+Trả Lời Chủ Đề
kết quả từ 1 tới 2/ Tổng số 2

Ðề tài: Tìm Hiểu Về Tam Cung

  1. #1
    Tham gia ngày
    Jan 2007
    Bài viết
    138
     

    Trong Đạo Cao Đài, Đức Phạm Hộ Pháp vâng lịnh Đức Chí Tôn lập ra ba cung dùng làm cơ sở cho Tịnh Thất để dạy Bí pháp Luyện đạo. Ba cung đó là:


    - Trí Huệ Cung, trong Thiên Hỷ Động, lập tại ấp Trường Xuân, xã Trường Hòa, Châu Thành Thánh Địa Tây Ninh, cách TTTN khoảng 7 cây số về hướng Đông Nam.


    - Trí Giác Cung, trong Địa Linh Động, lập tại ấp Trường Thiện, xã Trường Hòa, Châu Thành Thánh Địa Tây Ninh, cách TTTN khoảng 3 cây số về hướng Đông Nam.


    - Vạn Pháp Cung, trong Nhơn Hòa Động, lập tại chơn núi ở phía nam núi Bà Đen, nhưng vì chiến tranh xảy ra trước đây nên phải dời cơ sở về tạm đặt tại xã Ninh Thạnh, hướng Bắc Tòa Thánh Tây Ninh.


    Vạn Pháp Cung dùng làm Tịnh Thất riêng cho nam phái.


    Trí Huệ Cung dùng làm Tịnh Thất riêng cho nữ phái.


    Trí Giác Cung dùng làm Tịnh Thất cho cả nam và nữ.



     


    Phần 1: TRÍ HUỆ CUNG (Thiên Hỷ Động)


    Đức Phạm Hộ Pháp khởi tạo Trí Huệ Cung và khai mở vùng phụ cận vào cuối năm Đinh Hợi (1947) và ngày hoàn thành là ngày Đức Phạm Hộ Pháp trấn pháp Trí Huệ Cung, 15-12-Canh Dần (dl 22-1-1951).


    Đức Phạm Hộ Pháp có đọc một bài diễn văn tại Trí Huệ Cung ngày 17-8-Tân Mão (dl 17-9-1951), có sự hiện diện của ông Tỉnh Trưởng tỉnh Tây Ninh, để giới thiệu với ông Tỉnh Trưởng và chánh quyền đời, vùng đất nơi Trí Huệ Cung do Đạo Cao Đài khai mở, nay giao lại cho chánh quyền đời để tiếp tục mở mang rộng lớn thêm.


    Sau đây xin trích một đoạn trong bài Diễn văn nầy:


    'Từ ngày Đức Chí Tôn giáng cơ mở đạo đến nay, phần đông con cái của Người đến nương sống nơi đây, mới đủ sức lực mở mang điền địa.


    Bần đạo thấy đặng sự thật là: Ta có đủ điền địa phì nhiêu mà nuôi dân phu phỉ, nhưng phú hữu của nó chưa quá khác, vì ai cũng biết lâm sản của nó mà không nỡ phá hại đặng mở mang điền địa. Cả lợi tức trong một hạn lệ từ năm mở tới 10 năm sau đặng thâu một mối lợi tân khai tân khẩn, vẫn bao giờ cũng làm cho chánh phủ cầm quyền buổi nọ e dè, không nhứt quyết. Bần đạo vì phải tầm phương sanh sống cho Đạo nên đã mạo hiểm từ trên 20 năm, thắng nỗi khó khăn trở lực, ngày nay điền địa bổn xứ ta khai mở quá nhiều rồi, tưởng khi trong năm mười năm nữa đây, dân bổn tỉnh khỏi phải mua gạo lúa miền Trung và Hậu giang, mà sống vì nguồn lợi sẽ phu phỉ.







    Sơ đồ vùng đất Thiên Hỷ Động - Trí Huệ Cung

    Khoảng đất ngày nay đặng tên Thiên Hỷ Động nầy, trước 20 năm, đây là rừng rậm, nên đã xin khai khẩn, song họ chỉ ăn cây và củi của nó, chớ không đủ sức mở mang cho nổi.


    Bần đạo thấy địa thế của nó rất nên tốt đẹp và đất địa của nó là thứ phì nhiêu, nên nay khai mở cho thành khoảnh, cái đẹp của nó, hôm nay ta vui thấy đây đã đáng giá, trót cả 10 năm nhọc nhằn.


    Bần đạo đã cỡi ngựa ruồng khắp vùng nầy. Được hiểu rằng đất nầy sẽ trở nên quí báu cho dân bổn xứ, xóm Trường Hòa, Ngài (Đức Hộ Pháp gọi ông Tỉnh Trưởng Tây Ninh) đã thấy rõ là một làng rừng, chớ không phải mảy may là thành thị, mà hôm nay đã trở nên một đô thị tối tân và đẹp đẽ, chẳng phải đẹp mà thôi, mà nó sẽ trở nên giàu có nữa mà chớ.


    Bởi thế cho nên, Bần đạo mở con đường An Nhàn Lộ và bắc cây cầu Đoạn Trần Kiều, đặng làm cho ngọn suối không còn là chướng ngại vật nữa, mà là con kinh thiên nhiên giúp cho sự mở mang vườn ruộng.


    Con đường nầy liên hiệp với con đường sẽ mở từ Trường Hòa vô vùng Thiên Hỷ Động mà Bần đạo đặt tên là Trường Xuân Lộ, rồi lại hiệp luôn với con đường ra Cẩm Giang mà Bần đạo lại đặt tên là Thiên Thọ Lộ.


    Các cơ thể của Bần đạo đã gầy nên là quyền xã hội, tức là quyền của chánh phủ và của dân, nên nay Bần đạo phải làm lễ mở các tân lộ ấy và giao nó lại cho Ngài sử dụng.


    Cử chỉ ấy chẳng qua là Bần đạo thi hành y theo chơn pháp Cao Đài giáo, khi đời chịu thống khổ thì Đạo phải giúp đời. Phận sự của Bần đạo đã xong, bây giờ là phận sự của quan lớn.


    Dân đã cho Bần đạo hiểu rằng, con đường mới nầy nó sẽ cho khách du hành đặng 4000 thước tây gần hơn chúng ta sẽ đi trên hai con đường lộ ấy đặng về Châu Thành, coi có quả vậy chăng?"



    Thiên Hỷ Động có vòng rào vuông vức rộng lớn bốn bên, mỗi bên có xây một cổng lớn ra vào, trên cổng có tấm bảng đề chữ THIÊN HỶ ĐỘNG, hai cột cổng có cẩn đôi liễn TRÍ HUỆ:












      智定天良歸一本
    慧通道法度群生
      Trí định thiên lương qui nhứt bổn,
    Huệ thông đạo pháp độ quần sanh.
    Nghĩa là: Sự khôn ngoan hiểu biết của con người sắp đặt đem cái Thiên lương trở về hiệp vào một gốc, (gốc đó là Thượng Đế),
    Cái trí huệ thông hiểu đạo pháp để cứu độ nhơn sanh.

    Nơi khu trung tâm là một tòa nhà hình khối lập phương, gọi là Trí Huệ Cung.


    "Trí Huệ Cung đã thành lập nên hình tướng nhiệm mầu, bề cao 12 thước, chia làm 3 từng, mỗi từng 4 thước y nhau, bốn bên, mỗi mặt là 12 thước, vuông vức như cái hộp, ở giữa trung tâm có một cây cột đội luôn 3 từng đến nóc, gọi là Nhứt trụ xang Thiên, là nhiệm mầu."


    Khi chúng ta đứng trước Trí Huệ Cung nhìn vào, thấy Trí Huệ Cung chỉ có hai từng, đó là hai từng trên vì từng trệt được Đức Hộ Pháp xây dưới mặt đất.


