+Trả Lời Chủ Đề
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 10

Ðề tài: Bản quyền hay Sở hữu trí tuệ trong Tôn giáo

  1. #1
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar

    Bản quyền hay Sở hữu trí tuệ trong Tôn giáo.
    Chủ đề này được Trung ngôn lập ra để làm rõ thêm về ý kiến của vài người có can đảm đòi quyền về bản quyền – nói cách khác là đòi quyền về sở hữu trí tuệ.
    Trên diễn đàn này, có người đòi về bản quyền của một số hình ảnh, tên gọi, vật sử dụng, v.v. liên quan đến tôn giáo mà cụ thể là tôn giáo họ đã lập minh thệ “gìn luật lệ Cao Đài”; song, dường như chỉ thể hiện hoặc là cái ta, hoặc thể hiện một điều trong ngũ giới cấm hoặc … có thể là do thiếu hiểu biết pháp luật.
    Trung ngôn mạo phạm cùng trao đổi về pháp luật hiện hành liên quan đến sở hữu trí tuệ và quyền cá nhân của Quý vị về sở hữu trí tuệ.
    Nguồn tham khảo:
    1. Hiến pháp nước Việt Nam năm 2013.
    2. Bộ Luật dân sự hiện hành – 2005, xem tại đây: http://vanban.chinhphu.vn/portal/pag...ument_id=14754
    3. Luật sở hữu trí tuệ - 2005, xem tại đây: http://vanban.chinhphu.vn/portal/pag...ument_id=30015
    4. Nghị định của Chính phủ quy định về sở hữu trí tuệ, Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, xem tại đây: http://vanban.chinhphu.vn/portal/pag...ument_id=16055
    5. Một số nghị định khác của chính phủ liên quan đến sở hữu trí tuệ, văn bản quy phạm pháp luật khác - có thểm tìm kiếm bằng google.
    (còn nữa)
    Trung ngôn.

  2. #2
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    BẢN QUYỀN HAY QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG TÔN GIÁO

    I. DẪN
    Trong tôn giáo, khái niệm bản quyền hay quyền tác giả hay còn gọi theo ngôn ngữ pháp luật là quyền sở hữu trí tuệ; quyền này dường như tác giả bỏ ngõ mà không chịu xưng danh là của mình, hoặc yêu cầu không ai được sử dụng khi không có ý kiến của tác giả.
    Dường như các nhà tạo lập tôn giáo lẫn lãnh đạo tôn giáo qua các thời kỳ từ nhứt kỳ, nhị kỳ đến tam kỳ không ai chịu nhận đó – sở hữu trí tuệ - là tài sản của riêng mình. Tổ chức tôn giáo trên khắp hoàn cầu cũng không năm ngoài.
    Có ai nghèo như Đức Jesus, khi chưa sinh đã bị truy sát, sinh ra thì lấy máng làm giường, lấy cỏ làm chăn; khi chưa tạo lập xong các giá trị đạo đức để đời noi theo thì phải chịu cảnh đóng đinh trên thập tự giá; uống chén đắng để cứu chuộc loài người.
    Có ai giàu như Đức Thích Ca, vợ đẹp con khôn, quyền quý ai sánh bằng một vị vua; rồi Ngài bỏ đi, tìm cho mình một phương giải thoát hòng cứu loài người khỏi kiếp trầm luân.
    Có ai bằng Đức Thượng Đế, giáng trần không biết lấy tên gì mà phải tá danh Cao Đài, xưng là Thầy; lập hiệu Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, lấy phẩm chót nhất của các cựu giáo làm tên gọi của mình.
    Nhưng chưa thấy tài liệu nào mà loài người có được; rằng các Đấng ấy đòi quyền sở hữu đối với tài sản tại thế gian trong đó có vô hình và hữu hình.
    Vậy câu hỏi đặt ra: Tại sao con người – chỉ vài người cam đảm làm một việc – đòi quyền sở hữu đối với tài sản vô hình lẫn hữu hình có giá trị tôn giáo?
    Bài viết dưới đây không nhằm trả lời câu hỏi trên mà chỉ đưa ra các căn cứ pháp luật hiện hành về quyền đối với tài sản gọi là sở hữu trí tuệ; từ đó, người đọc có được cơ sở vững chắc hơn để có thể giải thích, khuyên can cho ai đó trong số bạn đồng môn hoặc ít hơn là người đối diện có yêu cầu về bản quyền – tức quyền sở hữu trí tuệ.
    (còn tiếp)
    Trung ngôn.

