+Trả Lời Chủ Đề
Trang 1/2
1 2
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 20

Ðề tài: địa cầu 67 qua thể pháp.

  1. #1
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209


    ĐỊA CẦU 67 QUA THỂ PHÁP.
    “Địa cầu trong địa cầu”
    “Địa cầu 67: ý thức & địa điểm”
    “Chung & Riêng”.

    ĐĐTKPĐ có thể pháp và bí pháp.

    Thể pháp là phần hữu hình nhìn thấy được như: một văn bản, một nghi thức, một cách thức bố trí, một cách sắp xếp trong tôn giáo, một công trình kiến trúc theo bộ phận hay tổng thể ....

    Bí pháp là phần ý nghĩa hay thông điệp ẩn tàng trong thể pháp.
    Bí pháp là phần tìm hiểu, vạch ra chương trình, đề ra kế hoạch để thực thi. Nên nó tùy theo tài nguyên, môi trường (khoa học kỷ thuật, phương tiện, nhân sự) của Đạo hay Đời mà ứng hiện.

    Thể pháp là đất đứng mà bí pháp là đôi mắt, là trí huệ... hướng đến cái chơn pháp của Thầy là công bình, bác ái đến vô tận không có một sự giới hạn nào như trời xanh bao la kia vậy.
    Trong tầm mắt của con người hay trong hội họa....thì có đường chân trời. Nhưng trên thực tế không ai có thể đi đến được đường chân trời. Con người tiến lên thì đường chân trời lùi lại và chúng ta lại đối diện với đường chân trời mới với khoảng không vô tận mới dù rằng đã tiến....

    Bí pháp là một ước định như đường chân trời kia vậy, nhân sự ĐĐTKPĐ có khám phá ra được tầng nầy của bí pháp thì lập tức có tầng mới phát sinh dành cho thế hệ mai sau những công án mới...cứ thế mà luân chuyển hóa sanh cho hết chu kỳ thất ức niên.... .
    Mảnh đất ta đứng là phương tiện, đôi mắt, tâm hồn ta hướng tới là cứu cánh cũng như thể pháp là phương tiện mà bí pháp là cứu cánh.

    Nhìn lại lịch sử tôn giáo thì nhứt kỳ và nhị kỳ đi theo nguyên lý: Nhứt bản tán vạn thù và đạo đi từ vô vi đến hữu hình [Đạo từ một gốc sinh ra rất nhiều (Một cội sanh ba nhánh in nhau) và các vị giáo chủ (của tam giáo) lúc tại thế không vị nào có danh hiệu giáo chủ (vô vi). Khi các vị tạ thế thì các đệ tử mới tôn vinh là giáo chủ (hữu hình)]. Do vậy mà các tôn giáo thời đó không có thể pháp. Thầy khai đạo thì Phật Giáo trước, Tiên Giáo kế và Nho giáo là chót. (1)

    ĐĐTKPĐ do Thầy làm chủ, Thầy quyết định phản tiền vi hậu nên đi theo nguyên lý: Vạn thù qui nhứt bản và đạo đi từ hữu hình đến vô vi. [từ cái rất nhiều trở về cái một (Thâu các đạo hữu hình làm một), đạo đi từ cái nhìn thấy được (...Đạo tức là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà qui hồi cựu vị. Đạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi...) tiến lần đến vô vi (Đạo hư vô sư hư vô)].
    Thầy qui nhứt tam giáo thì: Nho là trước, Lão là giữa, Thích là chót.
    Do vậy mà đến ĐĐTKPĐ mới có thể pháp (hữu hình).
    Từ thể pháp mới có căn cứ để tìm về bí pháp (vô vi).

    Bài viết có mục đích tìm hiểu địa cầu 67 qua thể pháp nên chúng tôi xin phép trình bày thể pháp qua kiến trúc trước. Chúng tôi đi lần từ đơn sơ, riêng lẽ đến sự kết hợp tinh vi của Hội Thánh ĐĐTKPĐ bố trí qua kiến trúc và kinh văn....

    1/- THỂ PHÁP QUA KIẾN TRÚC.

    1.1/- Thầy dạy mở thể pháp trước bí pháp sau:

    Đức Hộ Pháp kể rằng khi vâng lịnh Đức Chí Tôn mở đạo Thầy mới hỏi: Mở thể pháp trước hay bí pháp trước?

    Đức Ngài trả lời: Mở bí pháp trước.

    Thầy dạy: Mở bí pháp trước thiên hạ sẽ giành giựt và làm hư bí pháp. Vậy nên phải mở thể pháp trước.

    Điều nầy nhất quán với nguyên lý của ĐĐTKPĐ là đi từ hữu hình đến vô vi.

    Thể pháp là hữu hình. Bí pháp là vô vi.

    Hậu tấn học đạo căn cứ vào thể pháp mà tìm hiểu về bí pháp.

    Thể pháp đã ra đời (như một văn bản, một công trình kiến trúc...) nếu chẳng may có bị sửa đổi ắt cũng có người phát hiện và chứng minh cụ thể để phục hồi thể pháp lại như thuở ban sơ.

    Thể pháp là hữu hình do người phàm lập ra thì đương nhiên cũng có thể có sơ sót. ĐĐTKPĐ thực thi dân chủ mục (là nhìn thấy được), tự do quyền (không phải xin cho) nên bất cứ ai có phát hiện sơ sót chi thì có quyền đệ trình ra cho môn đệ Thầy cùng xem xét và quyết định qua 03 Hội Lập Quyền Vạn Linh.

    Ngoại trừ 15 vị có dây sắc lịnh theo PCT chú giải với uy quyền đặc biệt được Thầy ban cho khi hành chánh; còn lại bất cứ phẩm vị nào trong ĐĐTKPĐ tự ý chỉnh đốn (không thông qua 03 Hội Lập Quyền) là bất hợp pháp. ĐĐTKPĐ dạy môn sinh theo Đạo chớ không có theo người là như vậy.

    Đức Hộ Pháp dạy rõ: mổi kiến trúc trong ĐĐTKPĐ đều ần tàng bí pháp trong đó. Chỉ một chi tiết nhỏ đã tạo nên sự khác biệt. Đó là một trong những ý nghĩa của thể pháp.

    1.2/- Cửa Hòa Viện (cửa số 01).

    Cửa Hòa Viện nằm trên Lộ Bình Dương Đạo.
    Hai bên có bố trí 02 căn nhà nhỏ. (2)
    Căn nhà nhỏ ở hướng Tây có trống báo giờ cho cả Nội Ô.
    Trống báo giờ ở đây khởi trước rồi trống báo giờ ở Báo Ân Từ mới được khởi sau.
    Nóc cả hai căn nhà đều có bố trí đồng hồ bằng xi măng để làm mốc định thời gian cho Đông bán cầu và Tây bán cầu theo lịch của ĐĐTKPĐ.

    Con đường cắt ngang Lộ Bình Dương Đạo theo nhà biên khảo Huỳnh Minh trong quyển Tây Ninh xưa và nay thì khi xưa có tên có CON ĐƯỜNG SỨ. Đó là đường của sứ thần nước Cao Miên và Xiêm La đi tấn cống cho triều đình nhà Nguyễn ở Huế. Sau đổi thành Liên Tỉnh Lộ 13. Nay là Đường Cách Mạng Tháng 8.

    Đây là cửa đi vào mặt tiền Đền Thánh gần nhất. Khi đi ra hay vào Nội Ô Tòa Thánh bằng cửa Hòa Viện là đi theo trục Bắc Nam.

    Cung hàng rào Hướng Đông có bố trí 06 bông sen.

    Cung hàng rào Hướng Tây có bố trí 07 bông sen.

    Mặt trời mọc ở hướng Đông và lặn ở hướng Tây nên đọc theo thứ tự trước sau ta được số 67.

    &&&
    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186

    (Còn tiếp... Cửa số 02....)

  2. #2
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209

    1.3/- Cửa số 02.

    a/- NGHI VẤN VỀ CỬA SỐ 2.

    Ngày nay chúng ta thấy cửa số 02 ghi là năm 1926.
    Nhưng một số vị lão thành sống ở Thánh Địa xác định với chúng tôi là trước kia ghi năm 1925.

    Ông Hiền là một tín đồ ĐĐTKPĐ về dự khóa học về Đại Đạo Thanh Niên Hội vào tháng 06 năm 1970 trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh. Ông Hiền thấy cổng đề năm 1925 và có cửa số 05 thì lấy làm lạ và có làm TỜ THỈNH GIÁO gởi đến Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức lúc đó là Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh.
    Ngài Hiến Pháp đem Tờ Thỉnh Giáo ra đọc trước lớp và giải thích. Cửa số 05 là sai nên cho xây bít lại.

    Còn việc cửa số 02 ghi năm 1925 là do ý Đức Hộ Pháp Ngài không biết được vì lúc đó Ngài chưa về Tòa Thánh hành đạo. Có lẽ Đức Hộ Pháp ghi năm 1925 là ghi năm Thầy đến dạy Đạo... Qua nghĩ vậy nghĩ vậy... nhưng khuyên mấy em để tâm tìm hiểu thêm ....
    Hiện giờ Hội Thánh ĐĐTKPĐ không cầm quyền hành chánh.
    Hội Thánh ĐĐTKPĐ (CĐTTTN) đang cầm quyền hành chánh trong Nội Ô nên chúng tôi không có cách chi làm rõ được.
    Hẳn nhiên khi Hội Thánh ĐĐTKPĐ cầm quyền hành chánh trở lại thì việc nầy sẽ được đem ra thảo luận công khai và chỉ cần có một tấm ảnh chụp trước năm 1975 thì việc ghi năm 1925 hay 1926 sẽ sáng tỏ.
    &&&

    Dù ghi năm 1925 hay 1926 thì cũng THỂ HIỆN cửa số 02 không ghi năm tạo lập cổng số 02. Đây là điều khác biệt so với các cổng khác.