    Trí Huệ Cung là cửa vào con đường TLHS:


    TĐ ĐPHP ngày 16-12-Canh Dần và ngày 26-12-Canh Dần (dl 2-2-1951), xin trích ra sau đây:


    "Ngày nay, Đức Chí Tôn đã mở cho chúng ta một con đường TLHS và Bần đạo đã vâng mạng lịnh Đức Ngài tạo dựng một bến giải thoát cho toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu nầy. Bần đạo nói: Từ đây, kể từ ngày nay, cửa thiêng liêng của Đạo đã mở rộng. Bần đạo kêu toàn thể con cái Đức Chí Tôn, ai hiểu biết mình đứng trong hàng phẩm Cửu nhị ức nguyên nhân (92 ức nguyên nhân) hãy tỉnh mộng lại đặng về cùng Đức Chí Tôn.


    Cửa nầy là cửa của các người đến đoạt pháp, đặng giải thoát lấy mình, đến trong lòng Đức Chí Tôn, vì Đức Chí Tôn đã đưa tay ra nâng đỡ mà chúng ta không đến, không tưởng nghĩ đến thì sau nầy ắt sẽ bị đọa lạc nơi cõi Phong đô. Giờ phút ấy không còn trách Đức Chí Tôn rằng: không thương yêu con cái của Người, không đem cơ quan Tận độ chúng sanh để nơi mặt địa cầu nầy cứu vớt nữa."


    "Trí Huệ Cung là một cơ quan tận độ chúng sanh đã xuất hiện nơi cửa Đạo Cao Đài nầy. Bần đạo nói rằng: nó không phải của ta, của đặc biệt của chúng ta, mà nó là của toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy, bởi vì nó tượng trưng hình ảnh Chí Linh của Đức Chí Tôn nơi thế nầy, mà hễ tượng trưng hình ảnh Chí Linh tức nhiên không có quyền nào nắm nó được, vì nó là của đặc biệt của toàn thể nhơn loại, tức nhiên toàn thể con cái Đức Chí Tôn. Nó không có phép phân biệt đảng phái, tôn giáo, hay nòi giống nơi mặt địa cầu nầy.


    Cửa Thiên Hỷ Động là cửa TLHS của toàn thể các đẳng chơn linh, nên nó không chịu thúc phược hay là nô lệ cho một tư tưởng nào, hơn là tượng trưng cái quyền vô tận vô đối của Đấng Chí Linh, hằng tạo dựng đại nghiệp cho con cái của Ngài nơi mặt địa cầu nầy, tức nhiên toàn thể nhơn loại đó vậy."


    "Bần đạo cả tiếng kêu con cái Đức Chí Tôn, nhứt là Cửu nhị ức nguyên nhân, tỉnh mộng lại, ngó nơi Trí Huệ Cung, phải vào cửa ấy mới đoạt đặng mà thôi, đoạt cơ giải thoát đặng, mới nhập vào cửa TLHS mà Đức Chí Tôn đã tạo dựng riêng biệt dành để cho mọi người."


    Đức Phạm Hộ Pháp trấn pháp nơi Trí Huệ Cung:


    TĐ ĐPHP tại Đền Thánh đêm 14-12-Canh Dần (dl 21-1-1951):


    "Ngày mai nầy trấn pháp Thiên Hỷ Động Trí Huệ Cung, Bần đạo lấy làm mừng đã làm tròn phân sự đặc biệt của Bần đạo. Từ thử đến giờ, Bần đạo đã nhiều phen giảng giải về hình thể Đức Chí Tôn.


    Bần đạo đã gánh vác về thể pháp CTĐ, tạo nghiệp cho Đạo là làm giùm cho thiên hạ, chớ không phải phân sự của Bần đạo. Ngày nay là ngày vui mừng của Bần đạo hơn hết là Bần đạo còn sức khỏe đầy đủ cầm Bí pháp của Đức Chí Tôn đã giao phó. Ấy là phân sự đặc biệt của Bần đạo đó vậy.


    Hộ Pháp đến kỳ Long Hoa nầy cốt để rước Cửu nhị ức nguyên nhân là bạn chí thân của người đã bị đọa lạc nơi hồng trần không phương giải thoát, muốn rước các bạn chí thân của Bần đạo, Đức Chí Tôn buộc phải lấy pháp giới tận độ chúng sanh.


    Hôm nay là ngày mở cửa thiêng liêng và đưa nơi tay các Đấng nguyên nhân ấy một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình hai món Bí pháp ấy là:


    - Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm để lại.


    - Kim Tiên của Bần đạo.


    - hiệp với Ba vòng Vô vi, tức nhiên là Diệu Quang Tam Giáo, hay là hình trạng CKVT, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang khiếu của chúng ta đó vậy.


    Kim Tiên là gì? là tượng hình ảnh điển lực điều khiển CKVT mà chính nơi đó là điển lực tức nhiên là sanh lực đó vậy. Với nó, mới có thể mở Đệ bát khiếu, trong thân thể con người có Thất khiếu và còn có một khiếu vô hình là Huệ Quang khiếu, vì nó là điển lực nên nó mở khiếu ấy mới được.


    Nói rõ, con người có Ngũ quan hữu tướng và Lục quan vô hình, mà phải nhờ cây Kim Tiên ấy mới có đủ quyền năng mở Lục quan của mình đặng. (Lục quan là đệ lục giác quan, tức là giác quan thứ sáu).


    Long Tu Phiến có thể vận chuyển CKVT do nguơn khí đào độn sanh ra đó vậy. Nó có quyền đào độn nguơn khí, thâu hoạch nguơn khí để trong sanh lực.


    Con người nắm được điều ấy là kẻ đắc pháp, nhờ nó mới có thể luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hóa Thần được.


    Ấy là Bí pháp trấn tại Thiên Hỷ Động Trí Huệ Cung. Toàn thể ngó thấy không có gì hết, mà trong đó quyền pháp vô biên vô giới. Giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó."



    Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ tại Trí Huệ Cung đêm 25-12-Canh Dần (dl 1-2-1951) mừng Đức Phạm Hộ Pháp đã hoàn thành Trí Huệ Cung. Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo. Hầu bút: Thừa Sử Lợi.


    CAO THƯỢNG PHẨM


    Chào Hộ Pháp, Tiếp Đạo và Thừa Sử.


    Cười... Hộ Pháp, nếu bạn trông thấy cái vui mừng vô biên nơi DTC và Ngọc Hư Cung từ ngày trấn bửu pháp đến nay, thì sự khổ nhọc của bạn cũng nên cho là đáng giá.


    Đức Chí Tôn vui mừng hơn hết, còn các bạn nữ của mình thì chỉ có thấy một điều, nhứt là Bát Nương: "Bạn không cho ai vui với Bạn hết."....


    Cười... Bát Nương gởi nhắn một bài thi, Bần đạo chỉ làm lon-ton đưa lại:


                              THI:
    Mở rộng đường mây rước khách trần,
    Bao nhiêu tình gởi nhắn nguyên nhân.
    Biển mê cầu Ngọc liên phàm tục,
    Cõi thọ sông Ngân tiếp đảnh Thần.
    Chuyển nổi Càn Khôn xây võ trụ,
    Nhẹ nâng nhựt nguyệt chiếu đài vân.
    Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái,
    Điều độ quần sanh diệt quả nhân........



    Bí pháp và Thể pháp của Trí Huệ Cung:


    - Bí pháp: Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Động là cửa TLHS. Muốn đắc đạo để đi vào cõi TLHS thì phải đi tại cửa nầy mà thôi.