  3. #3
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    (tiếp theo)
    II. NHẬP
    Tân luật điều 10, chương 2 về Người giữ đạo có khoản: “Buộc phải thuộc Kinh và thông hiểu Luật Pháp của Ðại Ðạo truyền ra”; đó là quy định về nghĩa vụ của người đã nhập môn hoặc tắm thánh trong Cao Đài giáo (sau đây gọi là tín đồ Cao Đài).
    Quyền về sở hữu trí tuệ của một người hoặc một nhóm người được quy định bởi pháp luật hiện hành, nơi tài sản này đang có hoặc nơi người đó đang ở, tất cả được quy định theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
    2. 1 Căn cứ pháp luật.
    - Hiến pháp năm 2013 (HP 2013), điều 32, khoản 2. “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.
    - Hiến pháp năm 2013, điều 62, khoản 2. “Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”.
    - Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005), Điều 13. Căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự, Quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây: 4. Sáng tạo giá trị tinh thần là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ;
    - Bộ luật dân sự năm 2005, điều 181. Quyền tài sản; Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ.
    - Bộ luật dân sự năm 2005, từ điều 736 đến 749 quy định về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền quyền tác giả.
    - Luật Luật số 50/2005/QH11: Luật Sở hữu trí tuệ.
    - Nghị định số 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.
    - Các nghị định khác của Chính phủ quy định về quyền tác giả và các quyền liên quan đến quyền tác giả.
    Trên đây là một số quy định của pháp luật hiện hành quy định về bản quyền – hay còn gọi theo thuật ngữ pháp lý là sở hữu trí tuệ.
    (còn tiếp)
    Trung ngôn.

  4. #4
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    (tiếp theo)
    2.2 Thực trạng.
    Một người A, nhân danh Hội Thánh B đòi quyền C – quyền sở hữu trí tuệ.
    Chúng ta cùng nhau xem xét vấn đề mà A đang làm.
    A là tín đồ Cao Đài có các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tôn giáo đó; trong Cao Đài giáo, quyền của A là rất lớn; trong đó có quyền được Thầy bảo hộ, chở che; quyền được Hội Thánh dìu dắt, lớn trước em sau đến nơi Bồng Đảo; quyền nhân sanh hiệp cùng các quyền khác để có quyền Vạn linh – đối với quyền Chí tôn.
    Hội Thánh là tổ chức giáo hội để thực hiện một kế hoạch do Thầy lập ra, các phẩm chức sắc từ Giáo tông trở xuống thực hiện nhiệm vụ mà Pháp chánh truyền, Tân luật và các văn bản mang tính luật khác đặt để.
    Vậy A nhân danh Hội Thánh, thì:
    2.2.1. Có được Hội Thánh giao nhiệm vụ để nhân danh làm hay không là một việc gì đó không? Có nhận được sự ủy quyền từ Hội Thánh đó hay không?
    Ở đây, A có được Hội Thánh B đó giao việc đòi bản quyền bằng một quyết định hành chánh đạo hay không?
    Nếu không có quyết định thì Hội Thánh B, bằng một văn bản có nội dung ủy quyền nhằm nhân danh Hội Thánh này để A thực hiện việc đòi quyền về bản quyền.
    2.2.2. Việc giao nhiệm vụ đó được thể hiện bằng một quyết định hay bằng một văn bản có nội dung ủy quyền để thực hiện việc nhân danh hay không? Văn bản này có giá trị pháp luật hay không?
    A phải trình bày trước mọi người về quyền của mình khi nhân danh Hội Thánh B về văn bản như tại 2.2.1.
    Tính hợp pháp của văn bản hành chánh như tại 2.2.1: Hội Thánh B có quyền về loại bản quyền mà B giao cho A thực hiện bằng một quyết định hoặc văn bản ủy quyền. Có quyền về tài sản mới giao cho người khác thực hiện một số quyền của mình được – nhân danh Hội Thánh B.
    2.2.3. Hội Thánh mà A nhân danh đó có tồn tại hay không?
    Hội Thánh B có quyền về tài sản như tại 2.2.2 có tồn tại hay không? Đây là vấn đề khá khó khăn cho A khi giả định bằng một cách nào đó, A có đủ 02 điều kiện tại 2.2.1 và 2.2.2.
    Hiện tại, đến thời điểm này, bản quyền mà A đang nhắm tới để đòi lại không thuộc tổ chức tôn giáo nào như quy định của pháp luật về tôn giáo – cụ thể là nghị định số: 92/2012/NĐ-CP; có nghĩa rằng, tổ chức tôn giáo được lập hiện nay không phải là tổ chức có các giá trị tôn giáo mà A đang đòi.
    Việc này thể hiện cụ thể tại các con dấu đang đăng ký lưu hành và có hiệu lực pháp luật.
    Trả lời được một trong ba câu hỏi trên thì sẽ biết vị trí pháp lý của A trong trường hợp này.
    (còn tiếp)
    thay đổi nội dung bởi: Trung ngôn, 01-03-2014 lúc 04:11 PM
    Trung ngôn.

