Chủ đề đã đóng
Trang 1/4
1 2 3 ... 4
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 40

Ðề tài: Gương Hướng Đạo - Ngài Liễu Tâm Chơn Nhơn

  1. #1
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar
    Gương Hướng Đạo của Ngài Liễu Tâm Chơn Nhơn

    Ngài Liễu Tâm Chơn Nhơn Huỳnh Ngọc Trác sinh năm Mậu Tuất (1898) tại làng An Tráng, Phủ Thăng Bình, Quảng Nam, nay là xã Bình Sơn – Huyện Hiệp Đức, Quảng Nam. Tổ của Ngài vốn là người Minh Hương sang lập nghiệp ở đây đã 7 đời. Thân phụ Ngài là Huỳnh Quang Ý, thân mẫu là cụ Phan Thị Niệm. Ngài chỉ có 2 người em gái là Huỳnh Thị Hải và Huỳnh Thị Giai.

    Lúc nhỏ Ngài tên là Huỳnh Quang Tứ, khi đi học thầy giáo Nguyễn Khoảnh đặt tên cho Ngài là Huỳnh Ngọc Trác, biệt hiệu là Lang Tuyền. Khi thọ giáo Minh Sư với đạo sư Võ Xuân Kỉnh ( Thầy Chín Phú Bông) Ngài có Pháp Danh là Huỳnh Kim Cốc.

    Bản chất Ngài nhân từ đức độ, khoan dung, tính tình hiền hòa, khiêm nhượng và cởi mở lại rất hiếu học.

    Năm 24 tuổi(1921, dù đã phát nguyện tu chứng Minh Sư độc than hành Đạo, Nhưng Ngài không dám cải lệnh song thân vò mang tội bất hiếu (bởi Ngài là con trai độc nhất), nên Ngài Ngài phải lập gia đình với bà Trần Chơn Bảo, một thiếu nữ đức hạnh ở cùng làng do song thân lựa chọn. Song đêm tân hôn hai người đốt đèn hàn huyên đạo sự, nói chuyện tu hành và đọc kinh cho nghe đến nỗi ông cụ than sinh phải nhắc nhở. Trong 3 đêm, Ngài dạy cho bà học thuộc một cuốn Kinh Minh Sư. Từ đó đến suốt cuộc đời, ông bà vẫn đối đãi nhau như khách quý và không lâu sau bà cũng theo chồng quy y tại chùa Tam Giáo. Bà Trần Chơn Bảo sau này cũng quy hiệp Cao Đài và liễu đạo tại Tam Kỳ và tháng 5 – Kỷ Dậu (1969) ở tuổi 76 với phẩm vị Hành Thiện

    Ngài nghỉ học từ khi cưới vợ và cũng từ đấy nguyện hiến dâng cuộc đời cho đạo pháp và luôn nghiên cứu Kinh sách cả cựu học lẫn tân học cùng lo việc tu hành. Ngài rất uyên thâm nho học, lại biết tiếp thu tư tưởng Tây Phương. Ngài dạy rất nhiểu học trò, nên thường gọi là Thầy Giáo Hai. Bổn đạo quy y chùa ngày càng đông nên Ngài bị mật thám Pháp bắt giam ở tỉnh lộ 10 ngày khoản đầu năm 1931.Chính trong thời gian ngắn ngủi này, phụ thân Ngài ở nhà phát bệnh và từ trần Ngài không được thấy mặt để chịu tang.

    Sau đó được về, Ngài cử tang xong, xin mẹ hiến cúng toàn bộ cơ sở nhà ruộng vườn cho chùa Tam Giáo của Ngài Trần Nuyên Chất ở cùng làng. Nhà Ngài trở thành trường học của chùa, Ngài thường giao du thân thiết với các nhà nho ở Huế như: cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng….và luôn mở rộng kiến văn bằng kinh điển sách báo.

    Năm 1938 Ngài Quy hiệp Cao Đài và trở thành Hướng Đạo cốt cán của Hội Thánh Cao Đài Miền Trung. Ngài thay mặt hội thánh đi hành đạo khắp các nơi không nề khó khăn nguy hiểm. Cuối cùng, Ngài thọ tai nạn ở Quảng Ngãi năm 1945

    ĐẠO NGHIỆP

    Chùa Tam Giáo của Ngài Trần – Huỳnh gồm 3 cơ sở lớn
    - Tam Giáo điện: nơi tín ngưỡi của môn đồ Minh Sư
    - Văn Chỉ: nơi thờ Đức Khổng Tử và là trường “Thánh Kinh Học Đường” dành cho thanh thiếu niên học
    - Trường đào tạo mầm non (nhà Ngài Huỳnh) trong Đạo dưới sự hướng dẫn của Ngài về mọi mặt

    Tại đây có cả một thư viện được kể là đồ sộ nhất ở vùng trung du này, có đủ các loại kinh điển, sách báo chữ nho, chữ quốc ngữ được thu nhập qua ngã Hội An và Đà Nẵng từ Trung Quốc và Nhật Bản, để nghiên cứu học hỏi trên tinh thần Tam Giáo.

    Việc làm của Ngài được cụ Sào Nam Phan Bội Châu tâm đắc, qua nhiều lần hội kiến, cụ đã tặng Ngài câu đối treo tại giảng đường
    “ vật vị dữ dân tộc lịch sử vô quan, tâm túy âu bì vong á tủy
    Tu thực đắc cổ vãng kim lai nhất lý, căn bồi cựu cán dưỡng tân nha”

    Nghĩa là: há có phải dân tộc và lịch sử không có mối quan hệ với nhau mà để lòng say mê vào cái bề ngoài của Âu Tây mà quên cái bền trong cốt tủy Á Đông, nên biết xưa nay qua lại vẫn nhất lý, nên vun bồi lấy gốc rễ củ mà nuôi dưỡng mầm chồi mới.

    Và một câu khác treo ở cổng trường:

    “từ thiên tử đến thứ dân, thảy đều phải sửa mình làm gốc
    Trong gia đình ngoài xã hội, cũng phải vì có học mới nên”

    Nhờ trung gian của Ngài Thái Lão Trần Đạo Quang, bậc sư tổ của đạo Minh Sư mà các Ngài Trần – Huỳnh đã biết đến Đạo Cao Đài.

    Ngày 13/8 Đinh Sửu (1937) đoàn Truyền Giáo Cao Đài gồm Giáo sư Trần Công Ban, Nguyễn Quang Châu, Nguyễn Đán và cặp đồng tử Thanh Long – Bạch Hổ đã được Thánh Lệnh đến Viếng Tam Giáo với tinh thần “Tam Giáo Đồng Nguyên” của Cao Đài và tư tưởng “canh tân nho học” của 2 Ngài nên 2 bên gặp nhau rất tương đắc và có cảm ứng liền.

    Nhờ mối giao hảo này mà đến ngày 8/4 Mậu Dần (1938), nhân lễ khánh thành Thánh Thất Trung Thành và Đại Hội Long Vân Đệ Bát tại Đà Nẵng thì 2 Ngài đã làm lễ Quy hiệp Cao Đài do Ngài Thái Lão Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang chứng lễ và dĩ nhiên trước đó có sự đóng góp công quả của toàn thể các môn đồ Minh Sư vào việc xây cất Thánh Thát Trung Thành không phải là ít.