    "Bần đạo cả tiếng kêu con cái Đức Chí Tôn, nhứt là cửu nhị ức nguyên nhân, tỉnh mộng lại, ngó nơi Trí Huệ Cung, phải vào cửa ấy mới đọat đặng mà thôi, đoạt cơ giải thoát đặng, mới nhập vào cửa TLHS mà Đức Chí Tôn đã tạo dựng riêng biệt dành để cho mọi người." (TĐ ĐPHP)


    - Thể pháp: "Trí Huệ Cung, bên Phạm Môn tạo tác đây là nhà tu của nữ phái. Giờ phút nầy Bần đạo mới nói thiệt, tại sao làm nhà tu cho nữ phái trước? Đáng lẽ Bần đạo phải làm cho phái nam trước trên Sơn Đình mới phải chớ, như nếu Bần đạo làm cho phái nam trước, rồi họ sẽ bỏ phái nữ không làm. Bần đạo làm cho phái nữ trước, đặng họ phân bì. Dầu Bần đạo có qui thì họ cũng cố tâm làm cho nên việc." (Trích TĐ ĐPHP tại Cửu Viện PT ngày 30-8-Tân Mão 1951)


    "Ấy vậy, khi muốn bước vô Trí Huệ Cung phải có đủ Tam lập. Nhưng làm sao biết họ đã đủ việc lập Công lập Đức lập Ngôn, dầu giao Bộ Pháp Chánh cũng chưa chắc điều tra được, bởi nó thuộc về nửa Bí pháp nửa Thể pháp.


    Bây giờ Bần đạo có một điều: những người nào xin đến Trí Huệ Cung, Bần đạo coi màng màng được thì Bần đạo trục Thần của họ, cho hội diện cùng quyền năng thiêng liêng, nếu có đủ Tam lập thì vô, không đủ thì ra." (Trích TĐ ĐPHP tại Đền Thánh ngày 19-4-Tân Mão 1951).



    Cúng Tứ thời tại Trí Huệ Cung và vùng phụ cận:


    "Lập cơ hữu hình mà thuộc Vô vi chi pháp, không sắc tướng, trông không mà chứa đựng nhiệm mầu, bửu pháp vô biên vô giới, nên thờ CHA vô hình, MẸ thiêng liêng.


    Nơi Trí Huệ Cung, đúng giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu, có lịnh đổ chuông 3 hồi, mỗi hồi 2 hiệp (Âm Dương), mỗi hiệp giựt đủ 36 tiếng, 2 hiệp chung lại 72 tiếng âm thanh cho nhơn sanh tỉnh ngộ, đứng dậy thành tâm tưởng niệm. Việc giựt chuông nầy thực hiện nơi cổng Đông Nam của Thiên Hỷ Động, nơi đó có làm cái giá cao, treo một cái chuông, khi đến giờ cúng thì giựt cái chuông nầy cho phát ra tiếng.


    Cúng đủ Tứ thời, được phép tụng niệm các bài kinh:





      • Niệm Hương.



      • Khai Kinh.



      • Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế.



      • Phật Mẫu Chơn Kinh.



      • Dâng Tam bửu.



      • Ngũ Nguyện.


    Cúng Tứ thời không đèn nhang chi hết.


    Đạo là Vô vi, cúng cũng Vô vi, là Chánh pháp.


    Bất luận đứng ngồi nơi đâu, khi nghe lịnh đổ kiểng (giựt chuông) liền đứng dậy, tay bắt Ấn Tý, day mặt hướng về Trí Huệ Cung tưởng niệm, duy chỉ có vùng Thiên Hỷ Động hoặc mấy hương đạo kế cận mới được phép cúng đủ Âm Dương một lượt, nghĩa là thờ CHA kỉnh MẸ, hữu hạp thuộc về Đạo.


    Cầu nguyện vô vi do nơi Tâm, hoặc đi đường, đi ngang qua Trí Huệ Cung, cũng phải dừng lại khi nghe kiểng đổ."



    Sau đây là bài thi của Thi sĩ Huệ Phong tả cảnh Trí Huệ Cung, rất đầy đủ:


    VÃNG CẢNH TRÍ HUỆ CUNG


    Hứng cảnh phong quang khởi sắc,
    Ngát trời cảnh vật đưa hương.
    Kìa sau lưng dãy phố chợ Thiên Vương,
    Nọ trước mắt tòa lầu Cung Trí Huệ.
    Nhìn Đoạn Trần Kiều, dòng suối uốn mình bao thế hệ,
    Trông An Nhàn Lộ, vườn cây lả ngọn mấy tinh sương.
    Gió nhẹ lâng chào đón khách thập phương,
    Nắng chói rỡ khơi tràn Ao Thất Bửu.
    Động Thiên Hỷ, một vùng thế gian danh hy hữu,
    Lộ Pháp Luân bốn mặt đạo pháp lý siêu nhiên.
    Kỳ hoa nở bốn cửa đượm màu thiền,
    Dị thảo diềm dà ngàn trùng chen cội đức.
    Vào kỉnh lễ, trước một ghế chạm nổi hình sen Tây vức,
    Ngửa thành tâm, bên mấy nghi thờ roi dấu Phật Nam bang.
    Nhớ Tôn sư từ ngày sống lại cõi Niết Bàn,
    Giúp đệ tử vững chí chung xây nền Đại Đạo.
    Cơ nghiệp đó chính tay người đào tạo,
    Hạnh phúc nầy đỡ bước kẻ tu hành.
    Tầng địa lầu dưới đã thấy đành rành,
    Tiếng thần hạc ngoài như nghe văng vẳng.
    Dạo gót hiên lan ngời sương tay vẩy thẳng,
    Lóng chuông cửa Tịnh, hồn bướm giấc mơ nhanh,
    Nhác trông ra quang cảnh đạo yên lành,
    Hồi tưởng lại sơ đồ thầy vững chắc.
    Ngang dọc hình phi trường chừng tái thiết khách trông vui tầm mắt,
    Trước sau chòm cổ thụ vẻ tiêu dao, chim hót đẹp nguồn thơ.
    Viện Bảo Cô kế đó mới khai cơ,
    Ban Kỳ Lão bên nầy chưa thượng bảng.
    Đẹp đẽ trời trưa vui cảnh rạng,
    Êm đềm gió mát tận lầu cao.
    Vòng Vô Vi treo trước cửa ba cái vẫn ba màu,
    Vật kỷ niệm để phía sau hai xe cùng hai loại.
    Dãy nhà khách kế rào lầu rộng rãi,
    Ấp Trường Xuân đưa mắt cảnh khang trang.
    Cửa hậu Trí Huệ Cung ngay phắt Lộ Thiên Can,
    Mặt tiền Ban Kỳ Lão đẹp thay đường Thanh Tịnh.
    Giải Oan Kiều nằm mút đường nầy, suối gợi khách trì trai thiền định,
    Văn Hiến Lộ mở mang rẫy đó, người vui câu kích nhưỡng nhi ca.
    Kìa ấp Cây Chò, Ngũ Luân Lộ xuyên qua,
    Nọ cửa trường học Tam Cang chạy xuống.
    Sở Cao su mắt nhìn có luống,
    Nhà phái nữ ngói lợp xây tường.
    Lộ Cổ Phong sổ thẳng đến phi trường,
    Cầu Giải Tục nối liền về Trí Giác.
    Ngắm cảnh đề thơ duyên bát ngát,
    Cho cành đọng ngọc sắc long lanh.



                         THI:
    Vùng Thiên Hỷ Động đẹp như tranh,
    Quang cảnh nơi đây đượm sắc lành.
    Bên Đoạn Trần Kiều Ao Thất Bửu,
    Trước Cung Trí Huệ bóng Tam Thanh.
    Vườn hoa Nhân Ái thêm nhàn nhã,
    Cánh cửa từ bi mãi vận hành.
    Trải mấy tang thương còn vững đó,
    Làm cơ hoằng pháp độ nhơn sanh.