  5. #5
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar

    (tiếp theo)
    Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét về quyền của A đối với C – sở hữu trí tuệ.
    2. 3 Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (tức bản quyền):
    Một số từ ngữ sau xác định tạm thời, được gọi là tài sản theo luật, hay sở hữu trí tuệ có quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả: hình ảnh Tòa Thánh Tây Ninh, kiến trúc Tòa Thánh Tây Ninh, Pháp chánh truyền, Tân luật, kinh, luận, sử, v.v. liên quan đến có nguồn xuất xứ từ Cao Đài giáo nói chung; sau đây gọi là bản quyền.
    Theo quy định của pháp luật hiện hành, nguồn gốc tài sản sẽ hình thành từ quyền, theo điều 13, BLDS 2005; trong tôn giáo, Cao Đài giáo cũng không ngoại lệ thì hầu hết các giá trị tôn giáo hữu hình thuộc nhóm: “Sáng tạo giá trị tinh thần là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ” [Trung ngôn xin được hồ đồ trong trường hợp này để khu trú đối tượng nhằm cho người đọc dễ hiểu hơn].
    Cũng tại điều này, các quyền và nghĩa vụ được xác lập như sau:
    Điều 13. Căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự
    Quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây:
    1. Giao dịch dân sự hợp pháp;
    2. Quyết định của Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác;
    3. Sự kiện pháp lý do pháp luật quy định;
    4. Sáng tạo giá trị tinh thần là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ;
    5. Chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật;
    6. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;
    7. Thực hiện công việc không có uỷ quyền;
    8. Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật;
    9. Những căn cứ khác do pháp luật quy định.
    Một trong các quyền trên phải được xác lập bởi một số ràng buộc tối thiểu nhất định để quyền đó trở thành của mình (một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức); gọi nôm na là đăng ký.
    Ví dụ: Tên gọi riêng của mình hiện đang có cũng phải đăng ký, người ta gọi chung là khai sanh.
    Tham gia diễn đàn Tuổi Trẻ Cao Đài phải đăng ký một cái tên, một mật khẩu – tức chìa khóa để tham gia.
    Làm môn đệ của Đức Cao Đài phải xưng tên với Ngài mặc dù là đọc tên thôi, rồi có người đem tên vào để trong bộ tịch Đạo, thời Tam Kỳ này trước hết có bộ Thanh – Hương.
    Còn không làm thì có thể là vô danh – không tên, đọc giả tham khảo hay làm chúng sanh vậy.
    (còn tiếp)
    Trung ngôn.

  6. #6
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    (tiếp theo và hết)
    III. MỞ
    Như đã dẫn, chúng ta có ba tiêu chí để xác lập suy nghĩ của mình về việc: Một người A, nhân danh Hội Thánh B, đòi quyền về bản quyền C.
    Theo như đã trình bày, có thể kết:
    3.1 Người A muốn đủ tư cách để đòi bản quyền thì phải có quyền đối với bản quyền đó; hãy xác lập quyền của mình trước khi thực hiện.
    3.2 Hội Thánh B, nơi mà người A đang đăng ký đạo tịch phải tồn tại; khi đó người A thực hiện đạo vụ của Hội Thánh B giao việc bằng một quyết định hoặc bằng một ủy quyền hợp pháp.
    3.3 Đối tượng bản quyền C mà người A đòi này phải được đăng ký bảo hộ bởi cơ quan có thẩm quyền và có giá trị pháp luật; khi đó A có quyền nhất định để đòi quyền của mình khi tổ chức, cá nhân khác xâm phạm.
    Vậy A muốn đòi bản quyền hay quyền về sở hữu trí tuệ, như đã thấy là quyền về các bài kinh đang được các môn đệ Cao Đài đọc tứ thời, quyền về hình ảnh tam đài – Bạch Ngọc Kinh tại thế hay Thánh thất như Thầy nói; quyền sử dụng bộ Thánh ngôn Hiệp tuyển, Tân luật, Pháp chánh truyền; hay quyền về bất kỳ là gì mà A có thể nghĩ ra được;
    A có nghĩa vụ chứng minh mình có quyền về quyền đó và A cứ tự nhiên đi đòi!!!
    Giả định A có đủ quyền rồi, A cố gắng tạo lập ra một tổ chức tài phán nào đó có đủ sức nhận, xem xét và phán quyết về yêu cầu của A; hy vọng mong muốn có được quyền về bản quyền của A được chấp nhận.
    Khi đang cố gắng tạo lập các giá trị khác để đạt mục đích của mình thì A quên mất mình được định đoạt bởi quyền rất công bằng của Thượng Đế theo luật cơ bản: luật Nhân – Quả.
    Lúc này, bạn đọc có thể quyết định đối với mong muốn của người A:
    - hoặc tán đồng với A khi đòi bản quyền với các giá trị tôn giáo trong Cao Đài (tạm gọi);
    - hoặc ngược lại;
    - hoặc cầu nguyện cho người A khi họ chưa thông hiểu pháp luật;
    - hoặc cầu nguyện cho chính mình.

    Viết xong vào ngày 12/02/2014 và có bổ sung sau đó.
    Trung ngôn.

  7. #7
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar
    Đề tài này lâu quá không thấy bổ xung gì hết vậy nè ?

    -Copyright ©2005-2015, CAODAIVN.COM - TUỔI TRẺ ĐẠI ĐẠO

    Cho xin hỏi , những bài đăng trong diễn đàn, muốn đăng nơi khác có phải xin phép không ? nếu có thì cho phép ai vậy ?

    Kinh sách các tôn giáo bạn thường thì không có bản quyền, ai phát tâm tìm mọi phương tiện để phổ biến kinh sách, giáo lý của tôn giáo mình.

    Kinh sách đạo Cao Đài thường thì đóng mộc BẢN QUYỀN, không biết Thầy và các Đấng Thiêng Liêng có cấp BẢN QUYỀN cho cá nhân hay một nhóm không nữa ?

    Theo mình nghĩ , kinh sách, giáo lý của Thầy và Các Đấng Thiêng Liêng dạy là của chung cho chúng sanh, không dành riêng cho cá nhân hay một nhóm nào.
    Mượn lời dạy của Các Đấng Thiêng Liêng viết thành sách cũng không có qưyền có bản quyền, vì Các Đấng Thiêng Liêng không có cho cá nhân hay một nhóm, BẢN QUYỀN những lời dạy đó .
    Cao Đài Đại Đạo
    http://www.caodai.info

  8. #8
    Tham gia ngày
    Nov 2008
    Bài viết
    75
    dtcl's Avatar
    Dtcl nghĩ rằng những bài đăng trên diễn đàn nếu copy sang nơi khác thì dẫn nguồn là được rồi. Mà không chỉ riêng diễn đàn, muốn đăng lại bài của ai (trên mạng) thì nên dẫn nguồn cụ thể để tôn trọng tác giả. Chữ BẢN QUYỀN trong kinh sách Cao Đài có lẽ không được thiện cảm cho lắm nhưng vẫn rất cần ghi nguồn gốc xuất sứ, vì sợ tam sao thất bổn lắm, mà kinh sách sai thì hậu quả không biết thế nào. Ví dụ ghi Hội Thánh giữ bản quyền thì Hội Thánh chịu trách nhiệm cho nội dung đó, lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng cũng phải được sao chép cẩn thận để tránh sai sót. Còn ai làm sai, thì người đó chịu tội với Thiêng Liêng thôi. Nếu không ghi bản quyền, hay được Hội Thánh xét duyệt thì nhiều phần tử có thể mượn danh Thiêng Liêng thêm bớt nội dung theo mục đích của họ. Chuyện này không phải là không có thưa huynh.
    Tâm tĩnh lặng

  9. #9
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Bài viết
    771
    DangVo's Avatar
    Nguyên văn bởi dtcl Xem Bài viết
    Nếu không ghi bản quyền, hay được Hội Thánh xét duyệt thì nhiều phần tử có thể mượn danh Thiêng Liêng thêm bớt nội dung theo mục đích của họ. Chuyện này không phải là không có thưa huynh.
    Những phần tử đó phá được Đạo Thầy ? Mình nghĩ là không bao giờ được .

