tiên,


                              Ra công quét sạch hồng duyên,


                        Khỏi vào lục-đạo phước hiền siêu thăng,


                              Sớm khuya ghi chữ thiện năng,


                        Bồ đề an phận lòng hằng hôm mai,

                      Thấy trong trai gái dồi mài

                        Mười phần có một hoa khai trên đời,


                              Gái lo gắng nhuận an nơi,


                        Trau công bồi quả chớ lời tranh đua,


                              Việc trong Phật giáo phép chùa,


                        Đừng suy vinh nhục đừng mua tiếng đồn,


                              Gái ôi phải xét cho khôn,


                        Công danh phú quới phần hn đâu siêu,


                              Vô đàn ngó thấy người Chiêu,


                        Ai đời sấm nổ đường tiều lấp chông,


                              Nhiều nơi diễn thuyết xưng ông,


                        Tam-Hoàng, Ngũ-Đế, Thần-Đồng nêu danh,


                              Phần đời phải biết tồn-sanh,


                        Sảng Đạo tông giáo khó thành ngày sau,

                      Năm rồi chỉ sắc làm sao?

                        Trò ôi! lập chí là bao nhưng  là,


                              Làm sao ẩn phục vào ra,


                        Miên miên gió thổi tài qua mắt người,


                              Rằng đây rằng khuyết dạ khươi,


                        Hành tàng uẩn ảo kẻ cười người chê,


                              Khắp trong huờn nội bốn bề,


                        Vào ra chật ngõ sanh lê biết đồng


                              Tới đâu để đó như không,


                        Ai gầy, ai đát, ai trồng bỏ đây,


                              Rằng đi du lịch tiếng Thầy,


                        Tiên thành kỳ ý lời nầy bớ con,


                              Vì lời kim thạch sắt son,


                        Bất tri bất lẫn Đạo còn trung dung,


                              Biết rằng chỉ phải kim tùng,


                        Đục trong sách lấy thỉ chung Thấy trò.


                                                        ____________


                                             


              Qua bữa sau (17 tháng Giêng năm  Mậu-Thìn = 8-2-1928) Ngài bái Đàn Chiếu-Minh, Đức Ngọc-Đế dạy rằng :


     


                        Linh-Tiêu thích lịch Đạo hoằng khai,


                        Xuất thủy bạch liên lục pháp đài,


                        Vạn đại hưng điều cam võ lộ,


                        Thử thân bất nhiễm lộng trần ai.


                                   CHIÊU,


                        Thử lai thiên hạ xảo đa ngôn,


                        Tiền nhựt dĩ truyền nhứt phái tôn,


                        Vạn sự chung qui giai hiệp nhất,


                        Khuyến quân mạt nại thế gian ngôn.


     


              Nghi giảm khẩu, mạc tần lai chi nhuệ xứ, khả an bần thủ phận, thần hôn luyện đạo, chỉ giáo hiền lương chi sĩ, tùng hành chánh đạo, đãi mãn công quả phản hồi cựu vị, mạc lậu Thiên-cơ, mạc giữ thố truyền, mạc tín tha nhơn, lưỡng tâm nhiễu sự.


     


              Tại Nam-Thiên-Cung đã ghi bộ công khai Đạo, hà nhựt thành công phi đằng tùng quyền cựu chủ.  Khuyến nhữ khả chủ ý chăm tâm, bất khả bán đồ nhi phế, tội dĩ phản huờn ư nhữ.


     


                        CHIÊU con khá giữ mấy lời khuyên,


                        Chử dạ kiên tâm bất thố truyền,


                        Hiện thế nhơn tình đa lãnh noãn,


                        Bất nghi nhi điển thính cuồng điên.


     


              Bữa 18 tháng Giêng Mậu-Thìn (9-2-1928), Thượng-Đế có cho Ngài mấy bài thi như vầy :


     


                        Ta là Ngọc-Đế chốn Linh-Tiêu,


                        Thương bấy chúng-sanh phải dắt dìu,


                        Khuyên trẻ lo tu cho kịp hội,


                        Các con tua giữ của lời CHIÊU.


                                  


                        Tạo vẽ giang-san một cảnh Trời,


                        Hoằng khai Đại-Đạo độ cùng nơi,


                        CHIÊU con hãy nhớ lời khuyên trước,


                        Bảo hộ dân lành đặng thảnh thơi.


                                  


                                   CHIÊU,


                        Thay mặt cho Thấy chớ thở than,


                        Khá đem chư sĩ lại chung đàng,


                        Lánh nơi tà-mị giùm người chánh,


                        Mới phải là người độ chúng an,


             


    Cũng bữa đó có Đức Thành-Hoàng Bổn-Cảnh Hàn-Dũ, có cho hai bài thi mừng Ngài như vầy :


     


                        HÀN huyên gặp gỡ thị tiền duyên,


                        Dũ hậu thùy tri cọng kỷ hiền,


                        BỔN tích Đào-Nguyên đào lý hữu,


                        CẢNH Tiên phàm tục lưỡng chi duyên.


     


                                   Thích – nôm:


     


                        Ta là Hàn-Dũ xuất Cao-Tiên,


                        Gặp gỡ nhau đây thiệt bạn hiền,


                        Buổi trước Đào-Nguyên thường tửu hứng,


                        Nay chia người tục kẻ non Tiên.


                                             


              Có một vị Tiên xưng là “Đệ-tử của một vị Đại-Tiên” cũng cho một bài thi mừng Ngài như vầy:


     


                        Tặng người đạo-đức thiệt dày công,


                        Nhựt tiếp thiên ân triệu ý đồng, [16]


                        Hữu kiếp tiền duyên lai tái thế,


                        Ngày sau độ chúng mở đường thông.


                                             


              Đêm rằm tháng 8 Mậu-Thìn (28-9-1928) có lập Đàn tại nhà Ông Nhung ở Sàigòn.  Bữa đó Ngài đến chứng đàn. Tiên-Ông giáng-cơ, viết :


     


                        Tầm sư học Đạo chốn Linh-Tiêu,


                        Từ thuở Tam-Hoàng Minh-Nguyệt triều,


                        Đài nội Minh-Hoàng lên viếng cảnh,


                        Trăng thu vọng tưởng chỗ Minh-Chiêu.


             


    Ta cho chư-sĩ hay: đúng Tý thời Thượng-Đế giá-lâm, phải túc kỉnh, hai bên nghinh, đồng-tử phải đứng, đẳng-đẳng phải có bông nhang cặm trên đầu.


    ____________


     


    Khi Thượng-Đế giá-lâm chớ nên dùng chữ Tiên-Ông, phải dùng chữ Linh-Tiêu.


                       

    THƯỢNG-ĐẾ GIÁ-LÂM

                       


    Trăng thu thưởng nguyệt tạm đàn chơi,


    Tử-đệ lòng thành gắng vó mời,


    Nam nữ hai bên đồng túc kỉnh,


    Lóng tai nghe dạy thử đôi lời.


    ____________


     


                              Đêm thu trăng dọi sáng ngời,


    Tòng reo gió thổi trên Trời sao giăng.


                              Thỏa lòng hứng cảnh bóng Hằng,


    Vừng mây đỡ gót giáng thăng chốn trần.


                              Thương con Thầy chỉ Đạo bần,


    Quản chi trần thế lao thân ích gì.


                              Toan lo đầu Phật qui y,


    Ngày ngày mộ chữ tu trì hay hơn.


                              Nhọc nhằn đừng để dạ sờn,


    Tiêu diêu chốn cũ linh đơn độ về.


                              Một lòng chớ khá tê mê,


    Ba từng chậu úp bốn bề chạy ra.


                              Lánh vòng chói sáng ánh lòa,


    Chuột kêu tí tục gà đà gáy rân.


                              Rồng kia ẩn bóng sông Ngân,


    Chờ cho trăng lặn lần lần phung châu.


                              Bớ con cho rõ đuôi đầu,


    Phụng nằm ấp trứng minh châu chờ ngày.


                              Huê thơm nhụy nở liên đài,


    Sang thu huê nở bệ giai có Thầy.


                              Ai hay cho gã lưng đầy,


    Huỳnh lương con nhớ anh tài khi xưa.


                              Căn duyên ngày trước cũng vừa,


    Lòng toan giữ lấy múi dưa vào lòng.


                              Vừng mây cung hạc chực mong,


    Kiếm nơi gió mát trăng trong khỏe mình.


                              Trần-Tô xưa luyện chơn kinh,


    Đến khi thành đạo minh minh trở về.


                              Nay con rõ vậy phụng đề,


    Ba năm tám tháng dựa kề Bồng-Lai.


                              Đôi lời cạn tỏ cho ai,


    Bề trong khuôn đúc bề ngoài ra sao?


     


    Vì lời dạy của Đức Thượng-Đế nên Ngài ít hay thù tạc với ai hết.


     


    d)  Những cuộc du-lịch.


  5. #15
    Tham gia ngày
    May 2007
    Bài viết
    273

    Thật ngạc nhiên ????
    Có một comment của VinhNguyen trong phần này đâu mất rồi, đã bị xóa ??? vi phạm nội quy àh???
    Xin hỏi admin. Kính!


