+Trả Lời Chủ Đề
Trang 3/10
1 2 3 4 5 ... 10
kết quả từ 21 tới 30/ Tổng số 97

Ðề tài: Đạo quy Hội thánh Truyền Giáo và Pháp chánh truyền, Tân luật

  1. #21
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    Nguyên văn bởi Phụng Thánh
    Hiện nay, mỗi Hội Thánh đều có Hiến Chương hay Đạo Luật (nếu sai danh từ xin chỉ giáo) riêng,
    Theo thiển ý , đây là lá chắn để tiến tới Một Giáo Hội Cao Đài Duy Nhứt mà tôi có dịp đọc qua.
    Nguyên văn bởi Phụng Thánh


    Thưa Huynh Phụng Thánh,
    Huynh biết rằng Hiến chương và Đạo luật của các Hội thánh, tổ chức Cao Đài là "lá chắn để tiến tới Một Giáo hội Cao Đài Duy Nhất".
    Vậy theo Huynh, ở góc độ tín đồ, làm sao để các "lá chắn" này trở thành các nất thang để đưa nhân sanh "lên đàng" ???
    Các lá chắn được lập ra bởi các Hội thánh, nếu lấy Pháp chánh truyền và Tân luật làm nền tảng để xây dựng thì chắc hẳn các "tường rào" đó sẽ không còn tác dụng.
    Câu "phạm Pháp chánh truyền" và "đọa tam đồ bất năng thoát tục" vẫn còn đó.


    Quay lại Hiến chương 1965, chúng ta xem:

    ĐIỀU THỨ 25.- Để áp dụng Hiến Chương nầy, bản Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật và Kinh Lễ được coi là quy chế có tánh cách Nội Qui.


    Xem ra, Pháp chánh truyền và Tân luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Hội thánh này "đưa vào" chỉ dừng lại ở mức độ "Nội quy" mà thôi.
    Nếu chỉ dừng ở mức Nội quy như điều 25 đề cập thì Pháp chánh truyền và Tân luật chỉ ở mức thứ yếu (không muốn nói là dưới cả Hiến chương này); không đủ sức làm căn cứ để định đoạt một tổ chức và hoạt động của một Giáo hội Cao Đài chứ đừng nói là thống trị về mặt "đạo đức' cho cả địa cầu này.
    Hy vọng với đà tăng dân trí như ngày nay, ước chừng khoảng hơn 20 năm nữa, các chức sắc đương thời lúc này sẽ cẩn trọng hơn khi lập Hiến chương, Đạo luật, Đạo quy, v.v. nếu không muốn "phạm luật cơ bản".

    Hơn nữa, kỳ vọng vào một bản Hiến chương 1965 đã không còn hiệu lực pháp luật (như đã nói) thì khó mà định hướng cho Hội thánh Tây Ninh ngày nay trên đường bảo vệ nhân sanh.


    Kính.
    Trung ngôn.

  2. #22
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    1.137
    hienhuu's Avatar
    Chào Quí Hiền ! và Huynh TN;
    Theo hh thì nghĩa Nội-Qui nó quan trọng lắm ! Đó là Qui Điều trong Đạo Cao-Đài bắt buộc phải tuân theo. và Hiến-Chương Hội-Thánh phải được áp dụng bởi: Tân-Luật, Pháp-Chánh-Truyền, Đạo-Luật và Kinh-Lễ.
    Vậy Hiến-Chương Hội-Thánh là Phần hổ trợ cho phần Nội-Qui bắt buộc hải tuân theo.
    Tôn-Giáo nào cũng có Nội-Qui của Tôn-Giáo đó và đó là điều bắt buộc nó rất là Quan-Trọng trong Tôn-Giáo.
    Hiến-Chương chỉ là cho chánh-phủ biết mà thôi ! Dù chánh-phủ có công nhận hay không chỉ là phụ thuộc. Vì trước năm 1965 chưa làm Hiến-Chương mà chỉ có tờ Khai-Đạo với chánh-phủ mà thôi mà vẫn hành Đạo Trời khoảng 40 năm bình thường, nào có sợ gì đâu ?./. Kính

  3. #23
    Tham gia ngày
    Dec 2007
    Bài viết
    997
    Phụng Thánh's Avatar
    Kính Nhị vị TN và HH !

    Thưa Huynh Phụng Thánh,
    Huynh biết rằng Hiến chương và Đạo luật của các Hội thánh, tổ chức Cao Đài là "lá chắn để tiến tới Một Giáo hội Cao Đài Duy Nhất".
    Vậy theo Huynh, ở góc độ tín đồ, làm sao để các "lá chắn" này trở thành các nất thang để đưa nhân sanh "lên đàng" ???
    Các lá chắn được lập ra bởi các Hội thánh, nếu lấy Pháp chánh truyền và Tân luật làm nền tảng để xây dựng thì chắc hẳn các "tường rào" đó sẽ không còn tác dụng.
    Câu "phạm Pháp chánh truyền" và "đọa tam đồ bất năng thoát tục" vẫn còn đó.


    Kính thưa

    Theo tôi, những mâu thuẩn, lộn xộn hiện nay chỉ vì thời loạn pháp mà ra . Nếu không vậy là thời bình .

    Chúng ta nên nhớ Đạo Thầy không thất kỳ truyền trong một viễn trình 700 ngàn năm là nhờ cơ bút, nghĩa là chức sắc HTĐ có chức năng cầu hỏi tại Cung Đạo Đền Thánh Tây Ninh.

    ĐIỀU THỨ 8
    .-
    Hiệp Thiên Đài.
    Hiệp Thiên Đài là cơ quan lập pháp của Đạo,
    là nơi để thông công cùng Đức Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng bằng cơ bút do chức sắc Hiệp Thiên Đài phò loan để tiếp các Thánh ngôn và Luật Pháp Đạo của các Đấng Thiêng Liêng giảng dạy.
    Hội Thánh Hiệp Thiên Đài gồm các chức sắc Thiên Phong theo phẩm trật sau đây:
    1) Phẩm Hộ-Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và bảo hộ Luật Đời cùng Luật Đạo .
    2) Vị Thượng-Phẩm lo về mấy Thánh Thất và Tịnh Thất.
    3) Vị Thượng-Sanh lo về phần Đời.
    12 Vị Thời Quân thuộc 3 Chi: Pháp, Đạo, Thế đặt dưới quyền hành sự của Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm và Thượng-Sanh .(Hiến Chương 1965).