    Với tình thâm giao sẵn có giữa Ngài và Cụ Phan Sào Nam từ trước, nên khi tổ chức khánh thành Thánh Thất Trung Thành tức trung tâm Truyền Đạo Trung Bắc, cụ đã gởi tặng câu đối mà hiện nay còn treo tại Trung Hưng Bửu Tòa Đà Nẵng

    “ khế bách thánh, vu nhất tâm, thành tất minh hỉ, minh tất thành hỉ
    Đoàn tam kỳ vu nhất thể, thiên hữu nhân yên, nhân hữu thiên yên”

    Năm 1939 quyền Hội Thánh Trung Kỳ ra đời, Ngài được cử làm Hòa Viện Trưởng của Hội Thánh, Ngài luôn chịu khó lặn lội đó đây để hướng dẫn Đạo đồ tu học lập công. Trong dịp tổ chức Tiểu Hội Vạn Linh Ở Thánh Thất Trung An (Tam Giáo tự cũ) Ngài bị bắt cùng Ngài Trần Nguyên Chất và bị phát 2 năm tù treo. Đàn cơ 1/7 ĐĐ14, Đức Trần Tổng Lý dạy Ngài cùng với Hội Thánh lo soạn thảo kinh gia lễ Thường Hành và Đạo Lễ. Đến tháng 2 canh Thìn (1940) Ngài tháp tùng phái đoàn Hội Thánh Trung Kỳ do Ngài Lê Trí Hiển lãnh đạo vào nam tham dự Đại Hội Long Vân thứ 12 tại Thánh Tịnh Minh Kiến Đài. Đến năm 1941, sau đám tang của thân mẫu Ngài, Ngài bị bắt cùng với các Hướng Đạo và giam tại nhà giam Quảng Nam đến 1943. Trong thời gian này Ngài vẫn để tâm biên soạn những tài liệu Giảng Đạo cho tín đồ rất súc tích gởi về cho Hội Thánh.

    Ngài lập đại nguyện xin đi và thiết cơ đàn cầu nguyện. Tháp tùng Ngài có 3 Hướng đạo là Ngài Nguyễn Đán, cô Trần Thục Cơ và Nguyễn Trinh Cán, và 2 đạo hữu Nuyễn Văn Minh và Nguyễn Thị Loan (chị ruột của luật sư Nguyễn Quốc Tín) dạy Ngài như sau:

    "Trác phận sự Thầy đà đặt để
    Chí ưu thời mẫn thế Thầy khen
    Chừng nào gà gáy lầm Trăng
    Thì con sẽ biết con rằng là sao???
    Lo phận sự Thầy trao một mối
    Chớ có chi mà nỗi là chi
    Đã rằng cách vật trí tri
    Chấp trung quán nhứt còn kỳ đăng khoa"

    Tháng 6-1931 Ngài ra huế thăm chơi, nghe tiếng thầy Trí Độ chúa Báo Quốc là người quảng bác, hiếu khách, nhân tiện ghé thăm vãn cảnh và đàm đạo. Nhưng vừ ra đến nơi thì Trời đã tối và chùa đóng cổng. Ngài gọi cổng, có một chú tiểu ra thấy Ngài ăn mặt quá bình dân (tính Ngài vốn ăn mặt xuề xòa, giảng tiện) tưởng Ngài là kẻ hành khách nên làm thinh quay vào. Ngài gọi lần nữa và tỏ ý muốn xin gặp sự trụ trì. Chú tiểu vào trong báo và Thầy Trí Độ ra. Sau khi nghe giọng nói biết là người xứ Quảng lại ăn nói nho nhã thuần hậu nền Thầy thử tài :

    Té ra là người ở đất “Ngũ Phụng Tề Phi”. Thế thì hãy cho bần tăng nghe một bài thơ tức cảnh thì quý hóa quá!

    Ngài không chút do dự, đáp liền

    “Tớ từ trong Quảng mới ra chừ
    Gió bụi đường xa lún mệt đừ
    Tế độ nhờ ơn qua buổi tối
    Sáng ngày tớ sẽ tự như như”

    Nghe xong bài thơ, thầy Trí Độ vừa ngạc nhiên vừ cảm phục một con người giản gị, đức độ, lại hoạt bát tài tình với lời thơ thật chân thực. Thầy liền mở cửa niềm nở đón tiếp Ngài vào thư phòng đàm đạo 1 đêm.

    (Bài viết đã được sửa một số lỗi bởi Đại Đồng. Thân mến!)
    thay đổi nội dung bởi: Hao Quang, 23-07-2011 lúc 11:55 AM

  2. #2
    Tham gia ngày
    Oct 2008
    Bài viết
    30
                            GƯƠNG HƯỚNG ĐẠO



    Kính thưa toàn thể bổn Đạo Xã Đạo Từ Hòa.





    Cứ mỗi năm Thu về là bổn Đạo Cao Đài lại dâng lễ kỷ niệm

    ngày Thánh Tử Đạo. Ngày mồng 10 tháng 7 hàng năm, cái

    ngày mà mỗi bổn Đạo chúng ta không thể quên.

    Cách đây đã hơn 30 năm giáo hội chúng ta trãi qua nhiều

    giai đoạn thăng trầm của cơ Đạo.

    Trong mỗi người tín đồ với mỗi tấm lòng thành kính của mình

    để tưởng nhớ đến Chư Thánh Tông Đồ Tử Đạo. Nhưng

    mấy ai biết rằng những tấm gương đó đã hy sinh vì mục

    đích gì?

    Những con người chỉ biết thương Thầy, hết lòng vì Đạo.

    Mỗi khi đi đến dự lễ ghi ơn các Thánh Tử Đạo tại Linh Tháp

    hay không đến chúng ta cũng không quên cúi đầu kính

    trọng, vì nghĩ rằng trong mỗi chúng ta không thể sánh

    bằng.



    Lẽ thường ai cũng tham sống sợ chết, thế mà đằng nầy

    những Chức sắc, Đạo hữu vào năm 1945 đứng trước

    những cái chết ghê hồn trước mặt mình, họ đối mặt với nó

    và họ chịu nằm xuống. Lúc đó sức mạnh nào để những con

    người đó không biết sợ hãi? Đó là Đức Tin tuyệt đối . Ôi!

    Đức tin các Thánh Tử Đạo thật vô cùng quí trọng. Trong

    đó có vị Chức sắc mà trong tâm khảm chúng ta không bao

    giờ quên mỗi khi chúng ta nói đến Phước Thiện, là nói đến

    một vị Bồ Tát . Ngài là ai?



    Kính thưa đó là Đức Liễu Tâm Chơn Nhơn, mà chúng ta

    thường gọi là Ngài Huỳnh Ngọc Trác. Để biết rõ hơn về tấm

    gương của bậc Hướng Đạo. Bồ Tát.



    Lượt sơ qua tiểu sử của Ngài: Ngài Huỳnh Ngọc Trác tên

    thật là Huỳnh Quang Tứ biệt danh Lan Tuyền. Ngài sinh

    năm Mậu Tuất 1898 tại làng An Tráng phủ Thăng Bình tỉnh

    Quảng Nam là con trưởng của Cụ Ông Huỳnh Quang Ý và

    Cụ Bà Phan Tịnh Niệm cháu 17 đời quan Thương Thơ bộ Lễ

    nhà Tống. Vốn gia tộc của Ngài gốc bên Tàu, Tiền nhân

    dòng họ của Ngài qua Việt Nam đã lâu đời . Ngài thiên bẩm

    thông minh, tình thâm Tam giáo và quảng bác tư tưởng

    triết lý Tây phương. Lúc 20 tuổi Ngài theo tu Tam giáo Minh

    sư. Năm 1931-1932 bị Pháp cầm tù. Năm 1936 quy nguyên

    Cao Đài giáo, năm 1938 giữ chức Hòa Viện Trưởng kiêm

    Học Viện Trưởng trong Quyền Hội Thánh Trung Kỳ. Các

    năm 1941-1945 bị tù tại Quảng Nam và an trí tại Trà kê vì

    Đạo. Nhật đảo chính Pháp. Ngày 1-5-1945 vào Quảng Ngãi

    cùng đi với Ngài là một số chức sắc Hội Thánh , và ngày 7-

    7-1945 Ngài bị bắt cùng số đạo tâm tháp tùng, Ngài bị đem

    ra xử bắn cùng với số Hướng đạo và đạo hữu cùng tháp

    tùng trong lúc hành đạo tại Nghĩa hành. Năm đó Ngài 48

    tuổi.



    Xét công danh đạo nghiệp Đức Chí Tôn đã Ân Phong Ngài

    Huỳnh Ngọc Trác thiên vị là Liễu Ngộ Không Tâm Chế Tai

    Giải Ách Bồ Tát thường gọi là Liễu Tâm Chơn Nhơn và hộ trì

    cơ quan Phước Thiện.



    Đức tính của Ngài thật là Bồ Tát . khi còn sống và làm việc

    đối với Đạo cũng như Đời Ngài đã Tu chứng tâm vô sự, sự

    vô tâm, có rất nhiều câu chuyện về đời thường khi Ngài

    trên đường Hành Đạo Ngài tỏ rỏ sự vô sự vô tâm đó….kể

    chuyện:… trên chuyến tàu lữa…



    Có một câu nói của vị Hướng Đạo lớp đàn em của Ngai đã

    nói:

    “Chết vì Đạo không khó. Khó là chết vì Đạo mà không oán

    Trời hờn Người .

    Vậy lúc nào cần hy sinh như người xưa, người tin đạo coi

    như được dự phần vinh dự, lấy máu mình rửa sạch tội mình

    và tội chung thiên hạ.”                                                                                                                                                                                         

    TSQ.HồTân Sinh



    Vậy chúng ta tưởng nhớ đến các Chư Thánh Tông Đồ ngày

    hôm nay còn có ý nghĩa cho Phước Thiện, chung lòng cầu

    nguyện cho Phước Thiện Thành công.



    Ngài Đức Liễu Tâm Chơn Nhơn khi còn tại thế Ngài đã là bậc

    Hướng Đạo đáng kính của chúng ta làm được, luôn là tấm

    gương sáng cho toàn thể tín đồ Cao Đài giáo phải noi theo.

    Và bây giờ khi Ngài được Thầy gọi về, về ngôi xưa vị củ

    nhưng Ngài cũng không quên cho cơ nghiệp Phước Thiện

    hôm nay. Mà Thầy đã giao trách nhiệm hộ trì Phước Thiện



    Ngài giáng dạy chúng ta qua những lời Thánh giáo thật gần

    gủi đắm tình bằng hữu, tỏ rõ người Truyền giáo Hướng đạo

    luôn đi vào tâm khảm của mỗi người bằng sự thương yêu,

    đó là tỏ rõ cái Phước Thiện ở mỗi chúng ta.



    Ngài dạy:

    “ Phước Thiện ta ngày nay phải bước lên một bước xây

    dựng con người Phước Thiện, rồi đến gia đình, đến Xã Đạo,

    đến Thánh Thất, đến Hội Thánh” (TTTHtr139q3).



    Vậy cái gương Truyền giáo là chổ con người Phước thiện

    phải gương mẫu mọi điều, làm cho Đạo hữu mến phục và

    làm theo, như Ngài đã dạy rằng; “ Người Phước Thiện là

    người xóa bỏ danh lợi, tinh thần trên đường độ đời cứu

    chúng, người được kết liền cùng khối thương yêu, hiện

    thân của Thánh Tiên tại thế. Nếu người Phước Thiện mà

    còn chưởng vào mình những bản ngã tư tâm, lợi danh

    cương tỏa, thì chưa được.”(TTTHtr140,141q3).



    Qua đoạn Thánh Giáo trên Ngài đã hiện thân Thánh Tiên

    khi còn tại thế rồi đó. Cái gương quả cảm ấy khi đã chịu

    hình phạt tù đầy, và rồi bị giết mà không lời oán Trời hờn

    người mà còn tỏ rõ sự thương yêu người, thương Thầy

    mến Đạo ;



    Ngài dạy:

    “ Sứ vụ ta nặng nề, bổn phận ta trọng đại, phải cố gắng và

    cố gắng nhiều để ngày mai thành được đóa hoa tinh khiết,

    hoa có hương có sắc, người có đức có tài, hoa có nhụy có

    đài, người có tâm có thể, hoa vô tư vô lự theo chiều gió

    ngã mình, người không lợi không danh thung dung Đạo mầu

    nhập diệu.”(TTTHtr141q3)



    Tệ đệ xin mượn câu dặn dò cuối cùng mà Ngài đã dạy

    chúng ta để kết thúc bài này.

    “Chư Hiền cố gắng theo dõi bài này”.(bài Thánh Giáo ý

    nghĩa Phước Thiện)



                                             Ngày mồng 8 tháng 10 năm Kỷ

    Sửu

                                                                                                          

    Việt Hiền


  3. #3
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar

     một mẩu chuyện về Ngài Huỳnh: gia đình lễ giáo và hiếu đạo


    "ngày 14/06 Mậu Dần (1938), đoàn Truyền Giáo do Ngài Huỳnh hướng dẫn lân An Tráng làm lễ Quy Hiệp cho bổn đạo chùa Tam Giáo. Phái đoàn ra đi từ Thánh Thất Trung Thành hôm 20/06, nhưng bị mưa lụt và phải đi bộ khó khăn, ghé qua nhiều nơi: Đại Bường, Trung Quang, Trung Lộc và một số nhà wen bổn Đạo nên đến trưa 23/06 mới về đến nhà Ngài Huỳnh ở An Tráng (gần bên chùa Tam GIáo) về đến nhà như thường lệ, chào hỏi cụ Bà thân sinh Ngài, chào cô Giáo Hai (vợ Ngài) cáo yết Trời Phật xong, giải khát rồi nghỉ nghơi


    Khách vừa đặt lưng xuống chiếu là nghe tiếng dõng dạc của cụ bà:


    - Thầy Hai đâu, mời ra cho tôi hỏi chút việc??


    thế là Ngài Huỳnh vội vàng khoác áo dài chạy đến bên cụ Bà vòng tay thi lễ:


    - Thưa Mẹ! con đây Mẹ dạy việ gì?


    Cụ Bà chậm rãi hỏi :


    - Thầy có biết mấy ngày qua là ngày gì không mà đến hôm nay Thầy mới về??


    Ngài Huỳnh có vẻ biến sắc ngập ngừng thưa :


    - Thưa mẹ, con biết ngày cúng giỗ của Thân Phụ con, trong lúc đi hành đạo với quý Thầy, chẳng may gặp mưa lụt, con cố về mà không kịp, ngày hôm kia ở Thánh Thất Trung Quang (Trung Lộc), con có xin thiết lễ tưởng niệm cầu siêu cho thân phụ con rồi, có quý Thầy cúng, hôm nay mới về nhà, con chưa kịp thưa với Mẹ


    CỤ Bà nói tiếp:


    - Mấy ngày qua Tôi tựa cửa trông Thầy, càng trông càng biệt tăm, không biết Thầy đi tu cái Đạo gì mà ngày cúng giỗ Cha cũng không về. Rồi Thầy giảng giải với thiên hạ ra làm sao???


    Ngài Huỳnh có vẻ bối rối, cảm xúc, phía sau có cô Giáo Hai cũng đứng vòng tay yên lặng hầu nghe. Ngài Giáo Sư Nguyễn Quang Châu phải vội vàng khăn áo chỉnh tề nghiêm nghị lễ phép trình bày :


    - Thưa cụ Bà, Bà dạy chí phải, nhưng ở đây chúng tôi chứng kiến nỗi ưu tư tha thiết của Thầy Giáo Hai đây lo không kịp ngày cúng giỗ cụ Ông thân sinh, Thầy đã thiết lễ tưởng niệm như đã thưa, có Thầy Cửu Sáu, chúng tôi và bổn Đạo Trung Lộc dâng lễ cầu siêu cho cụ ông. Trường hợp đặc biệt này không làm sao hơn được, xin cụ Bà lượng thứ cho. Chúng tôi nghĩ Đạo Lý Thánh Hiềng đành rằng chấp kinh nhưng cũng có lúc tùng quyền. Ngày xưa Võ Vương cha chết chưa an táng, vận áo tang mang quân đi đánh Trụ Vương...như thế theo Đạo Thánh Hiền thì phạm tội bất hiếu lớn lao nhưng người đời lại hết lời ca tụng Ngài Võ Vương là bậc Thánh Chúa chí hiếu. Nên đạo lý "Kinh Quyền" là ở chỗ đó, xin cụ bà xét lại!


    Cụ Bà đứng dậy chắp tay đáp lễ :


    - Xin lỗi Qúy Thầy, vô tình tôi đã thất lễ với quý Thầy. Điều tôi nói hôm nay là cốt ý nhắc nhở cho thầy Hai tôi đây đừng vì cái Đạo rộng lớn cao xa mà quên đi những điều thấy là nhỏ nhặt mà không lưu tâm đến. Chính cái nhỏ nhặt đó là nền tảng của Đạo làm người. Xin quý thầy miễn chấp cho chỗ thất lễ của tôi.


    Rồi cụ quay lại nói với thầy và cô giáo Hai :


    - Nói để cho thầy biết vậy. Thôi thầy vào nghỉ để cho quý thầy nghỉ.


    - con xin ghi nhớ lời dạy bảo của Mẹ


    rồi xá Cụ Bà hai xá và cùng cô giáo Hai lui vào trong!


    thật là một gia đình lễ giáo và hiếu đạo hiếm có!"


    nhân Mùa Vu Lan báo hiếu Q chúc tất cả HTĐM vui vầy bên người thân một cách...trọn vẹn nhất!


     

     

  4. #4
    Tham gia ngày
    Mar 2009
    Bài viết
    36
    newdigimon's Avatar

    Thật, tiểu đệ không biết nói gì hơn


    Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát


  5. #5
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    76
    dotieucuc's Avatar
    Xin bổ sung thêm cho bài viết của Hào Quang:


    Hợp đồng cùng anh Lê Đức và anh chị em bổn đạo tại Quảng Ngãi đã tổ chức được các lễ Đại Đại Phục Hưng tại Mỹ Long, Mỹ Sơn, Sông Vệ,...Ngài cùng anh chị em lên Hành Thiện thuộc huyện Nghĩa Hành để tổ chức đại lễ tại đây thì gặp ngay biến cố,...(được hiệu chỉnh bởi QTV)... tháng 8...Ngày 7/7 Ất Dậu, Ngài bị bắt cùng toàn đạo. Đến ngày 10 tháng 7 Ất Dậu thì bị đem ra bắn cùng một hang đạo hữu nối tiếp nhau ngã gục trước viên đạn vô nhân trong đó có anh Minh. Riêng chị Lan, chị Cung thì bị bọn (sát thủ)(hiệu chính bởi QTV)...dỗ dành làm vợ cho họ thì khỏi chết, nhưng các chị nhứt quyết không chịu nên cùng chung số phận với các đạo hữu địa phương... (theo ông Trương Sư Xuyên – chức sắc Hội Thánh Truyền Giáo ghi nhận)

    Còn theo ông giáo hữu Lê Quang Sách lúc ấy còn là thanh niên cũng bị bắt giam tại Nghĩa Hành đã được mục kích được pháp nạn này kể lại:

    “Trước khi thọ nạn, Ngài Huỳnh vẫn bình tình như thường, Ngài có đề nghị với cán bộ cho nói vài câu để giải thích việc làm của Ngài nhưng họ không cho. Cuối cùng, Ngài bảo anh chị em đồng đạo hãy hướng về phía Bắc và niệm danh hiệu Chí Tôn mãi cho đến khi không còn nghe biết gì nữa. Ngài niệm to hơn hết át cả tiếng mọi người và một loạt đạn xuyên qua, hàng người ngã gục trước tiếng cười ngạo nghễ của quỷ vương khi đắc thế.”

    (theo Nhân Vật Cao Đài Giáo – quyển 1 – Đồng Tân - 2008)

  6. #6
    Tham gia ngày
    Mar 2011
    Bài viết
    2

    chân thành cảm tả huynh đã cung cấp tiểu sử đức Liễu Tâm Chơn Nhơn. cảm tạ

  7. #7
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar
    Kính Huynh NguoiVietHCM! chúng ta vào đây trao đổi học hỏi lẫn nhau để Phụng Sự Đạo là vui rồi! có chi đâu mà cảm ơn

    "Với hoài bảo chấn hưng Tôn Gia1o phát huy Đạo Đức, Ngài Huỳnh Ngọc Trác mấy lần lặn lội ra Huế gặp cụ Lê Đình Thám và các vị Đại Sư Hội Phật Học tại Huế để thảo luận tinh thần chấn Hưng Phật Gia1o đồng thời viếng thăm cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Bội Châu là những nhà chí sĩ cũng là nhà nho danh tiếng, để tìm hiểu về Đạo Đức triết lý Khổng Mạnh rất được các cụ mến phục tâm đắc. Khi tiễn đưa Ngài Huỳnh Ngọc Trác ra về cụ Phan Sào Nam cảm động đọc câu cadao ngụ ý đau xót tình đời:
    Lá đưa cây cải về trời
    Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
    Ngài Huỳnh Ngọc Trác liền ứng khẩu đáp lại:
    Trách lòng con cá lia thia
    Vực sâu không ở,ở đìa nỗi chi
    Để tỏ niềm thương cảm và ngụ ý mong muốn cụ Sào Nam đi theo con đường đạo lý cứu độ nhơn sanh

    Nhân dịp này Ngài Huỳnh Ngọc Trác ngõ ý xin gởi vài thanh niêm tâm phúc ra hầu và giúp việc biên chép các cụ đang soạn, Cụ Sào Nam vui vẻ chấp nhận.Thế là Ngài Trần Nguyên Chí 20 tuổi và em ruột Trần Nguyên Khởi được Hai Ngài TRần – Huỳnh gởi theo học bên cạnh cụ Sào Nam vào các năm 1933,sau them Phan Quang Phục con Ngài Phan Sĩ Nhiếp…............."


    HQ có tiểu sử các Ngài:
    Ngô Minh Chiêu
    Trần Đạo Quang
    Cao Triều Phát
    Lê Kim Tỵ
    Trần Văn Quế
    Đàm Thi
    CaO Hữu Chí
    Một gia đình hy sinh vì Đạo
    Trần Công Ban
    Lương Vĩnh Thuật
    Trần Quang Châu
    Nguyễn Quang Châu
    Nguyễn Đán
    Trần Luyện
    Nguyễn Hồng Phong
    Lê Trí Hiễn
    Trần Nguyền CHất
    Huỳnh Ngọc Trác
    Phan Thiện Trì
    Trần Nguyên CHí
    Mai Diệu
    Mai Dinh
    Trương Sư Xuyên
    Trần Hoanh
    Hồ Tân Sinh
    Huỳnh Thanh Bảo
    Hồ Thanh Đạm
    Nguyễn Trinh Cán
    … nếu HTĐM nào cần Tiểu sử của Ngài Nào thì HQ rảnh sẽ gõ và cung cấp lên Diễn Đàn Tuổi trẻ Đại Đạo còn nếu cần hết thì gởi địa chỉ HQ pho và gởi sách qua cho! nếu HTĐM thực sự cần
    chúc HTĐM ngủ ngon
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

  8. #8
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    38
    MinhKy's Avatar
    Hào Quang có thể vui lòng đăng giùm tiểu sử của 2 người, ông Trần Hoanh và cụ Phan Thiện Trì. Cám ơn.
    Tôi, người tín hữu Cao Đài. Chấm hết!!!
    tinhuucaodai@gmail.com

  9. #9
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Bài viết
    506
    truongtam's Avatar
    Ôi, Hào Quang cũng sưu tầm nhiều sách quá.
    Đệ cần tiểu sử và gương hướng đạo của Đức Bảo Thọ Thánh Nương được hông. Vì Má em học trong Thánh Thất đang cần.
    Cám ơn huynh trước nhé.
    Mấy cuốn sách hay lắm, nhưng đệ chỉ đọc tham khảo thôi, (ý là đọc rồi để trong đầu, khi nào cần sẽ lục lại dùng, hi hi).
    Đệ cũng sẽ copy lại cho huynh vài cuốn sách của đệ.
    Không biết khi nào rảnh gặp huynh được.
    Tâm.

  10. #10
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    1.028
    Hao Quang's Avatar
    Gởi Huynh Minh Kỳ HQ gởi Huynh Tiểu sử của Ngài Phan Thiện Trì!
    còn tiểu sử của Ngài Trần Hoanh hẹn huynh dịp khác HQ sẽ gởi cho Huynh! Mong Huynh Thông cảm cho HQ nha
    PHAN THIỆN TRÌ (GIÁO SƯ HÀM PHONG)
    (1887-1972)
    Ngài Phan Thiện Trì tên thật là Phan Sĩ Nhiếp thường gọi là Thầy Gia1o Khanh, sinh ngày 28-3 Đinh Hợi 1887 tại Làng Hiền Lộc, Tổng Việt An, Huyện Thăng Bình, Tỉnh Quảng Nam.
    Thân phụ là cụ Tú Phan Sĩ Trâm xuất thân học thức nhưng lại vui sống cảnh ruộng vườn. Cụ tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp làm đến chức Ban Biện Quân Sự, tính tình cương trực được xóm làng kính nể. Thân Mẫu là cụ Bà Hồng Thị Thu người phụ nữ có học thức gốc Minh Hương đoan trang hiền thục.

    Ngài Phan Thiện Trì có tất cả bảy an hem: hai trai, bốn gái. Ngài là con thứ tư trong gia đình danh gia vọng tộc trong làng, do đó Ngài được hấp thụ lễ giáo Á Đông ngay từ thuở bé, tư chất thông minh, tính tình điềm đạm, hòa nhã, nhưng chí khí lại hiên ngang cương trực.

    Lên chin tuổi Ngài đã xa gia đình, theo học chữ Nho với người Chú ruột là cụ Phan Sĩ Duân ở làng La Nga được 3 năm, đến học với nhà Nho Trần Can ở Quế Sơn được một năm, lại đến học với cụ Hồ Truy cũng ổ Quế Sơn được hai năm, sang học với cụ Tú Hồ Mại ở Phú Cốc hai năm, cuối cùng đến học với cụ Gia1o Thọ Nguyễn Dinh ở trường lớn phủ Thăng Bình được ba năm, trong mười năm đèn sách, dù học Thầy nào trường nào Ngài cũng thuộc hàng học trò suất sắc.

    Năm Ât Tỵ 1905 năm 19 tuổi, song thân lo cưới vợi cho Ngài là bà Nguyễn Thị Côn cùng tuổi Ngài, là con thứ 8 trong một gia đình trung nông.

    Năm sau Ngài ra Kinh thi Hương bị hỏng trở về quyết chí dồi mài kinh sử chờ khoa sau. Nhưng năm sau gặp gia biến, vợ Ngài bà Nguyễn Thị Côn từ trần sau khi sinh hạ người con trai đầu long được bảy ngày tên là Phan Khanh, người con này được Ngài rèn đúc với cảnh gà trống nuôi con.

    Ông Phan Khanh thánh danh Phan Thiện Hòa tính tình thẳng thắn vui vẻ, sau theo học trường dòng ở Huế thi đậu bằng Diplome, có gia đình sinh được ba gái và một trai, con cháu hiện sống ở Suối Nghệ và Sài Gòn.
    Năm Mậu Thân 1908 Thân Phụ Ngài là Cụ Tú Phân Sĩ Trâm mất, Ngài đành bỏ học lo chăm sóc việc nhà và học them Quốc Ngữ với cụ Nguyễn Mậu Hoàng. Trước khi mất cụ ông lo tục huyền cho Ngài với Bà Lê Thị Tánh sau sinh được hai gái, hai trai.
    - Phan Thị Ngự chết 1956, còn hai người con gái hiện ở Cam Ranh.
    - Phan Thị Ấm sinh Nhâm Tý 1912 chết 1935 con là Hà Minh Đức hiện sống ở Suối Ngệ Bà Rịa Vũng Tàu
    - Người con thứ năm là Phan Đề Pháp Danh Phan Thanh Tảo sinh Ât Mẹo 1915 tư chất thông minh, theo học chữ Nho với cụ Thiều chửu ở Hà Nội chết 1965, con là Phan Văn Chuân, Phan Thị Bích, Phan Tiến Dũng, Phan Quang Trực, Phan thị Ngọc Anh hiện sống ở Suối Ngệ và Sài Gòn.
    - Người con thứ sáu là Phan Câu ( Phan Quang Phục) sinh Mậu Ngọ 1918. Tính tình thuần hậu, thông minh, theo học Cụ Sào Nam ở Huế và cụ Thiều Chửu ở Hà Nội. Khi Quy hiệp Đạo Cao Đài làm Chánh Từ Hành Thánh Thất Trung An, độc thân, Quy liễu 1938 lúc 22 tuổi.

    Năm Kỷ Dậu 1909 Ngài Phan Thiện Trì lại ra kinh thi lần nữa nhưng lại hỏng, từ đó Ngài xếp bút nghiêng không màng việc thi cử,lo cai quảng gia đình chuyên về nông nghiệp vui thú điền viên.

    Ngày 26-5 Tân Hợi 1911 thân mẫu Ngài Từ Trần, nỗi buồn thương chưa nguôi thì 2 năm sau 1913 xảy ra hỏa hoạn, bao nhiêu tài sản phút chốc tan thành mây khói. Ngài lại lo gầy dựng cơ nghiệp mới, được năm năm thì người vợ thứ hai là bà Lê Thị Tánh từ trần 1918 khi người con thứ sáu là Phan Câu chào đời được 04 tháng. Ngài phải chịu đựng cảnh đau long.
    Càng trông càng thảm càng sầu
    Phần lo gia thất phần rầu năm canh
    Ngài vẫn bình tỉnh vượt những đau buồn, gian lao lo gầy dựng cơ nghiệp, tạo lập ngôi Từ Đường Lợp Ngói an vị vào năm Kỷ Mùi 1919.

    Trước đó năm Bính Thìn 1916 Ngài Phan Thiện Trì có hiến cho Làng giống ruộng để làm Công Bản và cùng anh vợ là ông Nguyễn Thông xây dựng một ngôi trường Làng để dạy học. Vì vậy năm Khải Định thứ hai 1917 Ngài được thưởng làm Cửu Phẩm Văn Giai, được dân làng nể trọng và gọi Ngài là Cửu Khanh.

    Năm canh Thân 1920 năm 34 tuổi, Ngài tục huyền lần nữ với bá Nguyễn Thị Húy ( đã có con góa bụa) bà sinh được hai trai, 4 gái
    - Phan Thị Hòe sinh Nhâm Tuất 1922 tu giải thoát Đạo Cao Đài. Được ơn trên phong Gia1o Hữu, hiện đảm nhận chức vụ Chưởng Quản Cơ Quan Nữ Phái Hội Thánh Truyền Gia1o Cao Đài tại Đà Nẳng.
    - Phan Chí Sĩ sinh năm Gia1p Tý 1924 hiện sống với vợ con tại Sài Gòn
    - Phan Thiện Nha sinh Bính Dần 1926 hiện đang sống ở Bà Rịa
    - Phan Thị Thảo Lang sinh Mậu Thìn 1928 độc thân chết 1954
    - Phan Thị Huệ sinh Qúy Dậu 1933 hiện sống với con ở Vũng Tàu
    - Phan thị Cam sinh ẤT Hợi 1935 chết 1992, chồng và con hiện sống ở ÚC

    Thòi gian này là lúc gia đình ổn định Ngài chán nản việc đời muốn tìm về nẻo Đạo. Năm 1928 người con thứ sáu của Ngài là Phan Câu thọ giáo Minh Sư với Đạo Sư Võ Xương Kỉnh, hai năm sau Ngài và hai người con trai lớn là Phan Khanh và Phan Đề nhập môn Đạo Minh Sư với Đạo Sư Nguyễn Vĩnh Từ có hai ngài Trần Nguyên Chất, Huỳnh Ngọc Trác tiến dẫn, thọ giớn trường trai với Thánh Danh Phan Thiện Trì.

    Năm 1936 Ngài kiến thiết lại ngôi nhà ngói rộng 10 gian, hai năm sau Ngài và tất cả con cháu Quy y Đạo Cao Đài.Từ đó cuộc Đời Ngài gắn liền với nền Đạo mới cùng nhiều thử thách tù tội, gian nguy. Gần 8 năm theo Đạo Minh Sư, cả gia đình ngài hết lòng mộ Đạo nhờ ảnh hưởng phong trào “khai trí trị sinh” của cụ Phan Chu Trinh và chủ trương đem Đạo vào Đời của hai ngài Trần – Huỳnh. Từ đó Ngài hợp tác với hai Ngài Trần –Huỳnh rất tâm Đắc, Ngài khuyến khích con cháu và bạn bè theo phong trào học mới.

    Ngày 24-6 Mậu Dần Đại Đạo 13 ( thứ năm này 21-7-1938) Ngài Phan Thiện Trì cùng tất cả con cháu làm lể quy hiệp nhập môn Đạo Cao Đài tại Chùa Tam Gia1o An Tráng cùng bổn Đạo Minh Sư. Sau ngày quy hiệp Ngài tích cực tham gia hành Đạo,dù bị tù đày vẫn vui vẻ chấp nhận. Ngài được cử làm Thủ Bổn Thánh Thất Trung An thời kỳ Ngài Trịnh Trung Tín làm lễ sanh Đầu họ.

    Ngày mùng 8 – 1 Kỹ Mão ( chủ nhật ngày 26-2-2939) tiểu hội Vạn linh tổ chức tại Thánh Thất Trung An, Ngài làm trưởng ban tiếp tân nên bị bắt cùng quý hướng Đạo và bị kết án 1 năm tù treo.

    Ngàu 30-9-1939 Ngài vận động tu bổ một ngôi Chùa cũ trong Làng, thiết trí thờ Thầy để làm cơ sở truyền Đạo và dạy Đạo. Sau đêm thượng tượng AN Vị Ngài bị kết án 2 năm tù treo vì tội lạm thủ chức của Làng.

    Năm 1940 Ngài bị bắt giam tại nhà lao của Tỉnh Quản Nam ở Vĩnh Điện. Đến năm 1941 các hướng Đạo bị bắt trong đám tang thân Mẫu Ngài Huỳnh Ngọc Trác cũng bị đem giam tại đây.

    Sau ngày mãn tù năm 1943 Ngài tiếp tục tu học hành Đạo và được cử làm cố vấn cho Họ Đạo Trung An. Tiếp theo sau những biến cố dồn dập, cơ Đạo chinh nghiêng Ngài đi lại nhắt nhở bổn Đạo giữ vững niềm tin thờ Thầy giữ Đạo.

    Cuối năm Bính Tuất 1946 chiến tranh Việt –Pháp bùng nổ. Thành phố Đà Nẳng bị Pháp chiếm, Cơ Quan Truyền Gia1o Trung Bắc Bộ phải dời lên sở Nông Phước Hội, rồi bị máy bay Pháp ném bom phải dời về Thánh Thất Trung An Làng An Tráng 1947.

    Chiến tranh ngày càng khốc liệt không liên lạc được với các nơi,vâng thánh lệnh quý Chức Sắc hướng Đạo Miền Trung tổ chức Đại Hội Đại Biểu bốn tỉnh miền Trung : Nam, Nghĩa, Bình, Phú tại Thánh Thất Trung An thành lập Cơ Quan Truyền Gia1o Trung Bộ vào ngày vía Đức Chí Tôn mùng 9-1 Mậu Tý ( thứ 4 18-2-1948), chấn chỉnh và bổ sung người vào ban Cửu Viện

    Cuộc chiến lan rộng, cuối năm 1948 Hội Thánh phải dời về đặt tại nhà ông Phan Khanh Pháp Danh Phanh Thiện Hóa là con trai đầu của Ngài ở Hiền Lộc xã Thăng Lãnh,Quận Thăng Bình Quảng Nam. Tại đây Ngài được dịp luận bàn đạo lý và lo tiếp tăng độ chúng, vì Hiền Lộc được xem là Trung gian với các Thánh Sở Hiện thời.

    Đầu năm Kỷ Sửu 1949 các chức sắc hướng Đạo Miền Trung đều bị bắt giam, tiếp đến phiên tòa quân sự tại quân khu 5 Bồng Sơn các chức sắc và bổn Đạo bị tù đày khắp nơi.Ngài ở nhà lo cầu nguyện và nhắt nhở bỏn Đạo lo Thờ Thầy giữ Đạo. Năm 1952 một số chức sắc ra tù hợp tác cùng Ngài tiếp tục xây dựng dựng cơ Đạo duy trì tinh thần tín ngưỡng và nề nếp sinh hoạt bổn Đạo.

    Đàn cơ tại Thánh Thất Từ Vân ( Quảng Nam) ngày mùng 9-2 Nhâm Thìn ( thứ 3 ngày 4-3-1952) Đức Chí Tôn giáng cơ ban lệnh cho Ngài Phan Thiện Trì chứng đàn lễ thọ phong của chư chức sắc Cơ Quan Truyền Gia1o Trung Bộ. Đến ngày 15-2 nhâm thin Đại Đạo 37 ( thứ hai ngày 10-3-1952) đàn cơ tại Thánh Thất Thái Hòa, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo và phong Ngài Phan Thiện Trì phẩm vị Quyền Hiệp Lý đại diện Cửu Trùng Đài thay cho Ngài Hiệp Lý Trần Nguyên CHất liễu Đạo ngày 30-12 Kỷ Sửu,Ngài Cao Hữu Chí đại diện Hiệp Thiên Đài trong kỳ Chỉnh Cơ Lập Pháp.
    Trích đàn cơ phong quyến Hiệp Lý:
    “Thầy giao cho Trì thay quyền Hiệp Lý”

    Thi
    Ngọc ẩn non kỳ ngọc vẫn cao
    Mặc ai lơ lững trách ai nào
    Hành trì Pháp Đạo tâm thanh tịnh
    ………………………………nào?

    Bài
    “Trì tâm đợi cái ngày thành Đạo
    Trãi bao phen nồng não thân gia
    Làm trai đứng giữa sơn hà
    Nước non nặng nợ cỏ hoa nặng tình
    Gánh Đạo Trời bên mình hằng hoại
    Bước ghập ghình them bả lợi danh
    Muốn cho cơ nghiệp Châu Thành
    Sá Hồ Dủ Lý mà anh hùng từ”
    Ngài đêm hết tâm chí hành Đạo lập công và điều hành Hội Thánh trong thời gian này.
    Nguyên đán Qúy Tỵ Đại Đạo 28 ( thứ bảy 14-2-1953) Đức Chí Tôn Gia1ng cơ tại Thánh Thất Trung An, Ân phong Ngài Phan Thiện Trì phẩm vị Gia1o sư Hàm Phong cùng với Ngài Trần Nguyên Chí và Ngài Nguyễn Đán
    Trích Đàn cơ mùng 1-1 Qúy Tỵ:
    “ Trì Giáo Sư Hàm Phong tuân chiếu
    Lập them công sẽ hiểu ân Thầy”

    Trong vụ đấu tố nhân dân vào đêm 29-3 Qúy Tỵ ( thứ ba ngày 12-5-1953) Ngài Phan Thiện Trì cùng tất cả con trai, con gái gồm hơn 10 người ( trừ ông Phan Chí Sĩ lúc ấy đang ở Sài Gòn) đều bị vây bắt đánh đập rồi giam tại lao xá tiên Hội Quảng Nam. Đến tháng 10-1953 một số được thả về con Ngài và ba người con bị giữ lại đến năm 1954 mới được thả. Năm giáp ngọ 1954 hiệp định geneve ký kết, các hướng Đạo trở về Đoàn tụ, Ngài cùng chung sức xây dựng cơ Đạo ngày một phát triễn.

    Đàn cơ tại Trung Hưng Bửu Tòa ngày 24-12 ất Mùi Đại Đạo 30 ( chủ nhật ngày 5-2-1956) Đức Lý Gia1o Tông giáng dạy Hội Thánh, các tỉnh Đạo và dạy chư chức sắc.Ngài Phan Thiện Trì được Đức Lý điểm danh:

    “ Trì cũng lắm căn duyên với Đạo
    Nhờ bao lần khảo đảo nên danh
    Chí tu nuôi được kỉnh thành
    Đem công đổi lấy quả lành cũng nên”

    Năm Bính Thân 1956 xây dựng Đền Thánh Trung Hưng Bửu Tòa và thành lập Hội Thánh Truyền Gia1o ngài cũng đóng góp nhiều công sức.Ngày 27-7 năm Bính Thân ( thứ bảy ngày 1-9-1956) ngài tham dự khóa tịnh 72 ngày tại Hội Thánh và cùng đăng đàn Hồng Thệ với quý chức sắc Hội Thánh ngày mùng 9-1 Đinh Dậu 1957.
    Năm giáp Thìn 1964 nạn lụt khủng khiếp tiếp theo là chiến tranh Việt – Mỹ ác liệt, bom đạn cày nát thôn quê. Năm ất Tỵ 1965 gia đình Ngài tản cư xuống An Hải Đà Nẳng. sau vì sinh kế con cháu phải di cư lập nghiệp rải rác ở các tỉnh Bình Tuy, Suối Ngệ, Sài Gòn, Vũng Tàu.

    Năm canh tue61t 1970 Ngài vào Bình Tuy thăm con trai thứ 9 là Phan Chí Sĩ hiện đang lập nghiệp tại đây, sau đó vào Sài Gòn thăm con gái út là Phan Thị Cam ( bà Trần Thái Chân)

    Tuổi cao sức yếu, sau hai tuần phát bệnh Ngài Phan Thiện Trì quy Tiên và ngày 4-5 Nhâm Tý Đại Đạo 47 ( thứ tư ngày 14-6-1972) tại nhà con gái ở Chánh Hưng Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi. Linh cửu quàn tại Hội Trường Thánh Thất Trung Minh.

    Tang lễ Ngài được Hội Thánh và Họ Đạo Trung Minh tổ chức trọng thể và an táng tại Ngiã trang Trung Minh ở xã Bình Hưng Hòa, Huyện Bình Chánh. Sau Hội Thánh cầu Phong Ngài lên Quyền Phố Sư.

    -----------------------o0o---------------------

    Gởi Truong Tam tiểu sử Gương Hướng Đạo Bảo Thọ Thánh Nương - Trần Doãn Cơ

    TRẦN DOÃN CƠ (BẢO THỌ THÁNH NƯƠNG)

    (1912-1944)
    Đạo Tỷ Trần Doãn Cơ tên thật là Trần Thị Tín sinh năm nhâm Tý 1912 tại làn An tráng phủ Thăng Bình tỉnh Quảng Nam, nay là xã Bình Sơn Hiệp Đức. Đạo Tỷ là con thứ hai của cụ ộng Trần Lương ( thánh danh Trần Tri Cẩn thường gọi là Thầy Kê) , Cụ Bà Trần Thị Nhã ( Thánh danh Trần Thị Mỹ) được sinh trưởng trong một gia đình nho học ở Nông Thôn.

    Năm 8 tuổi Đạo Tỷ Trần Doãn Cơ được đi học chữ Nho cùng người em kế là Trần Nguyên Chí với Thầy Huỳnh Ngọc Trác ( Thày giào Hai),được bốn năm đã đọc thông viết thạo, Thầy đặt tên là cho Đạo Tỷ là Trần Doãn Cơ,đến năm 12 tuổi nghỉ học ở nhà phụ giúp Cha Mẹ nuôi các em.Đạo Tỷ học toán rất giỏi, tính tình cởi mở dễ chịu, lanh lợi, siêng năng, đảm đang công việc nhà, nhờ ăn nói hoạt bát thuyết phục nên buôn bán cũng giỏi.

    Tuy học ít nhưng chữ ngĩa rất thông, chịu ảnh hưởng và sự giáo dục của hai Ngài Trần – Huỳnh nên Đạo Tỷ Trần Doãn Cơ nuôi chí lớn, phát nguyện độc thân dâng trọn đời mình phụng sự cho Đạo cho Đời.

    Khi học với thầy giáo Hai Đạo Tỷ nhớ nằm lòng và thực hành câu chữ trong sách Phật “ Huyền Tẩn Tịnh Độ Pháp Môn” và thầy giáo thường nhắc “ Bất bô tha nhơn vi Phụ Mẫu, thị thượng đẳng nữ lưu”. Có lần thân mẩu ép gả cho một gia đình khá giả trong lòng, nài xin từ chối không được cuối cùng Đạo Tỷ đích thân đến nhà trai khẩn thiết trình bày tâm nguyện và xin trả lễ, mãi sau gia đình mới hay.