     


     



    -----------------------------------------


    Trả lời: Vì các bài viết của quý hiền, gồm: Vinh nguyen, NamMô, Kim Liên gửi bài "lạc chủ đề" (theo lời QTV7) nên BQT đồng ý cắt và cho vào phòng lưu trữ. Kính! (Admin - Thay mặt BQT)


  6. #16
    Tham gia ngày
    Mar 2008
    Bài viết
    999
     

    NGÔ VĂN CHIÊU - người môn đệ Cao Đài đầu tiên (phần I)



    Tiền bối Ngô Văn Chiêu


    (1878-1932)


    Năm 1920 (Canh Thân) là lúc Đức Cao Đài khởi sự hóa độ các tông đồ, lập nên hàng môn đệ tiền phong, khai sơn phá thạch, mở ra một tôn giáo mới tại Việt Nam. Thời kỳ hóa độ các tông đồ diễn tiến trong khoảng sáu năm (1920-1926), gồm hai giai đoạn:


    - Khởi từ năm 1920 (Canh Thân), Đức Cao Đài hóa độ tiền bối Ngô Văn Chiêu, xây dựng nền tảng vô vi hay nội giáo tâm truyền (esotericism).


    - Khởi từ năm 1925 (Ất Sửu), Đức Cao Đài hóa độ nhóm Phổ độ, xây dựng nền tảng phổ độ hay ngoại giáo công truyền (exotericism).


    I. THÂN THẾ TIỀN BỐI NGÔ VĂN CHIÊU (1878-1932)


    Môn đồ đầu tiên của Đức Cao Đài là tiền bối Ngô Văn Chiêu, thường được biết qua đạo hiệu Ngô Minh Chiêu.


    1. Thời thơ ấu


    Tiền bối Ngô Văn Chiêu là con duy nhất của một gia đình lao động thanh bạch. Thân phụ là ông Ngô Văn Xuân. Thân mẫu là bà Lâm Thị Quý (1858-1919), cũng gọi Lâm Thị Tiền, người quận Bình Tây, tỉnh Chợ Lớn. Song thân tiền bối đều làm công cho một nhà máy xay lúa ở Bình Tây. Tiền bối chào đời tại quê mẹ, ngày 07-01 Mậu Dần (thứ Sáu 08-02-1878, nhưng trên giấy căn cước ghi ngày 28-02-1878, có thể do việc lập khai sinh muộn).


    Tiền bối chào đời trong một mái nhà nhỏ bé, chung quanh đầy sình lầy, nằm phía sau chùa Quan Đế, tục gọi chùa Ông, cất năm 1873 (Quý Dậu), ở số 1, đường Chùa, sau đổi là số 242 đường Lê Quang Liêm, hiện nay là đình Bình An, số 242 đường Trần Văn Kiểu, phường 3, quận 6.


    Khi được sáu tuổi, vì song thân ra Hà Nội mưu sinh, tiền bối được đưa về làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, tỉnh Mỹ Tho, sống với bà Ngô Thị Đây, em độc nhất của thân phụ tiền bối. Chồng bà Đây là Hoa kiều, bán thuốc bắc và cây ván. Vì không con, hai ông bà sẵn lòng nuôi cháu, cho ăn học.


    Năm mười hai tuổi, tiền bối gặp Đốc phủ sứ Lê Công Xũng (1853-1920), công chức Tòa Bố tỉnh Mỹ Tho. Người này đã chỉ dẫn cách làm đơn và giới thiệu cho tiền bối vào học nội trú Collège le Myre de Vilers. Trường này nguyên là Collège de Mỹ Tho thành lập ngày 17-01-1879, đến ngày 14-6-1881 thì đổi tên thành Collège le Myre de Vilers, từ năm 1953 đổi tên thành trung học Nguyễn Đình Chiểu cho tới nay.[1]


    Về sau, tiền bối lên Sài Gòn, học tiếp ở Collège Chasseloup-Laubat. Trường này thành lập ngày 14-11-1874, năm 1928 đổi tên là Lycée Jean Jacques Rousseau, từ năm 1966 đổi tên là trường trung học Lê Quý Đôn cho tới nay.[2]


    Năm hai mươi mốt tuổi, tiền bối đậu bằng thành chung (diplôme d’études primaires supérieures), và từ đây bắt đầu quãng đời công chức.


    Nghiên cứu tiểu sử của tiền bối Ngô Văn Chiêu, Giáo sư Ralph Bernard Smith (trường Nghiên cứu phương Đông và châu Phi, Viện đại học London) nhận xét: “Ảnh hưởng văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam tất yếu đã tác động đến đời sống của ông nhiều hơn là vốn Tây học.” [3]


    Lời nhận xét này cũng đúng nếu nói về các vị tông đồ khác của Đức Cao Đài. Dù lớn lên khi Nam Kỳ đã thành thuộc địa Pháp, học trường Tây, làm công chức thuộc địa, nhưng các vị ấy vẫn thực sự là con người Việt Nam.


    2. Đời công chức (1899-1931)


    Quãng đời công chức của tiền bối Ngô Văn Chiêu có thể được tóm tắt qua niên biểu sau đây:


    23-3-1899: Làm thư ký tập sự (élève secrétaire) tại Sở Tân đáo (Service de l’Immigration) ở Sài Gòn, mức lương 200 đồng.[4]


    14-7-1901: Thăng lên ngạch phó thư ký hạng ba (secrétaire auxiliaire de 3e classe) tại Sở Tân đáo, mức lương 250 đồng. (Phó thư ký có ba hạng.)


    01-01-1903: Sang làm việc ở Dinh Thống đốc Nam Kỳ, thời Thống đốc François Pierre Rodier. Khi tiền bối Ngô Văn Chiêu rời khỏi Dinh Thống đốc (tháng 4-1909) thì Quyền Thống đốc Nam Kỳ là Ernest Antoine Outrey.[5]


    14-7-1904: Thăng lên ngạch phó thư ký hạng nhì (secrétaire auxiliaire de 2e classe) tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ, mức lương 300 đồng.


    14-7-1908: Thăng lên ngạch phó thư ký hạng nhất (secrétaire auxiliaire de 1er classe) tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ, mức lương 480 đồng.


    01-5-1909: Làm thư ký Tòa Bố tỉnh Tân An. Có rước mẹ theo để phụng dưỡng.


    14-7-1910: Thăng lên ngạch chánh thư ký hạng ba (secrétaire titulaire de 3e classe) tại Tòa Bố tỉnh Tân An, mức lương 540 đồng. (Cũng như phó thư ký, ngạch chánh thư ký có ba hạng.)


    01-01-1913: Thăng lên ngạch chánh thư ký hạng nhì (secrétaire titulaire de 2e classe) tại Tòa Bố tỉnh Tân An, mức lương 600 đồng.


    01-01-1916: Thăng lên ngạch chánh thư ký hạng nhất (secrétaire titulaire de 1er classe) tại Tòa Bố tỉnh Tân An, mức lương 660 đồng. Còn ba năm nữa sẽ thăng lên ngạch thư ký ngoại hạng hay thượng hạng (secrétaire surnuméraire), nhưng tiền bối đã thi chuyển sang ngạch tri huyện. (Tri huyện có hai hạng.)


    01-01-1917: Thi đậu ngạch tri huyện hạng nhì (huyện de 2e classe), vẫn làm việc tại Tòa Bố tỉnh Tân An.


    Trong hồi ký, Vương Hồng Sển cho biết: “Những năm khoảng trước 1925, trường cao đẳng dạy luật và hành chánh ở Hà Nội (école supérieure de droit et d’administration) chưa đào tạo và cung cấp đủ người dùng, thì chức huyện cũng được tuyển chọn trong hàng thơ ký soái phủ [Dinh Thống đốc Nam Kỳ] lâu năm, nhưng bắt buộc những người này phải qua hai kỳ thi đổ lửa.” Đó là (a) examen de culture générale, khảo về học lực phổ thông; (b) concours professionnel, khảo về chuyên nghiệp và khả năng.[6]


    15-11-1919: Thân mẫu từ trần.


    01-3-1920: Chuyển đi làm việc ở tỉnh Hà Tiên sau khi mãn tuần bá nhật (một trăm ngày) của thân mẫu.


    14-7-1920: Thăng lên ngạch tri huyện hạng nhất (huyện de 1er classe), mức lương khoảng 1.222 đồng.[7]


    26-10-1920: Đi làm chủ quận Phú Quốc.


    01-01-1924: Thăng lên ngạch tri phủ hạng nhì (phủ de 2e classe), mức lương 1.672 đồng. (Cũng như tri huyện, ngạch tri phủ có hai hạng. Tri phủ thấp hơn ngạch đốc phủ sứ.)


    29-7-1924: Rời quận Phú Quốc về Sài Gòn. Trở lại làm việc ở Dinh Thống đốc, thời Thống đốc Auguste Tholance, và công tác ở Phòng Nhì (2e bureau).