    Vậy theo Huynh, ở góc độ tín đồ, làm sao để các "lá chắn" này trở thành các nất thang để đưa nhân sanh "lên đàng" ???


    Xin thưa :

    Là tín đồ chỉ biết tuân hành Hội Thánh, vì Hội Thánh là Thánh thể của Đức Chí Tôn. Vấn đề chúng ta bàn không phải lúc. Chuyện chia rẽ (xin lỗi) Thầy than thở, đau xót đã nhiều. Theo tôi, đây là đề thi Trung Hiếu vậy thôi. Căn cứ vào chức năng của Chức sắc HTĐ (HC. 1965) thì cầu hỏi Đức Lý Giáo Tông và Hộ Pháp phân định là xong cả. Nhưng điều này hiện nay hoàn cảnh không cho phép nên đành chịu. Nhiều người vận động thực hành, không phải bây giờ mà đã có từ thuở trước, hỏi có thành đạt gì chăng ? Bỡi do phàm nhân, có bàn cải có thực hiện cũng vô ích, vì đó là tư tâm, phàm ý. Theo tôi, chỉ đơn giản vậy thôi.

    Có gì sai xin nhị Hiền chỉ giáo. Đa tạ !

    Xin mời đọc Nhìn lại 50 năm Lịch sử Đạo Cao Đài của HT. Nguyễn Long Thành, sẽ có nhiều ý hay :

    http://pandora.nla.gov.au/pan/10190/...nl50nlsdcd.htm

  4. #24
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar

    Nguyên văn bởi Phụng Thánh
    Là tín đồ chỉ biết tuân hành Hội Thánh, vì Hội Thánh là Thánh thể của Đức Chí Tôn. (1) Vấn đề chúng ta bàn không phải lúc (3). Chuyện chia rẽ (xin lỗi) Thầy than thở, đau xót đã nhiều. Theo tôi, đây là đề thi Trung Hiếu vậy thôi. Căn cứ vào chức năng của Chức sắc HTĐ (HC. 1965) thì cầu hỏi Đức Lý Giáo Tông và Hộ Pháp phân định là xong cả. Nhưng điều này hiện nay hoàn cảnh không cho phép nên đành chịu. Nhiều người vận động thực hành, không phải bây giờ mà đã có từ thuở trước, hỏi có thành đạt gì chăng ? Bỡi do phàm nhân, có bàn cải có thực hiện cũng vô ích (2), vì đó là tư tâm, phàm ý. Theo tôi, chỉ đơn giản vậy thôi.

    Có gì sai xin nhị Hiền chỉ giáo. Đa tạ !

    Thưa Huynh Phụng Thánh,
    Những nhận định của Huynh đã nêu không sai trong phạm vi Hiến chương 1965; tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay - năm 2010 - hiến chương này đã bị Hội thánh này "bãi bỏ" theo thuật ngữ pháp lý thường tình.
    Nếu cứ tiếp tục bấu víu vào Hiến chương này e rằng không phù hợp với quy luật phát triển của Đạo cũng như Đời.
    Hơn nữa. giả định rằng: Hiến chương này không thể bãi bỏ thì tiếp tục e rằng tổ chức (nhân sự, v.v.) của Hội thánh năm 1965 không còn tồn tại thì làm sao thực hiện Hiến chương 1965 này; nếu có cả 02 điều kiện trên đi nữa thì theo luật đời thì tổ chức và nhân sự của Hội thánh này chưa được đăng ký pháp nhân, con dấu cũ cũng chưa được đăng ký thì làm sao hoạt động để bảo bọc một số đông nhân sanh trong đó có Huynh Phụng Thánh ???
    Như đã nói: Luật là chuổi các văn bản có quy phạm chỉnh chu và liên tục.
    Nếu cứ tiếp tục như vậy thì vẫn là lập luận trong vòng luẩn quẩn không lối thoát.
    Ngu ý của Trung ngôn: Nếu được thì các tín đồ thỉnh cầu Hội thánh đương thời sửa đổi Hiến chương 2007 cho phù hợp với Pháp chánh truyền và Tân luật.
    Nếu Quý huynh có đủ thẩm quyền thì cũng có thể yêu cầu "bãi bỏ" hiến chương 2007, yêu cầu sử dụng Hiến chương 1965; theo đó phải lập bộ phận Thông công cho hoàn bị. Chắc hẳn việc này là quá sức với Huynh rồi.

    Nếu ở (1) là ý của Huynh và được xác nhận lại một lần nữa thì Huynh cũng nên tuân thủ theo bổn phận tín đồ.
    Nếu ở (2) cũng là ý của Huynh và không có gì để bàn luận thì chúng ta cũng dừng lại việc trao đổi về Hiến chương của Hội thánh có trụ sở tại Tây Ninh (có khá nhiều danh từ đặt tên cho Hội thánh này), bởi lẽ cũng lòng vòng quanh việc chưa đưa Pháp chánh truyền và Tân luật trở thành luật cơ bản trong các văn bản Hiến chương của Hội thánh này.
    Nếu có dịp thì chúng ta quay lại việc này như gợi ý ở (3) của Huynh.
    Thiển ý của đệ là vậy.
    Nếu có gì mích lòng thì xin lượng thứ.
    Kính.


    Trung ngôn.

  5. #25
    Tham gia ngày
    Dec 2007
    Bài viết
    997
    Phụng Thánh's Avatar
    Kính huynh Trung Ngôn

    Thưa HH , tôi lười viết lắm, nên xin trích nguyên văn bài của HT. Nguyễn Long Thành chi tiết hơn .