    Do vậy đứng ở góc độ tìm hiểu về địa cầu 67 qua thể pháp chúng tôi thấy cho dù ghi năm 1925 hay 1926 cũng vẫn phù hợp ở chổ CÁCH GHI NĂM tại cửa số 02 đánh dấu một sự kiện khác, một ý nghĩa khác chớ không đơn thuần là ghi năm lập cửa.

    Bởi lẽ đến năm 1927 Hội Thánh ĐĐTKPĐ mới tìm ra cuộc đất xây dựng Tòa Thánh hiện nay.
    Chúng tôi chọn năm 1925 trong khi chờ xác định bởi vì chúng tôi được biết chuyện cửa số 02 ghi năm 1925 khoản 15 năm về trước. Khi ấy chúng tôi chẳng có ý niệm gì... rất vô tư lự.
    Đến khi tìm hiểu để về địa cầu 67 qua thể pháp thì chi tiết ấy sống lại trong ký ức. Chúng tôi không cho đó là sự tình cờ....nên chọn vậy.
    Cho dù chi tiết về năm 1925 có sai đi nữa thì phần trình bày còn lại vẫn có đầy đủ giá trị. Chúng tôi không vì sự an toàn của bài viết mà chấp nhận năm 1926 như hiện thấy.
    Đó là con đường mà người tìm hiểu phải chấp nhận để tiến bộ.

    b/- CHỌN NĂM 1925.

    Theo chúng tôi biết thì đây là một trong những cửa được nên hình trước trong số các cửa ở Nội Ô Tòa Thánh.
    . Nếu như cửa Hòa viện bố trí 06 bông sen và 07 bông sen để ta được số 67 thì cánh cung nối cổng với tường rào cửa số 02 mổi bên đều có 03 bông sen.
    Người có học kinh dịch đều biết câu thiệu: Càn tam liên.
    Ngày xưa với cách viết chữ tượng hình chữ liên trong câu trên thể hiện quẻ Càn có 03 vạch liền nhau. Ngày nay tiếng An Nam được thể hiện bằng chữ quốc ngữ là loại chữ ký âm. Khi đọc chữ liên thì nó có rất nhiều nghĩa, không cố định như chữ tượng hình. Chữ liên cũng có nghĩa là hoa sen. Hiểu chữ liên là hoa sen được thì cũng hiểu quẻ Càn tượng bằng 03 bông sen. Như vậy cửa số 02 với mổi bên 03 bông sen chúng tôi thiễn nghĩ thể hiện cho quẻ Bát Thuần Càn cũng là hợp lý.

    . Phần hai cổng nhỏ dùng để ra vô hằng ngày bên trên bố trí một nữa mặt trời. Từ nữa vầng mặt trời mổi bên đều có 09 tia sáng phát ra.

    . Cửa số 02 không ghi năm xây dựng như các cửa khác mà ghi năm theo MỘT Ý NGHĨA KHÁC để tạo nên thể pháp đặc trưng.
    Cửa số 02 đề là 1925.

    Đọc Đạo Sử chúng ta thấy ngày tổ chức LỄ KHAI ĐẠO tại chùa Gò Kén là 15-10- Bính Dần (19-11-1926). Sau Lễ Khai Đạo Hội Thánh ĐĐTKPĐ mới tìm đất xây dựng Đền Thánh.
    Ngày 23-01- Đinh Mão (24-02-1927) Hội Thánh ĐĐTKPĐ mới tìm được đất xây dựng Tòa Thánh hiện nay.
    Nếu xét về thời gian thành lập thì năm 1925 chưa có LỄ KHAI ĐẠO. Chưa tìm ra cuộc đất để xây dựng Tòa Thánh. Tại cổng số 02 chỉ là rừng thuộc quyền sở hữu của ông kiểm lâm người Pháp tên Aspar.
    Vậy thì tại sao Hội Thánh ĐĐTKPĐ lại cho đề năm 1925.
    Đây là sự nhầm lẫn hay cố ý đề vậy? Chúng tôi cho rằng đây là sự cố ý đề như thế. Hoàn toàn không có sự nhầm lẫn nào hết. Đề như thế để tạo ra một thể pháp cho hậu tấn tìm hiểu.
    &&&
    1.4/- Quan sát các cửa còn lại.
    Phần các cửa còn lại trong Nội Ô Tòa Thánh chúng tôi thấy:
    . Cửa Chánh Môn lập năm 1969 cũng bố trí bông sen nhưng không như cửa Hòa Viện.
    . Một số cửa khác cũng ghi năm tạo lập cửa và bố trí bông sen nhưng không cửa nào bố trí như cửa Hòa Viện. Các cửa theo mẫu chung là cửa chính ở giữa hai bên có cửa phụ đề chữ RA hay VÔ chung cho mọi người, không phân biệt cửa dành riêng cho Nam hay Nữ.
    . Phần lớn các cửa đều có bố trí một nữa vầng thái dương ở bên trên 02 cửa phụ. Nó giống như cảnh mặt trời mọc chưa đầy đủ hay lặn chưa hết hằng ngày vậy. Điều đó có thể hiện cho một Tiểu Thiên Địa riêng biệt của ĐĐTKPĐ hay không?
    Chúng ta đang đi tìm câu trả lời.
    &&&

    1.5/- Kết hợp cửa Hòa Viện và cửa số 02.

    Tại sao chọn cửa Hòa Viện và Cửa số 02?
    Chọn cửa Hòa Viện (số 01) vì là cửa khởi đầu cho 12 cửa, khởi đầu tên gọi cho 12 cửa theo chiều Bát Quái Đồ Thiên. Các cửa khác có bố trí bông sen nhưng không cửa nào giống như cửa Hòa Viện.

    Đi từ ngoài vào bên trái có 06 bông sen và bên phải có 07 bông sen. Bên ngoài là địa cầu 68 bước vào Nội ô Tòa Thánh là bước vào tiểu thiên địa của Thầy lập, một địa cầu khác là địa cầu 67.

    Chọn cửa số 02 vì đó là cửa duy nhất trong các cửa không ghi năm xây dựng cửa mà ghi năm theo một Ý NGHĨA KHÁC. Hai cửa nầy liền lạc nhau theo chiều Bát Quái Đồ Thiên.

    Cửa số 02 không ghi năm tạo lập cửa mà ghi năm 1925 là năm Thầy thâu nhận đệ tử để mở ĐĐTKPĐ có những sự kiện quan trọng như:
    . Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu tiên trong ĐĐTKPĐ: 15-8 -Ất Sửu (dl. 01-09-1925).
    . Đức Chí Tôn đến với danh xưng” A.Ă.Â. Ngày 03-09-Ất Sửu (20-10-1925).
    . Lễ Vọng Thiên Cầu Đạo: Ngày 01-11-Ất Sửu (16-12-1925).
    &&&

    Như vậy ghép cửa Hòa Viện (01) và cửa số 02 lại ta được gì?

    Số 1&2 ghép lại là số 12. Số 12 là số riêng của Đức Chí Tôn. Nhơn loại dù Nam hay Nữ cũng nằm trong 12 con giáp hàm ý rằng ĐĐTKĐ là mối đạo chung cho nhân loại.

    Cửa Hòa Viện (01) ta được số 67.

    Cửa số 02 ta được số 1925. Được quẻ Bát Thuần Càn.

    Các chi tiết số 12, số 67, năm 1925... là chỉ dấu thể hiện rằng Đức Chí Tôn đem địa cầu 67 đến cho nhân loại từ năm 1925....

    Đó là phần căn cơ, là định hướng quan trọng nhưng chỉ là một phần. Muốn sáng tỏ hơn chúng ta phải trình ra tất cả những gì liên quan đến địa cầu 67 trong ĐĐTKPĐ ra trước công luận.
    &&&


    &&&
    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186

    (Còn tiếp... TÌM HIỂU TỪ: Pháp Chánh Truyền, Tân Luật và Pháp Chánh Truyền chú giải.....)


  3. #3
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209



    2/- TÌM HIỂU TỪ: Pháp Chánh Truyền, Tân Luật và Pháp Chánh Truyền chú giải.
    Nói cho cụ thể là phần của Giáo Tông liên quan đến Thất Thập Nhị Địa hay Lục Thập Thất Địa Cầu.

    2.1/- Pháp Chánh Truyền nguyên văn.

    a/- Từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
    Giáo Tông là Anh Cả các con, có quyền thay mặt Thầy mà dìu dắt các con trong đường Ðạo và đường Ðời. Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn. Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Ðịa Giới đặng cầu rỗi cho các con, nghe à! Chư Môn Ðệ tuân mạng.

    b/- Từ Đạo Sử.
    Thầy lập phẩm Giáo Tông nghĩa là: Anh Cả các con có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu dắt các con trong đường Ðạo và đường Ðời.
    Thầy mừng các con, Chư Môn Ðệ nghe.
    Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn.
    Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Ðịa Giới đặng cầu rỗi cho các con, nghe à.
    Chư Môn Ðệ tuân mạng.

    2.2/- Từ Tân Luật.
    ĐẠO PHÁP. Chương I. Điều thứ nhứt.
    Trên hết có một phẩm Giáo Tông là Anh Cả, có quyền thay mặt Thầy mà dìu dắt cả tín đồ trong đường Ðạo và đường Ðời. Đức Giáo Tong có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn.
    Đức Giáo Tông đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Ðịa Giới đặng cầu rỗi cho cả tín đồ.
    Chư tín đồ phải tuân mạng lịnh phẩm ấy.