    Lời dạy của Thầy và các Đấng là cho tất cả nhơn sanh, vì một lý do nào đó mà làm của riêng cho cá nhân hay một nhóm, đối với mình thì đó là phạm giới, theo Tứ Đại Điều Qui thì mình chỉ đưa cảm nghĩ của mình cho tròn bổn phận .
    Đúng hay sai tuỳ suy nghĩ của mỗi người .
    Mình nghe lời Thầy, ráng lo tập tu tâm sửa tánh, còn mọi chuyện khác thì có Thầy và các Đấng lo hết rồi.
    Xin chấm dứt ở đây nha, xong nhiệm vụ rồi .
    Cao Đài Đại Đạo
    http://www.caodai.info

  10. #10
    Tham gia ngày
    Oct 2007
    Bài viết
    1.368
    Trung ngôn's Avatar
    Nguyên văn bởi Trung Ngôn
    Có ai nghèo như Đức Jesus, khi chưa sinh đã bị truy sát, sinh ra thì lấy máng làm giường, lấy cỏ làm chăn; khi chưa tạo lập xong các giá trị đạo đức để đời noi theo thì phải chịu cảnh đóng đinh trên thập tự giá; uống chén đắng để cứu chuộc loài người.
    Có ai giàu như Đức Thích Ca, vợ đẹp con khôn, quyền quý ai sánh bằng một vị vua; rồi Ngài bỏ đi, tìm cho mình một phương giải thoát hòng cứu loài người khỏi kiếp trầm luân.
    Có ai bằng Đức Thượng Đế, giáng trần không biết lấy tên gì mà phải tá danh Cao Đài, xưng là Thầy; lập hiệu Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, lấy phẩm chót nhất của các cựu giáo làm tên gọi của mình.
    Kính HTDM,
    Theo lời Thầy tức Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, vào ngày trước 15/10/Bính Dần 1926, Thầy có nói; được trích dẫn như dưới đây:

    Bài 30 / Q.1
    Samedi 11 Septembre 1926
    5-8-Bính Dần

    Nguyên văn bởi
    NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ VIẾT CAO ÐÀI
    TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
    GIÁO ÐẠO NAM PHƯƠNG

    Hỉ chư môn đệ, hỉ chư nhu.
    Các con nghe.
    Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát, hai phẩm chót của Tiên, Phật. Ðáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao tối trọng; còn Thầy thì khiêm nhường là thế nào? Vì vậy mà nhiều kẻ môn đệ cho Thầy là nhỏ... Cười...
    Hạnh khiêm nhường là hạnh của mỗi đứa con, phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi thiên hạ đặng. Các con phải khiêm nhường sao cho bằng Thầy. Thầy lại nói, buổi lập Thánh Ðạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu đến nhọc công Thầy.
    Ấy vậy các con rán độ kẻ tội lỗi, là công lớn làm cho Thầy vui lòng hơn hết.
    Trung Ngôn có vài dòng giải thích thêm 2 phẩm chót mà Thầy tá danh.
    Hoặc là Thầy sai vì không đúng như ý mình (một vài người cho đến một đám đông người),
    Hoặc điển ký ghi chép sai,
    Hoặc chức sắc Hiệp Thiên Đài khi xuất bản TNHT đã không cẩn thận nên sai.

    Trung Ngôn chỉ dám nói lại những lời Thầy nói, ngoài ra không có ý gì hết.

    Kính.
    Trung ngôn.

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Quyền lập luật trong Pháp chánh truyền
    Bởi Trung ngôn trong mục Đề tài thảo luận
    Replies: 5
    Có Bài Mới: 30-12-2015, 10:22 AM
  2. Đức Quyền Giáo Tông ( Giảng )
    Bởi su_that trong mục Diễn đàn hoà hiệp
    Replies: 10
    Có Bài Mới: 16-01-2009, 02:50 AM
  3. Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung
    Bởi Hạnh Nguyên trong mục Cơ sở Đạo & Hội thánh
    Replies: 14
    Có Bài Mới: 18-08-2008, 03:08 AM
  4. GIÁO PHÁP VÀ GIÁO QUYỀN
    Bởi nhattrung trong mục Vấn đáp học Đạo
    Replies: 10
    Có Bài Mới: 12-06-2007, 10:34 PM