                     Ngày 4-7-Nhâm Tý (1972).
                            HUỆ PHONG
    (Trích trong Bán Nguyệt San Thông Tin số 59)



    Phần 2: TRÍ GIÁC CUNG (Địa Linh Động)


    Trước khi lập Trí Giác Cung (Địa Linh Động) thì nơi đây là cơ sở của Trường Qui Thiện, do ông Lễ Sanh Giáo Thiện Đinh Công Trứ qui tụ các bạn đạo Minh Thiện Đàn ở Phú Mỹ (Mỹ Tho) về Tòa Thánh lập nên, ngày khởi lập là 26-9-Quí Mùi (dl 24-10-1943).


    - Đêm 25 rạng 26-5-Kỷ Sửu (dl 21/22-6-1949), ông Đinh Công Trứ bị tử nạn. Đức Phạm Hộ Pháp liền bổ nhiệm ông Chí Thiện Lê Văn Trung đến cai quản Trường Qui Thiện để trấn định nơi đây.


    - Ngày 12-6-Tân Mão (dl 15-7-1951), Hội Thánh PT rút ông Chí Thiện Lê Văn Trung về văn phòng Hội Thánh PT.


    - Ngày 14-10-Tân Mão (dl 12-11-1951), Hội Thánh PT bổ ba vị Giáo Thiện lãnh cai quản Trường Qui Thiện gồm:





      • Giáo Thiện Trần Văn Ninh, coi Lễ Vụ,



      • Giáo Thiện Trần Văn Liễu, coi Công Vụ,



      • Giáo Thiện Lại Văn Phu, coi Hộ Vụ.


    - Ngày 3-9-Giáp Ngọ (dl 29-9-1954), do theo lịnh của Đức Hộ Pháp, Hội Thánh Phước Thiện bổ ông Đạo Nhơn Dương Văn Khuê xuống trấn nhậm Trường Qui Thiện.


    - Ngày 22-10-Giáp Ngọ (dl 17-11-1954), do Tờ Thỉnh giáo của ông Đạo Nhơn Khuê về ba việc nơi Địa Linh Động: - Ban Trị Sự có bao nhiêu người? - Danh hiệu và phẩm tước chi? - Trách vụ của mỗi người hành sự? Đức Hộ Pháp dạy ông Khuê triệu tập Đại hội toàn thể tín đồ Trường Qui Thiện tại Hậu Điện Báo Ân Đường ngày 11-11-Giáp Ngọ (dl 5-12-1954) để bầu cử Ban Trị Sự.


    Bảng Phúc trình và Vi Bằng hội nhóm được dâng lên Đức Hộ Pháp. Đức Ngài điều chỉnh danh từ và thành phần Ban Trị Sự và các cơ sở (có bút tích sửa chữa).


    Ông Tổng Quản và Ban Trị Sự Địa Linh Động vâng lịnh thực hành kể từ ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl 29-12-1954) do Huấn Lịnh số 285/VP-HP (Trích trong Tài liệu để Tu học của Trường Qui Thiện, in năm Quí Sửu 1973, trang 15)


    Như vậy, chúng ta thấy rằng, Đức Hộ Pháp đã chánh thức chuyển đổi Trường Qui Thiện thành một cơ sở Tịnh Thất gọi là "Địa Linh Động - Trí Giác Cung" vào ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl 29-12-1954) do Huấn Lịnh số 285/VP-HP.


    Vị Tổng Quản đầu tiên của Địa Linh Động - Trí Giác Cung là Đạo Nhơn Dương Văn Khuê.



    THÀNH PHẦN
    BAN TRỊ SỰ ĐỊA LINH ĐỘNG


































    1. Tổng Quản (do Hội Thánh PT chọn bổ Chức sắc vào hàng Đạo Nhơn).
    2. Đầu Phòng Văn
    3. Quản Khố (Thủ bổn)
    4. Cai Quản Giáo Huấn
    5. Cai Quản Canh Nông
    6. Cai Quản Công Nghệ
    7. Cai Quản Thương Mãi
    8. Quản Y (Kiểm Soát Viên: 2 vị)
    9. Nhiều vị Trưởng Ban và Chủ Sở dưới quyền quí vị Cai Quản.
     

    Thành lập và thật hành kể từ ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl 29-12-1954).


    Kể từ lúc thành lập Địa Linh Động - Trí Giác Cung ngày 5-12-Giáp Ngọ (1954) đến năm Bính Thìn (1976), có tất cả 12 vị Tổng Quản được bổ nhiệm đến Địa Linh Động, kể ra:





      1. Đạo Nhơn Dương Văn Khuê:



        • từ ngày 3-9-Giáp Ngọ (dl 29-9-1954)



        • đến ngày 29-6-Đinh Dậu (dl 26-7-1957)



        • thời gian: 2 năm 9 tháng 26 ngày.



        • Thánh Lịnh bổ ngày 3-10-Giáp Ngọ (1954).



      2. Chí Thiện Lê Văn Chưởng:



        • từ ngày 29-6-Đinh Dậu (dl 26-7-1957)



        • đến ngày 27-12-Đinh Dậu (dl 15-2-1958)



        • thời gian: 5 tháng 28 ngày.



      3. Đạo Nhơn Nguyễn Văn Nhiêu:



        • từ ngày 27-12-Đinh Dậu (dl 15-2-1958)



        • đến ngày 12-4-Mậu Tuất (dl 30-5-1958)



        • thời gian: 3 tháng 15 ngày.



      4. Đạo Nhơn Trần Văn Lợi:



        • từ ngày 12-4-Mậu Tuất (dl 30-5-1958)



        • đến ngày 10-5-Kỷ Hợi (dl 15-6-1959)



        • thời gian: 1 năm 28 ngày.



      5. Đạo Nhơn Phạm Duy Hoai:



        • từ ngày 10-5-Kỷ Hợi (dl 15-6-1959)



        • đến ngày 29-6-Kỷ Hợi (dl 3-8-1959)



        • thời gian: 1 tháng 19 ngày.



      6. Chí Thiện Bùi Văn Trăm:



        • từ ngày 29-6-Kỷ Hợi (dl 3-8-1959)



        • đến ngày 6-9-Canh Tý (dl 25-10-1960)



        • thời gian: 1 năm 2 tháng 7 ngày.



      7. Chơn Nhơn Văn Tấn Bảo:



        • từ ngày 6-9-Canh Tý (dl 25-10-1960)



        • đến ngày 9-2-Giáp Thìn (dl 22-3-1964)



        • thời gian: 3 năm 5 tháng 3 ngày.



      8. Chí Thiện Lê Văn Chưởng: (lần thứ nhì)



        • từ ngày 9-2-Giáp Thìn (dl 22-3-1964)



        • đến ngày 14-8-Nhâm Tý (dl 21-9-1972)



        • thời gian: 8 năm 6 tháng 15 ngày.


    Trong thời gian nầy, ông Chí Thiện Lê Văn Chưởng hợp với các tín đồ nơi đây, xây dựng lại Đền Thờ Phật Mẫu bằng vật liệu nặng, rước các Chức sắc của Hội Thánh lưỡng đài và Đức Thượng Sanh đến chủ tọa lễ an vị và trấn thần.


    Đến ngày 14-8-Nhâm Tý, Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa (Thống quản Tam Cung) và Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức (Quyền Chưởng Quản HTĐ) ra lịnh không cho tổ chức Hội Yến DTC nơi Đền Thờ Phật Mẫu tại Địa Linh Động.


    Ban Trị Sự Địa Linh Động mà đứng đầu là Tổng Quản Lê Văn Chưởng chống lại lịnh trên, nên ông Tổng Quản Lê Văn Chưởng bị giải nhiệm và Ban Trị Sự bị giải tán luôn.





      1. Hội Thánh PT bổ ông Đặng Văn Chưởng đang làm Quản Châu Thành Thánh Địa PT kiêm nhiệm Tổng Quản Địa Linh Động, nhưng ông Chưởng lại nhờ ông Phó Quản Châu Thành PT là Chí Thiện Nguyễn Kế Cận tạm thay ông điều hành Đ.L. Động. Thời gian chỉ có 13 ngày thì Hội Thánh PT chánh thức bổ Đạo Nhơn Nguyễn Thành Lạc làm Tổng Quản.