    Dinh Thống đốc có bốn phòng (tài liệu năm 1888). Riêng Phòng Nhì là cơ quan dân sự, có nhiệm vụ: “Chuyên về công việc cầu đường, nhà cửa, cùng các sở coi việc. Chịu giấy làm giá cả. Giấy hiệp đồng, lãnh biện vật hạng cùng công việc làm. Suy tính, làm giấy lãnh tiền về đồ dùng cùng công việc làm. Các kho dự trữ, cấp phát vật hạng. Đồ dùng xưa cùng đồ công nhu cho các phòng. Việc đường sá. Phân đường lộ, lấy mực cất nhà, mực đường. Xét dọn bộ sổ vật hạng, cùng bộ sổ công việc làm.” [8]


    Như vậy, tiền bối Ngô Văn Chiêu chỉ là công chức hành chánh (dân sự). Đừng ngộ nhận rằng phòng nhì ở Dinh Thống đốc là cơ quan mật vụ, gồm các “lính kín”, là một nơi chuyên bắt bớ, điều tra, tra tấn... của thực dân Pháp, tức là service de la sûreté mà thời xưa người Việt gọi là sở liêm phỏng hay sở liêm phóng. (Thực ra, phòng nhì là cơ quan bên quân đội, chuyên báo cáo cho bộ chỉ huy biết tình hình và khả năng hoạt động của quân địch, chịu trách nhiệm về các hoạt động tình báo và chiến tranh tâm lý, thu nhặt tin tức tình báo, nghiên cứu các hoạt động của nghĩa binh và quân du kích, v.v.).


    01-7-1926: Thăng lên ngạch tri phủ hạng nhất (phủ de 1er classe), mức lương 1.933 đồng. (Cao hơn ngạch tri phủ là đốc phủ sứ, thường gọi tắt là đốc phủ.[9])


    Tháng 12-1931: Về tỉnh Cần Thơ dưỡng bịnh, nghỉ việc hẳn và rời khỏi Dinh Thống đốc. Bấy giờ Eugène Henri Eutrope đang làm quyền thống đốc Nam Kỳ lần thứ hai trong lúc Thống đốc Jean Félix Krautheimer vắng mặt.[10]


    Các sách thường không ghi rõ vào ngày tiền bối Ngô Văn Chiêu nghỉ việc. Nhưng có thể xác định là không thể sớm hơn tháng 12-1931, bởi lẽ theo hồi ký của Vương Hồng Sển, để thi lên ngạch tri huyện, ông Sển đã thi kỳ concours professionnel ngày 01-12-1931, mà “chủ khảo là ông Estèbe, tham biện chủ tỉnh Tân An, (...) và giám thị kỳ thi viết là ông đốc phủ Ngô Văn Chiêu”.[11]


    Dưới thời thuộc địa, tuy được người dân trong xã hội kính trọng gọi là “quan”, nhưng tiền bối Ngô Văn Chiêu chẳng lấy thế làm vinh. Xuất thân từ chỗ hàn vi, tiền bối sẵn có lòng lân tuất đối với kẻ nghèo khổ chung quanh, không lấy địa vị xã hội làm phương tiện vơ vét đồng bào. Để giữ đức thanh liêm, dưỡng lòng chánh trực, tiền bối luôn khép mình vào nguyên tắc Nhứt hào vô phạm (không phải là tiền của mình thì dù chỉ một hào cũng không xâm phạm, chiếm đoạt). Cái mà đời gọi là “quan huyện, quan phủ”, tiền bối coi như một nghề nghiệp, để mưu sinh qua ngày. Trong câu chuyện với bạn, có lần tiền bối nói: “la bolée de riz administrative” – chén cơm hành chánh.[12] Mấy chữ tiếng Pháp vắn tắt ấy đã phản ánh phần nào thái độ của tiền bối đối với nghề nghiệp, không bận lòng với mồi phú quý, bả vinh hoa, mặc dù tiền bối có sẵn hoàn cảnh để thụ hưởng.



    Dinh Thống đốc Nam Kỳ


    Tiền bối sớm chọn một nếp sống kín đáo, dè dặt, không để dính líu vào các vụ chính trị cũng như không để chính quyền thuộc địa lợi dụng mà đi ngược lại với lợi ích đồng bào. Làm thư ký ở Sài Gòn, đồng lương không đủ phụng dưỡng cha mẹ, nuôi thân và cả gia đình, ban đêm tiền bối phải dạy kèm tiếng Pháp cho người Hoa; người bạn đời của tiền bối lãnh nấu cơm tháng cho một số thư ký đồng sở với chồng.


    Những năm làm chủ quận các nơi, tiền bối chăm chỉ với công việc hành chánh, thường hay nâng đỡ người dân bần hàn cơ khổ, đặc biệt là các người nghèo, vì nghịch cảnh trái ngang nên phải vướng vòng tù tội. Do đó, tiền bối càng được lòng dân địa phương thì chính quyền thuộc địa càng không hài lòng, càng để tâm ngờ vực. Đó cũng là lý do khiến cho thanh tra Lalaurette trong phúc trình “Le Caodaïsme” (Tây Ninh, 01-01-1932) đã không ngần ngại dùng nhiều lời thiếu nhã nhặn để chỉ trích tiền bối Ngô Văn Chiêu không biết tận tụy với chính quyền thuộc địa ở Nam Kỳ. Việc liên tiếp thuyên chuyển tiền bối đi những nơi xa xôi như Hà Tiên, Phú Quốc, có lẽ cũng là biện pháp hành chánh để đối trị một công chức mà Pháp không hài lòng, vì không ép buộc được người công chức ấy trở thành cánh tay đắc lực của thực dân.


    3. Gia cảnh


    Khi đang làm thư ký ở Sài Gòn, tiền bối Ngô Văn Chiêu được đốc phủ sứ Lê Công Xũng yêu mến, muốn chọn làm khách đông sàng, cho dù gia thế hai nhà chênh lệch quá nhiều. Theo lời khuyên của cô là bà Ngô Thị Đây, tiền bối khéo léo từ tạ. Về sau tiền bối kết hôn với một thiếu nữ mồ côi, tên là Bùi Thị Thân (1879-1955), người làng Thạnh Trị (Mỹ Tho), đảm đang, đức hạnh, buôn bán nhỏ tại chợ Mỹ Tho. Những năm tiền bối bị thuyên chuyển đi các nơi, bà thường xuyên sống xa chồng, thay chồng nuôi dạy con cái chu đáo.


    Bà sinh chín lần. Hai người con gái đầu là Ngô Thị Ngữ (chào đời tại Mỹ Tho, được năm ngày thì mất), và Ngô Thị Hồng (sinh và mất tại Sài Gòn năm ba tuổi). Bảy người con kế tiếp đều sanh tại Tân An, lần lượt là hai gái: Ngô Thị Yến Ngọc, tức Lợi (sinh năm 1904), Ngô Thị Nguyệt (sinh ngày 27-5-1906); và năm trai: Ngô Văn Nhựt (sinh ngày 10-9-1908), Ngô Văn Tinh (sinh ngày 20-11-1910), Ngô Tường Vân (sinh ngày 01-9-1913), Ngô Thanh Phong (sinh ngày 15-11-1915), Ngô Khai Minh (sinh ngày 09-9-1920).


    Tiền bối không giàu, đông con, nhưng được yên tâm tu hành, không bị cảnh thê thằng tử phược khảo đảo, dĩ nhiên nhờ có công lao giúp đỡ của bà, tuy thầm lặng, nhưng không phải là nhỏ. Bà tạ thế ngày 30-12-1955 tại Tân An.


    Năm 1909 (Kỷ Dậu), đổi về tỉnh Tân An, tiền bối mướn nhà ở bờ sông, gần chùa Quan Thánh. Bấy giờ chỉ có thân mẫu về ở chung, thân phụ là Ngô Văn Xuân ở tại Sài Gòn với thứ thất.[13] Sau này tiền bối mua lại một căn nhà lá ở Tân An, giá sáu mươi đồng, trên đất thuê, số 31 đường Lagrange, xã Bình Lập (ngày nay ở số 27 đường Phan Đình Phùng, Tân An). Lần hồi, tiền bối cho cất lại, lợp ngói.



    Nhà 27 Phan Đình Phùng, Tân An (ảnh Huệ Nhẫn)


    Năm 1920 (Canh Thân) tiền bối đổi đi tỉnh Hà Tiên, rồi ra đảo Phú Quốc, vợ con vẫn ở lại tỉnh Tân An. Năm 1924 (Giáp Tý) trở về Sài Gòn, tiền bối trọ tại khách sạn Bá Huê Lầu, đường Pellerin (nay là Pasteur). Tiền bối nhiều lần thay đổi chỗ trọ, có lúc dời về đường Paul Bert (nay là Trần Quang Khải, Đa Kao), rồi về đường Espagne (nay là Lê Thánh Tôn), gần chợ Bến Thành, mướn nhà trên lầu một, phía dưới là một phòng răng. Năm 1928 (Mậu Thìn), nơi cuối cùng tiền bối trú ngụ trong thời gian sống tại Sài Gòn là nhà số 110 đường Bonard (nay là Lê Lợi). Tiền bối ở trên lầu hai, tầng trệt là tiệm tạp hóa của Hoa kiều (người Hải Nam).[14] Tháng 12-1931 (Tân Mùi), tiền bối nghỉ việc, lui về tỉnh Cần Thơ, ở tại nhà ông Lý Trọng Quý, số 39, đường Nguyễn An Ninh. Năm sau tiền bối quy thiên, khoảng ba giờ chiều ngày thứ Hai 18-4-1932 (13-3 Nhâm Thân), trong lúc đang trên chuyến phà Mỹ Thuận vượt sông Tiền.


    Suốt mười hai năm cuối đời, tiền bối thực sự sống ly gia cát ái, vì đây là giai đoạn Đức Cao Đài dạy tiền bối tu thiền. Tuy thế, tiền bối vẫn lo tròn bổn phận với gia đình: hàng tháng trích lương chu cấp cho vợ con, lo dành dụm tiền sửa nhà ở Tân An.


    4. Đức độ


    Tiền bối Ngô Văn Chiêu thường cải dạng, đi vào các thôn xóm, chợ búa để tìm hiểu, quan sát cuộc sống người dân. Gặp ai khốn cùng, tai ương, tiền bối kín đáo cứu giúp.


    Có lần thăm chợ trưa 30 Tết, gặp người bán hoa ế ẩm, tiền bối đã mua cả bó lớn hoa. Khi con tỏ ý phàn nàn, tiền bối giải thích rằng muốn giúp họ chút tiền để kịp dọn về lo cúng rước ông bà.


    Ông lang Phòng ở Tân An một đêm nọ đội nón lá sùm sụp, che kín mặt, ra mé sông ngồi câu cá dưới cơn mưa rả rích. Tiền bối đi qua, tối trời, chẳng nhận ra được người quen, đã móc túi tặng đồng bạc, bảo mang về, sáng đi chợ, đừng dầm mưa lạnh lẽo.


    Tiền bối hay nhờ những người nghèo trong xóm đến làm giúp vài chuyện lặt vặt, rồi trả công hậu hĩ. Đó là cách tế nhị, khéo léo che giấu sự trợ giúp của mình.


    Xử kiện trong địa phương, tiền bối rất thanh liêm, công bình. Nói về tệ nạn kiện cáo, ca dao Việt Nam có câu :


    Con kiến mà kiện củ khoai,


    Kiện đi kiện lại đã hai năm tròn.


    Bây giờ kiến đã có con,


    Củ khoai mọc mộng vẫn còn kiện nhau.


    Tiền bối thừa hiểu cái hại cho cả hai bên nguyên cáo và bị cáo nếu bị nha lại lợi dụng. Do đó, trong quyền hạn và cương vị của mình, tiền bối thường khuyên giải và xử hòa các vụ lặt vặt. Những ai nghèo, cô thế, bị áp bức đều được tiền bối giúp.


    Tại tỉnh Tân An, tiền bối từng thân hành đến làng Thái Bình, tổng Mộc Hóa để điều tra vụ án hương chủ Hương ngộ sát thợ cày Vàng rồi thông đồng với một cai tổng hầu chạy tội. Vụ án bị xếp lại qua hai đời chủ quận, nhờ tiền bối công minh, hương chủ Hương phải nhận tội.


    Một kẻ trộm bị tù, phải đi kéo quạt cho dinh quận (thuở ấy chưa có quạt điện). Y khóc lóc xin tiền bối cho về nhà ba hôm để lo ma chay cho cha. Động lòng thương kẻ hiếu, tiền bối chịu bảo đảm cho y về. Mến đức, cảm ân, tội nhân đúng kỳ hạn đã trở lại nộp mình, không dám để tiền bối phải lụy vì tội làm sổng tù.


    Có lần trộm đang tìm cách lẻn vào nhà tiền bối thì bị lính tuần bắt. Sau khi ôn tồn mà nghiêm nghị giải thích điều hơn lẽ thiệt, khuyên y cải ác tùng thiện, tiền bối cho tiền rồi tha về.


    Với người ngoài tiền bối rất khoan thứ, nhưng với con lại rất nghiêm. Khi con còn bé, phàn nàn cha hay bố thí rộng rãi cho người dưng mà ít chịu cho con tiền tiêu vặt. Tiền bối ôn tồn giải thích: “Các con đã có cơm no, áo quần lành lặn, còn đòi hỏi gì nữa? Ba nuôi người bần khổ là để dành đức lại cho các con đó.”


    Bản thân tiền bối rất tiết kiệm. Ngày 12-10-1924, đang làm việc ở Sài Gòn, tiền bối gởi thư về cho hai con gái (Ngô Thị Yến Ngọc và Ngô Thị Nguyệt), dặn nhíp lại quần áo cũ của tiền bối để mặc tiếp. Tiền bối khuyên con: “Phải biết tiện tặng [tặn] mà ở đời cho khỏi tiếng xấu hổ. Áo vải mà no bụng khỏi bị ai kêu réo đòi nợ là tốt trong đời.” [15]



    Thủ bút tiền bối Ngô Văn Chiêu 12-10-1924 (Huệ Nhẫn sưu tầm)


    Dạy con, tiền bối thường nhắc câu “Quan nhất thời, dân vạn đại” (làm quan một lúc, làm dân muôn đời) hoặc là “Thuyền dời chớ bến không dời”, ngụ ý khuyên các con khiêm tốn, thương người, đừng ỷ thế con chủ quận rồi làm quấy.


    Những nét phác họa về thân thế tiền bối Ngô Văn Chiêu như trên cho thấy về phương diện đạo làm người, đối với gia đình, xã hội, đồng bào, tiền bối đã là tấm gương trọn vẹn, trong sáng. Người công chức nhân hậu này đã chấp nhận cuộc sống bình dị, nhưng lại vươn lên khỏi chỗ tầm thường của thói tục. Với những đức tính như vậy, tiền bối đã có sẵn mọi điều kiện thuận lợi để hướng vào cuộc sống tu hành, nhằm vào mục đích giải thoát cho kiếp người khỏi vòng luân hồi sanh tử. Nhưng bình sinh tiền bối không chịu tu học với thầy phàm, do đó mãi đến năm bốn mươi ba tuổi (1921) tiền bối mới thực sự bước vào đường đạo, được sự dìu dắt của Đức Cao Đài. Mà con đường đưa tiền bối đến với đạo Cao Đài cũng không phải tình cờ, đơn giản.


    ------------------------------------------------------------ --------------------


    [1] Collège de Mỹ Tho do Phó đô đốc, Thống đốc Nam Kỳ, Bá tước Louis Charles Georges Jules Lafont lập ngày 17-01-1879. Đến ngày 14-6-1881 thì Đại tướng, Quyền thống đốc Nam Kỳ Arthur de Trentinian đổi tên trường thành Collège le Myre de Vilers. (Xem: Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1918. Hà Nội: Nxb Giáo dục, 1999, tr. 109.)


    Nói thêm: Charles Marie le Myre de Vilers là cựu tỉnh trưởng (préfet), cựu giám đốc dân sự vụ (directeur des affaires civiles) ở Algérie, được bổ làm thống đốc Nam Kỳ ngày 13-5-1879, nhậm chức từ 07-7-1879 đến 11-01-1883, vắng mặt ở Sài Gòn từ 04-3-1881 đến 31-10-1881. (Xem: SHAOAB 1981, tức là Commission française du Guide des Sources de l’Histoire des Nations. Sources de l’Histoire de l’Asie et de l’Océanie dans les Archives et Bibliothèques françaises. Part I: Archives. [Ouvrage préparé avec l’aide et sous les auspices de l’Unesco.] München: K.G. Saur, 1981, pp. 538-539.) Nhân đây, xin chân thành cảm ơn nhà sử học Hoàng Anh Phan Văn Hoàng, Đại học Sư phạm Thành phố, đã tặng tôi tài liệu SHAOAB này. (HK)


    [2] Do nhầm lẫn, các sách thường chép tiền bối Ngô Văn Chiêu học trường Lycée Chasseloup-Laubat. Thực ra, khi tiền bối Chiêu vào học, trường có tên là Collège Chasseloup-Laubat. Paulus Của cũng ghi tên trường là Collège Chasseloup-Laubat. (Xem: Sách quan chế. Sài Gòn: Bản in nhà nước, 1888, tr. 16. Xin chân thành cảm ơn nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, đã giúp tôi tài liệu xưa này. HK)


    Lược sử nhà trường như sau: Ngày 10-7-1871 Pháp lập trường Ecole normale colonial (trường sư phạm thuộc địa); ngày 12-8-1871 Pháp xây trường trên phần đất chùa Khải Tường. Năm 1874 trường này đổi tên thành Collège indigène (trường bản xứ), [có lẽ do một nghị định của Phó đô đốc, Thống đốc Nam Kỳ Jules François Emile Krantz ký ngày 14-11-1874 (HK)]; năm 1876 lại đổi tên thành Collège Chasseloup-Laubat, chia ra khu Âu (quartier européen) và khu học sinh bản xứ (quartier indigène). Ngày 15-7-1927 tách khu bản xứ nhập sang Collège de Cochinchine (trung học Nam Kỳ). Năm 1928 Collège Chasseloup-Laubat đổi tên thành Lycée Chasseloup-Laubat, còn Collège de Cochinchine đổi tên thành Lycée Petrus Ký. (Xem: Nguyễn Đình Đầu, “Giáo dục dưới triều Nguyễn và dưới thời Pháp (1698-1955)”, trong Địa chí văn hóa thành phố HCM, tập II: Văn học – Báo chí – Giáo dục. 1998, tr. 696, 730]. Năm 1966 Lycée Chasseloup-Laubat đổi tên thành trường trung học Lê Quý Đôn. (Xem: Nguyễn Q. Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam. Hà Nội: Nxb Văn Hóa - Thông Tin, 1994, tr. 268.)


    Nói thêm: Chasseloup-Laubat là Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa của triều đình Pháp, chủ trương chiếm Sài Gòn để làm căn cứ có lợi cho ảnh hưởng của quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, và cũng đã tác động vua Napoléon III rất nhiều trong chính sách xâm lược, cướp Nam Kỳ làm thuộc địa. (Xem: Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ. Sài Gòn: Trung tâm Sản xuất Học liệu Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, 1974, tr. 14, 22, 25.)


    [3] R.B. Smith, “An introduction to Caodaism”, BSOAS. University of London, Vol. XXXIII, Part 2, 1970, p. 338: “Vietnamese cultural and religious influence inevitably counted for much more in his life than his French education.”


    [4] Tân đáo: mới đến. Sở Tân đáo là sở quản lý những người vừa nhập cảnh, ngày nay gọi là sở di trú, sở quản lý nhập cảnh.


    [5] Khi tiền bối Ngô Văn Chiêu bắt đầu vào làm việc tại Dinh Thống đốc (01-01-1903) thì Thống đốc Nam Kỳ bấy giờ là François Pierre Rodier, (ngạch?) thống đốc các thuộc địa (gouverneur des colonies), được bổ nhiệm ngày 21-10-1902. Trong thời gian Rodier vắng mặt thì Olivier Charles Arthur de Lalande-Calan, thanh tra các sở dân sự (inspecteur des services civils), được bổ làm quyền thống đốc Nam Kỳ ngày 02-3-1906, nhậm chức từ ngày 10-3-1906 cho tới khi Rodier trở về Sài Gòn ngày 02-01-1907.


    Ngày 29-6-1907, Khâm sứ (résident supérieur) Louis Alphonse Bonhoure được bổ làm thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 13-7-1907. Trong thời gian Bonhoure vắng mặt thì Ernest Antoine Outrey, thanh tra các sở dân sự, được bổ làm quyền thống đốc Nam Kỳ ngày 28-02-1908 và giữ chức cho tới Bonhoure trở về Sài Gòn ngày 24-9-1908.


    Ngày 09-02-1909, Jules Maurice Gourbeil, (ngạch?) thống đốc các thuộc địa, được bổ làm thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 16-6-1909. Trong thời gian J.M. Gourbeil vắng mặt (từ 09-02-1909 đến 15-6-1909) thì E.A. Outrey trở lại làm quyền thống đốc Nam Kỳ. (Xem: SHAOAB 1981, pp. 539-540.)


    [6] Vương Hồng Sển, Hơn nửa đời hư. Nxb Tp.HCM., 1992, tr. 234.


    [7] Số tiền trong ảnh chụp tài liệu đọc không rõ.


    [8] Paulus Của, Sách quan chế, 1888, tr. 13.


    [9] Về các ngạch thư ký, tri huyện, tri phủ và đốc phủ sứ, xem: Paulus Của, Sách quan chế, 1888, tr. 15.


    Về các kỳ thi thăng trật và mức lương của tiền bối Ngô Văn Chiêu, Xem: Cơ quan Phổ thông Giáo lý Đại đạo, Lịch sử đạo Cao Đài, quyển 1, Nxb Tôn Giáo, 2005, tr. 352. Riêng mức lương ngạch tri huyện hạng nhì (1917) và hạng nhất (1920) thì không đọc được rõ con số trên ảnh chụp tài liệu.


    [10] Tháng 7-1924, tiền bối Ngô Văn Chiêu về Sài Gòn thì quyền thống đốc Nam Kỳ là Auguste Tholance, thanh tra chánh trị và hành chánh sự vụ (inspecteur des affaires politiques et administratives), nhậm chức từ ngày 31-5-1924 thay cho Thống đốc Maurice Cognacq vắng mặt cho tới ngày 17-12-1924.


    Ngày 09-4-1926 Aristide Eugène le Fol, ngạch tham biện hạng nhất (administrateur de 1er classe), được bổ làm quyền thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 19-4-1926. Như vậy các sách sử Cao Đài hay chép Le Fol là “thống đốc” thì không đúng. Ông ta chỉ là quyền thống đốc, đảm nhiệm chức vụ trong khoảng hơn nửa năm trong lúc chờ một thống đốc chính thức từ Pháp bổ sang. Tuy nhiên, trong cách xưng hô (như trên Tờ Khai Đạo ngày 07-10-1926), mọi người vẫn gọi ông là “Thống đốc” vì phép lịch sự.


    Ngày 09-11-1926 Paul Marie Alexis Joseph Blanchard de la Brosse, ngạch thống đốc các thuộc địa, được bổ làm thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 30-12-1926.


    Ngày 04-11-1928 Jean Félix Krautheimer, (ngạch?) thống đốc các thuộc địa, được bổ làm thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 06-3-1929.


    Ngày 05-01-1929 Eugène Henri Eutrope, ngạch tham biện hạng nhất, được bổ làm quyền thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức từ ngày 12-01-1929 tới 06-3-1929 trong khi J.F. Krautheimer vắng mặt.


    Tháng 12-1931 khi tiền bối Ngô Văn Chiêu rời khỏi Dinh Thống Đốc thì E.H. Eutrope đang làm quyền thống đốc Nam Kỳ lần thứ hai trong lúc J.F. Krautheimer vắng mặt (từ 21-11-1931 đến 11-11-1932). (Xem: SHAOAB 1981, p. 540.)


    [11] Vương Hồng Sển, Hơn nửa đời hư, 1992, tr. 240. (Không rõ tiền bối Ngô Văn Chiêu thăng lên ngạch đốc phủ sứ lúc nào.)


    [12] Đồng Tân, Lịch sử Cao Đài. Quyển I. Sài Gòn, 1967, tr. 129.


    [13] Lịch sử quan Phủ Ngô Văn Chiêu. Sài Gòn: 1962, tr. 15. Ngày 04-9-1946 hương chức làng Lợi Bình Nhơn, tổng Hưng Long, tỉnh Tân An có chứng thực ông Ngô Văn Xuân chết tại làng này, nhưng không có sổ khai tử tại làng. (Cơ quan Phổ thông Giáo lý, Lịch sử đạo Cao Đài, quyển 1, tr. 53, cước chú 15.)


    [14] Cơ quan Phổ thông Giáo lý, Lịch sử đạo Cao Đài, quyển 1, tr. 355.


    [15] Cơ quan Phổ thông Giáo lý, Lịch sử đạo Cao Đài, quyển 1, tr. 56.


     


    Huệ Khải


    Còn phần 2 :"Mời đón xem"kính!


     


  7. #17
    Tham gia ngày
    Mar 2008
    Bài viết
    999

     Chỉnh sửa hình :



    Ngài Ngô



    Dinh Thống Đốc Nam Kỳ



    Nhà 27 Phan Đình Phùng, Tân An



    Thủ bút tiền bối Ngô Văn Chiêu 12-10-1924


  8. #18
    Tham gia ngày
    Mar 2008
    Bài viết
    999
     


    Đàn Hiệp Minh ở Cái Khế, tỉnh Cần Thơ nay là chùa Hiệp Minh (ảnh Đạt Truyền & Đạt Linh)


    II. CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI CAO ĐÀI


    1. Nhân duyên với các đàn tiên


    Xu hướng tín ngưỡng của tiền bối Ngô Văn Chiêu sớm bộc lộ từ buổi ấu thơ. Nhà dượng tiền bối tại Mỹ Tho có lập trang thờ Đức Quan thánh, do đó tiền bối quen dần với việc cúng kính và tụng kinh Minh thánh. Kinh này diễn sự tích Quan Vũ đời Tam Quốc, khuyến tu, do Đức Quan thánh giáng cơ vào đời Thanh (Trung Quốc), khá phổ biến ở Nam Kỳ qua nhiều nhan đề và bản dịch khác nhau.[1]


    Ngoài ra tiền bối còn ăn chay mỗi tháng hai kỳ sóc vọng (mùng 1 và 15, theo âm lịch). Mãi đến năm 1920 (Canh Thân), lúc ở đảo Phú Quốc, vâng theo lời dạy của Đức Cao Đài, tiền bối mới thôi tụng kinh này, chuyển sang tu thiền.


    Vốn đã có tín ngưỡng, tiền bối tin ở cơ bút và trước khi gặp đạo Cao Đài đã từng nhiều lần hầu đàn tiên do nhiều nhân duyên khác nhau.


    Năm 1902 (Nhâm Dần), muốn cầu thọ cho thân mẫu, tiền bối đến hầu đàn Minh Thiện (tại Thanh An tự) ở tỉnh Thủ Dầu Một. Một ông tiên ban cho tiền bối một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt.


    Năm 1917 (Đinh Tỵ), muốn xin thuốc cho thân mẫu đang đau nhiều, tiền bối tìm đàn Hiệp Minh ở Cái Khế, tỉnh Cần Thơ. Đến nơi thì đàn đã lập, đồng tử đang tiếp điển thiêng liêng. Không dám đường đột đi vào, sợ náo động, tiền bối đứng ở ngoài. Nào ngờ tiên gia gõ cơ cho phép tiền bối vào hầu, ban cho bài thuốc và hai bài thơ. Bài thơ thứ nhất dài mười câu lục bát:


    Trời còn sông biển đều còn,


    Khắp xem cõi dưới núi non đượm nhuần.


    Thanh minh trong tiết vườn xuân,


    Phụng chầu, hạc múa, gà rừng gáy reo.


    Đường đi trên núi dưới đèo,


    Lặng tìm cao thấp ải trèo chông gai.


    Phận làm con thảo há nài,


    Biết phương tiên phật bồng lai mà tìm.


    Xem qua xét lại cổ kim,


    Một bầu trời đất thanh liêm chín mười.


    Sau này, có lẽ tuân hành lời dạy của thiêng liêng, tiền bối nối tiếp thêm bốn câu nữa, để dùng làm lời khấn khi cầu cơ:


    Vàng trau ngọc chuốt càng tươi,


    Bền lòng theo phật cho người xét suy.


    Thần tiên vốn chẳng xa chi,


    Có lòng chiêm ngưỡng nhứt thì giáng linh


    Năm 1919 (Kỷ Mùi), vì thân mẫu đau nhiều, tiền bối trở lại đàn Hiệp Minh, nhưng tiên gia chỉ ban cho bài thơ dài chứ không cho thuốc. Tiền bối quay về đàn Minh Thiện ở Thủ Dầu Một, được Đức Quan thánh ban cho một bài thất ngôn tứ tuyệt. Cuối năm này thân mẫu tiền bối tạ thế.


    2. Nghe hồng danh Cao Đài lần thứ nhất (1920)


    Trước khi chuyển đi tỉnh Hà Tiên, khoảng tháng 1 hay 2 năm 1920 (Kỷ Mùi), tiền bối thường lập đàn cầu cơ tại tỉnh Tân An cùng các ông Đoàn Văn Kim (1868-1946), hương bộ Lê Kiển Thọ (1868-1946), thầy giáo Nguyễn Văn Vân (1893-1981), nhà giáo kiêm soạn giả Trần Phong Sắc (1873-1928). Ông Sắc là một nhà nho hữu danh, hồi ấy đã được khách Lục châu biết tên qua các một số tuồng hát và nhiều bản dịch truyện Tàu như Đại Minh hồng võ (1907), Anh hùng náo tam môn giai (1907)...


    Phận sự các ông trong những buổi lập đàn tiên như sau:


    - pháp đàn: Trần Phong Sắc (vẽ bùa để trấn đàn, ngăn cản tà quái xâm nhập đàn cơ; còn có trách nhiệm ký tên chứng thực giá trị của bổn điển sau cùng).


    - đồng tử âm: Lê Kiển Thọ; đồng tử dương: Nguyễn Văn Vân (hai người cùng thủ cơ, bốn bàn tay giữ đại ngọc cơ, gọi là đồng tử âm dương hay song đồng).


    - điển ký: Đoàn Văn Kim (ghi chép bổn điển tức là lời dạy qua phương tiện cơ bút và đồng tử; có khi cần hai, ba điển ký để sau khi xả đàn tức là dứt buổi cầu cơ, pháp đàn sẽ đối chiếu các bổn điển mà hiệu đính những sai sót).


    - độc giả: Ngô Văn Chiêu (nhìn ngọn cơ viết chữ trên mặt bàn và đọc ra tiếng để cho điển ký ghi chép).


    Trong một buổi lập đàn tại nhà tiền bối Ngô Văn Chiêu, khi đọc bài cầu cơ đến câu Ngũ chơn bửu khí lâm trần thế... thì cơ gõ mạnh xuống bàn, một đấng xưng danh Cao Đài Tiên ông, bảo pháp đàn sửa lại câu văn nọ. Ông Sắc không chịu nghe. Tiên ông bảo tiền bối Ngô Văn Chiêu sửa. Tiền bối đổi lại là Bửu chơn ngũ khí lâm trần thế... Tiên ông gõ cơ khen.


    Không rõ Cao Đài Tiên ông là đấng nào, các ông bạch, xin cho biết lai lịch. Tiên ông trả lời:


    Cao Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh,


    Đố ai biết được cái danh Cao Đài.


    Các bài cầu cơ thỉnh tiên lưu truyền trong dân gian thường có vài dị bản. Chẳng hạn, ngoài quyển Vạn pháp quy tông của đạo giáo Trung Quốc truyền sang Việt Nam, bài cầu cơ ở nhà tiền bối Ngô Văn Chiêu cũng có trong quyển Thần chú thỉnh tiên (Sài Gòn: nhà in Phát Toán, 1907, tr. 3-4), mà La Thành Đầm tự Mộ Tần (thơ ký nhà Đoan) gọi là Bài thỉnh tiên sơ thỉnh dài 46 câu, trong đó câu 9 in là Ngọc chơn bửu khí lâm trần thế.


    3. Nghe hồng danh Cao Đài lần thứ hai (1920)


    Xong tuần bá nhật (một trăm ngày) của thân mẫu, ngày thứ Hai 01-3-1920 (11-01 Canh Thân) tiền bối Ngô Văn Chiêu đổi ra tỉnh Hà Tiên. Tiền bối thường lên núi Thạch Động cầu tiên. Một vị tiên cô xưng danh Ngô Kim Liên ban cho tiền bối hai vé thơ, ngụ ý khuyến tu:


    Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,


    Rằng trời cùng đất vẫn xa mù.


    Non tây ngoảnh lại đường gai góc,


    Gắng chí cho thành bực trượng phu.


     


    Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu,


    Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.


    Mắt tục nào ai trông thấy đấy,


    Lắm công trình mới đúng công phu.


    Đêm trung thu năm Canh Thân (Chủ Nhật 26-9-1920), tiền bối cùng các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu lập đàn tại nhà ông Lâm Tấn Đức. Tiên ông ban cho bốn câu thơ vừa xưng danh vừa điểm danh như sau:


    Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,


    Linh lung vạn hộc thể Quan, Diêu.


    Vô thậm Sự, Đức nhiệm ngao du,


    Bích thủy, thanh sơn tương đối tiếu.



    Lâm Tấn Đức (Huệ Nhẫn sưu tầm)



    Nhà Lâm Tấn Đức (Huệ Nhẫn sưu tầm)


    Chưa biết Quan là ai. Diêu và Sự thì đã rõ. Riêng Lâm Tấn Đức (1866-1934, tự Hữu Lân, không con) là anh ruột của Lâm Tấn Thoại, và ông Thoại là cha của danh sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969).


    4. Thọ pháp (1921)


    Thứ Ba 26-10-1920 (15-9 Canh Thân), tiền bối Ngô Văn Chiêu đổi ra đảo Phú Quốc. Về hòn đảo này, Đông Hồ cho biết: “Ở Phú Quốc phần nhiều là còn giữ được cái phong tục, cái đức tính cổ thời, rõ là xã hội ‘gia vô bế hộ’. Nhà ở không bao giờ có làm cửa. Những nhà hào phú muốn làm cửa là cho tốt coi chớ ban đêm cũng vẫn không khóa. Cửa bỏ ngỏ mà không bao giờ có kẻ trộm.” [2]


    Tại hòn đảo này, tiền bối thường lập đàn cầu tiên trên núi Dương Đông. Đàn được lập ở một Phật đường của đạo Minh Sư, tục gọi là chùa Quan Âm, cách dinh quận chừng 500 mét. Đông Hồ Lâm Tấn Phác tả chùa Quan Âm như sau: “Chùa cất trên tuyệt đỉnh, trước mặt thì có núi cao bình án, sau lưng thì có biển rộng hoành triều, rất được thế non nước. Tường đá rào tre quanh co, các thứ nhàn hoa cổ thụ, u ảo thanh tịnh vô cùng.” [3]


    Chùa của Minh Sư được gọi là Phật đường. Do không hiểu, các báo cáo của mật thám, thanh tra Pháp thường gọi lầm là “đạo Phật đường”. Chùa Quan Âm vì thế cũng gọi Quan Âm Phật đường, thuộc tông Hoằng Tế. Phải chăng do môi trường này tiền bối đã có dịp quen biết một chức sắc lớn của Minh Sư là Thái lão sư Tùng Ngạc?


    Cuối năm 1920 (Canh Thân), một tiên ông ẩn danh giáng đàn, dạy rằng nếu tiền bối thuận làm đệ tử thì tiên ông sẽ vui lòng truyền đạo. Tiên ông còn dặn hãy ngưng tụng kinh Minh thánh. Đến lúc ấy, tiền bối vẫn giữ lệ ăn chay mỗi tháng hai kỳ vào các ngày sóc, vọng. Cho nên, khi tiên ông dạy phải giữ thập trai (mỗi tháng ăn chay mười ngày) để đủ điều kiện thọ pháp tu thiền, thì tiền bối lại e ngại việc đời ràng buộc, sẽ khó giữ tròn giới nguyện.


    Mùng 1 Tết Tân Dậu (thứ Ba 08-02-1921), tại chùa Quan Âm, tiền bối chưa kịp bộc bạch điều gì thì tiên ông đã ra lịnh: “Chiêu, tam niên trường trai.” Thế là tiền bối chỉ còn biết vâng lời, cầu xin tiên ông hộ trì.


    Các tín đồ Cao Đài Chiếu Minh, học theo phép tu thiền của tiền bối Ngô Văn Chiêu, đã chọn ngày mùng 1 Tết Tân Dậu làm một trong bốn ngày âm lịch kỷ niệm tiền bối:


    - 01 tháng 01: kỷ niệm ngày trường trai thọ pháp.


    - 07 tháng 01: kỷ niệm sinh nhật.


    - 05 tháng 3: kỷ niệm ngày hiển đạo tại thế.


    - 13 tháng 3: kỷ niệm ngày quy thiên.


    Kể từ mùng 1 Tết năm ấy, tiền bối tu học thiền pháp với tiên ông ẩn danh. Tuy rằng trực tiếp học với vị sư phụ vô hình, nhưng trong bước đầu bỡ ngỡ, có những thắc mắc nho nhỏ mà chỉ cần người có kinh nghiệm tọa thiền nhiều năm là giúp giải quyết được dễ dàng, không cần mỗi sự việc đều phải lập đàn cơ thỉnh giáo. Ăn cơm có canh, tu hành có bạn. Như vậy, tiền bối chắc chắn đã có một vị thiện tri thức làm bạn đạo, để trợ duyên trong buổi đầu còn sơ cơ. Vị thiện tri thức đó vốn là một chức sắc cao trọng của phái Minh Sư, một phái tu sở trường về thiền pháp.


    Sự kiện này được Đại tiên Ngô Minh Chiêu trong một đàn cơ tại tu viện Minh Đức (Vũng Tàu) nhắc lại vào thứ Năm 13-3-1980 (27-01 Canh Thân) như sau: “Buổi đầu Tiên huynh được Thượng đế chọn làm môn đệ đầu tiên. Đức Từ phụ tùy theo căn cơ và sự sống, tuổi tác của Tiên huynh mà cho người dẫn dắt một phương pháp công phu tu luyện, mặc dầu đã có từ ngàn xưa, nhưng nay cũng tạm đặt là Cao Đài tân pháp để làm đường giải thoát cho Tiên huynh, một đồ đệ đầu tiên của Đức Thượng đế trong Tam kỳ Phổ độ.”


    Hai năm sau, cũng tại tu viện Minh Đức, thứ Sáu 23-7-1982 (03-6 Nhâm Tuất), Minh Đức Đạo nhơn tiết lộ thêm về sự kiện này: “Vì Đạo vô vi, sư vô vi nên cũng cần có sự hộ trợ của hữu hình. Như ngày xưa, thuở ban sơ khai Đạo, Đức Chí tôn cũng cần có Thái lão sư Tùng Ngạc truyền đạo cho Minh Chiêu Đại tiên khi còn tại thế.”


    5. Thiên nhãn xuất hiện (20-4-1921)


    Tiên ông ẩn danh dạy tiền bối không được tiết lộ pháp môn tu luyện, có lẽ vì thời cơ chưa đến. Tiền bối cũng chưa biết một nghi thức nào để thờ đấng sư phụ vô vi. Một hôm, tiên ông dạy tiền bối hãy nghĩ ra một biểu tượng nào đó cho mối đạo do tiên ông sáng lập. Tiền bối đề nghị chữ thập. Có lẽ điều này là kết quả của việc học đạo bấy lâu. Hệ từ thượng truyện của Kinh Dịch có câu “Nhất âm nhất dương chi vị Đạo.” (Một âm một dương gọi là Đạo.) Tượng trưng Đạo là sự phối hiệp hòa hài lưỡng nghi (âm dương), các nhà đạo học dùng chữ thập, vạch ngang là âm, vạch đứng là dương. Khi đề nghị thờ chữ thập, phải chăng tiền bối muốn ám chỉ cái nguyên lý huyền diệu chi phối khắp cả vũ trụ càn khôn là Đạo?


    Tuy nhiên, tiên ông dạy phải tìm một biểu tượng khác, bởi vì chữ thập gợi đến hình ảnh cây thánh giá của đạo Thiên Chúa. Tiền bối xin thời hạn một tuần, nhưng rồi cũng không thể nghĩ ra được ý gì.


    Buổi sáng ngày 20-4-1921 (13-3 Tân Dậu), vào lúc tám giờ, tiền bối đang ngồi trên võng, phía sau dinh quận Phú Quốc, nhìn ra biển khơi, chợt thấy trước mặt hiện rõ một con mắt trái thật lớn, linh động, hào quang chói lọi. Tiền bối sợ, lấy tay che mắt. Hồi lâu, mở mắt ra nhìn, cảnh tượng vẫn còn. Tiền bối chắp tay, khấn xin tiên ông cho con mắt ấy biến đi, nếu như tiên ông muốn tiền bối thờ con mắt. Lạ thay, sau đó cảnh tượng mờ dần rồi mất hẳn. Mặc dù vậy, trong dạ tiền bối hãy còn phân vân. Vài hôm sau, tiền bối lại mục kích một cảnh tượng y như vậy, và cũng chỉ sau khi khấn, hứa xin thờ con mắt thì con mắt nọ mới biến đi.


    6. Nghe hồng danh Cao Đài lần thứ ba (tháng 4-1921)


    Khoảng vài ngày sau khi Thiên nhãn xuất hiện lần thứ hai, tiền bối đến hầu đàn tại chùa Quan Âm. Tiên ông dạy tiền bối vẽ lại Thiên nhãn (con mắt trái) như đã mục kích để thờ. Dịp này, tiên ông xưng hồng danh Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát, dạy tiền bối gọi Đức Cao Đài bằng Thầy.


    Ở tỉnh Tân An và Hà Tiên tiền bối đã hai lần được nghe hồng danh Cao Đài (1920), hơn nữa hai chữ Cao Đài vẫn thường được nhắc tới mỗi khi đọc bài chú thỉnh tiên (Cao Đài tiên bút thi văn tự).


    Những người Nam Kỳ thời xưa dùng sách Ấu học Quỳnh Lâm để học chữ Nho cũng không lạ hai chữ Cao Đài. Đây là một quyển sách giáo khoa rất xưa, do Trình Đăng Cát đời Minh (1308-1644) soạn, rồi Trâu Thánh Mạch đời Thanh (1644-1911) viết thêm phần tăng bổ.


    Quỳnh là một loại ngọc quý, màu đỏ. Quỳnh Lâm là tên một cảnh vườn trong phủ Khai Phong đời Tống (Trung Quốc). Vua Tống tổ chức tiệc thết đãi các tiến sĩ mới thi đậu ở vườn ấy. Vậy nhan đề sách này ngụ ý là dạy cho trẻ con (ấu học), mong sau này các trẻ sẽ thi đậu tiến sĩ (được dự tiệc ở vườn Quỳnh Lâm).


    Vào mùa thu năm 1912 tại Thượng Hải, Quảng Ích thư cục đã phát hành Ấu học Quỳnh Lâm (khoảng 15x26cm). Đây là bản in đá của nhà sách Thiên Bảo, và gồm bốn quyển. Quyển hai có mười hai chương; nơi chương Thân thể (trang 21) có câu tăng bổ: Cao đài viết đầu (…). Nghĩa là đài cao gọi là đầu (…). Lời chú giảng thêm cho câu ấy là: [Phật kinh] Đầu vi cao đài (…). Nghĩa là nói theo kinh Phật thì đầu là đài cao (…).


    Sau này một số thánh giáo Cao Đài cũng dạy Cao Đài là đỉnh đầu (thuật ngữ đạo Lão thường gọi là nê huờn cung, côn lôn đảnh). Chẳng hạn:


    Thử hỏi Cao Đài ở chốn nao?


    Người tu trở lại trở về đâu?


    Phải chăng tìm đến Cao Đài thượng?


    Đài thượng vô vi tại đỉnh đầu.