    2.3/- Từ Pháp Chánh Truyền chú giải.
    PHÁP CHÁNH TRUYỀN: Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Địa Cầu và Thập Điện Diêm Cung, đặng cầu rỗi cho các con.
    CHÚ GIẢI: Thầy đã nói, đặng cầu rỗi cho các con thì Thầy đã chỉ rõ rằng, Giáo Tông có phần cầu rỗi mà thôi, chớ phần siêu rỗi là về quyền của Bát Quái Đài chưởng quản.
    Đức Giáo Tông làm thế nào mà thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Địa Cầu và Thập Điện Diêm Cung mà cầu rỗi cho các Tín Đồ?
    Người phải đến Hiệp Thiên Đài cầu huyền diệu Cơ Bút mới đặng.
    Xin trích lục ra đây, đoạn Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài nói về việc ấy: "Lại nữa Hiệp Thiên Đài là nơi của Giáo Tông thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Địa Cầu, Thập Điện Diêm Cung mà cầu siêu cho cả nhơn loại".
    Ấy vậy về phần Thiêng Liêng là phần Đạo, thì Ngài chẳng có quyền hành chi hết, dầu cho dâng sớ cầu điều chi cùng Bát Quái Đài, thì cũng phải do nơi Hiệp Thiên Đài cả.
    Hiệp Thiên Đài là trung gian để liên hiệp Giáo Tông cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
    &&&

    Nhận xét:

    a/- Pháp Chánh Truyền trong TNHT, PCT trong Đạo Sử và Tân Luật có liên quan đến phẩm Giáo Tông đều có nội dung như nhau: Thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Ðịa Giới để cầu rỗi cho tín đồ.
    Trong 03 văn bản trên Tân Luật ra đời sau hết: 01-6-1927.

    b/- Pháp Chánh Truyền chú giải có sự khác biệt.
    Sự khác biệt nầy là: ...Giáo Tông đến Hiệp Thiên Đài thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, Lục Thập Thất Địa Cầu, Thập Điện Diêm Cung để cầu rỗi cho tín đồ...
    So lại với 03 văn bản trên thì PCT chú giải có: 01 phần giử nguyên và 02 phần mới, 01 phần là điều chỉnh. Cụ thể như sau:
    . Phần giử nguyên: Tam Thập Lục Thiên.
    . Phần mới: Tam Thiên Thế Giái,
    . Phần điều chỉnh: Lục Thập Thất Địa Cầu, (thay cho Thất Thập Nhị Địa).
    . Phần mới: Thập Điện Diêm Cung
    Hai phần mới và phần điều chỉnh đều có sự hướng dẫn của Đức Lý Giáo Tông....PCT chú giải lại đem cả phần PCT Hiệp Thiên Đài có liên quan đến Giáo Tông vào nên nó cung cấp kiến thức đa chiều hơn.
    PCT chú giải không giải thích riêng cho PCT Cửu Trùng Đài Nam Phái mà kết hợp với PCT Hiệp Thiên Đài. Đến đây thể xác (CTĐ) có sự kết hợp với chơn thần (CTĐ) và đi theo hướng của chơn thần....
    Thiên thơ dạy rõ HTĐ cầm số mạng nhơn sanh để lập thành chánh giáo nên thể xác phải theo chơn thần....
    Còn về hành chánh tôn giáo Hội Thánh ban hành ngày 02-04-1931 nên tính cập nhật cao hơn. Pháp có giá trị trên Luật. Nên Luật phải tùng Pháp.
    Tóm lại:

    PCT Cửu Trùng Đài Nam Phái và Tân Luật dạy Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Ðịa Giới đặng cầu rỗi cho các con, mà chưa dạy rõ đến đâu để thông công.

    PCT chú giải nói cụ thể là Giáo Tông đến Hiệp Thiên Đài thông công. Khi thông công thì cầu rỗi cho Địa Cầu 67.....
    Hiểu như thế nào về sự thay đổi và thêm vào của PCT chú giải?

    Bởi vì nhơn loại đang sống trong địa cầu 68.

    Thầy lập ĐĐTKPĐ là lập ra địa cầu 67 cho môn đệ Thầy bước vào đó mà lập vị...

    Giáo Tông là anh Cả thay mặt cho thầy mà dìu dắt môn đệ Thầy trên đường Đạo và đường Đời...
    Cả địa cầu 67 đều nằm trong trách nhiệm của phẩm Giáo Tông. Địa cầu 67 vẫn có nhiều phẩm trật (Trong Địa-cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy.... ). Môn đệ Thầy bước vào địa cầu 67 là bước vào trường công quả để lập vị mình. Trong cuộc thi nào cũng có người đậu và rớt. Do đó mà có thăng và đọa. Giáo Tông là anh Cả thay mặt Thầy nên vẫn có trách nhiệm với các vị đã thăng và các vị bị đọa theo phẩm trật địa cầu 67. Dù rằng bị đọa vẫn có người theo dạy dỗ đó là một trong những ý nghĩa của Đại Ân Xá mà Đức Hộ Pháp có dạy nhiều lần.

    Còn tiếp...
    c/- Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186


  4. #4
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209

    (tt)

    c/- Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

    Thầy dạy: Trong Địa-cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy...phải hiểu như thế nào?

    Thiễn nghĩ địa cầu nào cũng cảnh thăng và đọa. Đọa ở địa cầu 67 không phải như bị đọa ở địa cầu 68.
    Phật Mẫu Chơn Kinh dạy:
    Vô siêu đọa quả căn hữu pháp,
    Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan,
    Vô địa ngục vô quỉ quan,
    Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.
    Đó là dạy cho môn đệ của ĐĐTKPĐ. Mà môn đệ Thầy là được sống trong địa cầu 67. Cho nên cảnh đọa của địa cầu 67 là vẫn được hưởng hồng ân của Thầy là như vậy.

    Thầy là Đấng Đại Từ Bi lập ra địa cầu 67 cho môn đệ vào trường công quả thì Thầy cũng thương những con cái còn lặn hụp trong địa cầu 68. Nên Thầy dạy cho Hội Thánh:
    Những người chưa nhập môn cầu Đạo, chẳng luận giàu sang hay nghèo-hèn, già cả hay trẻ bé, cùng đã có nhập môn rồi bị sa ngã bỏ Đạo, mà đến giờ chót của người biết hồi tâm tin tưởng Đức Chí-Tôn, hay là người chết rồi mà thân tộc người tin tưởng Đức Chí-Tôn, đến rước chúng ta cầu hồn cùng là cầu siêu thì chúng ta cũng nên thi ân giúp đỡ linh hồn ấy siêu thoát. Ấy là một điều phước đức độ linh hồn con cái của Đức Chí-Tôn y theo chơn truyền tận độ. (Kinh Thiên Đạo & Thế Đạo).

    d/- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
    d.1/- Tòa-Thánh Tây-Ninh, tháng 10 năm (1932)
    Bát-Nương Diêu-Trì-Cung
    (Giải-thích về Âm-quang)
    ....Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa, đôi trăm năm, tùy chơn-thần thanh trược, Chí-Tôn buộc trường-trai cũng vì cái quan-ải ấy.
    Em nói thiệt rằng, mấy anh hiểu thấu, thì kinh-khủng chẳng cùng, nếu để cho chơn-thần ô-trược thì khó mong trở lại cõi thiêng-liêng và về cùng Thầy đặng.

    Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng. Thất-Nương ở đó đặng dạy-dỗ, nâng-đỡ các chơn-hồn, dầu sa-đọa luân-hồi cũng có người giúp-đỡ. Nghe lại coi có phải vậy chăng?
    Thăng.

    (TNHT Q2 trang 86. Bản in 1963).

    Những hồn sa-đọa luân-hồi còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng hẳn nhiên là ĐĐTKPĐ chưa mở. Thầy chưa lập địa cầu 67 nên các hồn nầy chưa được hưởng cơ Đại Ân Xá.

    Trả lời câu hỏi: Bà Thất Nương đến dạy dỗ các hồn bị sa đọa luân hồi vào lúc nào thì sẽ sáng tỏ?
    Xin xem bài Thánh Ngôn xác định thời điểm Bà Thất Nương đến với các hồn bị sa đọa luân hồi kế đây.
    &&&
    d.2/- Ngày 9-4 Giáp-Tuất (1934)
    Thất-Nương Diêu-Trì-Cung
    .....Thưa cùng mấy chị, em xin nhắc-nhở điều nầy: Ngày hội Ngọc-Hư đặng lo phương tiếp pháp của Tây-Phương Cực-Lạc qua, em đã đặng nghe thấy những lời của Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát than thở rằng: Ngài là Phật, nên khó gần-gũi các hồn Nữ-phái mà khuyến-giáo cơ giải-thoát mê-đồ. Bởi cớ nơi Âm-Quang, nữ hồn còn bị luyện tội nhiều hơn nam-phái bội phần. Em lại nghe người ước rằng: Chớ chi có một Đấng Nữ-Tiên dám đảm-đương đến phổ-tế mới mong tận-độ chư vong của Phong-Đô thoát-kiếp. Em mới để dạ lo-lường cả lòng lẫn-ái đến đó; em đã chán thấy nhiều tội tình chẳng trọng hệ, song có hồn chịu sầu-thảm lạ thường. Em đã liệu nhiều phương-thế cho từ đây mấy chơn-hồn có bề dễ tránh khỏi cửa Âm-Quang hãm tội.
    (TNHT Q2 trang 91)

    Bài trên dạy rõ: Ngày hội Ngọc-Hư đặng lo phương tiếp pháp của Tây-Phương Cực-Lạc qua,

    Bà Thất Nương mới nghe thấy lời than của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Từ đó Bà mới đến phong đô Phổ Tế mở cơ TẬN ĐỘ... giải thoát mê đồ.

    Thiễn nghĩ đến đây cũng nên minh lý hai chữ tận độ trên.

    Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo phần vừa trích dẫn bên trên đoạn chót có dạy: Ấy là một điều phước đức độ linh hồn con cái của Đức Chí-Tôn y theo chơn truyền tận độ. Theo đây mà hiểu thì những người sa ngã bỏ Đạo. Người chưa nhập môn cầu đạo được hưởng cơ TẬN ĐỘ nếu tin tưởng vào Đức Chí Tôn.

    Còn trong TNHT dạy như bài trên đây thì tận độ có nghĩa là dù chơn hồn bị sa đọa luân hồi (ở cõi phong đô địa phủ của mê tín gieo truyền đến ĐĐTKPĐ chính danh lại là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng) (3) vẫn có người đến dạy dỗ. Đến tận nơi bị đọa để độ.