      2. Đạo Nhơn Nguyễn Thành Lạc:



        • - từ ngày 11-9-Nhâm Tý (dl 17-10-1972)



        • - đến ngày 6-11-Giáp Dần (dl 18-12-1974)



        • - thời gian: 2 năm 1 tháng 25 ngày.



      3. Chơn Nhơn Nguyễn Văn Tấn:



        • từ ngày 6-11-Giáp Dần (dl 18-12-1974)



        • đến ngày: 1-6-Bính Thìn (dl 27-6-1976)



        • thời gian: 1 năm 6 tháng 25 ngày.



      4. Chí Thiện Lê Văn Chấp:



        • từ ngày 1-6-Bính Thìn (dl 27-6-1976)



        • đến ngày 2-3-Đinh Tỵ (dl 19-4-1977)



        • thời gian: 9 tháng 2 ngày.


    (Tài liệu của ông Lê Minh Dương, cựu quản gia ĐLĐ - TGC)



    "Có một điều huyền vi bí pháp mà chúng ta chưa đạt được, chúng tôi tưởng cũng nên trình ra đây cho toàn thể quí đồng đạo rõ: Trí Giác Cung đã được lịnh dạy của Đức Hộ Pháp tạo trước, Trí Huệ Cung tạo sau, mà làm Lễ Khánh Thành Trí Huệ Cung trước và trấn pháp xong, có lịnh Đức Hộ Pháp dạy phải treo ba vòng Vô vi Tam Thanh nơi trước Trí Huệ Cung thường xuyên thay vì treo Đạo kỳ.


    Còn nơi Trí Giác Cung (Địa Linh Động) thì ba vòng Vô vi Tam Thanh ấy cũng đã được lịnh cùng làm sẵn một lượt (hai món cùng do một vị tín đồ thợ mộc làm ra và sơn màu: vàng, xanh, đỏ) song mãi cho đến ngày nay vẫn còn tạm giữ một nơi đó, chớ chưa được lịnh treo lên. Một điều bí mật mà ngày tương lai chúng ta sẽ được rõ." (Trích tập tài liệu của Trường QT)


    Đôi liễn Trí Giác cẩn nơi hai trụ cổng của Địa Linh Động - Trí Giác Cung:












      智靈貫世天機達
    覺慧超凡道法通
      Trí linh quán thế Thiên cơ đạt,
    Giác huệ siêu phàm Đạo pháp thông.
    Nghĩa là: Cái trí hiểu biết thiêng liêng thông suốt việc đời, đạt thấu máy Trời,
    Cái trí huệ giác ngộ siêu phàm rõ thông đạo pháp.


    Phần 3: VẠN PHÁP CUNG (Nhơn Hòa Động)



    Ngày 12-6-Mậu Dần (dl 9-7-1938), Đức Phạm Hộ Pháp cùng vài vị môn đệ trong Phạm Môn đi vào chơn núi Điện Bà để tìm mua hay khẩn đất tạo dựng Sở Sơn Đình, làm ruộng và lập vườn đem huê lợi về cho Đạo.


    Ngày 28-10-Giáp Ngọ (dl 23-11-1954), Đức Hộ Pháp đi vào Sở Sơn Đình để định chỗ xây dựng một cơ sở Tịnh Thất lấy tên là Vạn Pháp Cung - Linh Sơn Động.


    "Đồ án xây dựng Vạn Pháp Cung, Tịnh Thất nam phái đã được Đức Hộ Pháp phê chuẩn và dạy rằng: Bần đạo lập Trí Huệ Cung trước cho nữ phái, sau nam phái phân bì mà lo cất Vạn Pháp Cung trên núi. (Bản đồ Đức Hộ Pháp phê chuẩn giao cho ông 'Kiệu' giữ, hiện nay bị thất lạc sau khi ông chết).


    Còn sơ đồ do phòng họa đồ (Lễ Sanh Ngọc Ba Thanh) vẽ theo sự phỏng định của Công Viện PT (Đạo Nhơn Phạm Văn Út) không có sự phê chuẩn của Đức Hộ Pháp, coi như hình thức, vì Tịnh Thất phải được cất theo họa đồ đặc biệt phê duyệt (bản vẽ ngày 18-8-Ất Mùi 1955 Đức Hộ Pháp còn ở Tòa Thánh).


    PHƯƠNG HƯỚNG TẠO TÁC


    Vâng lịnh Đức Hộ Pháp, Hội Thánh Phước Thiện ra thông tri tuyển mộ công quả tình nguyện tạo tác Vạn Pháp Cung theo số định ba ngàn... rồi vâng thỉnh giáo được Đức Thầy phê dạy: "Trừ ra số mấy đứa đạo núi, còn lại bao nhiêu là số tuyển mộ, phải lựa cho kỹ người đủ khỏe mạnh đặng tạo tác Tịnh Thất. Sau sẽ còn 1000 nữa sẽ tới các vị lão thành."
                                     Ngày 16-2-Ất Mùi (dl 9-3-1955).



    PHẦN ĐIỀU HÀNH


    Sắp khởi công xây dựng trong tháng 2 năm Ất Mùi, Hội Thánh giao cho Thượng Thống Công Viện Phước Thiện Đạo Nhơn Phạm Văn Út, đương quyền Trưởng Tộc Phạm Môn công cử Ban chưởng quản Vạn Pháp Cung, ông Đạo Nhơn Nguyễn Văn Gia đảm nhiệm Chưởng quản ban tạo tác.


    Về nhân số và công thợ đã tuyển mộ xong, sắp khởi công động thổ, kế gặp ngày Đạo hận 20-8-Ất Mùi (1955), Đức Hộ Pháp xuất ngoại sang Tần quốc thuộc Kim Biên Tông Đạo vào đêm 4 rạng 5-giêng-Bính Thân (1956) làm cho mọi việc đạo bị gián đoạn, từ đó công cuộc tạo dựng Vạn Pháp Cung phải đình hoãn lại mãi cho đến ngày nay.



    CỰC LẠC THẾ GIỚI TRÊN NÚI BÀ


    Muốn biết CLTG ở đâu, đất liền hay trên núi Bà, nên đọc bài tường thuật chuyến đi núi Bà của Đức Hộ Pháp lần thứ nhứt ngày 12-6-Mậu Dần (dl 9-7-1938) như sau:


    Đêm 12-6-Mậu Dần, Đức Hộ Pháp thức dậy sớm khoảng 4 giờ sáng, mặc đồ bà ba trắng, dẫn xe đạp ra cổng Hộ Pháp Đường mà Bảo Thể giữ cổng không hay biết. Đức Thầy lên xe đạp chạy ra cửa Hòa Viện, dẫn xe qua cổng, bên ngoài có quí ông: Nguyễn Văn Gia, Nguyễn Văn Lư và Võ Văn Đợi (Đại) đứng chờ sẵn, ông Võ Văn Đợi ở họ đạo Mỹ Tho về Tòa Thánh thăm Đức Thầy, nghe Đức Thầy định đi núi nên ông xin theo hầu Thầy.


    Lúc lên đường, trời sắp sáng. Thầy trò cỡi xe đạp đi ra mé Tây Ninh, rồi tẽ qua ngã Năm Dồ, đi thẳng lên núi. Đến sáng ra, trong Tòa Thánh mới phát giác không biết Đức Thầy đi đâu....


    Khi Thầy trò đến chân núi, tới láng rừng có đóng bảng cấm, Đức Thầy bảo đem xe đạp bỏ trong đó, rồi Đức Thầy dẫn anh em băng qua vườn chuối, đến chân núi, Đức Thầy leo theo triền núi, anh em cũng đi theo. Khi lên được một đỗi, gặp một tảng đá lớn, dưới tảng đá có một cái hang kêu là hang Gạo.