    (Đức Đông Phương Lão tổ)


    “Chữ Cao Đài là gì? Là côn lôn đảnh hay nê huờn …”


    (Đại thừa chơn giáo, Sài Gòn: 1956, tr. 56.)


    7. Ý nghĩa của đàn tại chùa Quan Âm


    Tiền bối Ngô Văn Chiêu được nghe hồng danh Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát trong đàn cơ lập tại chùa Quan Âm. Như vậy đàn này có một ý nghĩa rất lớn, vì đã xác lập những cơ cấu căn bản tối thiết của một tôn giáo. Nói cách khác, do đàn này, có thể khẳng định rằng đạo Cao Đài dù còn tiềm ẩn đã sớm hình thành từ năm 1921, với các yếu tố ban đầu như sau:


    - Giáo chủ (vô vi): Đức Ngọc Hoàng Thượng đế, tá danh Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát.


    - Giáo đồ đầu tiên: tiền bối Ngô Văn Chiêu.


    - Giáo pháp: Phần nội giáo tâm truyền (hay hình nhi thượng học), tức là pháp môn tu đơn (tọa thiền), cũng được gọi là tân pháp Cao Đài.


    - Giáo tượng (thánh tượng): Thiên nhãn.


    - Giáo thuyết: hồng danh Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát thể hiện đường lối dung hợp Tam giáo với Cao Đài biểu thị Nho, Tiên ông biểu thị Lão, Đại bồ tát Ma ha tát biểu thị Phật.


    - Giáo điển: Một số bài kinh dùng khi cúng trưóc Thiên bàn vào các thời Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu đã có như bài “Đại la Thiên đế, Thái cực Thánh hoàng...” và ba bài dâng tam bửu (hoa, rượu trắng, trà):


    Dâng hoa


    Hoa tươi năm sắc sắc thiên nhiên,


    Đầu cúi xin dâng lễ kỉnh thiềng [kính thành].


    Cảm Đức Cao Đài lòng đoái tưởng,


    Từ bi cứu thế giáng đàn tiên.


     


    Dâng rượu trắng


    Tửu vị hương hề tửu vị huơng,


    Khấu đầu cung hiến chước hồ trường.


    Cao Đài hứng cảnh nhàn quan nhã,


    Đệ tử cung trần mỹ vị hương.


     


    Trường hợp cúng rượu nho (bồ đào tửu: wine, vin), hay rượu mía (cam giá tửu: rum, rhum) của phương Tây thì đổi bài trên bằng bài:


    Bồ đào, cam giá tửu Tây phương,


    Bả trản cung trần mỹ vị hương.


    Đệ tử thành tâm kiềng phụng hiến,


    Cao Đài hoan lạc kiết trinh tường


     


    Dâng trà


    Đông độ thanh trà mỹ vị hương,


    Khấu đầu cung hiến chước hồ trường,


    Cao Đài hứng cảnh nhàn quan nhã,


    Đệ tử cung trần mỹ vị hương.


     


    Như vậy, nhiều sự kiện quan trọng của lịch sử khai đạo Cao Đài đã xảy ra tại chùa Quan Âm. Chùa này thoạt đầu do công tạo tác của các ông Huỳnh Đăng Khoa, Đỗ Minh Châu (tức Cả Bốn). Về sau, ông Châu truyền chùa lại cho con là Đỗ Kim Cự. Ông Cự lại truyền chùa cho ông Đỗ Văn Đồ (tức Tám Gia).


    Người thừa tự này tính khí thất thường, có khi gây chuyện náo động làm cho buổi hầu đàn mất thanh tịnh, thiếu trang nghiêm. Vì vậy, sau hơn nửa năm lập đàn ở đây, tiền bối Ngô Văn Chiêu phải chuyển đến chùa Sùng Hưng của hòa thượng Thích Ngộ Tiên (1885-1946), cách chùa Quan Âm khoảng 200 mét.


    Lần hồi, thiếu người chăm sóc, chùa Quan Âm suy sụp đổ nát. Năm 1961 (Tân Sửu), muốn giữ lại một di tích có liên quan ít nhiều đến thời kỳ khai nguyên nền Đạo, các tín đồ Cao Đài Chiếu Minh đã dựng trên nền cũ của chùa Quan Âm một mái chùa mới, tức là Cao Đài Hội thánh. Gần đó là một am nhỏ, kỷ niệm chùa Quan Âm.



    Sùng Hưng Tự, Phú Quốc (ảnh tài liệu)



    Cao Đài Hội thánh, Phú Quốc (ảnh Phan Văn Hoàng)


    8. Ba năm tu học (1921-1924)


    Trong thời gian ba năm học đạo với Đức Cao Đài trên đảo Phú Quốc, tiền bối Ngô Văn Chiêu một lòng tinh tấn với tâm bất thối chuyển. Đức Cao Đài khuyến khích:


    Ba năm lao khổ độ nhứt nhơn,


    Mắt Thầy xem rõ lòng dạ chắc,


    Thương vì con trẻ hãy còn thơ,


    Gắng chí tầm phương biết đạo mầu.


    “Thương vì con trẻ hãy còn thơ”, có lẽ ám chỉ việc tiền bối đang luyện đơn. Đơn kinh đạo Lão có câu “Thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ.” (Mười tháng mang thai, ba năm bú mớm.) Hoặc nói ẩn dụ là thánh thai, anh nhi, xích tử... Tất cả đều ám chỉ một giai đoạn tu luyện của hành giả trên đường thiền.


    Giữa năm 1924 (Giáp Tý), tiền bối được chuyển về làm việc tại Sài Gòn. Đức Cao Đài ban cho tiền bối một bài lục bát trường thiên dài hai mươi câu, trong đó có những lời khen:


    Ba năm lòng sáng như son,


    Trèo non xuống biển vuông tròn công phu.


    Hay là:


    Giờ này Thầy điểm thâm công,


    Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên.


    Lời tiên tri “cỡi rồng về nguyên” sau này sẽ ứng nghiệm, khi tiền bối quy thiên trên một nhánh sông Cửu Long lúc đang trên phà Mỹ Thuận vượt sông Tiền (18-4-1932).


    Rời đảo Phú Quốc ngày thứ Ba 29-7-1924 (28-6 Giáp Tý), tiền bối về đến Sài Gòn ngày hôm sau.


    Gia đình tiền bối vẫn còn ở tỉnh Tân An. Tiền bối mướn nhà ở, và đổi chỗ luôn (như đã thuật ở trên). Tiền bối sống kín đáo như một ẩn sĩ giữa chốn phồn hoa: tan sở lại về nhà trọ đóng cửa tu luyện âm thầm. Thời cơ chưa đến, đạo Cao Đài chưa thể ra đời, và Đức Cao Đài chưa cho phép tiền bối truyền bá tân pháp (thiền Cao Đài). Còn phải đợi đến cuối năm 1925 (Ất Sửu), bởi vì từ giữa năm này trở đi, Đức Cao Đài lại vận chuyển cho một nhóm môn đồ khác, sẽ hiệp cùng tiền bối Ngô Văn Chiêu trên đường truyền giáo, trong cái thế nội ngoại song hành là thiền (nội giáo tâm truyền hay hình nhi thượng học: esotericism) và phổ độ (ngoại giáo công truyền hay hình nhi hạ học: exotericism).


    ------------------------------------------------------------ --------------------


    [1] Về kinh Minh thánh, xem thêm: Lê Anh Dũng, Quan thánh xưa và nay. Hà Nội: Nxb Văn Hóa - Thông Tin, 1995.


    Hoặc xem tại: http://khangthin.multiply.com/journal/item/335


    [2] Đông Hồ, “Thăm đảo Phú Quốc”, Nam Phong tạp chí. Số 124, năm 1927, tr. 545.


    [3] Đông Hồ, “Thăm đảo Phú Quốc”, tr. 545.



    Huệ Khải


     


  9. #19
    Tham gia ngày
    Mar 2008
    Bài viết
    999

     chỉnh hình :



    Hội Thánh



    Sùng Hưng Tự



    Nhà Lâm Tấn Đức


  10. #20
    Tham gia ngày
    Apr 2008
    Bài viết
    179
     Tiện thiếp ngu muội , sao quý huynh tỷ mỗi người đăng mỗi bài , nhiều bài trùng lắp làm cho tiện thiếp không khỏi choáng ngợp trước thi từ văn phú. Thật là bao la !!

Trang 2/4
1 2 3 4

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Thăm nhà Đức Ngô Minh Chiêu ở Tân An
    Bởi Hao Quang trong mục Cảm xúc Thành viên
    Replies: 4
    Có Bài Mới: 22-04-2013, 11:00 AM
  2. Ngày kỷ niệm Ðức Ngô Minh Chiêu
    Bởi Nhan Nai trong mục Bước đầu tìm hiểu Đạo
    Replies: 42
    Có Bài Mới: 03-04-2012, 09:52 AM
  3. Tại sao Đức Ngô Minh Chiêu...?
    Bởi Guests trong mục Quý I.2007 -
    Replies: 32
    Có Bài Mới: 11-11-2006, 01:12 AM