    Kết hợp cả hai lời dạy về TẬN ĐỘ thì dù là người sa ngã nơi trần thế hay những hồn sa đọa luân hồi vẫn có người giúp đở. Ấy là ý nghĩa chữ Tận Độ.
    Đây chính là khoản thời gian Thầy Hội Chư Tiên Phật lo việc lập đạo tại Đại Nam Việt Quốc. (4)

    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186

    (còn tiếp)

  5. #5
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209



    ***: Ngày 26-10-Tân Mão (24-11-1951) Đức Hộ Pháp có dạy về Bà Đoàn Thị Điểm:
    "Khi Bà Đoàn Thị Điểm qui vị, bị ngồi nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, nhờ Cô Thất Nương xuống độ Bà về Lôi Âm Tự, rồi nhờ Bà viết ra một cuốn Nữ Trung Tùng Phận, Bà mới siêu thoát được.".

    Theo đây mà hiểu thì Bà Đoàn Thị Điểm chính là một trong những chơn hồn còn ở nơi sa đọa luân hồi (phong đô). Khi Đức Chí Tôn mở cơ Đại Ân Xá, lập ra địa cầu 67 Bà Đoàn được Bà Thất Nương đến dạy nên được về LÔI ÂM TỰ.

    Từ Lôi Âm Tự Bà Đoàn mới về cơ viết quyển NỮ TRUNG TÙNG PHẬN năm 1933 (dạy cho Nữ giới).
    Sau khi viết xong NỮ TRUNG TÙNG PHẬN bà đắc vị vào Bạch Ngọc Kinh. Do đâu mà biết? Do nơi mấy câu thi áp chót của tác phẩm mà biết vậy:
    Buông ngọn viết vào làn mây trắng,
    Hễ có thương nhớ dạng là hơn.
    Cảnh Thiên gởi tấc hương hồn,
    Đề câu tiết nghĩa vĩnh tồn hậu lai.

    Khi đã siêu thoát Bà mới được lịnh viết 08 bài kinh ở phần Kinh Thế Đạo.

    Như vậy chơn hồn của Bà Đoàn đã trãi qua 03 giai đoạn: Ở Thánh Tịnh Đại Hải Chúng. Được độ về Lôi Âm Tự và về Bạch Ngọc Kinh. Nếu không phân rõ các giai đoạn nầy theo lời Đức Hộ Pháp dạy sẽ có người lầm tưởng rằng Bà Đoàn về cơ viết sách và kinh khi còn ở Thanh Tịnh Đại Hãi Chúng.

    Tóm lại: Căn cứ theo PCT chú giải kết hợp với Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, với Thánh Ngôn có liên quan để hiểu thì Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái, vẫn có môn đệ Thầy tu hành nơi đó. Ấy là những người tùng thị pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ nên cao thăng phẩm vị ... còn Thập Điện Diêm Cung, là những môn đệ bị rớt không đạt phải ở cảnh giới đó tu học....hiểu vậy thì địa cầu 67 là nơi xuất phát... từ đó có cao thăng phẩm vị và có người phải vào Thập Điện Diêm Cung. Nhưng Giáo Tông vẫn thay mặt Thầy mà cầu rỗi cho tất cả.

    Nhưng đó chưa phải là tất cả mà còn những bằng cứ từ thiên thơ và thể pháp hữu hình tượng trưng cho địa cầu 67 ngay trong Đền Thánh; tất nhiên là có sự phối hợp với triều nghi của Đức Chí Tôn trong ĐĐTKPĐ.
    &&&

    PHẦN CHÚ THÍCH.

    (3)/- Thanh Tịnh Đại Hải Chúng là gì? Bà Bát Nương dạy:

    Vậy thì nơi khiếm ánh Thiêng-liêng là âm-quang, nghĩa là âm-cảnh hay là địa-ngục, Diêm-đình của Chư-Thánh lúc xưa đặt hiệu. Vậy thì chính lời nhiều Tôn-giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn-quả buộc ràng, luân-hồi chuyển thế, nên gọi là âm-quang, đặng sửa chữ phong-đô địa-phủ mê-tín gieo-truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các chơn-hồn giải thân định trí (một nơi trung-gian giữa thiên-đường và địa-ngục hay là mờ-mờ mịt-mịt).
    (TNHT. Q2 trang 85. Bản in 1963)

    (4)/- Quốc hiệu Đại Nam.

    Khi vua Gia Long thống nhất sơn hà thì nhà vua dâng biểu sang Thanh Triều xin quốc hiệu là Nam Việt. Thanh triều ngại để Nam Việt thì trùng với quốc hiệu thời Triệu Đà (bao gồm cả đất Lưỡng Quảng) mới đảo ngược thành Việt Nam.
    Quốc hiệu Việt Nam là do Thanh Triều ban cho.

    Sau đến thời vua Minh Mạng nhà vua thấy nhà Thanh đã suy yếu nên cải quốc hiệu là Đại Nam. Thực dân Pháp khi xâm lăng nước ta lúc ấy có quốc hiệu là Đại Nam.

    Đến năm 1927 Juillet 1927, Minh-Lý-Đàn. Thầy dạy:
    Ta chào các con. Ta cho phép lên hết. Ta chào chung các con. Cười... Ta mừng cho con đó, Trung. Thầy có hội chư Tiên-Phật lại mà thương nghị về sự lập Đạo tại Đại-Nam Việt-Quốc...
    (TNHT Q1 trang 111 bản in 1973).
    Theo bài Thánh Ngôn trên đây thì Thầy đã dạy cho biết: nước Đại Nam (1926) có tên trong thiên thơ là ĐẠI NAM VIỆT QUỐC.
    &&&

    Theo wiki thì trong chiều dài lịch sữ các triều đại quân chủ không thấy triều đại nào đề quốc hiệu Việt Nam. Mãi đến đời Vua Gia Long.
    Chữ Việt Nam có xuất hiện hiếm hoi trong một vài tác phẩm trước kia nhưng nó không phải là quốc hiệu. Thời vua Gia Long với quốc hiệu là Việt Nam không thấy có tác phẩm nào xuất hiện.

    Nhưng quốc hiệu Đại Nam thì có rất nhiều tác phẩm lớn như:

    a/- Đại Nam thực lục gồm tiền biên và chính biên.
    . Đại Nam Thực lục Tiền biên hay Liệt thánh thực lục tiền biên (gồm 12 quyển) ghi chép các sự kiện lịch sử của 9 chúa Nguyễn Đàng trong từ Nguyễn Hoàng (1558) đến hết đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1777).
    . Đại Nam thực lục chính biên (gồm 587 quyển) là phần thứ hai viết về triều đại các vua nhà Nguyễn, nhưng là phần chủ yếu, của bộ biên niên sử viết bằng chữ Hán Đại Nam Thực lục.
    Đại Nam Thực lục Chính biên ghi chép các sự kiện lịch sử từ khi Nguyễn Ánh làm chúa (1778) đến đời Đồng Khánh (1887), và sau này được viết thêm đến đời vua Khải Định (1925).
    Cả hai phần Tiền biên và Chính biên của bộ sử Đại Nam thực lục được soạn bắt đầu từ năm 1821 (năm Minh Mạng thứ hai), sau 88 năm đến năm 1909 mới cơ bản hoàn thành (gồm toàn bộ phần Tiền biên và 6 kỷ đầu phần Chính biên).

    b/-. Đại Nam nhất thống chí là bộ sách dư địa chí (địa lý - lịch sử) Việt Nam, viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức. Có thể coi đây là bộ sách lớn nhất và quan trọng nhất về địa chí Việt Nam dưới thời quân chủ.
    &&&

    [[[ LỜI TỰ SỰ: theo lẽ công bằng.
    Lẽ ra thì hết bài mới chú thích.
    Nhưng khi đăng bài các vi bằng thống nhứt các Chi Phái nơi trang web caodai.com.vn chưa xong hết (mới tới Huấn Lịnh 380) thì hiền Nguyễn Văn Út rút đem về trang web caodai.net.vn đăng lại và hiền nhonly áp vào phân tích mà không biết rằng sau đó Hội Thánh ĐĐTKPĐ đã thống nhất với 14 Chi Phái đưa 09 điều kiện qui nhứt. Trong 09 điều kiện qui nhứt Hội Thánh ĐĐTKPĐ chế giảm luôn khoản NHẬP MÔN LẠI. Điều đáng nói là nhị hiền nầy dùng lời lẽ rất thiếu tôn trọng bạn đồng môn nên rất đáng tiếc.

    Thứ nữa khi đăng bài trả lời Trung Ngôn về Đạo Lịnh 01. Có phần chú thích chưa đăng thì hiền NVU lại cũng rút về trang web của họ phê bình.
    Dầu rằng lỗi tự nơi người trích vội vàng và vô ý nhưng chính bản thân Văn Chí không hề muốn có lỗi kiểu do vội vàng từ bài viết của mình nên theo LUẬT CÔNG BẰNG cũng không muốn bất cứ ai phạm lỗi như thế...
    Do vậy nên quyết định trình luôn chú thích ngay cuối đoạn gởi]]].

    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186


    (còn tiếp...Quả Càn Khôn trong Đền Thánh là mô hình hay biểu tượng?)

  6. #6
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209



    (tt)
    3/- TRA CỨU TỪ THIÊN THƠ.
    Do tầm quan trọng của đề tài nên chúng tôi trích khá dài và khá nhiều để quí hiền tiện bề theo dõi và nhận xét... một cách khách quan.

    3.1/- QUẢ CÀN KHÔN.
    Ngày 12-8-Bính Dần (1926). Thầy dạy.
    Ngọc-Hoàng Thượng-Đế Viết Cao-Đài
    Giáo Đạo Nam Phương
    ....Bính - Thầy giao cho con lo một trái Càn-Khôn; con hiểu nghĩa gì không?... Cười... Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kinh tâm ba thước ba tấc, nghe con, lớn quá mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo-Hóa trong ấy, mà sơn màu xanh da trời; cung Bắc-Đẩu và Tinh-Tú vẽ lên Càn-Khôn ấy. Thầy kể Tam-Thập-Lục-Thiên, Tứ-Đại-Bộ- Châu ở không-không trên không khí, tức là không phải Tinh-Tú, còn lại Thất-thập-nhị-Địa và Tam-Thiên thế giái thì đều là Tinh-Tú. Tính lại ba ngàn bảy mươi hai ngôi sao, con phải biểu vẽ lên đó cho đủ. Con dở sách thiên-văn Tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc-Đẩu con phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ và sao Bắc-Đẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc-Đẩu vẽ con mắt Thầy, con hiểu chăng? Đáng lẽ trái ấy phải bằng chai, đúc trong một ngọn đèn cho nó thường sáng; ấy là lời cầu nguyện rất qúy báu cho cả nhơn-loại Càn-Khôn Thế-Giái đó; nhưng mà làm chẳng kịp, thì tùy con tiện làm thế nào cho kịp đại-hội - Nghe à!
    Còn chư Phật, chư Tiên, Thánh, Thần đã lên cốt thì để dài theo dưới, hiểu không con?

    (TNHT Q1 trang 45 bản in 1973)

    a/- Quả Càn Khôn là mô hình hay là biểu tượng?

    a.1/- Không là mô hình của Thái dương hệ.

    Ngay từ năm 1926 (là năm Thầy dạy làm Quả Càn Khôn) thì khoa học về thiên văn, về vũ trụ của Tây Phương đã lên được mô hình của Thái Dương Hệ chúng ta đang sống. Sao Bắc Đẩu thì phương Đông và phương Tây cũng đều có đề cập đến. Nhưng Thầy chọn theo Phương Tây (khoa học kỷ thuật) thì Quả Càn Khôn trong Bát Quái Đài hiện nay nhất định không phải là biểu tượng của Thái Dương Hệ chúng ta đang sống.

    Còn như lý luận rằng Đạo đến Thất ức niên nên Quả Càn Khôn là biểu tượng cho Thái Dương Hệ khác nữa thì lại là một viễn tưởng phi lý và không phù hợp với định nghĩa về Thái Dương Hệ. Chẳng có Thái Dương Hệ nào chỉ có một thiên thể.
    Cho nên chúng tôi thấy không phù hợp với giáo lý ĐĐTKPĐ.

    a.2/- Không phải là biểu tượng cho địa cầu 68.

    Thầy dạy: giao cho con lo một trái Càn-Khôn; con hiểu nghĩa gì không?... Cười... Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không?
    Nếu hiểu trái càn khôn là biểu tượng cho trái đất nầy thì đó là địa cầu 68. Vậy chúng ta cùng tìm hiểu xem có phù hợp không?

    a.2.1/- Nguồn gốc địa cầu 68.
    Đêm 29-07-Kỷ-Sửu (1949). Đức Hộ Pháp giảng:
    ....vạn-vật trong Càn-khôn Vũ-Trụ này phải hoạt động mãi thôi không ngừng, nó nhờ hoạt động chuyển luân mà tấn hóa mãi mãi.
    Vạn-vật trong Càn-Khôn Vũ-Trụ dù trái địa-cầu thấy trước mắt hay địa cầu chúng ta đương cư ngụ đây, phải vận hành luôn; ngưng là chết mà cả vạn-vật loài người cũng phải vậy. Nó có lưu động là nhờ khí nổ Thái-Cực buổi nọ, Thái-Cực nổ thành khối lửa; khối lửa nổ trong Càn-Khôn Vũ-Trụ hiện ra muôn muôn triệu triệu ức quả địa-cầu trong Càn-khôn Vũ-Trụ. Quả cầu ấy nguội lại thành địa-cầu chúng ta đương ở đây, là quả địa-cầu 68. Quả cầu ấy là vậy.

    a.2.2/- Hiện trạng địa cầu 68.

    Thầy dạy: Ngày 15-11- Bính Dần (19-12-1926)

    .Đứng bậc Đế-Vương nơi trái địa-cầu nầy, chưa đặng vào bực chót của Địa-cầu 67....

    Đêm 18- 8- Mậu-Tý (21-9-1948). Đức Hộ Pháp:
    ...Tôi xin nói không phải địa-cầu này làm bạn với địa-cầu này mà thôi, mà nơi địa-cầu khác họ đến làm bạn. Những Đấng đến đó họ ở địa-cầu khác họ qua không phải ở địa-cầu này, họ ở địa-cầu về đoạt phẩm-vị cao siêu, chớ địa cầu 68 này, Bần-Đạo nói: Ở địa cầu 68 này có loạn nhiều....
    (Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống).
    &&&

    Đêm 18-12-Mậu-Tý (16-01-1949). Đức Hộ Pháp.
    Bần-Đạo nói quả quyết rằng: Trong Càn-Khôn Vũ-Trụ này, cái địa-cầu 68 này là hạng chót, hạng khổ não nhứt nơi mặt địa cầu này, kiếp sanh nơi mặt địa-cầu 68 này không phải đáng cho chúng ta lưu-luyến, mặt địa-cầu này khổ não lắm, khổ não hơn hết.
    (CĐTLHS bài 20).

    Với 03 trích đoạn trên ta thấy cơ sở để hiểu Quả Càn Khôn tượng cho địa cầu 68 là không thuyết phục.

    a.2.3/- Đạo lập sắc dân Tân Dân tại địa cầu 68 nầy; vậy sắc dân Tân Dân ở đâu?

    Đêm 29-01-Mậu Tý (1948). Đức Hộ Pháp:
    ...Mấy em có biết tương lai nền Chơn giáo nầy của mấy em là tạo đại nghiệp gia đình cho một sắc dân gọi là Tân Dân của Chí Tôn, để nơi mặt thế nầy, là Thần Thông Nhơn. Mấy em kiếm hiểu hai tiếng Thần Thông, dầu không thấu lý mà nghe nói tiếng ấy cũng hiểu sự quan hệ của nó ra sao.
    Ấy vậy, muốn tạo một tinh thần tới Thần Thông cho sắc dân Tân Dân của Chí Tôn đem đến mặt địa cầu nầy, do trong mấy em hiện tượng ra mà mấy em không tầm cái giống Thần Thông thì làm sao tạo Tân Dân ấy cho được. Cả huyền vi bí pháp của Chí Tôn để tạo Thần Thông Nhơn ấy, mắt mấy em nhìn thấy không biết hình ảnh thì làm sao đạt thành được.
    (CĐTLHS).
    &&&
    Chơn truyền Đức Chí Tôn đại kỵ những điều ảo ảnh...
    Đức Hộ Pháp dạy rõ: Cả huyền vi bí pháp của Chí Tôn để tạo Thần Thông Nhơn ấy, mắt mấy em nhìn thấy không biết hình ảnh thì làm sao đạt thành được.
    Vậy sắc dân Tân Dân nầy bắt nguồn từ đâu? bắt đầu từ thời gian nào? thành hình năm nào? và sống ở đâu?
    Xin thưa rằng:
    Trong Lời Thuyết Đạo (ngày 14-6-Đinh Hợi- 1947) của Đức Hộ Pháp Q1 trang 51 có câu:

    …Thần thông nhơn (Race lucidé) do hai sắc da vàng và trắng hiệp lại xuất hiện…

    Một trong những ý nghĩa của sự hiệp lại từ hai sắc dân da vàng và da trắng xuất hiện ra là CHỮ QUỐC NGỮ.
    Chữ quốc ngữ hiện nay là một trong những sản phẩm quan trọng bậc nhất do hai sắc da vàng và da trắng hiệp lại tạo nên. Chữ quốc ngữ hiện nay là loại chữ ký âm để ghi lại TIẾNG AN NAM.
    Tiếng An Nam là chánh tự của Thầy dùng để lập ĐĐTKPĐ.

    Thầy dạy: ngày 29-7-Bính Dần (05-9-1926): ...Như Nhãn hiền đồ Thầy không muốn nói với con bằng tiếng Hớn Ngôn vì tiếng An Nam từ đây Thầy cho là Chánh Tự đặng lập Đạo của Thầy nên buộc phải nói rõ ràng với con.
    Thời kỳ dấu diếm Thiên cơ đã qua rồi… (Đạo Sử Q.2. T. 237 bản in Hoa Kỳ).
    &&&

    Thần Thông Nhơn cũng chính là sắc dân Tân Dân.
    Sắc Tân Dân bắt nguồn từ ĐĐTKPĐ.
    Bắt đầu từ năm 1925 là năm Thầy ban yến sáng cho địa cầu 68.
    Thành hình vào năm 1926 là tổ chức LỄ KHAI ĐẠO tại Chùa Gò Kén.

    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186


    ***: Tên Ngài Bính cũng là thể pháp.

  7. #7
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209


    ***: Tên Ngài Bính cũng là thể pháp.

    Trong tìm hiểu thể pháp thì cái tên NGƯỜI ĐƯỢC GIAO VIỆC, thời gian được giao.... cũng đều là thể pháp. Việc Thầy dạy Ngài Bính làm trái Càn Khôn... cũng được hiểu theo hướng đó.
    Theo Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư soạn thì Ngài Bính đắc phong Giáo Sư Phái Thái vào ngày 07-8- Bính Dần (1926).
    Đến ngày 12-8-Bính Dần Thầy giao việc làm Quả Càn Khôn.
    Như vậy Ngài Thái Bính Thanh là một trong Thất Thập Nhị Hiền (một trong 72 vì sao trên quả Càn Khôn 67). (5)
    &&&

    Đến ngày 01-01-Đinh Mão (1927) Thầy dạy:

    Bính Thầy thưởng công con, cho lên chức Phối-Sư, Thầy cám cảnh lòng yêu mến con, Thầy cảm ơn lòng Đạo-Đức con.
    Sanh linh nhờ công con mà thoát qua khổ hải

    (TNHT Q1 trang 93. Bản in 1973)
    &&&

    Bính là can thứ 03 trong Thập Thiên Can.
    Ngài Bính là một người phàm. Là nhơn sanh ư Dần. (Đức Hộ Pháp: ngày 14-2-Mậu Thìn (1928): Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần).

    Cái tên của Ngài Bính thể hiện cho năm Bính Dần.

    Thời gian giao cũng là năm Bính Dần.

    Giao cái gì? Giao lập một trái càn khôn.

    Đó phải chăng là Thầy có ý dạy rằng: Thầy lập ĐĐTKPĐ là lập ra địa cầu 67. Còn làm cho thành Đạo là môn đệ của Thầy.
    Nghinh Phong Đài bố trí can Bính ở chánh Đông.

    Thầy dạy: Con dở sách thiên-văn Tây ra coi mà bắt chước.

    Kết hợp lại ta thấy có Đông, có Tây.
    Đông Tây là chiều của Đền Thánh.
    Đạo khởi ư Đông xuất qua ư Tây.

    Ngay trước Đền Thánh có Đại Đồng Xã (Đại Đồng Xã Hội).

    Trong các kỳ Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung; Đức Hộ Pháp có dạy lập Văn Minh Điện tại Đại Đồng Xã. Hình thức như một sân khấu lộ thiên ở giữa Đông và Tây Khán Đài để mọi người tham gia giải đáp câu đố. Câu đố xuất phát từ 02 nguồn:

    Câu đố do Đức Hộ Pháp và quí vị Thời Quân phò loan nơi Hiệp Thiên Đài tại Đền Thánh... và do quí vị chức sắc, chức việc, đạo hữu có lưu ý tìm tòi trình lên được Hội Thánh chấp nhận.
    Người có mặt có đủ quyền lên giải đáp câu đố.
    Trình bày ngắn gọn một vài chi tiết về Văn Minh Điện để hiểu rằng đó không phải đơn thuần là giải trí vui chơi trong kỳ lễ Hội Yến Diêu Trì Cung. Văn Minh Điện chắc chắn là nơi mà những phát minh được đem ra trình bày hằng năm trong ĐĐTKPĐ (các gian triễn lãm ở Điện Thờ Phật Mẫu nơi trưng bày).

    Tóm lại:
    Tất cả đều liên quan mật thiết đến nền văn minh do chính Đức Chí Tôn đến lập ra: Văn Minh Cao Đài Giáo (Văn minh Lưỡng Nghi) .

    Văn Minh Cao Đài Giáo được kết hợp bởi: Đông Phương Triết Học (Đông Khán Đài) và Tây Phương Khoa Học (Tây Khán Đài) theo thể pháp (mô hình) tại Đại Đồng Xã.
    Đến đây cũng nên tự hỏi điểm nút của Đại Đồng Xã là gì?

    Đó là Cửu Trùng Thiên.

    Cửu Trùng Đài phù họp với Cửu Trùng Thiên. Cửu Trùng Đài là hình trạng của Cửu Thiên Khai Hóa.

    Cửu Trùng Thiên kiến trúc hình bát quái và có hình dạng chữ kim (dưới lớn trên nhỏ tượng cho sự vững chãi như Kim Tự Tháp).

    Màu sơn tính từ mặt đất lên như sau: đỏ, xanh, vàng và trắng.

    Màu đỏ (Phái Ngọc) tượng cho 03 viện: Hòa, Lại, Lễ. Ý nghĩa là nền móng là trật tự cho sự ổn định tôn giáo hay xã hội (Nội Vụ).

    Màu xanh (Phái Thượng) tượng 03 viện: Học,Y, Nông. Thể hiện sự mở mang tôn giáo hay xã hội.

    Màu vàng (Phái Thái) tượng cho 03 viện: Hộ, Lương, Công thể hiện cho sự vững chắc, tự chủ.

    Màu trắng (Hiệp Thiên Đài) tượng cho pháp luật đạo.

    Nghĩa là 03 phái, 09 viện có nhiệm vụ riêng nhưng tất cả phải làm đúng pháp: Công Bình; đúng luật: Thương Yêu.
    Liên kết vậy để thấy sự liền lạc trong nền chánh giáo của Thầy:

    Thầy là chủ của nền Chánh Giáo (Bát Quái Đài).

    Hiệp Thiên Đài: Lập thành chánh giáo.

    Cửu Trùng Đài: Thực thi chánh giáo.

    Tất cả đều theo đúng thiên thơ dạy:

    . Ngày 12-2-1933 (29-2- Quí Dậu) Bà Bát Nương dạy:
    Em an dạ, từ đây đã quan-kiến sự kết-cuộc của Chí-Tôn đã định trước. Em nhớ lại, khi Ngọc-Hư định cho Hiệp-Thiên-Đài cầm số-mạng nhơn-sanh, lập thành chánh-giáo, thì Đại-Từ-Phụ lại trở pháp, giao quyền ấy cho Cửu-Trùng-Đài. Cả Ngọc-Hư chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đều ngạc-nhiên sự lạ. Đại-Từ-Phụ phổ-giáo rằng: Hay, hay không lẽ để phận hèn, ngày sau sẽ rõ thánh-ý Người quyết liệu.
    (TNHT Q2 trang 86. Bản in 1963).
    &&&
    .Cùng một đàn cơ trên, Bà Lục Nương dạy (trang 87):
    Khi mơi nầy em đặng tin lành: Ngọc-Hư lo chuyển pháp. Cả Thiên-thơ hủy phá, sửa-cải pháp chơn-truyền. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vui mừng chẳng xiết, Diêu-Trì Từ-Mẫu đẹp dạ không cùng...
    &&&
    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186

    (CÒN TIẾP...)

  8. #8
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209



    Thầy dạy: Khai Đạo muôn năm trước định giờ... vậy thì cái tên của Ngài Bính khi đến thế gian cũng là sự chuẩn bị cho ĐĐTKPĐ chớ đâu phải là tình cờ. Cái ý nghĩa của một kiếp sinh may duyên gặp đạo cũng nằm trong lẽ đó. Đâu phải ngẫu nhiên mà chúng ta được làm môn đệ Đức Chí Tôn khi đến làm khách trần nơi quán tục....
    &&&

    Vậy trái càn khôn tại Đền Thánh nếu là địa cầu 68 thì không hợp lý. Vì địa cầu 68 có lâu đời rồi chớ đâu phải đến ngày khai ĐĐTKPĐ mới có. Hơn nữa Thầy lập Đạo là để nâng địa cầu 68 lên thành 67.
    Quả Càn Khôn trong Đền Thánh hiểu là biểu tượng của địa cầu 68 liệu có phù hợp?.
    Còn như hiểu trái càn khôn đó là địa cầu 67 thì phù hợp với giáo lý và các thể pháp khác.
    Trái càn khôn 67 là do Thầy dạy cho môn đệ lập ra khởi từ 1925 và thành hình từ 1926. Nên Đức Lý dạy trong ngày tác thành Tân Luật rằng:
    Ngày 16 Janvier 1927 (13-12-Bính Dần). Đức Lý Giáo Tông dạy trong ngày dâng Tân Luật...
    Ðạo đã thành, Ðạo đã mạnh, cho đến đổi trái Càn Khôn này dở hổng lên khỏi ngất mấy từng, làm cho các Tôn Giáo đã lập thành trên mặt địa cầu nầy phải kinh khủng sợ sệt... Cười....
    Chư Hiền Hữu cầm trọn nhơn loại vào tay, Lão hỏi có chi quý trọng mạnh mẽ bằng chăng?... Hay....
    Hễ Ðạo trọng thì tức nhiên chư Hiền Hữu trọng. Vậy thì chư Hiền Hữu biết trọng mà lo sửa vẹn người đời.

    (Đạo Sử Q2).

    Có những người hiểu rằng phải chờ đến thất ức niên đạo mới thành đó là những người không tra cứu Thánh Ngôn để hiểu ý nghĩa chữ: ĐẠO ĐÃ THÀNH. Nói rõ là họ hiểu lầm chữ Đạo đã thành với chữ thành đạo.
    Đạo đã thành là dùng cho ĐĐTKPĐ.
    Thành đạo là dùng cho cá nhân.
    Hai việc nầy độc lập nhau. Suy gẫm ra thì hiểu.
    &&&

    Sắc Tân Dân đang sống trong địa cầu 67; mà địa cầu 67 thì ở trong địa cầu 68 nên tự mổi người phải xác định là mình sống trong địa cầu 67 hay 68 chớ Thầy không bồng ẩm ai vào địa cầu 67 mà cũng không từ chối bất cứ một con cái nào của Thầy từ địa cầu 68 muốn gia nhập vào địa cầu 67. Đạo có CUNG NHƯ Ý, có XE NHƯ Ý muốn sao thì được vậy; lành dữ hai đường vừa ý chọn đó là quyền tự do Thầy ban cho.

    Họ cứ khăng khăng họ chỉ biết, chỉ sống trong địa cầu 68 không nhìn địa cầu 67 trong Đền Thánh là quyền tự do của họ, ta phải kính trọng quyền tự do được chọn địa cầu để sống của họ.
    Giáo lý ĐĐTKPĐ dạy rõ lập một sắc dân mới là Tân Dân, lập nền văn minh mới, lập một Tân Thế Giới mà sao lại phải dùng địa cầu 68 làm biểu tượng để thờ? Điều nầy không phù hợp với giáo lý của Thầy.
    Dùng phương pháp loại suy thì kết lại ta thấy rằng Quả Càn Khôn trong Đền Thánh chỉ có thể là biểu tượng cho địa cầu 67.

    %%%%%

    (5)/-

    a/-Trong chương trình Hiến Pháp ngày 14-7-Mậu Thìn (28-8-1928) do Ngài Thái Ca Thanh vâng lịnh Đức Lý Giáo Tông lập thành. Ngài Thái Bính Thanh có ký tên trong vi bằng liền kề với Ngài Phối Sư Thái Ca Thanh.

    b/- Tòa Thánh Tây Ninh, Le 18-04-1929 (09-03-Kỷ Tỵ).
    THẦY
    Các con .... Cười ....
    Ậy! Cũng tại Thầy mà các con lộn xộn cùng nhau nữa há?
    Cười .... Thơ! Con cũng phải mà Bính cũng phải, lỗi ấy nơi Thầy. (1đc).
    Bính! Chớ chi con lấy năm lần chín thì con đã trúng rồi đó, con lại sợ thằng... Sang đứng cận đường, song cũng còn xa đó con không hề gì.
    Hai con muốn đem vào cây ba nhánh một chút nữa càng tốt, nhưng đã lỡ rồi cứ để vậy.
    Tương! Thầy dặn con như có thế ngày mùng 8 tháng tới về Tòa Thánh Thầy dạy việc nghe.
    Lịch! Con từ đây phải ở Tòa Thánh nghe.
    Thơ! Phải cầu Thái Bạch, nhứt là phải có Chức Sắc Cửu Trùng Ðài cho nó phán dạy nghe con.
    Thăng.

    &&&

    Đức Cao Thượng Phẩm về Thiêng Liêng vị ngày 01-3-Kỷ Tỵ (1929). Thiễn nghĩ Thầy dạy Ngài Thái Bính Thanh chọn vị trí làm tháp Đức Cao Thượng Phẩm.

    (1đc): Đối chiếu bài trên với bài ngày 07-03-Kỷ Tỵ (16-04-1929) Thầy dạy Ngài Thái Thơ Thanh làm tháp Đức Cao Thượng Phẩm:
    Thơ! Con phải xây cái Tháp của Thượng Phẩm phía trước cây ba nhánh, phải day mặt về Ðông, giống như ngó vào Ðiện mà hầu Thầy vậy. Song, ba từng phải lợp ngói như nóc chùa của Ðường Nhơn vậy nghe.
    (TNHT Q2 trang 68. Bản in 1963).
    Ngài Thái Thơ Thanh và Thái Bính Thanh hiểu ý Thầy khác nhau nên Thầy mới dạy như trên.

    c/- Ngài Thái Bính Thanh quê ở Kiên Giang mãn phần ngày 17 (không rõ tháng, năm). Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có dự tang lễ.

    Trong ai điếu có đoạn... Nhớ Linh xưa:
    Ý tứ từ hòa, tánh tình liên lạc, nghĩa lân cận không kiêu không hãnh, gặp kẻ nghèo chẳng nỡ làm lơ, tình anh em cư xử chẳng dễ, chẳng khinh, thấy lúc ngặt không hề phai lạt. Lúc khai Ðại Ðạo Tam Kỳ, Thầy dạy làm Quả Càn Khôn. Nhớ anh! Nào ra công, nào tốn của, hiệp cùng Ðạo Hữu mới hoàn thành.
    Khi lập Tân Pháp Chánh Truyền, Thầy bảo lập Tân Luật, nhờ anh, nào sắp ghế, sắp bàn hội với Thiên Phong mới kết tác. Buổi dọn đất Tổ Ðình, Thầy chỉ phương hướng cho anh đo độ thước tấc mới thành một cảnh thiên nhiên. Khi dựng hình Phật Tổ, Thầy nhắm chỗ cho anh sắp phương hướng mới nên một nền địa hượt...
    .
    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186
    &&&
    (CÒN TIẾP...)

  9. #9
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209


    a.2.4/- Diễn văn ngày 15-7-Nhâm Thân (1932) của Đức Hộ Pháp.

    Đức Hộ Pháp hỏi Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn về nguyên thỉ của Thầy....
    HỘ PHÁP : - Xin cho tôi hiểu nguyên thỉ của Thầy
    chúng ta và quyền hành của người.
    Hiểu cho đặng huyền vi khó nổi,
    Tra khuôn hồng tỏ mối không minh.
    Theo tôi nghĩ thế giới mình,
    Ngoài ra còn có lắm hình càn khôn.....
    ....Nhiều thế giới càn khôn ta có,
    Sanh hoạt nầy quả cớ nên nhiều,
    Địa cầu chừng đặng cao siêu,
    Các Ngài rõ giá những điều phân phô.

    HỘ PHÁP : - Chừng nào trái địa cầu nầy đặng hưởng điều ấy ?
    Thần linh dụng tiếng làm Ngài hiểu,
    Cho tỏ tường phẩm hiệu dường bao.
    Qua luyện tội Thánh cảnh vào,
    Còn lâu nữa mới làm trào Phật Tiên.
    ....Đài Thiên cảnh vừa khi đặng lớn,
    Dắt triều đình vào chốn không trung.
    ....
    &&&
    Đoạn trên dạy rõ chữ càn khôn đây là các địa cầu chứ không phải là Thái dương hệ.
    Trái địa cầu 68 đến thời gian nào đó sẽ đặng cao siêu.
    Đặng cao siêu nghĩa là sao? Nghĩa là nâng lên thành địa cầu 67.
    &&&

    Đức Hộ Pháp dạy:
    Các chơn hồn bị luân hồi chuyển kiếp đến thế nầy cũng là nhiều hạng, nhưng mà hạng bị oan oan nghiệt nghiệt vẫn phần đông, nếu muốn cho mặt địa cầu mau tấn hóa thì phải nhờ công quả của loài người, không nghiệt oan buộc chuyển kiếp luân hồi, hồn tình nguyện nghĩ thôi rất ít.
    Làm cho trái địa cầu nầy nên Thánh địa đặng giảm khổ cả chúng sanh thì công của các chơn linh rất trọng. Hồn thì lo đền tội, hồn thì đến siêu thăng, hồn thì đến lập công, đều xúm xít nhau mà lập danh phận cùng Trời là chúa cả.

    &&&
    Câu: Làm cho trái địa cầu nầy nên Thánh địa có ý nghĩa thế nào?
    Thiễn nghĩ nó đi theo qui luật lượng chất cho cá nhân, tôn giáo và xã hội.
    Nó tiến lần từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn bộ.
    Thiễn nghĩ nó đi theo qui luật lượng chất cho cá nhân, tôn giáo và xã hội. Nó tiến lần từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn bộ.
    Đó là...Tùng theo chơn pháp độ lần chúng sanh. (Kinh Xuất Hội).
    Chúng sanh ở đây thiễn nghĩ là chúng sanh trong mổi con người chúng ta trước (tự độ) và bước kế tiếp là với tha nhân (tha độ). Cả hai đấp điếm nhau như đôi chân của một cơ thể lần bước trên đường về...
    Lắm người nhiệt tình nhưng không học bài rồi cứ nghĩ chúng sanh ở bên ngoài mà không biết rằng mình cũng là một chúng sanh và trong người mình cũng có những chúng sanh khác cần phải tự độ.
    Thành phần nầy ta thấy họ không thể hiện được đạo đức và chân thật nhưng cứ đồng hóa mình với đạo đức... lắm khi tự phong cho mình những nhiệm vụ rất cao cả như bảo vệ đạo, bảo vệ chánh pháp... để mượn oai thần thánh, nhục mạ những người không quì lụy họ. Diện nầy thường mượn số đông để làm áp lực tinh thần.
    Xin HIỂU cho rằng khi chưa độ được chúng sanh trong chính con người mình thì đừng mong độ ai hết.
    Xem các bài Kinh Thế Đạo như: Kinh Thuyết Pháp, Kinh Nhập Hội, Kinh Xuất Hội... thì dầu chưa rõ hết chơn lý nhưng cũng biết chắc chánh văn.

    a.2.5/- Vì sao chỉ có 3072 ngôi sao?
    Nó liên quan đến Nho Tông Chuyển Thế.
    Đêm 30 tháng 10 Năm Kỷ-Sửu. “Đền Thánh”. Đức Hộ Pháp:
    Đức Khổng-Phu-Tữ từ giả quan-trường về giáo-đạo dạy các môn-đệ của Ngài; thiên-hạ gọi là vô-phước mà cảnh thiệt vô-phước của Ngài là lúc Ngài làm quan cho nhà Châu, làm quan cho nước Tề, nước Yên và lúc châu-lưu trong Lục-Quốc.
    Bây giờ sống với Thất-Thập Nhị-Hiền, Tam-Thiên Đồ-Đệ của Ngài, là Ngài hạnh-phúc hơn hết, vì Ngài biết cái thú vị cái sống của Ngài thế nào; cái sống của Ngài vui về Đạo mà thôi....
    Vậy 3072 ngôi sao trên Quả Càn Khôn còn thể hiện cho Nho Tông Chuyển Thế.
    &&&
    Ngày 16 Janvier 1927 (13-12-Bính Dần). Đức Lý Giáo Tông dạy trong ngày dâng Tân Luật...
    Ðạo đã thành, Ðạo đã mạnh, cho đến đổi trái Càn Khôn này dở hổng lên khỏi ngất mấy từng, làm cho các Tôn Giáo đã lập thành trên mặt địa cầu nầy phải kinh khủng sợ sệt... Cười....
    Chư Hiền Hữu cầm trọn nhơn loại vào tay, Lão hỏi có chi quý trọng mạnh mẽ bằng chăng?... Hay....
    Hễ Ðạo trọng thì tức nhiên chư Hiền Hữu trọng. Vậy thì chư Hiền Hữu biết trọng mà lo sửa vẹn người đời.
    (Đạo Sử Q2).
    Dở hổng trái càn khôn nầy lên mấy từng là trái càn khôn nào?
    Chữ càn khôn đây là chỉ địa cầu 68 hay 67?
    Theo thiễn ý là nâng trái càn khôn 68 lên thành 67.
    Trong địa cầu 67 thì Hội Thánh cầm nguồn máy hành chánh tôn giáo. Hội Thánh có HTĐ và CTĐ vậy Hội Thánh nào cầm?
    Xin thưa rằng Đức Chí Tôn vi chủ Bát Quái Đài là hồn đạo nên Ngài cầm chánh giáo. Đức Chí Tôn thì cao không với tới khuất không rờ đặng nên Ngài giao cho HTĐ cầm số mạng nhơn sanh mà LẬP THÀNH CHÁNH GIÁO.
    Lập thành chánh giáo xong rồi thì giao quyền Cầm số mạng nhơn sanh lại cho Cửu Trùng Đài để thực thi chánh giáo.
    Vậy thì Hội Thánh HTĐ chỉ nắm một thời gian ngắn để LẬP THÀNH CHÁNH GIÁO. Lập xong rồi thì giao cho CTĐ điều hành cho đến thất ức niên.
    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186

    &&&
    a.2.6/- Địa Cầu 72 ở đâu?

  10. #10
    Tham gia ngày
    Dec 2012
    Bài viết
    209


    a.2.6/- Địa Cầu 72 ở đâu?

    Ngày 23-3-Canh Ngũ. (21-4-1930) Thầy dạy:
    .... Đạo tuy cao, song nên biết sức quỉ, cũng chẳng hèn; nếu không ngăn-ngừa, dằn lửa nóng trong tâm, thì lửa Tam-muội của Quỉ-vương đốt cháy. Con khá hiểu lời Thầy, và nên biết rằng, nếu con chẳng dụng quyền-lực của Thầy, ban cho con, mà đương-cự dìu-dắt các em, thì một ngày kia, nó dẫn đi lần hồi hết; rồi còn một mình; như chim lẻ bạn, như phụng lạc bầy; gặp cơn giông-tố kia, cũng chẳng sức gì đởm-đương cho khỏi xa nơi hắc-ám. Chừng ấy thì Thế-giái phải tạo-lập lại, sụt các con cho đến địa cầu bảy mươi hai, đặng chờ lúc thiên-niên đày vào nghiệt-cảnh. Nên biết trách-nhậm rất nặng-nề, nếu chẳng kham, thì con đường thiêng-liêng kia, đâu an-vị được.
    (TNHT Q2 trang 75. Bản in 1963)
    sụt các con cho đến địa cầu bảy mươi hai, là khi môn đệ Thầy làm hư mối Đạo quí giá Thầy lập cho nhân loại. Làm cho cuộc tiến hóa chậm lại....
    Trở chơn ít kẻ lo đi ngược,
    Bước đọa xem qua dấu dập dìu...
    (Thánh Ngôn).

    Đã có nhiều cách giải thích. Nay đem áp dụng vào trường hợp thăng đọa theo các quả địa cầu ta thấy nó hoàn toàn đúng và rất cụ thể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đi ngược là đi từ địa cầu 68 lên 67 và lần lên nữa cho tới đệ nhứt cầu....Thầy dạy:
    ...Cái quý trọng cuả mỗi địa-cầu càng tăng thêm hoài, cho tới Đệ-nhứt-cầu, Tam-Thiên-Thế-Giái; qua khỏi Tam-Thiên-Thế-Giái mới đến Tứ-Đại-Bộ-Châu, qua Tứ-Đại-Bộ-Châu mới vào đặng Tam-Thập-Lục-Thiên; vào -Tam-Thập-Lục-Thiên rồi phải chuyển kiếp tu-hành nữa, mới đặng lên đến Bạch-Ngọc-Kinh, là nơi Đạo Phật gọi là Niết-Bàn đó vậy.
    (TNHT Q1 trang 74 bản in 1973).

    %%%%
    Vậy địa cầu 72 ở đâu? Nó là cảnh giới hay địa điểm?

    Có phải là ở tại thế gian nầy? ở trong địa cầu 68 nầy nhưng không được hưởng ánh sáng thiêng liêng của Thầy là Đạo nên sống trong cảnh u u minh minh, tối tăm về tinh thần.

    Thiễn nghĩ địa cầu 72 chính là cuộc sống nặng về thú tánh của con người. Cái phần sống của con thú lớn hơn phần sống của người trong mổi con người. Nó quay lại vòng quay tiểu hồi (vật chất, thảo mộc, thú cầm). Còn khi sống với phần sống đậm chất người mới tham dự vào vòng quay đại hồi (đủ quyền vượt cấp không phải tuần tự đi theo thứ tự: Thần, Thánh, Tiên, Phật khi lập vị).

    Tóm lại theo chúng tôi hiểu đó là DIỆN tấn hóa rất chậm (về tâm linh) trên địa cầu nầy, ngay trong cõi người nầy.
    Thầy dạy đã thả một lũ hổ lang ở lẫn lộn với loài người... vậy lũ hổ lang đó ở đâu? Có phải nó chính là phần THÚ TÁNH trong mổi con người.

    Tánh có thú tánh, có nhơn tánh... có Tiên tánh, Phật tánh và Thiên tánh. Nên khi Đức Lý dạy: Tu tánh đã xong tới luyện lòng ấy là Ngài dạy tu cái thú tánh trước cho thành nhơn tánh.

    Đó là bước căn bản, không tu cái thú tánh trong con người mình cho xong là tự mình bày cái thú tánh của mình ra cho mọi người thấy rồi còn hành đạo được gì? Nói lời đạo đức mà cái tánh thú còn lù lù ra đó có phải là tà nhơn thuyết chánh pháp, chánh pháp qui tà pháp theo kinh Kim Cang dạy đó chăng?

    Tu cái thú tánh không xong thì mọi việc khác đều là xây lâu đài trên cát. Đức Hộ Pháp cũng dạy tìm đạo là tìm cách trị cái thú tánh trong con người mình trước. Cái thú tánh nầy rất mạnh mẽ và chực chờ cắn xé chính chúng ta trên đường tu nên Thầy dạy thả lũ hổ lang là vậy.

    Đó là hiểu riêng cho chữ TU TÁNH trong bước đầu mà thôi, còn những bước sau xin gác lại...
    &&&

    Điều ghi nhận được là trước khi Thầy lập ĐĐTKPĐ thì giới khoa học có đưa ra thống kê rằng: Khi có một phát minh của khoa học thì cần thời gian nhiều năm mới đưa ra ứng dụng được.
    Nhưng càng về sau thì khoản thời gian ấy rút ngắn dần... cho đến hiện nay thì hầu như khi có một phát minh nào về khoa học thì nó được giới kỷ thuật ứng dụng ngay tức khắc.
    Cái khoản cách giữa một phát minh khoa học đến đưa vào ứng dụng trong kỷ thuật rút ngắn chính là sự tiến hóa nhanh.

    Đó là nói về khoa học tự nhiên. Còn về khoa học xã hội thì sao?
    Theo Tây lịch thì: Có tháng 30 ngày, có tháng 31 ngày (ngoại trừ tháng 02).
    12 tháng thành một năm.
    Một thế kỷ là 100 năm.
    Một thiên niên kỷ là 1.000 năm.
    Nên thế kỷ thứ I được tính từ năm 01 đến năm thứ 100.
    Thế kỷ thứ II được tính từ năm 101 đến năm thứ 200.
    Nhưng đến năm 2000 thì ở Việt Nam (và nhiều nơi trên thế giới) phần nhiều lại cho rằng đã sang thế kỷ 21. Và được xã hội chấp nhận.
    Thiên niên kỷ thứ nhất từ năm 01 đến năm 1.000.
    Nhưng thiên niên kỷ thứ 2 lại từ năm 1.001 đến năm 1.999 (ít hơn thiên niên kỷ thứ nhất 01 năm).
    Như vậy thiên niên kỷ thứ 03 đã đến sớm hơn 02 thiên niên kỷ trước đó 01 năm.
    &&&

    Trong trách nhiệm của việc xây dựng một nền văn minh mới thì Hội Yến Diêu Trì Cung năm nào cũng có. Đó là nơi trình bày những phát minh mới của nhân sự trong và ngoài ĐĐTKPĐ.
    Long Hoa Thị là nơi Hội Thánh trưng bày những công thức, những mô hình hoàn chỉnh trong các lãnh vực: Học, Y, Nông, Hộ, Lương, Công... để mọi người đến quan sát và thỉnh về để xây dựng quê hương mình. Đó chính là thúc đẩy cho xã hội được mở mang nhanh chóng trong hòa bình, trong dân chủ và tự do... đó là một cuộc tấn hóa cả về tinh thần lẫn vật chất....
    Tóm lại đó tài nguyên và môi trường Thầy tạo lập cho nhân loại bước vào sống trong địa cầu 67.

    a.2.7/- Câu: sụt các con cho đến địa cầu bảy mươi hai, có nghĩa là địa cầu 72 vẫn có nhơn loại ở.

    Đêm 05-10- Mậu-Tý (05-11-1948). Đức Hộ Pháp giảng:
    Ngày nay Bần-Đạo giảng tiếp cuộc dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống....
    ...Chúng ta lấy sự so-sánh gọi là chủ quyền hơn hết là trong phần 72 trái địa-cầu có nhơn-loại ở,...
    ...Chẳng phải nơi mặt địa-cầu này thôi, trong Tam-Thiên Thế-Giái, Thất-Thập-Nhị Địa-Cầu cũng vậy, đều có đại-diện của mình nơi đó đặng để bào chữa tội cho Vạn-Linh sanh chúng.
    Các bạn duy có tu mà thành, tu hành thì không ai có quyền-hành nào biếm nhẻ các bạn, và không có quyền-hành nào bỏ rơi các bạn. Nhớ hằng ngày tưởng-tượng tới lẽ ấy, để tâm hăng-hái đặng làm bửu-bối mà theo chơn Chí-Tôn cho trọn Đạo.


    Bài 20.
    Trong Càn-Khôn Vũ-Trụ này, cái địa-cầu 68 này là hạng chót, hạng khổ não nhứt nơi mặt địa cầu này, kiếp sanh nơi mặt địa-cầu 68 này không phải đáng cho chúng ta lưu-luyến, mặt địa-cầu này khổ não lắm, khổ não hơn hết.
    Trần Văn Chí.
    Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
    facebook:
    http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186
    3.2/- Xác định địa cầu 68 (lần 01).

Trang 1/2
1 2

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. LUẬT THIÊN ĐIỀU -PHÁP LUẬT HAY LUẬT PHÁP
    Bởi admin trong mục Phòng chờ kiểm duyệt
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 30-10-2008, 08:23 AM