    Đức Thầy chun qua hang đá, rồi leo lên một tảng đá khác, nơi đây mát mẻ, Đức Thầy ngồi nghỉ mát. Lúc đó, ông Võ Văn Đợi (đạo hiệu Linh Đoán) đem võng ra giăng cho Đức Thầy nằm nghỉ, rồi ông chạy xuống cầu đá, chỗ bến xe gần Chùa Trung mua nước dừa đem lên cho Đức Thầy uống.


    Đức Thầy nói: Nơi đây sau nầy anh em bây về ở trên ba ngàn người, mà cũng có thể hơn nữa, và chỉ xuống mé dưới chân núi: nơi đây chắc có mạch nước, đâu mấy em xuống coi thử, thì anh em leo xuống dưới, vạch cát lên quả nhiên có mạch nước (mạch nước đó hiện giờ là Sở số 1). Lúc đó Đức Thầy kể chuyện, ông Đầu Sư Thái Thơ Thanh tạo Cực Lạc ở dưới đó là sái Thiên thơ, cho nên ảnh làm không thành, mà Cực Lạc Cảnh ở trên núi nầy.


    CLTG có Lôi Âm Tự là nơi tu hành của các bậc chơn tu, là con đường giải thoát. Giữa đỉnh cất Kim Tự Tháp tượng trưng cho Lôi Âm Tự tại thế, còn dưới chân núi là dinh thự Vạn Pháp Cung.


    Sau nầy mấy em có xin việc gì thì cầu nguyện Đức Diệu Võ Tiên Ông, Ngài đắc lịnh trấn nhậm núi nầy, cai quản các vị Sơn Thần, thay cho Bà Lê Sơn Thánh Mẫu đến trấn nhậm vùng thổ địa.


    Đến 16 giờ, Đức Thầy ra lịnh trở về Tòa Thánh. Thật là dịp may hay có định duyên hạnh ngộ đối với ông Võ Linh Đoán, trước kia được nghe Đức Thầy nói: "Không biết có đứa Phạm Môn quèn nào lên núi lập cho Bần đạo một vườn nho."


    Khi nghe câu nói nầy trong dịp lễ khánh thành Nhà Bảo Cô, ông đảm nhận Đầu Họ Đạo từ Rạch Giá về Tòa Thánh tham dự. Nay lại được nghe nói: CLTG ở trên núi, có đủ Am Vân, Tịnh Cốc, tất cả những điều đó được khắc sâu vào tâm não và chính đó là điểm hành trình lên núi sau nầy của ông.



    Tìm hiểu ÔNG GIÁO THIỆN VÕ VĂN ĐỢI


    Sau ba năm đi Đầu Họ Đạo rồi làm gì?


    Trong số 72 môn đệ Phạm Môn được thọ giáo với ân sư Hộ Pháp, có ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi đáng quan tâm, lưu ý về gương đạo hạnh của ông.


    Sau ba năm hành đạo theo lịnh Đức Tôn sư, lo tạo cơ sở, lương thực nuôi công quả làm Đền Thánh, ông liền từ chức về cửa Tu Chơn. Song sự từ chức nầy chưa được thượng quyền chấp thuận, bởi vì từ bỏ chức tước phẩm vị Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng là từ bỏ Thiên vị mình, thay vì đi về với Cửu Thiên Khai Hóa, lại phải an trú nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng.


    Để bảo tồn ý định của mình, ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi tự treo ấn từ quan Đạo, lên núi, tự lập cơ sở tu hành riêng, không còn tùng Hội Thánh Phước Thiện nữa, thay áo trắng ra đồ nâu!


    Mặc dù có hành động mở đường khác, song ông Võ Văn Đợi vẫn giữ nghĩa thầy trò, luôn trung thành tôn kính Đức Hộ Pháp. Điều nầy đáng phục ông biết giữ 36 chữ lời minh thệ, nhứt là tình nghĩa thầy trò nơi cửa Phạm.


    Hành động nầy ông căn cứ vào đâu?


    Theo sự hiểu biết từng cá nhân, hoặc đúng hoặc sai, có lẽ do văn thơ ngày 22-1-Kỹ Mão (dl 12-3-1939) của Ngài Khai Pháp Chưởng quản CQPT như vầy:



    "Kính cùng ông Giáo Thiện Võ Văn Đợi,


    Tiếp thơ hồi âm của Hiền hữu theo thơ số 219 của Bần tăng đề ngày 17-11-Mậu Dần. Bần tăng đắc lịnh của Đức Hộ Pháp để trả lời cho Hiền hữu rõ về lẽ thăng phẩm Chí Thiện cho Hiền hữu và giải rành rẽ vì cớ nào mà người chưa muốn để cho Hiền hữu thọ lãnh tân phẩm Chí Thiện?


    Vốn Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng là chơn tướng bí truyền của Đạo, mỗi bậc thăng là một cơ quan giải khổ về phần hữu vi hình thể của chúng sanh. Kể từ bậc Giáo Thiện đổ xuống, trách nhiệm đã nặng oằn khó khăn dường nào, thử nghĩ từ bậc Thính Thiện mà lần leo đến Giáo Thiện thì ôi thôi! thật là tân khổ trăm bề.


    Hiện thời chúng sanh còn khổ thì lẽ cố nhiên, Hiền hữu phải còn chịu nhọc nhằn, mà cái khổ ấy, chúng ta đã thấy trước mắt dẫy đầy không còn ai chối cãi đặng.


    Hiền hữu chẳng lẽ ngơ tai nhắm mắt mà đi ngang qua cái khổ cảnh của chúng sanh cho đặng. Huống chi bậc phẩm Chí Thiện lại còn khó khăn phận sự hơn bội phần. Đức Hộ Pháp vì lòng yêu đương Hiền hữu, không nỡ để chồng chất sự khó khăn thêm cho nặng oằn hai vai Hiền hữu, sợ nỗi nặng gánh đổ nhiều, nên mới duy trì, không cho thăng vị Chí Thiện là vậy đó."
                                                 KHAI PHÁP



    Qua Thánh ý nầy, hiểu được rằng: Đức Hộ Pháp đã tiên liệu về sứ mạng đi đến con đường Tu Chơn của ông Đợi, nên cố ý duy trì không thăng phẩm Chí Thiện là do đó.


    Như thế, ông là người đầu tiên được Đức Hộ Pháp tuyển chọn đưa vào con đường Tu Chơn, hầu dìu dắt các bạn đồng môn để trả nghĩa thầy.


    Nhưng tiếc thay! ông đi trúng đường mà lại làm sai Thánh ý là lập luật riêng, thay vì tùng theo kỷ luật Phạm Môn đã có ân sư giáo huấn.


    Do đó, ông bị Thánh lịnh số 25/PT ngày 26-2-Kỷ Mão (dl 15-4-1939) đương thời gọi là Đạo Nghị Định khép về tội bất tuân luật pháp đạo, hiệp nhau làm nghịch mạng bề trên, tự chuyên phế bỏ phận sự hành đạo, nên cho xuất ngoại Phước Thiện kể từ ngày ký tên Thánh lịnh nầy.


    Mặc dù phải thi hành theo luật pháp đạo, nhưng tình nghĩa thầy trò đối với tôn sư, ông vẫn giữ.


    Đến năm Đinh Hợi (1947), ông thọ bịnh nặng trên chơn núi. Đức Hộ Pháp hay tin liền ra lịnh đem ông Võ Văn Đợi về Nội Ô Tòa Thánh để trị bịnh. Đức Thầy giao cho Chức sắc Phước Thiện chăm sóc thuốc thang, vì họ là thệ hữu Phạm Môn trước đây. Đức Thầy thường đến thăm và chọn thầy thuốc điều trị cho môn đệ đến ngày ông qui liễu.