    TẠI SAO CHƯA QUI NHỨT ĐƯỢC
    CÁC CHI PHÁI



    A-

    Tuân hành theo Thánh ý Đức Chí Tôn đã dạy từ khi chưa lập thành quyền hành Hội Thánh qua bản Pháp Chánh Truyền rằng :
    • " Cả môn đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa còn lối nửa phần…
      Các con chớ buồn vì Thiên cơ phải vậy.
      Các con liệu phương thế nào nâng đỡ đức tin của môn đệ cao lên hằng ngày ấy là công quả đầu hết ".
      ( TNHT. TG. 7-8-1926 )
    Các bậc tiền bối trong Đạo Cao Đài đã có những cố gắng liên tục để đưa các chi phái trở về hiệp nhứt với nguồn gốc ban đầu là Tòa Thánh Tây Ninh. Thế nhưng những cố gắng ấy đã trải qua nửa thế kỷ vẫn chưa thành công trên thực tế. Tại sao ?
    Khởi đầu, một số chức sắc ở họ Đạo Cầu Kho công khai bày tỏ thái độ không tuân hành theo những nghi tiết Đại Đàn, Tiểu Đàn do Tòa Thánh Tây Ninh ban hành với lý do chờ những bậc trí thức tài giỏi hơn xem xét lại. Trước thái độ ấy Ngài Thượng Đầu Sư Lê Văn Trung trả lời :
    • " Tôi cầu khẩn ai thông minh trí thức về Tòa Thánh giúp việc đặng đem tài trí ra giúp Đạo giúp Đời. Ai còn thế sự ràng buộc thì đặng dâng ý kiến ".
    Mục đích là để giữ cho nền Đạo thuần một gốc mà thôi. Lời yêu cầu này không kết quả, phái Cầu Kho vẫn thành hình khoảng 1930.
    Kế đến ông Phối Sư Thái Ca Thanh tách rời khỏi Tòa Thánh Tây Ninh về lập quyền riêng tại Cầu Vĩ, Mỹ Tho xưng danh là Minh Chơn Lý năm 1931. Ngài Thượng Tương Thanh đang cầm quyền Thượng Chánh Phối Sư tại Tòa Thánh Tây Ninh đã viết văn thư ngày 1-11-1932 với lời lẽ thống thiết phân tích thiệt hư chơn giả của cơ bút, kêu gọi Ngài Thái Ca Thanh trở về Tòa Thánh hành Đạo.
    Nhưng trớ trêu thay, sau khi Ngài khuyên nhủ ông Phối Sư Ca như vậy thì đến lượt Ngài tách rời khỏi Tòa Thánh Tây Ninh vì những bất bình nội bộ để về Bến Tre lập ra " Ban Chỉnh Đạo " cùng với ông Lê Bá Trang. Cả hai vị trước đó là quyền Đầu sư tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ban Chỉnh Đạo tiến thêm bước nữa lập thành Hội Thánh Bến Tre và Ngài Nguyễn Ngọc Tương trở thành Giáo Tông.
    Năm 1937 chính Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang và một số vị Thời Quân ký tên phổ biến một " tờ kỉnh cáo" lập quyền riêng tại Từ Vân Tự, Phú Nhuận, Gia Định. Sau nầy khi trở về Tòa Thánh hành đạo, Ngài có giải thích rằng sở dĩ Ngài phải làm như vậy là để kềm giữ đức tin của tín đồ và chức sắc đừng bị phân hoá thêm vì mưu ly gián của Pháp vào lúc ấy ! ( ? )
    Hiện tượng phân hoá tổ chức Đạo Cao Đài thành nhiều chi phái tiếp diễn như một phong trào trên toàn quốc, trong khi tại Tòa Thánh Tây Ninh Đức Phạm Hộ Pháp dùng quyền độc tài do Đại Hội Nhơn sanh và Đại Hội Hội Thánh năm 1935, ủy thác cho Ngài hành xử để đối phó với cơn loạn Đạo rộng lớn. Thoạt đầu cơ bút chi phái đưa ra Thánh giáo giải thích rằng Đức Chí Tôn lập ra 12 chi phái, lấy con số 12 là con số huyền bí của Thầy làm điểm tựa của đức tin và coi đó là Thiên cơ, phải có đủ 12 chi phái mới hoàn tất chu trình phát triển của tổ chức Đạo Cao Đài.
    Thế nhưng lịch sử hình thành các chi phái không dừng lại ở con số 12 như người ta mong đợi mà vẫn cứ tiếp diễn đến chi thứ 13, 14,15… và cho đến năm 1966 tác giả Hoài Nhân đã liệt kê được một danh sách 35 danh xưng chi phái trong quyển " Bốn mươi năm lược sử Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ".
    Rồi đến lượt các chi phái cũng có những cố gắng hiệp nhứt vì xưa nay sự chia rẽ và nghịch lẫn dù dưới hình thức nào cũng không thể gọi là chánh lý được.
    Các danh xưng như " Cao Đài hiệp nhứt", " Cao Đài thống nhứt ", " Tổng hợp chi phái Cao Đài", " Ban vận động tổng hợp chi phái Cao Đài"… tự nó đã nói lên ý hướng đoàn kết, thống nhứt mới là chánh lý. Song đó chỉ là ý hướng, còn hành động thực tế, cuộc đại hội các chi phái Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh ngày 22-11-1972 vừa qua vẫn chưa đem lại kết quả gì đáng kể cho cơ qui nhứt. Tại sao ?
    Có hai thành lũy chưa vượt qua được nằm sẵn trong lòng người khiến công cuộc vận động các chi phái hiệp nhứt cùng nguồn cội của Đạo chưa thành công được là :
    • · - Nạn áo mão quyền hành thuộc lãnh vực nghi thức Đạo giáo. · - Nạn thần quyền đức tin thuộc lãnh vực triết lý giáo điều.
    Rải rác trong các đề mục trước đây, đều có đề cập đến những nguyên nhân gây chia rẽ từ trong lòng người tín đồ, dù giáo lý Cao Đài chủ trương qui hiệp sâu rộng trong giáo lý và hành động, nên không cần phải nhắc lại nhiều lần, chỉ tóm tắt để chánh lý hiện rõ hơn giữa một rừng lý luận tranh cãi thiệt hơn , hơn thiệt.