    Năm mậu dần 1938 năm 26 tuổi Đạo Tỷ quyết Chí tu Gỉai thoát. Ngày 24-6 Mậu Dần Đại Đạo 13 ( thứ năm 21-7-1938) tất cả môn đồn Minh Sư trong đó có gia đình Đạo Tỷ đều làm lễ quy hiệp Đạo Cao Đài tại chùa Tam Gíao An Tráng ( Thánh Thất Trung An). Từ đây Đạo Tỷ Trần Doãn Cơ tu học theo Pháp Môn Cao Đài.
    Trong lúc phong trào Tân Nữ Lưu đạo đức với tổ chức “ Nữ Phái Liên Đoàn” do Đạo Tỷ Chơn Gia1c lãng đạo đang hoạt động sôi nỗi, nhận thấy đường lối chủ trương thích hợp với chí hướng mình thế là Đạo tỷ tích cự tham gia Liên Đoàn Nữ Phái, quyết xây dựng một đoàn thể nữ giới thật hung mạnh,Đạo tỷ lãnh phần sinh hoạt tài chánh cho Đoàn vói cửa hàng buôn bán ở cổng ngõ Thánh Thất Trung An.sau mấy năm dành dụm được một chút vốn liếng bị kẻ trộm lấy sạch nên Đạo Tỷ xin nghĩ về nhà.

    Những người bạn cùng học, cùng tu thân thiết với Đạo tỷ từ nhỏ ở trường Đạo Tạo Mầm Non như Đạo Tỷ Võ Thị Phi Yến đã động viên Đạo Tỷ Trần Doãn Cơ trở lại nhà tu tiếp tục lập công hành Đạo tại Thánh Thất Trung An, Đạo tỷ nguyện hiến dâng đời mình cho Đạo Pháp, cho nhơn sanh. Thực tế nhất là tới lui thăm viếng, nhắt nhở cùng nhau tu học, giúp khó trợ nghèo để cùng nương nhau trên đường tu tiến.

    Đạo tỷ sinh hoạt rất hăng say và tích cực trong Đạo sự . Chính trong thời gian tổ chức lễ Khánh Thành Thánh Thât Trung Thành và Đại Hội Long Vân Đệ Bát, Đạo tỷ góp phần tích cực cùng quý Tu Sĩ chùa Tam Gia1o An Tráng ( lúc đó chưa Quy Hiệp Cao Đài) lo việc tiếp tế ẩm thực cho quan khách và bổn đạo trong suốt cuộc lễ được hoàn thành tốt đẹp.

    Năm quý mùi 1943 ngài Hiệp Lý Trần Nguyên Chất chú ruột của Đạo Tỷ Trần Doãn Cơ đang phụ trách quản lý Nông Viện Hội Thánh bị bắt giam ở Hội An, sau đó đưa đi an trí ở Phú Bài. Được tin ngày 9-9 Giap Thân 1944 Đạo Tỷ lặn lội từ AN Tráng xuống Hội An để tiễn ông Chú đi khúc đường.

    Khi trở về qua ghe đò chợ Được làng Phước ấm xã Bình Triều Huyện Thăng Bình gặp trời mưa bão Đạo Tỷ bị cảm lạnh, vội ghé vô nhà Bà Điểm ( bạn Đạo) để tá túc. Đến giờ sử ngày mùng 10-9 giáp Thân Đại Đạo 19 ( thứ năm ngày 26-10-1944) Đạo Tỷ Trần Doãn Cơ đột ngột từ trần lúc ấy mới 32 tuổi.

    Sang ngày đưa tin về Trung An thân quyến và bổn Đạo bạn bè vô cùng thương tiếc. không ngờ một đoàn viên thanh nữ giải thoát đức hạnh giỏi giang trẻ trung tháo vát, mạnh khỏa như Đạo Tỷ lại ra đi bất ngờ như vậy.
    Đạo Tỷ được đưa về an táng tại quê nhà làn An Tráng Thánh Thất Trung An với nỗi tiếc thương đau buồn của toàn Đạo Trung An và “NỮ PHÁI LIÊN ĐOÀN”

    Sau ngày quy tiên ơn trên gián cơ phong Đạo Tỷ Trần Doãn Cơ Thiên Vị “ Bảo Thọ Thánh Nương”, lãnh đạo tinh thần cho “Nữ Đoàn Giải thoát” Đạo Tỷ thường về cơ dạy Đạo tại Trung Hưng Bửu Tòa và các nơi, nhất là dạy chị em nữ phái trong việc tu học hành Đạo.

    Hiện nay Nữ Phái Hội Thánh thành lập Dòng Tu lấy tên “ Dòng Tu Bảo Thọ” cho những chị em có chí nguyện xuất gia noi dấu người xưa

    Năm nhâm Thân 1992 Hội Thánh và Văn Phòng Nữ Phái đã cải táng phần mộ Đạo Tỷ về Nghĩa Trang Tỉnh Đạo Quảng Tín ở Kỳ Nghĩa – Tam Kỳ - Quảng Nam

    Ghi lại câu đối để tưởng niệm công đức của một bậc nữ Thánh:
    “ Trải bao năm Tam Gíao đến Cao Đài, Quyết Tâm Học Đạo lập công, gió bụi xông pha,dìu sắt chị em nơi bể tục”
    “ vừa một thuở khiếm an rồi liễu Đạo, nhẹ gót nương mây cởi hạt, móc mưa nhuần gội, thong dong ngày tháng đến non tiên”

    HQ chúc Má của TT mạnh khỏe -Phụng sự Đại Đạo! vì bất cứ lý do gì .......HQ nghĩ Má của TT sẽ tự hào về TT lắm đó!
    HTĐM chỉ đọc tham khảo! có gì sơ sót HTĐM chỉnh dùm nhen! HQ mượng chủ đề này để đăng vậy!
    cảm ơn TT trước nhen!
    Chúc cả nhà vui vẻ và ngủ ngon!
    thay đổi nội dung bởi: Hao Quang, 28-06-2011 lúc 09:41 AM
    "ai đời, ai đạo, ai tri kỷ
    nhắn gởi cho ai một chút tình"

Trang 1/4
1 2 3 ... 4

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Phước Thiện của Đức Liễu Tâm Chơn Nhơn
    Bởi Hao Quang trong mục Gặp gỡ, Giao lưu
    Replies: 2
    Có Bài Mới: 15-06-2011, 04:05 PM
  2. Tài Liệu quý: Kỷ Yếu Ban Sơ Khai Đạo - Biên soạn Nữ Đầu Sư Hương Hiếu
    Bởi TinHuuDao trong mục Bước đầu tìm hiểu Đạo
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 22-11-2010, 10:12 AM
  3. NHƠN-ĐẠO (Nhơn Đạo Và Về Vấn Đề Tình Dục)
    Bởi truonghuuduyen trong mục Bài học từ cuộc sống
    Replies: 1
    Có Bài Mới: 24-07-2010, 04:40 AM
  4. Ai tín: Nữ Chơn Nhơn Võ Thị Hoành
    Bởi Văn Kim Hương trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 11
    Có Bài Mới: 17-05-2010, 05:02 PM
  5. Ngài Hiền Nhơn Lê Tâm Chí qui vị
    Bởi Văn Kim Hương trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 6
    Có Bài Mới: 25-01-2010, 06:01 PM