    Trước ba ngày cổi xác trần, ông tự biết mình có tội với thầy, với bạn, nên dạy đàn em viết tờ xin tội cho ông ký tên dâng lên Đức Thầy, nguyên văn như sau:


     


    Chùa Cao Đài, ngày 22 tháng 4 năm Đinh Hợi.



    TỜ XIN TỘI


    Cúi bạch Sư Phụ,


    Con là Võ Văn Đợi, 50 tuổi, cúi đầu trăm lạy Sư Phụ xá tội giùm con. Kể từ ngày con hiến thân làm đạo đến nay tính 17 năm có lẻ. Đến nay con đau nặng, không thể mạnh được, mà lại gần rốt kiếp sống rồi. Nên nay con cúi đầu trăm lạy Sư Phụ xá tội cãi thầy, cãi bạn của con.


    Xin Sư Phụ xá tội cho con.
    Cúi bạch.
    Võ Văn Đợi (ký tên)



    Lời Phê của Đức Hộ Pháp:


    "Làm thầy như ai thì khác, còn Qua đây vẫn khác.


    Với Qua, thầy chỉ biết thương trò, tha thứ là phận thầy. Em chẳng vì đời mà phạm, nếu có phạm là vì Đạo, mà chẳng hiểu rõ mầu nhiệm của thầy.


    Em về trước rồi mấy Qua lục thục cũng về sau. Chúng ta sẽ hội hiệp vĩnh viễn nơi cõi Hư linh, là quê hương thiệt. Thầy trò sẽ thiệt, bạn hữu sẽ thiệt, cảnh nầy chẳng phải của chúng ta vì nó là cảnh dành để cho kiếp trái oan khiên.


    Em an lòng, thầy chỉ thầm khen em chớ chưa biết em đã có tội gì hết.


    Ngày 22 tháng 4 năm Đinh Hợi.
    HỘ PHÁP (ấn ký)


    Quí hóa thay lòng từ bi của Đức Thầy đã không trách phạt mà lại còn thầm khen và xác nhận không có tội gì hết.


    Nhờ lượng khoan hồng của Đức Phật mà ông được an trú nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng thay vì phải đầu kiếp tu hành lại.


    Ngoài ân huệ khoan dung, Đức Thầy còn cho phục chức Giáo Thiện do Thánh lịnh số 58/TL đề ngày 23-4-Đinh Hợi (dl 11-5-1947): "Cho phục phẩm Giáo Thiện (Phước Thiện) kể từ ngày 22-4-Đinh Hợi, vị Đạo hữu Võ Văn Đợi 50 tuổi, khi còn tại thế ở làng Gia Lộc (Tây Ninh). Lễ cất táng người được dùng theo hàng Giáo Thiện và linh vị được đem vào Báo Ân Từ."


    Phẩm Giáo Thiện được hành lễ tang tại Báo Ân Từ lần đầu tiên là Giáo Thiện Võ Văn Đợi vậy.



    Làm sao biết ông VÕ VĂN ĐỢI ở Thanh Tịnh Đại Hải Chúng?


    Căn cứ vào Lời Phê sau đây của Đức Hộ Pháp, do Tờ đề ngày 3-11-Canh Dần (1950) của ông Nguyễn Văn Thế và 16 vị nữa đồng đứng dâng cả công quả của mấy vị ấy để chuộc tội cho ông Võ Văn Đợi là sư huynh của họ ở Đạo núi.


    "ĐỢI bị phế vị là nó dám từ chối Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, ngày nay theo Thiên điều thì nó phải tái kiếp mà hành đạo lại, nếu nó đặng ở Thanh Tịnh Đại Hải mà tu hành nơi cõi Hư linh cũng là may phước cho nó, còn Quyền thiêng liêng thưởng phạt là do quyền Ngọc Hư Cung, có phải của Bần đạo đâu mà xin Bần đạo.


    Còn dâng công quả cho ĐỢI chỉ có vợ con của ĐỢI mới đặng. Còn mấy em, ai thèm đâu mà dâng."
                                            HỘ PHÁP (ấn ký)


    Ý nghĩa nầy liên hệ với Lời Phê ngày 8-9-Kỷ Sửu cho ông Trần Văn Mến ở Châu Đốc xin từ chức Giáo Thiện.


    Lời Phê của Đức Hộ Pháp:


    "Phước Thiện cũng có phẩm tước là Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, nếu chê bỏ không kể đến phần hồn thì thay vì đi về với Cửu Thiên Khai Hóa, lại an trú nơi Đại Hải Chúng."


    Sưu khảo tài liệu nầy để chiêm nghiệm về ý nghĩa 3000 công quả như thế nào?


    Nguyên nhân là Hội Thánh Phước Thiện có dâng Tờ lên Đức Hộ Pháp là thầy của Phạm Môn Phước Thiện, cầu xin ân xá, phục chức Giáo Thiện cho ông Võ Văn Đợi.


    Trước khi ban hành pháp lịnh quyền Chí Tôn hiệp nhất (Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng) ân xá phục chức Giáo Thiện cho ông Võ Văn Đợi, Đức Hộ Pháp kêu ông Chí Thiện Phạm Văn Út đến hỏi rằng: - Đợi nó đủ 3000 công quả chưa?


    Gặp câu hỏi hóc búa nầy thuộc về mặt pháp giới, ông Chí Thiện Út bạch thầy: - Điều đó con làm sao biết được!


    Đức Hộ Pháp phán: - Nếu vậy, căn cứ vào Tờ xin tội của Hội Thánh Phước Thiện mà phục phẩm Giáo Thiện lại cho Võ Văn Đợi.


    Ý nghĩa gì? không rõ ông Phạm Văn Út có thỉnh giáo rõ việc nầy không?


    Kết luận: Nhờ ân sư tha thứ là phận thầy, nên đệ tử khỏi đầu kiếp mang xác phàm, mà được lưu trú nơi Đại Hải Chúng ở cõi Hư linh.


    Đạo núi là tên do Đức Hộ Pháp đặt cho số Đạo ở tu trên núi Bà. (mặc quần áo màu dà, đầu cạo trọc).


    Sau khi ông Võ Văn Đợi qui liễu, khu núi Bà mất an ninh, số Đạo núi không còn được ở trên núi nữa, phải về Tòa Thánh xin làm công quả, bị Hội Thánh Phước Thiện chiếu y luật, buộc phải để tóc, nhuộm đồ dà lại màu thâm, mới cho làm công quả với Đạo.


    Do vậy, ông Nguyễn Văn Thế, đại diện số Đạo núi dâng tờ lên xin Đức Sư Phụ cầu xin được giữ thiền cách, ngày 17-5-Đinh Hợi.


    Đức Sư Phụ phê:


    "Tư cho Hội Thánh Phước Thiện. Cứ để tự do cho mấy đứa nhỏ giữ nguyên thiền cách, cho làm công quả tạm đây, chờ ngày Bần đạo giao việc làm riêng cho chúng nó."


    (Trích trong quyển Tìm hiểu Châu Thành Thánh Địa, của Thanh Minh)


    ______________________________________


    Ông VÕ VĂN ĐỢI, tự là Đại, quê quán làng Gia Lộc, quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nhập vào Phạm Môn, lập hồng thệ kỳ I tại Sở Trường Hoà ngày 3-giêng-Nhâm Thân (dl 7-2-1932), được Đức Hộ Pháp ban cho Đạo hiệu: Linh Đoán, đắc phong Lễ Sanh Giáo Thiện (phái Thượng), bắt thăm đi làm Đầu Họ Đạo Rạch Giá để khai mở Nhà sở Phước Thiện và các cơ sở lương điền công nghệ thương mãi để thu huê lợi về xây cất Tòa Thánh, ngày khởi đi làm Đầu Họ là ngày 12-9-Ất Hợi (dl 9-10-1935).