    1/- Về triết lý giáo điều.
    Không có sự khác biệt mấy giữa các hệ tư tưởng. Tất cả đều nhìn nhận và tin tưởng rằng con người từ một nguồn gốc sinh ra, tối linh tối diệu, tịnh thì vô ngã, động thì hữu ngã, gọi danh là Đức Chí Tôn. Đức Chí Tôn phân tánh giáng sanh thể hiện một phần cái linh của Ngài trong tinh thần của những bậc giáo chủ, bày ra các giáo thuyết khác nhau tùy theo trình độ nhơn loại ở từng thời kỳ và vùng đất khác nhau, mục đích để dìu dẫn bước đi của nhơn loại theo chiều hướng phản bổn huờn nguyên.
    Thời kỳ nầy, nhơn loại trên toàn cầu sinh hoạt thông đồng với nhau dễ dàng. Đức Chí Tôn dụng huyền linh cơ bút, tổng hợp tinh hoa các giáo thuyết ấy lại, hé lộ thêm đôi điều Thiên cơ bí ẩn lập thành giáo thuyết Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ còn gọi là Cao Đài.
    Sự khác biệt giữa các hệ phái tư tưởng là ở phương pháp tu hành, tất cả đều chủ trương hướng cuộc đời mình về nguồn gốc linh thiêng là linh hồn bất diệt để giác ngộ giải thoát. Nhưng tùy theo căn cơ tức là trình độ tấn hóa và duyên nghiệp của linh hồn từ tiền kiếp, trong kiếp nầy người thì chú trọng đến phần hạ thừa nhập thế, hành đạo trên nền tảng Thiên mệnh chi vị tính. Người thì chú trọng đến phần thượng thừa, tịnh luyện, thiền định, ẩn dật, thoát tục… Từ đó nảy sinh ra hai trường phái gọi là vô vi và phổ độ, làm biến tướng tổ chức Đạo Cao Đài vốn là một tổng hợp các hệ tư tưởng của Ngũ Chi Đại Đạo đã có từ trước, và làm sai lệch ý nghĩa của hai tiếng Phổ Độ khiến cho nó trở thành phiến diện, bị hiểu lầm như một loại sinh hoạt tuyên truyền, nặng nề âm thinh sắc tướng ở bề ngoài mà chẳng hề có đủ năng lực giải thoát ở bên trong.
    Sự hiểu lầm đó là một biểu hiện của tinh thần phục nhứt Ngũ Chi chưa nhuần nhuyễn trong lòng người, một dư âm của những va chạm ý thức từ tiền nhân lưu lại, xuất phát từ những lý luận của môn đồ các nhà luận bác từ ba dòng tư tưởng Phật, Lão và Khổng giáo mà ra. Nói khác đi. Qui nguyên Tam Giáo thì có mà phục nhứt Ngũ Chi chưa trọn nên từ sự hiểu biết triết lý như vậy, hành động bị biến tướng thành hai trường phái gọi là vô vi và phổ độ.
    Quan điểm trường phái chia cách nầy, thể hiện rõ nhứt trong bài ca tụng của cụ Trần Văn Quế viết để giới thiệu quyển kinh Đại Thừa Chơn giáo và được phụ họa thêm bởi các bài giáng cơ mà đồng tử đã diễn tả rõ ràng tinh thần đối kháng, chẳng hạn bài cầu cơ tại Thất Bửu Sơn ngày 5-5-1932 đăng nơi trang 89 quyển " Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu ", ấn bản năm1962. Xin trích một đoạn "……………..
      • Tôi tuổi nầy mà đi xem cõi hồng soi đuốc
        Dẫn nhơn sanh dắt tuốt Thiên Đình
        Công mở Đạo là tại Tỉnh Tây Ninh
        Người bởi quấy nên nhơn tình không đầu phục
        Thương tổ đình nên theo một lúc
        Hại nhơn sanh cui cút tu hành
        ………………………………………… ……….."
    Bao lâu mà trong lòng người tín đồ Cao Đài rải rác ở chi nầy, phái nọ còn có cái nhìn và sự hiểu biết triết lý Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ một cách phiến diện và rời rạc như thế thì cơ qui nhứt các chi phái Cao Đài khó thành tựu được.

    2/- Về áo mão quyền hành :
    Đã có hợp quần ắt gây sức mạnh, đã có quyền bính ắt phải có đua tranh, thuật cai trị xã hội loài người gọi là chánh trị áp dụng trong một cộng đồng tín ngưỡng vẫn đương nhiên không đi ngoài nguyên tắc ấy. Các tổ chức Đạo giáo xưa nay dù lớn hay nhỏ nói chung, tổ chức Đạo Cao Đài nói riêng một khi đã có tập hợp tín đồ lại bởi quyền năng vô hình của tinh thần, của đức tin vào một triết thuyết, vẫn cần phải có những qui định luật pháp nội bộ, để giữ bền cơ sanh hoạt của cộng đồng tín ngưỡng trong vòng trật tự điều hòa.
    Tính chất căn bản trong tinh thần con người là muốn vươn mình lên theo đủ mọi chiều hướng, cả hình chất lẫn tâm linh, nên quyền hành trong tổ chức đạo giáo một khi đã thành hình, luôn luôn là một đối tượng thu hút tinh thần con người, muốn nắm lấy như là một biểu lộ của bản ngã, một sáng tạo của linh hồn khi nhập thế. Các tu sĩ nắm quyền cai trị trong tổ chức đạo giáo tuy biết rằng quyền hành ấy chỉ là phương tiện để dìu độ nhơn sanh giác ngộ, vẫn không sao tránh khỏi bị đặt mình trong tình thế phải có tranh đua giữ lấy quyền bính phẩm tước đạo giáo.
    Trong tổ chức Đạo Cao Đài, quyền hành hữu hình cao nhất là Giáo Tông, được qui định trong Pháp Chánh Truyền chỉ có một Giáo Tông là Anh cả của toàn thể tín đồ, do Đức Chí Tôn giáng cơ phong thưởng, hoặc do toàn thể khối tín đồ công cử, lựa chọn trong số ba Chưởng Pháp, ba Đầu sư chánh vị là ứng cử viên.
    Quyền hành tối cao tối trọng ấy trong buổi đầu lập giáo Đức Chí Tôn định ban cho Ngài Ngô Văn Chiêu nhưng Ngài đã từ chối. Sau đó chơn linh Đức Lý Thái Bạch cầm quyền Nhứt Trấn oai nghiêm phải kiêm nhiệm luôn quyền hành của Giáo Tông, dùng cơ bút điều khiển công việc hữu hình của Hội Thánh.
    Ngày nào chơn linh Đức Lý Thái Bạch chưa từ nhiệm Giáo Tông thì ngôi Giáo Tông đâu có chỗ trống để một người khác lên thay thế được. Nếu các chi phái qui hiệp với nhau thành một khối duy nhất, trong đó có cả Hội Thánh tại Toà Thánh Tây Ninh là gốc, thì ngôi vị của các Giáo Tông ở chi phái phải đặt để ở vị trí nào trong Pháp Chánh Truyền cho hợp lẽ ?
    Đó là trở ngại lớn nhất về phương diện tổ chức và nó gắn liền với đức tin của tín đồ các chi phái, xưa nay vẫn đầy đủ lòng tôn kính đối với vị lãnh đạo tinh thần của mình. Qui hiệp để rồi không còn được coi là Giáo Tông nữa, về phương diện tâm lý là một sự xúc phạm đến danh dự, sự tôn kính của người lãnh đạo mà tín đồ các chi phái đã mến yêu.
    Các phẩm vị khác kế dưới cũng vậy. Con số chức sắc cầm quyền Đạo ở mỗi hàng phẩm đều có giới hạn, không thể vượt qua được vì Chí Tôn đã định ra như vậy trong Pháp Chánh Truyền.
      • 1 Giáo Tông.
        2 Chưởng Pháp.
        3 Đầu Sư.
        36 Phối Sư.
        72 Giáo Sư.
        3000 Giáo Hữu.
    Đó là những con số định mức tối đa không thể sửa đổi được. Tỉ như phẩm Đầu Sư được ấn định là ba vị, nếu tất cả các chi phái hiệp lại chung với Tòa Thánh Tây Ninh, con số chức sắc phẩm Đầu Sư sẽ nhiều hơn ba vị thì ai sẽ còn, ai sẽ mất ? Danh dự, uy tín của con người ở cõi thế nầy dù nhỏ dù lớn, ai cũng muốn mình được tôn trọng, đâu ai muốn mình bị sút giảm. Nói chung nếu cơ qui nhứt các chi phái thành hình, sẽ có tình trạng " khủng hoảng thừa" chức sắc, nhất là các hàng phẩm cao cấp và để điều chỉnh cho đủ số trong Pháp Chánh Truyền giới hạn, ai sẽ là người chịu hy sinh rút lui khỏi hệ thống Đạo quyền hay là chấp nhận bị giáng cấp ?
    Nạn thừa áo mão đi kèm với vấn đề đức tin thần quyền, danh dự của con người ít nhiều cũng có xáo trộn, sự thật trong lòng người khó nói ở điểm nầy trước hội nghị. Vì vậy mà cơ qui nhứt các chi phái đến nay vẫn còn bị trở ngại.
    Tóm lại để có một ý niệm rõ ràng hơn lý giải được phần nào những thắc mắc của lý trí con người, tại sao triết học Cao Đài hứa hẹn tổng hợp tinh hoa các giáo thuyết trong khi tổ chức Đạo Cao Đài bị phân hóa thành nhiều chi phái và cho đến nay chưa qui nhứt được, chúng ta hãy nhìn lại những biến cố lớn trên dòng tư tưởng Cao Đài giáo theo trình tự thời gian từ đầu :
    • · - Từ cuối năm 1919-1925 : là thời kỳ tiền Khai Đạo, Đức Chí Tôn dùng huyền diệu cơ bút thâu phục đức tin của nhiều người trong đó Ngài Ngô Văn Chiêu nổi bật hơn hết.
      · - Năm 1925 : phong trào cơ bút phát triển mạnh tại một số tỉnh ở miền Nam Việt Nam, nhiều nhóm phò loan thành hình.
      · - Năm 1926 :
      + Khởi sự phổ độ chúng sanh và Đức Chí Tôn có lời tiên tri rằng bây giờ các môn đệ xúm xít bên nhau trong buổi đầu tu hành sau sẽ chia cách.
      • " Gần gũi sau ra vạn dặm trường ". ( Thánh giáo 20-2-1926 )
      + Đến ngày 24-4-1926, Ngài Ngô Văn Chiêu không nhận trách nhiệm Giáo Tông Đạo Cao Đài, tách rời khỏi sinh hoạt phổ độ, chuyên chú về tịnh luyện, phái Chiếu Minh thành hình.
      + Ngày 7-8-1926 Đức Chí Tôn cho biết trước. Đại ý như sau :
      • " Hễ Đạo khai thì tà khởi….
        Thầy cho tà quái lấy danh Thầy mà cám dỗ….
        Môn đệ còn lại nửa phần, Thiên thơ phải vậy. Các con chớ buồn, thi nhiều đậu ít…."
      + 18-11-1926 , ba tháng sau khi có lời tiên tri " Đạo khai tà khởi " là một nguyên lý trong sự vận hành Đạo pháp, tà quái xung nhập vào ngay đàn cùng Lễ Khai Đạo 15-10 Bính Dần tại Từ Lâm Tự ( Chùa Gò Kén ) làm mất đức tin nhiều người.
      Cũng trong dịp Lễ Khai Đạo nầy, Đức Chí Tôn chính thức ban quyền hành cho chức sắc, lập thành Hội Thánh qua bản Pháp Chánh Truyền.
      · - 1928 : Thánh giáo Chơn Cực Lão Sư ( 18-7-1928 ) và Thánh Giáo Đức Chí Tôn (5-8-1928 ) báo cho Hội Thánh biết trước rằng nền Đạo sẽ bị phân chia chi phái vì những khuyết điểm của người hành đạo và coi việc phân chia sắp xảy ra nầy là một việc xấu.
      • "….. Đạo thế chẳng kíp thí chầy sẽ thành ra một món hàng mà mỗi người trong Đạo sau khi giành giựt cấu xé nhau thì sẽ phân chia tan tành manh mún để trò cười về sau đó…."
      · - 1930 : Phái Cầu Kho thành hình, công khai bày tỏ không tuân hành theo nghi tiết Đại và Tiểu đàn của Tòa Thánh Tây Ninh ban hành.
      · - 1931 : Phái Minh Chơn Lý ra đời.
      · - 1932 : Phái Tiên Thiên ra đời. · - 1934 : Phái Bến Tre thành hình (Ban Chỉnh Đạo )
    Và cứ thế hiện tượng chi phái tiếp diễn với những nguyên nhân xa gần đã phân tích ở các mục trước.

    B- THIÊN CƠ HAY PHÀM Ý ?

    Thiết nghĩ Thiên cơ hay phàm ý cũng chỉ là hai mặt của một vấn đề. Biết trước hiện tượng sắp xảy ra nhưng vẫn không tránh khỏi là phương diện Thiên cơ, nhìn thấy nguyên nhân phàm tục tác động nên hình sự việc là phương diện phàm ý. Thánh ý Đức Chí Tôn lập Đạo là để diệt phàm tâm nâng Thánh chất của con người. Ngài báo trước để chúng ta liệu phương sửa mình trong việc hành đạo, lại có kẻ lợi dụng lời tiên tri ấy giải thích rằng phân hóa Đạo Cao Đài thành nhiều chi phái là đúng với Thiên ý, nghĩa là ý Trời muốn có sự chia rẽ như vậy.

    Có vị Thầy nào mở trường dạy học lại muốn cho môn sinh của mình mất đoàn kết, kém thương yêu và thi rớt đâu ?
    Sao chúng ta lại gán cho Thiên ý cái nghĩa xấu như thế ?
    Khối phàm tâm tục tánh và những nghiệp chướng tiền khiên còn đọng lại trong chơn thần con người sẽ tác động nên hình, cụ thể những sự việc sắp xảy ra như thế nào Đại Từ Phụ đều thấy rõ, bởi Ngài là Đấng Thượng Đế toàn năng, toàn tri, nên Ngài báo trước gọi là " Thiên cơ phải vậy ".Ấy là nói về phương diện luật công bình của Thiêng Liêng. Đại Từ Phụ từ bi cho biết trước để người hành đạo lưu tâm tìm phương làm giảm bớt những tác hại của vấn đề.
    Đó cũng là một chút công tu của mình trong nghịch cảnh. Bởi lẽ có hai cách để các chơn linh đầu kiếp trang trải nợ nần oan trái với nhau tại cõi hữu hình nầy.
    • · - Một là lấy công quả phụng sự vạn linh tiêu trừ nghiệp chướng. · - Hai là phải chịu khảo dượt và phải giữ vững tinh thần của mình trong sáng trước nghịch cảnh trái ngang trên bước đường tu.
    Thiên ý Đức Chí Tôn khi mở Đạo là Ngài luôn luôn muốn con cái của Ngài phải thương yêu đoàn kết với nhau, anh trước em sau mà dắt nhau đến nơi Bồng Đảo, nghĩa là tạo nên hình một khối Thánh chất. Còn mặt luật công bình của Thiêng Liêng, cơ vay trả của các linh hồn khi xuống thế, gặp nhau trong cửa Đạo Cao Đài nầy, buộc phải có nghịch cảnh biến sanh ra từ nơi lòng phàm tục của con người là nguyên nhân tạo nên hình thể rạn nứt của Hội Thánh di đến chia phe phân phái nghịch lẫn nhau gọi là "Thiên cơ phải vậy ".
    Mọi sự hiểu lầm về ngôn ngữ trong Thánh Ngôn đều gây tác hại không ít cho nền chánh giáo của Đức Chí Tôn, người cầm bút viết sử Đạo hay nhà truyền giáo không khéo thay vì lập nên công nghiệp hữu ích cho cơ tấn hóa của nhơn sanh lại giúp tay cho tà thần mở lối.
    Nói vắn tắt, Thiên ý là phương diện tốt của vấn đề, còn khía cạnh xấu như mất đoàn kêát, kém thương yêu, chia rẽ, phân hóa nội bộ… là do phàm ý con người gây ra dù ở một hình thức tinh vi như tự kỷ ám thị của đồng tử đã để cho ý người xen vào trong Thánh giáo của Thần Thánh cũng coi là phàm ý. Nhìn lại 50 năm lịch sử Đạo, với những nguyên nhân xa gần đã phân tích, hiện tượng phân chia chi phái Đạo Cao Đài là một việc tất nhiên, khó tránh được. Điều cần làm bây giờ là phải tìm phương tom góp lại theo lời dạy của Đức Chơn Cực lão sư ngày 18- 7- 1928 được bao nhiêu nên bấy nhiêu. Đó là ý hướng chính đáng trên đường phổ độ chúng sanh./.

  6. #26
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    Thưa Quý huynh tỷ,
    1. Xin huynh Phụng Thánh vui lòng cho biết bài đăng tải trên là của Hội thánh nào hay là của Người có tên Nguyễn Long Thành ???
    Nếu là của người có tên Nguyễn Long Thành thì thật sự có khá nhiều trên phương tiện truyền thông. Các bài viết có nội dung tương tự một cách vô tình làm cho người đọc có một sức ỳ tâm lý ở mặt tiêu cực nhiều hơn là tích cực.
    Nếu Huynh tìm kiếm được bài nào đó bình luận, xã luận cũng được hay v.v. có nội dung rằng: "Hãy làm gì để quy nhất" thì có lẽ sẽ hay hơn cho các độc giả tại diễn đàn trong hướng tích cực tìm kiếm điểm chung trong quá trình hòa hợp.
    Ví dụ: Diễn đàn là điểm cho cho Huynh đệ chúng ta cùng học hỏi.
    Kính Huynh Phụng Thánh.

    2. Xin tiếp tục Đạo quy 2007 của HTTG Cao Đài.
    Điểm a, Khoản 1, Điều 16 của đạo quy ghi nhận:
    1 Thành phần:
    a) Chức sắc Cửu trùng đài từ Quyền Giáo hữu nam trở lên, Chức sắc Hiệp thiên đài từ Luật sự trở lên làm nghị viên.


    Xem ra, thành phần của Hội Hội thánh cũng giống như thành phần của Hội Thượng hội khi tham gia hành pháp lại có chức sắc Hiệp thiên đài.

    Vẫn câu hỏi cũ còn bỏ ngõ: Ai sẽ tham gia bảo pháp trong trường hợp này ???

    Có phải chăng lịch sử đã để lại nếp suy nghĩ này trong hàng ngũ chức sắc Hiệp thiên đài luôn luôn có mặt tại Bộ phận hành pháp ??? Trong khi đó, chức năng của Chức sắc Hiệp thiên đài đã được ghi nhận khá chi tiết trong Pháp chánh truyền Hiệp thiên đài.


    Theo Pháp chánh truyền thì ở Thượng hội đã có 3 vị Chưởng pháp là giáo phẩm Cửu trùng đài làm chức năng Bảo pháp hành chánh ở Hội này.


    Thánh truyền Trung hưng cũng đã quy định quy định 4 Cơ quan; trong đó có Cơ quan minh tra làm chức năng bảo pháp hành chánh ở Hội Hội thánh.
    Một chức năng bảo pháp hành chánh độc lập với Hiệp thiên đài (cho dù nhân sự có thể là chức sắc Hiệp thiên đài và buộc phải độc lập khi hành chánh).
    Cần phân biệt chức năng và nhiệm vụ của Hiệp thiên đài và Minh tra trong 4 cơ quan; tránh hiểu nhầm hoặc hiểu sai khái niệm và cả việc đánh tráo khái niệm để can thiệp, dẫm chân khi thực hiện chức năng của mình.
    Việc đưa chức sắc Hiệp thiên đài vào thành phần của Hội thánh e rằng không phù hợp.
    Kính.
    Trung ngôn.

  7. #27
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    1.137
    hienhuu's Avatar
    Chào Quí Hiền ! Huynh TN vừa đưa ra hướng tích cực như :
    "Hãy làm gì để quy nhất"
    Thì thử hỏi Huynh TN ? huynh chịu Hiến-Chương nào đã có sự Qui-nhứt hay là Đạo-Qui nào đã có sự Qui-Nhứt ? thí dụ như trong năm 2007 thì có Hiến-Chương của Cao-Đài Tây-Ninh hay là Đạo-Qui 2007 của HTTG hay là có nhiều cái khác nữa... Vậy huynh chọn cái nào theo hướng tích cực hiện nay ? và mọi người đều theo y hệt như cái mà huynh đã chọn thì đó mới có qui nhứt được ?
    Còn riêng hh thì vẫn là Hiến-Chương Hội-Thánh vì nó có Chương về Thống Nhất tức là các chi-phái đều qui về một mối Đạo-Trời và chấp nhận Chương Thống-Nhất và trong Hiến-Chương nầy lúc nào cũng có thông qua Cơ-Bút tại cung Đạo Đền-Thánh . Lý do là Thầy không chịu giao Chánh-Giáo cho tay phàm tức là làm cái gì thì cũng phải thông qua Thầy hay là Đức Lý Giáo-Tông và Đức Hộ-Pháp thì mới là Chánh-Giáo bằng không thì Phàm-Giáo noi chước Thiên-Cung mà lập thành Quỉ-Vị mà Thầy đã từng nói trong Thánh-Ngôn./. Kính

  8. #28
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    Nguyên văn bởi hienhuu
    Chào Quí Hiền ! Huynh TN vừa đưa ra hướng tích cực như :
    "Hãy làm gì để quy nhất"
    Thì thử hỏi Huynh TN ? huynh chịu Hiến-Chương nào đã có sự Qui-nhứt hay là Đạo-Qui nào đã có sự Qui-Nhứt ? thí dụ như trong năm 2007 thì có Hiến-Chương của Cao-Đài Tây-Ninh hay là Đạo-Qui 2007 của HTTG hay là có nhiều cái khác nữa... Vậy huynh chọn cái nào theo hướng tích cực hiện nay ? và mọi người đều theo y hệt như cái mà huynh đã chọn thì đó mới có qui nhứt được ?


    Thưa Quý huynh tỷ,

    - Cám ơn Huynh hienhuu đã đặt câu hỏi rất hay trong quá trình trao đổi tại diễn đàn này.

    Đạo đệ sinh ra ở nơi mà không có sự lựa chọn nào khác về Hiến chương hay Đạo quy của Hội thánh A, B, C nào đó.
    Vấn đề Huynh hỏi ở trên dường như có một lần Huynh Đạt Tường đã đề cập, đó là hiện nay không thể theo hướng "minh chủ" là dựa trên một Hội thánh A, B, C đang tồn tại để thực hiện việc quy nhất!!!
    Như Huynh đề nghị, có chăng nếu được lựa chọn thì đạo đệ sẽ chọn Hội thánh được Thầy lập tại thời điểm Tân luật được duyệt đến trước năm 1934 (Ôi, tuyệt vời làm sao!!!).
    Nếu các Hội thánh đều xây dựng Hiến chương, Đạo quy, Đạo luật, v.v. đều lấy Pháp chánh truyền và Tân luật làm nền tảng xây dựng thì chắc hẳn sẽ có rất nhiều điểm chung trên con đường quy nhất.
    Như đã phân tích thì mới có 2 Hội thánh thì đã có 2/2 Hội thánh có Hiến chương, Đạo quy chưa phù hợp với Pháp chánh truyền và Tân luật.
    Nếu có điều kiện thì Huynh tìm hiểu thêm về các Hội thánh còn lại trong việc lập Hiến chương thì sẽ thấy rõ hơn.

    Từ các điểm chung cơ bản đó, bắt đầu thực hiện các công việc như đã có lần nêu tại "Phương án 5" được đăng tại diễn đàn này.

    Việc làm dễ dàng nhất hiện nay của người tín đồ là "sám hối và cầu nguyện" theo lời của bài kính "Ngọc Hoàng Bửu Cáo" là "Tích phước, hựu tội"; công việc tưởng chừng đơn giản nhưng thật sự khó nếu làm đều đặn và kéo dài. Ai đọc kinh mỗi ngày sẽ cầu lý được điểm này.
    Nghiệp nhân sanh còn khá nặng nên Quý Chức sắc khó có thể chèo chống nổi.

    - Về quan điểm của Huynh vẫn giữ nguyên đối với Hiến chương 1965 thì cũng không sao bởi không ai cấm cả. Tuy nhiên, chỉ ở góc độ cá nhân tín đồ mà thôi. Nếu Huynh đang là chức sắc của Hội thánh này thì không thể bảo lưu đối với hiến chương 1965, bởi lẽ Hội thánh không thể lấy Hiến chương 1965 để làm căn cứ cầu phong giáo phẩm hay quyết định bổ nhiệm đối với giáo quyền của Huynh được mà chỉ lấy căn cứ là Hiến chương 2007.

    Tiến thoái lưỡng nan.
    Nếu đã có kinh nghiệm hành chánh đạo từ cấp Thánh thất trở lên sẽ dễ dàng trong việc trao đổi.

    - Xin vui lòng đọc lại Thánh ngôn Hiệp tuyển nhiều lần hơn nữa để biết rằng Hội thánh Đại đạo Tam kỳ Phổ độ do Thầy lập để từ đó có Pháp chánh truyền và Tân luật mà cơ bút không được ghi nhận tại một nơi có tên "Cung đạo Đền thánh ". Và cũng xin đọc lại sử đạo ở bất kỳ nơi nào để biết "Cung đạo" được lập từ lúc nào để tránh việc lòng vòng.


    - Xin được: Không tiếp tục trao đổi về Hiến chương 2007, 1965, v.v của Hội thánh có Giáo sở trung ương đặt tại Tòa thánh Tây Ninh.


    Kính Huynh hienhuu va Huynh Phụng Thánh.

    Trung ngôn.

  9. #29
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    1.137
    hienhuu's Avatar
    Kính Huynh TN ! Huynh nói :
    - Xin được: Không tiếp tục trao đổi về Hiến chương 2007, 1965, v.v của Hội thánh có Giáo sở trung ương đặt tại Tòa thánh Tây Ninh.
    Vậy thì không trao đổi về phần Hiến-Chương ! ?
    Theo sự hiểu hh thì Đạo Cao-Đài do đâu mà có ? là do Cơ-Bút của Thầy và những Đồng-Tử mà ra.
    Rồi sau đó Chúa Quỉ cũng biết Thầy dùng Huyền-Diệu Cơ-Bút để mở Đạo Cao-Đài, thì Người cũng dùng Huyền-Diệu nầy mà mượn danh Cao-Đài nơi nầy, nơi kia mà thâu nhận đệ tử.
    Chính vì thế mà Thầy mới lịnh ngưng Cơ-Bút Phổ-Độ các nơi để tránh nhầm lẫn với Cơ-Bút của Người với Cơ-Bút tại Cung-Đạo Đền-Thánh.
    Khi chưa tạo lập xong Đền-Thánh thì Thánh-Giáo lẫn-lộn vì Cơ-Bút tự do ở khắp nơi và Hội-Thánh mới Hiệp-Tuyển lại Thánh-Giáo nào là Chơn-Lý thì chọn lại mà dùng tức lúc đó không có cầu tại Cung-Đạo vì chưa tạo xong Đền-Thánh và Đồng Tử thì rất là nhiều vì chưa qui định, nhưng khi qui định đủ số rồi và khi lập Đền-Thánh xong thì Cung-Đạo là tuyệt đối vì Thầy nói duy Ngai Ta nó không dám ngồi mà thôi ! để cho tín-đồ Cao-Đài dễ nhận biết cái nào Chơn và cái nào là Giả.
    Cho nên đến trong năm 1976 thì những Đồng Tử tại Đền-Thánh Tây-Ninh còn cầu Cơ-Bút thì bị lịnh của Chúa Quỉ dùng tà quyền bắt đi không cho cầu cơ hay chấp bút gì nữa. Nên giai-đoạn nầy đành chịu gián-đoạn Cơ-Bút.
    Vậy chừng nào có Cơ-Bút tại Cung-Đạo Đền-Thánh trở lại thì Thầy sẽ đến dạy nữa còn bằng không thì cứ tạm thời làm theo phàm-giáo bằng cách noi chước Thiên-Cung . Vì Thầy có Tam Thập Lục Thiên để so với 36 Vị Chức-Sắc của Thầy do Cơ-Bút chấp-thuận. Thì Chúa Quỉ cũng có Tam-Thập Lục Động để so với 36 Vị Chức-Sắc do con người chấp-thuận./. Kính

  10. #30
    Tham gia ngày
    Dec 2007
    Bài viết
    997
    Phụng Thánh's Avatar
    - Xin được: Không tiếp tục trao đổi về Hiến chương 2007, 1965, v.v của Hội thánh có Giáo sở trung ương đặt tại Tòa thánh Tây Ninh.

    Kính HH Trung Ngôn

    Khi viết câu trên TN có nổi nóng không vậy ? Nếu có, tôi xin lỗi !

    Tôi khẳng định lần cuối cùng KHÔNG BAO GIỜ ĐẠO CAO ĐÀI CÓ MỘT HỘI THÁNH DUY NHỨT .

    Chấm hết !!!

Trang 3/10
1 2 3 4 5 ... 10

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Quyền lập luật trong Pháp chánh truyền
    Bởi Trung ngôn trong mục Đề tài thảo luận
    Replies: 5
    Có Bài Mới: 30-12-2015, 10:22 AM
  2. Vài Cảm Nghĩ Về TÂN LUẬT PHÁP CHÁNH TRUYỀN
    Bởi thanhphong12011 trong mục Bước đầu tìm hiểu Đạo
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 05-08-2013, 08:28 PM
  3. Pháp chánh truyền và việc thực thi
    Bởi QuanTriVien1 trong mục Đề tài thảo luận
    Replies: 58
    Có Bài Mới: 06-06-2013, 12:26 PM
  4. Pháp chánh truyền chú giải và các quả địa cầu.
    Bởi Trung ngôn trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 8
    Có Bài Mới: 19-04-2013, 09:00 AM