    Khi ông Đợi từ chức Giáo Thiện để lập thành cơ sở Tu chơn tại Vạn Pháp Cung, nhóm của ông được Đức Hộ Pháp gọi là Nhóm Đạo Núi. Ông Đợi mất ngày 22-4- Đinh Hợi (1947), hưởng 50 tuổi.


    Ông Võ Văn Đợi có người con trai tên là Võ Văn Kỵ. Sau khi ông Đợi qui liễu thì ông Kỵ được tín nhiệm làm Chủ sở nơi Vạn Pháp Cung, đứng đầu Nhóm Đạo Núi. Ông Kỵ mất năm Tân Tỵ (2001).


    Đức Phạm Hộ Pháp đi quan sát nhiều lần cảnh vật nơi chơn núi Điện Bà, nhận thấy chỉ có một chỗ là chơn núi Ông Văn có cảnh vật rất tốt, nhiều thanh khí, triền núi tạo thành ba bực Tam cấp, nên Đức Ngài quyết định lập Vạn Pháp Cung - Linh Sơn Động tại nơi đây. Phía dưới chỗ nầy có một nổng cát trơ trọi, Đức Ngài bảo: Vẹt nổng cát nầy thì có mạch nước rất tốt đủ dùng cho nhiều người. Mấy em phải làm đơn xin khai khẩn hoặc mua mấy thửa ruộng chung quanh đây thì ngày sau rất nên hữu dụng cho Đạo.


    Việc chuẩn bị xây cất Vạn Pháp Cung được Hội Thánh Phước Thiện tiến hành theo lịnh của Đức Hộ Pháp, từ ngày 16-2-Ất Mùi (dl 9-3-1955), nhưng thời thế chuyển biến nhiều khó khăn, nội bộ của Đạo bị chia rẽ trầm trọng, chiến tranh lan tràn lên vùng Tây Ninh, Đức Hộ Pháp phải đi lưu vong sang Cao Miên, còn nơi Vạn Pháp Cung, các cơ sở của nhóm Đạo Núi bị mấy lần bom đạn, hư sập, nhóm Đạo Núi phải tản cư về xóm lò than ở xã Ninh Thạnh, lập cơ sở tạm cho tới ngày nay.



    Từ ngữ Linh Sơn Động, được đổi lại là: Nhơn Hòa Động, đặng hiệp với Thiên Hỷ Động và Địa Linh Động cho Tam Động đủ Tam Tài: Thiên, Địa, Nhơn.


    Đôi liễn nơi Vạn Pháp Cung và Linh Sơn Động:






















      萬理和心同一脈
    法高平智會三宗
      Vạn lý hòa tâm đồng nhứt mạch,
    Pháp cao bình trí hội Tam tông.
    Nghĩa là: Muôn lý hòa hợp với Tâm, cùng một nguồn gốc,
    Đạo pháp cao siêu, định yên trí não, hội cùng Tam giáo.
      靈妙機天濟眾傳眞和大道
    山長光殿普人法理合三期
      Linh diệu cơ Thiên tế chúng truyền chơn hòa Đại Đạo,
    Sơn trường quang điện phổ nhơn pháp lý hiệp Tam Kỳ.
    Nghĩa là: Máy Trời thiêng liêng huyền diệu, cứu giúp chúng sanh, chơn truyền hợp vào Đại Đạo,
    Núi dài, cung điện rực rỡ, phổ độ nhơn sanh, pháp lý hợp vào Đạo Cao Đài.


    * * *


    Cách tổ chức của nhóm Đạo Núi nơi Vạn Pháp Cung, nhứt là về sắc phục (áo màu nâu, a cạo trọc) mà chúng ta thấy hiện nay là chiếu theo sự tổ chức của ông Giáo Thiện Võ Linh Đoán, chớ không phải là do lịnh của Đức Phạm Hộ Pháp, hay của Hội Thánh, nên Đức Hộ Pháp để riêng nhóm nầy ra và gọi là nhóm Đạo Núi.


    Xem Bản Nội Qui Tu Chơn Vạn Pháp Cung (VPC) của quí vị Đạo Núi nầy, chúng ta sẽ thấy nhiều điều khác hẳn Luật Tịnh Thất trong Tân Luật, với những chức danh khác biệt.


    Xin trích ra sau đây vài phần trong Bản Nội Qui nầy để chứng minh cho độc giả thấy rõ.


    "Ngày 6-8-Tân Dậu (dl 3-9-1981), Ban Cai Quản VPC ra lịnh cho vị Bảo Luật Tiếp Pháp, quyền Bảo Luật Tiếp Văn, soạn thảo Nội Qui và lập thành Luật Pháp Tu Chơn nơi VPC.


    Bản Nội Qui nầy gồm 12 chương, 68 điều, do: Bảo Luật Tiếp Pháp, quyền Bảo Luật Tiếp Văn THÍNH TÂM soạn thảo, xong ngày 4-8-Tân Dậu, được Ban Cai Quản VPC duyệt xong ngày 17-10-Tân Dậu ( dl 13-11-1981), đồng ký tên:
















    Chưởng Quyền Khiêm Luật Cố Vấn Chưởng Luật
    (ký tên) (ký tên) (ký tên)
    MINH CHƠN NGUYỄN VĂN TẤN TỰ ĐỨC


    Theo Bản Nội Qui nầy, Ban Cai Quản gồm có 5 vị:




    1. Cai Quản là CHƯỞNG QUYỀN KHIÊM LUẬT (giáo huấn thương yêu)



    2. Đệ I Phó Cai Quản là CHƯỞNG LUẬT (nắm luật pháp điều hành).



    3. Đệ II Phó Cai Quản là HỘ CƠ CHƯỞNG HUYỀN LINH PHÁP.



    4. Đệ III Phó Cai Quản là BẢO LUẬT TIẾP VĂN.



    5. Đệ IV Phó Cai Quản là BẢO LUẬT TIẾP PHÁP.


    Ban Công Đồng: gồm 10 vị:

























    1. Bảo Công. 2. Phó Bảo Công
    3. Bảo Nông 4. Phó Bảo Nông
    5. Bảo Lương 6. Phó Bảo Lương
    7. Bảo Dưỡng 8. Phó Bảo Dưỡng
    9. Bảo Sản 10. Phó Bảo Sản.

    * Niêm Luật cho Đạo hữu xin vào cửa Tu Chơn VPC:


    Nơi VPC là cửa tu chơn giải thoát, chớ chẳng phải chỗ làm công quả hay là những người vì hoàn cảnh khó mà đến nương tựa. Muốn vào cửa tu chơn phải có Sớ Cầu Đạo, Tờ Hiến thân, trường trai, giữ giới. Khi đủ 3 năm 6 tháng thì phải làm Tờ Phát Nguyện và lập thệ Đào Viên Kết Nghĩa.


    * Niêm Luật cho Chức sắc muốn vào cửa Tu Chơn VPC:


    Chức sắc hay Chức việc của Hội Thánh muốn vào cơ quan Tu Chơn, phải làm Tờ Cam kết và đến ở trong thời gian 6 tháng để trong cơ quan thấy rõ hạnh kiểm, nếu được thì làm Tờ từ chức và Tình nguyện trạng 4 bản dâng lên HTĐ chấp thuận và ra Thánh lịnh thâu hồi chức tước và phê kiến chứng Tình nguyện trạng đem về 3 bản giao cơ quan định liệu.


    Y phục của Tu sĩ Tu Chơn VPC là: đồ bô vải màu nâu, không được tự chuyên dùng hàng lụa màu sắc se sua, may theo xưa, không đặng may theo kiểu tân thời mà mất vẻ người tu." ( Trích Cao Đài Từ Điển )


     Mong được chia sẻ và chỉ dạy


     Chào hòa hiệp


  2. #2
    Tham gia ngày
    Mar 2007
    Bài viết
    4

     Chà chà hiền hữu Hiền hòa nhọc công sưu tầm dữ nhà


     rất cám ơn hiền hữu đó !


     Chào hòa hiệp


Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền