+Trả Lời Chủ Đề
Trang 1/4
1 2 3 ... 4
kết quả từ 1 tới 10/ Tổng số 31

Ðề tài: TIỂU SỬ GIÁO TÔNG NGUYỄN NGỌC TƯƠNG

  1. #1
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Bài viết
    182
    Thiên Sứ's Avatar
     


     


    MÙA HOA SINH NHT ĐỨC  GIÁO TÔNG


                                                              Ngày 26 tháng 5 Âm Lịch


     


     


     


    “Một đấng siêu nhân giữa bể trần


    Láy thuyền Đại Đạo vượt sông ngân


    Chân truyền thực hiện gương soi dẫn


    Tân pháp độ sinh giải nghiệp nhân


    Ngài đủ quyền năng lo chuyển thế


    Cứu tinh nhân loại lập đời tân


     Nêu cao chơn lý nền chơn Đạo


    Giải thoát quần linh khỏi bể trần”


                                                                     ( Thanh Trúc )





     


     


     


    Tóm Lược Tiểu Sử Đức Giáo Tông


     


    Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương sinh ngày 26 tháng 5 năm Tân Tỵ ( nhằm ngày 22/6/1981 ), tại làng An Hội, tổng Bảo Hựu. tỉnh Bến Tre.Cha là Nguyễn Ngọc Đẫu, Mẹ là Võ Thị Sót.Người sinh ra vừa tròn 13 tháng tuổi thì Thân Phụ mất, Hiền Mẫu ở vậy chắt chiu nuôi Người ít năm rồi tái giá ! Giao lại cho bên nội nuôi dưỡng, Người sống với ông Nội.



    “ Người mới ra đời chửa mấy thu


    Cha già đã vội gót tiên du …


    Tuổi thơ nương sống tình ông cháu,


    Cái cảnh cô đơn luống thảm sầu…”                                                      


     


        Ông nội của Người là Hương Sư làm nghề bốc thuốc, lên sáu tuổi Người được ông Nội dạy học chữ Nho tại nhà, sau đó được ông Nội cho đến trường  học chữ An Nam do Thầy Hương Sư Thơ dạy đến năm 12 tuổi. Người tiếp tục học với ông Thầy Huế già ở tại chùa Thôn Úc gần nhà. Sau đó học với ông Thầy Huế trẻ cũng ở chùa trên. Ở tuổi nầy Người đã biết giúp đỡ những việc lặt vặt trong nhà, không đi chơi như bao học trò trng xóm. Năm 13 tuổi nghỉ học giúp Ông Nội nấu cơm, bào chế thuốc, bổ thuốc, học coi mạch ở Vĩnh Long nên Người biết mặt hầu hết các vị thuốc thường dùng, gần một năm rồi trở về Bến Trúc học lại. Những năm học tập Người rất chuyên cần, Người có ghi rõ những thứ hạng đạt được cụ thể khi ra trường Chasseloub Laubat Người đậu hạng tư trên năm sáu thí sinh.


     


     


    Lớn lên người vốn có sẵn bản tánh nhân hậu với lòng yêu nước của tổ tiên truyền lại tâm hồn Ngưòi thấm nhuần căn gốc đạo đức Thánh Hiền phương Đông. Năm 21 tuổi Người đang học tại Sài Gòn đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã giữa chữ hiếu và công danh, khi ông Nội ở tuổi xế chiều vì lòng hiếu thảo, cuối cùng Người đành bỏ giấc mơ sang Pháp du học vì muốn phụng dưỡng ông Nội lúc tuổi già và Người cô đã hy sinh hết tuổi thanh xuân cho đứa cháu cút côi. Phải gánh thêm chi phí quá lớn cho việc ăn học của Người nơi Trời Tây, cũng từ đó Người bước chân vào chốn quan trường !


     


    “Chồng chất thời gian tuổi lớn lên.


    Vào trường học chữ quyết cho nên.


    Bao năm đèn sách khoa thi đỗ,


    Chút nghĩa song – thân nguyện đáp đền.”                                                            


     


    Ngày 12/ Mars/ 1902, Người lập gia đình rồi sinh được hai con thì vợ mất. Người phải sống tiếp đoạn đường đời khổ đau nhiều mà hạnh phúc thì rất ít. Nhờ vậy mà Người nhận rõ được giá trị của cuộc đời.


     


    Năm 1902, Người thi đậu ngạch thơ ký Thượng Thơ, làm việc một năm rồi được đổi về Bến Tre suốt 17 năm. Nước nhà lúc ấy đang nằm dưới ánh đô hộ của Nước Pháp, sống dưới chế độ cai trị dân tộc Việt Nam chịu muôn vàng cay đắng tủi nhục, đời sống vật chất thì thiếu thốn đói rét. Nền văn minh Tây Âu tràn vào, làm xáo trộn cả Đạo Lý cổ truyền của dân tộc. Trước cảnh đời sống vật chật chất, tinh thần ấy, lòng Người sôi nổi rộn ràng với tấm lòng yêu sinh đồng loại Người không an vui với quan tước của mình, Người phải tìm và làm thế nào để cải thiện ít nhiều hiện tưọng xã hội đang diễn ra thế ấy.


     


     


     


    “ Chính phủ đưa về Bến Trước – Giang


    Trên đường hoạn lộ tưởng vui an


    Ngờ đâu thấy cảnh đời đau khổ


    Tấc dạ yêu sinh bổng rộn ràng…”


     


    Năm 1919, tại Bến Tre, với uy tín và hạnh đức trong sạch của 17 năm làm việc quan, Người cùng một số bạn đồng tâm, đồng trí đứng ra lập Hội Khuyến Văn và Hội Buôn An Nam để nâng cao trình độ dân sinh, dân trí, dân tâm. Được nhiều người hoang nghinh và hưởng ứng.


    Với tấm lòng yêu nước thương dân Người rất cẩn mẫn trong mọi việc. Bước chân Người đi đến đâu là cuộc sống của nhân dân được thay đổi theo sự chỉ dẫn của Người. Cụ thể Người được đổi đến Hà Tiên, Hòn Chông, Cần Thơ, Cần Giuộc, Xuyên Mộc với tư cách Quận Trưởng, Người lo khai dân trí, mở dân tâm, chăm lo cho đời sống của dân nên nơi nào Người đến đều được người dân yêu quý, tôn phục. Những bước chân Người đi qua còn lưu lại nhiều lời truyền tụng rất tốt đẹp. Người dạy dân biết đạo đức, lễ nghi, phong hóa, dạy cách làm ăn, mở đường, đắp lộ, lập chợ mở trường, khai khẩn đất hoang. Người thương cả loài thú rừng, đến mùa khô Người thường xách nước để ven rừng cho thú uống, vì thiếu nước, lúc ấy Người đang làm quận ở Xuyên Mộc. Người chủ trương nhân trị hơn là pháp trị


    “Giữa lúc muôn dân chịu khổ hình


    Đâu đành riêng hưởng thú nhân-sinh


    Người ra hoạt động khai dân trí


    Dù trãi gian nguy há quản mình”


     


    “Mục đích làm cho dân được khôn


    Thuần - phong mỹ - tục giữ châm ngôn


    Mở mang Công, Nghệ, Nông, Thương hội.


    Dân được ấm no hết khổ buồn”


     


    “ Từ đấy muôn ngưòi hưởng ứng theo


    Hội buôn họp tác giúp dân nghèo


    Khuyến văn Quốc Ngữ nền tân học


    Kết quả tràn dâng trợ nước triều”


     


    Gặp khi đất nước nô lệ, dân tộc lầm than Người hết lòng thương mến, khoan dung. Ít nghỉ đến việc lợi riêng. Người nêu một tấm Gương liêm khiết, cần mẫn nên được cấp trên cấp cho 20 mẫu đất ở Xuyên Mộc, Người từ chối tạo được thêm tiếng thơm lưu vào sử Nước.




     


    “ Khi Người con ở cảnh bua Quan


    Một dạ thanh liêm khó chẳng màng.


    Danh lợi vốn lòng không chút bợn,


    Hướng về nước mạnh với dân an”


     


    Năm 1925, Người được đổi về làm Quận Trưởng Cần Giuộc, Người hết lòng với phận sự trong tình cảm yêu nước thương dân nên được nhân dân tin trưởng. Gặp buổi Thầy khai Đạo Cao Đài Người tìm hiểu rồi sẵn lòng nhập môn tu hành. Người thấy tôn chỉ mục đích của Đạo phù hợp với tâm tư, tình cảm ý nguyện của mình nên hết lòng phụng Đạo, bấy giờ Người được Thiên Phong chức Thượng Chánh Phối Sư.


    ( trước đó Người có nhập môn Đạo Minh Sư ). Với đức độ của Người, dân hai quận Cần Giuộc và Cần Đước nhập môn vào Đạo rất đông đảo tạo nên một không khí hiếm thấy xưa nay. Ngày nay, hầu hết các xã hai quận này đều có Thánh Thất Cao Đài noi theo đường lối và phương tu của Người chỉ dẫn làm sáng chơn lý Cao Đài được chính quyền rất tin tưởng nhân dân quý kính. Chánh quyền lúc bấy giờ lo ngại nên đổi Người ra làm Quận Trưởng Xuyên Mộc thì ở đây Thánh Thất lại được mộc lên, dân nhập môn vào Đạo Cao Đài đông đảo thành nếp sống đạo đức rất tốt. Người chỉ dẫn nhân dân lo làm ăn nên đời sống vật chất được nâng lên và phần tin thần cũng có phần tiến bộ.


    “ Tấm tình nhân – loại vẫn không vơi


    Xui khiến Người theo mối Đạo Trời


    Toại chí yêu sinh, yêu lý tưởng


    Con thuyền Bác Ái tít mù khơi”


     


    “Linh diệu thiêng – liêng mối Đạo mầu


    Cao-Đài cứu thế gọi năm châu


    Xây cơ tuyệt-khổ nơi trần giới,


    Giải thoát nhân-sinh kiếp thảm sầu”


     


    “Hiểu Đạo Người liền quyết xả thân


    Trên đường hoạn lộ vội lui chân


    Thương đời nên mới theo về Đạo


    Dựng nghĩa yêu-sinh tỉnh khách trần”


     


    Ngày 22 tháng 11 năm 1930 Người được Đức Lý Đại Tiên phong lên phẩm Quyền Thượng Chánh Phối Sư. Rồi cơ Đạo gặp hồi gay trở Người được chư chức sắc Tòa Thánh mời về cầm giềng mối Đạo thay cho Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung an dưỡng. Năm 1931 Người theo lịnh Thầy từ quan về lo việc Đạo đúng như lời dạy của Thầy năm năm trước (Năm 1926 tại ChoLon)


     



     


    “ Con trị ai, Thầy cũng trị ai;


    Một lòng Đạo đức chớ đơn sai,


    Năm năm công quả tua bền chí.


    Dìu dẫn nhân sanh bước lạc loài.”


     


     


     


    Ngày 4 tháng 7 năm 1931 Đức Quyền Giáo Tông viết thơ thông báo cho Quan Thống Đốc Nam Kỳ kể từ nay giao quyền cầm giềng mối Đạo Cao Đài tại Tòa Thánh Tây Ninh cho Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh. Người có thơ tiếp nhận và thông báo cho chính quyền được biết phận sự của Người. Chiếu theo các bài Thánh Ngôn dạy Đạo của Đức Chí Tôn và Đức Lý Đại Tiên Người bắt tay vào việc chỉnh đốn lại công việc nội trị nơi Tòa Thánh và các Họ Đạo. Lúc bấy giờ Người cũng được trên Thiên Đình chọn làm đại diện cho nhân sanh đứng bộ tài sản kể cả đất đai của Đạo


     


          (Hình chụp Quý Chức Sắc sau ngày lễ


           Khai Đạo 15/10/1926 tại Chùa Gò Kén – Thiền Lâm Tự


          Hàng ngồi ghế từ trái sang: Chị Lớn Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh,


    Anh Lớn Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh,Anh Lớn Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh,Anh Lớn Đầu Sư Lê Văn Trung, Anh Lớn Chánh Phối Sư Lê Bá Trang)



    (Tòa Thánh Tây Ninh – buổi đầu bằng cây lá)


     


     Người kêu gọi các chức sắc trở lại Tòa Thánh cùng lo việc Đạo và khởi công xây dựng Tòa Thánh Tây Ninh tạo nên một không khí hân hoan từ năm 1931 – 1933.



    (Hình họa cảnh công quả xây Tòa Thánh đắp nền)


     


    Từ ngày nhập môn vào Đạo đến nay, Người luôn nêu cao tấm gương đạo đức với phẩm chất cao thượng, lòng từ bi rộng mở được đa số chức sắc, nhơn sanh thương yêu kính mến. Người Đạo tại Tây Ninh thường xưng tụng “Ông Phủ Ba hiền như Phật, Ông Phủ Ba thật Từ Bi”. Về mặt thế Đạo Người là bậc hiền minh hiếu thuận trong gia tộc, liêm khiết nơi chốn quan trường, nhân nghĩa trong ứng xử, chan hòa trong quan hệ. Nơi cửa Đạo Người là vị chức sắc đem hết tâm lực, trí lực, thần lực lo phụng sự Đạo Trời, dìu dẫn chúng sanh. Bước chân Người đi đến đâu là tư chất tỏa ra, gương lành chiếu sáng, người vào Đạo tăng lên và cơ Đạo phát triển rõ rệt. Người được cả vạn linh tôn phục. được Đức Chí Tôn và Đức Lý Đại Tiên yêu dấu trao trọn trách mạng cầm giềng sanh mạng chúng sanh. Có thể nói Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương đã làm sáng danh Đại Đạo.


    Người có sứ mạng tiền định thay thân cho Thầy cầm giềng mối Đạo. Bài Thánh Giáo năm 1928 do Đức Hộ Pháp và Đức Thượng Phẩm phò loan, Đức Chí Tôn dạy rằng: “Tương, con nhớ lời Thầy dạy. Con vốn con tin của Thầy giao cho chính phủ. Nhờ con mà nền Đạo mới ra lẽ chơn chánh. Trước mặt chính phủ và chúng sanh, Thầy để cho con chịu lắm sự nhọc nhằn đau thảm. Song, có vậy mới đặng. Vì con là Đạo, Đạo là con. Thầy rất mừng cho hạnh đức con rất hạp cùng Lý Đạo. Thầy dặn con phải ẫn nhẫn chịu khổ hạnh cho lẽ Đạo được rỡ ràng. Đạo nhờ con mà nên con vì Đạo mới ra đáng mặt.”


    “ Vì con là Đạo, Đạo là con


    Khổ hạnh dù sao chí chớ mòn


    Đạo sẽ nhờ con mà rạng vẻ.


    Thân con nhờ Đạo mới vuông tròn”


     


    Người đã thực hiện đúng sứ mạng Thầy giao cho. Phần Đức Lý Đại Tiên tại đàn nơi Bửu Điện Tòa Thánh Tây Ninh ngày 14 tháng 8 năm 1931 do Đức Hộ Pháp và Ngài Bảo Văn Pháp Quân phò loan có lời rằng “ Thượng Tương Thanh! Lão mừng hiền hữu đó. Lão vì Đức Chí Tôn đã hứa lập vị cho xứng đáng, thì Hiền hữu phải tận tâm mà chung lo với Lão mới phải, ngày nay đã thành chánh thì cũng nên lập mình cho đủ tư cách là Người cầm giềng bảo sanh của nhân loại.”


    Khi Đạo gặp cơ Khảo,Thầy giáng cơ dạy Đạo có đoạn dạy riêng cho Người “Ôi ! Con yêu dấu ôi ! Nếu mỗi đứa anh em con đều đặng như con vậy, Đạo chưa ra đến nổi. Thầy nhiều phen ứa luỵ ! Con hiểu ý Thầy, Thầy biết bụng con, con ráng chịu, Thầy xin con đừng sầu thảm mà động đến Thầy.”                                                                                                                                                                                                 


    Cơ Đạo đi vào cơ khảo lớn từ năm 1930, nhiều vị chức sắc tiền khai rời Tòa Thánh Tây Ninh về địa phương lập ra các chi phái Đạo. Bên ngoài Cơ phổ độ đương hồi phát triển, nhưng bên trong cơ đạo lại bị rối ren, Người cố gắng dàn xếp để cho nền Đạo thống nhứt một mối nơi Tòa Thánh Tây Ninh, những cuộc cầu nguyện và cầu hòa nơi Bửu Điện của Người ai cũng biết, có lần Người quỳ hương ba ngày đêm tại Bát Quái Đài để khóc lóc cầu nguyện. Rồi kết quả bước đầu các chức sắc Hiệp Thiên Đài đồng thuận trở về Tòa Thánh làm việc, Thảo Xá Hiền Cung được bà bạn của Đức Cao Thượng Phẩm (đã quy liễu) chịu qui hoàn về Tòa Thánh, Ngài Thái Chánh Phối Sư chịu biến độ 60 mẫu đất và các cảnh Cực Lạc về cho Hội Thánh làm chủ. Ngoài ra, Người phải chịu thất bại đau đớn trong các cuộc mưu hòa khác. Nhưng rồi tình hình nảy sinh nhiều việc không thể điều hòa, Ngưòi đành gạt giọt lệ trở về ngọn núi Bạch Vân ở Bà Rịa để an dưỡng và trong lúc này Bạch Vân Am cũng được xây dựng (khởi công ngày 30/2/1934.)


     


     


     


     



     


    “ Bạch Vân điện chiếu tỏa làu làu,


    Phong cảnh trời xanh đẹp biết bao


    Đường khuyết đá nhô hình phụng đối,


    Lối mòn cát lở, dáng long giao.


    Núi cao gió phớt nghe man mác,


    Biển rộng sông chao, cảm rạc rào.


    Lữ khách vui buồn tình gởi trọn,


    Ra về còn nhớ thuở bên nhau.”


                                                    ( Ba Đức )


     



    Người luôn tin tưởng chơn lý Đạo do Thầy chỉ dạy nên dù có phân ra bao nhiêu chi phái bài thơ chí hướng buổi đầu của Thầy ứng lộ với thực trạng nền Đạo lúc bấy giờ


     


    “ Bửu Toà  thơ thới trổ thêm hoa,


    Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà,


    Chung hiệp ráng vun nền Đạo đức!


    Bền lòng son sắt đến cùng ta”


     


    Trước tình hình cơ Đạo ngày càng có nhiều việc không thể điều hòa, nơi Bạch Vân Am các phái đoàn nhơn sanh tề tựu về đông đảo thỉnh nguyện Người ra hành chánh đạo, chỉnh đốn lại nền trật tự của Đạo như Thầy đã dạy trong bài Thánh Thi :


     


    “ Trao báu đề tin có núi sông:


    Ôm lòng chờ trẻ lệ tuôn hồng,


    Năm xa, năm cách, năm hòa hiệp


    Chừng ấy bầy khôn mối đại đồng


    Hình thể Thánh danh nên nghiệp cả


    Bắc Nam đi tận Đạo nhà thông


    Nghe cơ hồi hướng về Thành Trước


    Thầy dặn con ghi ở cõi lòng”


     


    Đáp ứng ý nguyện của nhơn sanh và lời dạy của Đại Từ Phụ, Người quay về Thành Trước ( Trúc Giang ) hiệp cùng Ngài Quyền Ngọc Đầu Sư Ngọc Trang Thanh và các chức sắc, đạo tâm đồng sở nguyện lo bảo thủ Tân Pháp Chơn Truyền của Đạo. Chư vị tiền bối lập ra Ban Chỉnh Đạo có nghĩa là chủ trương đưa ra một lối đường dẫn dắt nhân sanh thành tâm tu hành theo đúng chơn truyền của Đại Đạo, và để giải quyết vấn đề của Đạo trong lúc chinh nghiêng. Ban Chỉnh Đạo kêu gọi nhân sanh từ chức sắc cho đến tín đồ nên giữ một tinh thần trọn vẹn đạo đức nghĩa nhân, thương yêu hòa thuận, chớ nên kích bác lẫn nhau mà phải luôn thực hành bài thương yêu của Thầy dạy. Vì thế Ban Chỉnh Đạo khi vừa ra đời thì đại đa số chức sắc, chức việc, đạo tâm nam nữ hưởng ứng, qua các Châu Tri phổ truyền lòng tin được dựng lại luật Đạo được giữ gìn. Việc Chỉnh Đạo hợp lý Trời thuận lòng ngưòi nên đạt được nhiều kết quả.


     


     


     




    “Gặp hồi khảo đảo, Đạo chia phôi,


    Người dẫu đau buồn vẫn thế thôi


    Vâng ý thiêng liêng về Bến Trước


    Gầy Ban Chỉnh Đạo để vun bồi.”


     


    Ngày mùng 8 tháng giêng năm Ất Hợi nhằm ngày 11 tháng 2 năm 1935 Đại Hội Vạn Linh tại Thánh Thất An hội đồng nhứt tâm công cử Người lên phẩm vị Giáo Tông cho đúng với ý Thầy đã định từ trước. Đức Giáo Tông là người thay thân cho Thầy để bảo thủ chơn truyền, lo xây đắp hình thế đạo, truyền bá giáo lý yêu sinh để giải khổ cho đời khỏi cảnh đấu trang tang tóc.



     


    “ Rồi trước cộng đồng Hội Van Linh


    Được lòng tín-nhiệm của nhân-sinh.


    Cầm giềng mối Đạo Người Anh-Cả


    Dìu-dắt muôn lòng vững đức tin”


     


    Đức Lý Đại Tiên cũng giáng cơ ban cho Bài Kinh Chúc Mừng khi Người đăng điện, trong khoảng thời gian ấy đàn cúng nào cũng vang lên tiếng kinh Chúc Mừng nghe thật huyền diệu, thiêng liêng.


     


              


     


     


    BÀI  KINH  CHÚC  MỪNG


     


    ÿ*#


    “ Đầu cuối lạy Ơn Trên Từ Phụ


    Ban ân lành, nuôi đủ chúng sanh


    Hoằng khai mối Đạo nên thành


    Nay cho một đấng Thánh Hành độ dân


    Cầm giềng mối ra ân cứu khổ


    Giải cho đời sanh khổ đặng an


    Bốn phương lạc nghiệp thừa nhàn


    Mừng nay đặng thấy một đàng Thánh Minh


    Giữa vạn vật công bình chánh trực


    Giáo dân đời đặng thoát biển mê


    Trần gian lao khổ nhiều bề


    Nhờ ơn rọi đuốc dẫn về ngôi xưa


    Mừng nền Đạo sớm trưa phong nhã,


    Vừng mây lành phủ cả Càn Khôn


    Nương theo phép nhiệm vĩnh tồn


    Mừng trong sanh chúng phước tồn ngày nay


     


    Bến Tre ngày rằm tháng 3 năm Ất Hợi


     


                                    



     


    Người có ra nhiều tuyên ngôn dạy đạo, được toàn Đạo tin và noi theo. Trong số Tuyên Ngôn được Hội Thánh tuyển chọn cho in để toàn Đạo học tập, có bài vào giờ Tý ngày mùng 9 tháng giêng năm Ất Dậu (1945) lúc ngự trên ngai Cửu Trùng Thiên có đoạn; “Bần Đạo chào chư chức sắc, chức việc và Đạo hữu lưỡng phái, hôm nay  Bần Đạo thọ mạng Ngọc Hư đến hồng trần thay thân cho Đại Từ Phụ cầm giềng mối Đạo và vớt sanh linh khởi khổ đời mạt Pháp chiến tranh tiêu diệt mà đem lại Thượng Ngươn Thánh Đức khởi đầu tái tạo”


    Khi cơ Chỉnh Đạo hoàn thành Người dạy làm lễ Thành Đạo và tuyên bố lập Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ai muốn tu phải hành một Luật, tùng một Pháp mới có Phật Trời chứng kiến.


                   (Hình chụp trong ngày Lễ Thành Đạo-Trước Thánh Thất An Hội)


     


    “Cơ Đạo từ đây đã lập thành


    Rạng nền chánh giáo nghĩa yêu sanh


    Người lo xây đấp tình nhân-loại


    Giải thoát cho đời cảnh đấu tranh”


     


    Người sắp đặt việc Đạo đúng như Chánh thể, chơn truyền của Đại Đạo. Đức Giáo Tông sắp đặt tỷ mĩ mọi công việc hành Đạo của Hội Thánh. Người cho mở lớp Hạnh Đường để dạy đạo cho hàng chức sắc kế thừa giáo lý chơn truyền của Đại Đạo lập bồi công quả trau dồi công đức của Người tu. Người dạy cho nhơn sanh ba phương tu Thượng Thừa, Trung Thừa, Hạ Thừa gọi là Phương Tu Tam Thừa. Đối với hàng chức sắc Thượng Thừa xả thân hành đạo, dày công tu tịnh thì được thọ truyền bí pháp để đoạt cơ siêu thoát linh hồn. Ngoài ra Người còn chú trọng mở mang Phước Điền, Ban Hành Thiện, Nhà Tu Trung Thừa đều nhắm vào mục đích cải thiện dân sinh. Ngưòi mở Minh Thiện Học Đường để dạy kinh, dạy chữ cho trẻ em nhằm cải tạo dân tâm, dân trí.


    Đêm 21 rạng 22 năm Nhâm Ngọ (1942), vâng lịnh Ơn Trên Người nhập đại tịnh nơi Lầu Thiên Lý Mật Truyền. Thời kỳ này lúc nhơn sanh đang bị ảnh hưởng chiến tranh lan tràn khắp thế giới, tình hình nước nhà ngày càng trở nên nghiêm trọng. Người nhập đại tịnh là để thực hành nền Tân Pháp của Đại Đạo cũng như trước kia Người tích cực hành Đạo để bảo thủ và thực hiện chơn truyền của Đại Đạo; thì nay, Người hành phần tiêu cực để chứng minh sự nhiệm mầu xứng đáng. Sự đại tịnh của Đức Giáo Tông còn có ý nghĩa bao la hơn nữa, là nhờ đó mà Người mới đủ quyền năng thiêng liêng ban bố một sự cứu rỗi khắp cùng.


             


     


    “Người vào thiền-định chịu ân thiên


    Giữa lúc muôn dân cảnh luỵ phiền,


    Nhơn loại càng gâ nhiều chiến họa


    Đạo Trời càng phải vững chơn truyền”


     


    Trong thời kỳ đại tịnh của Đức Giáo Tông đã nêu một gương hy sinh tư kỷ, sáng tỏa mà toàn đạo luôn ghi nhớ mãi. Chính hai con của Người vì tham gia kháng chiến chẳng may bị quân đội Pháp bắt được. Ông Nguyễn Ngọc Bích bị bắt năm 1946; Ông Nguyễn Ngọc Nhựt bị bắt năm 1948. Nếu người chịu đứng ra bảoo lảnh thì hai con được trả tự do. Nhưng Người cam nén lòng đau thương riêng, đành không rảnh hai con. Vì Người nghỉ rằng, nếu Người dựng danh nghĩa Đạo (với phẩm vị Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) mà lo cho con, thì danh nghĩa Đạo không còn hoàn toàn trong trắng, bị mất tín nhiệm trước nhơn sanh. Và Người cũng không còn đủ huyền năng để phổ hoá Đạo Đức và độ đời được. Vậy, vì mục đích cứu rỗi nhơn anh, vì danh đạo là tối trọng, Người đã hy sinh tình máu thịt tư riêng. Bài thơ sau đây của hiền Thanh Lương đã nói rõ sự hy sinh đó


    “ Nén tình máu mủ vì danh Đạo


    Đành để hai con chịu khổ hình


    Mệnh hệ nhơn sanh thà bảo trọng


    Tình nhà cam phải chịu hy sinh”


     


    Phải nói sự hy sinh này chẳng khác gì sự hy sinh của Chúa Giê Su khi bị đóng đinh trên Thập Tự Giá thưở xưa.


    Trong thời kì Đại Tịnh còn có rất nhiều Gương khác, đáng để toàn Đạo ung đúc đức tin và noi theo.


    Đức Giáo Tông đại tịnh nơi lầu thiên lý mật truyền 9 năm 81 ngày, theo Đạo Pháp gọi là Cửu Niên Diện Bích. Ngoài 9 năm trường giam mình trong căn lầu Tịnh nhỏ hẹp bằng cây lá; Người sống về tịnh luyện, nhẫn nại và chu đáo phi thường. Kết quả là, Người đã liễu đạo hoàn toàn Tân Pháp Chí Tôn, nghĩa là đã đắc đạo tại thế; Người thường được xuất chơn thần ra khỏi xác để vân du thiên ngoại. Đức Giáo Tông “ ra tịnh” vào ngày 15 tháng 5 năm Tân Mão (1951) lúc Người được 71 tuổi. Cũng như xưa kia Đức Phật Thích Ca ngoài 6 năm tu tịnh khổ hạnh nơi cội bồ đề để tìm chơn lý thì ngày nay Đức Giáo Tông đại tịnh 9 năm trường nơi Thiên Lý Mật Truyền để đi đến sự nhiệm mầu Tân Pháp của Chí Tôn.


     


     


    “ Chín năm Đại Tịnh luyện tinh – thần


    Kết quả nay giờ phút hoá thân.


    Người dẫu về nơi miền cực lạc,


    Tình yêu còn mãi với nhơn – quần”


     


    Lúc đang ở quan trường Người vâng lịnh Thầy từ quan về lo cho nền Đạo lúc chinh nghiêng. Nay có lịnh của Đức Chí Tôn, Người phải rời Kim Thân để đi độ ngũ châu, sứ mạng nào Người cũng xả thân phụng sự. Tấm Gương Luật Pháp của Người đã cảm hóa được nhiều tầng lớp của xã hội. Nhiều Người nhờ theo phương tu của Người mà được tấn hóa.


    Vậy nhờ có sự tu hành đắc đạo đến khi viên mãn của Đức Giáo Tông đó là giá trị nhiệm mầu của tôn chỉ đại đạo về cả hai phương diện hữu hình và vô vi, được chứng minh một cách thực hiện; cho nên toàn Đạo đều một lòng ghi ân, tin tưởng và trung thành theo đường lối của Người. Nhờ tin theo và biết vận dụng đường lối tu hành của Người mà con thuyền Đạo không đổi hướng và phát triển đúng hướng, đáp ứng được yêu cầu tín ngưỡng của thời đại. Người dạy Thuần Tuý Đạo Đức là thuần lấy đạo đức để xử sự làm sao cho mỗi giao cảm giữa đạo đời luôn có sự tương liên tốt đẹp trong ý hướng làm cho nước vinh đạo sáng. Người dạy, là Người đạo phái yêu nước, mến quê hương, thảo cha mẹ, nghĩa vợ chồng, làm tròn bổn phận công dân mà cụ thể là phải tuân theo phép nước, nhờ vậy mà cơ đạo được tồn tại và phát triển như hôm nay. Ngài là hiện thân cho Gương của Luật Pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.


    Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương là biểu tượng đạo đức, là tấm gương sang về phẩm gái con Người trong đường hưóng giác Ngộ Đạo, khổ luyện chứng đắc cả xác lẫn hồn làm cho Tân Pháp và chơn truyền Đạo được tỏ rạng xứng đáng là Người cầm giềng mối Đạo thay thân cho Thầy dẫn dắt chúng saanh trong buổi Tam Kỳ.


     


     


     


     


     


    Toàn Đạo đồng xưng tụng công Đức và nguyện theo Người tu hành !


     


    “Đọc qua Lược-sử của Người


    Là ta thấy cả cuộc đời hy-sinh,


    Đã vì lý-tưởng xả thân,


    Đã vì nhơn-loại gian truân không màng.


    Sáng danh Đại Đạo con đàng Vĩnh-sanh


    Đã từng trải cảnh nhục vinh,


    Tinh-thần bất diệt hiển linh muôn đời.


    Đoàn em ta cố noi Người


    Con đường phụng sự Đạo Trời yêu-sinh.”


     


                   Nam Mô Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ


            Lý Giáo Tông Từ Bi Cứu Thế Thiên Tôn.


     



     

  2. #2
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Bài viết
    182
    Thiên Sứ's Avatar

     


    "Người mới ra đời chửa mấy thu


    Cha già đã vội gót tiên du …


    Tuổi thơ nương sống tình ông cháu,


     


    Cái cảnh cô đơn luống thảm sầu…”       


  3. #3
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Bài viết
    182
    Thiên Sứ's Avatar

     


    "Chín năm Đại Tịnh luyện tinh – thần


    Kết quả nay giờ phút hoá thân.


    Người dẫu về nơi miền cực lạc,


    Tình yêu còn mãi với nhơn – quần”


  4. #4
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Bài viết
    182
    Thiên Sứ's Avatar

     


    1.KHAI ĐẠO



    (Hình vẽ ba ông Phạm Công Tắc - Cao Hoài Sanh - Cao Quỳnh Cư và bà Hương Hiếu xây bàn cầu cơ)



    (Hình chụp Quý Chức Sắc sau ngày lễ


           Khai Đạo 15/10/1926 tại Chùa Gò Kén – Thiền Lâm Tự


          Hàng ngồi ghế từ trái sang: Chị Lớn Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh,


    Anh Lớn Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh,Anh Lớn Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh,Anh Lớn Đầu Sư Lê Văn Trung, Anh Lớn Chánh Phối Sư Lê Bá Trang)




    (Tòa Thánh Tây Ninh – buổi đầu bằng cây lá)


     




    (Hình vẽ họa cảnh toàn đạo về làm công quả xây Tòa Thánh đắp nền)



    (CHÙA GÒ KÉN - THIỀN LÂM TỰ)


    ( nơi KHAI ĐẠO )


     


     


    “Linh diệu thiêng – liêng mối Đạo mầu


    Cao-Đài cứu thế gọi năm châu


    Xây cơ tuyệt-khổ nơi trần giới,


    Giải thoát nhân-sinh kiếp thảm sầu”


     

       

  5. #5
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Bài viết
    182
    Thiên Sứ's Avatar

     2. CHỈNH ĐẠO



    “Gặp hồi khảo đảo, Đạo chia phôi,


    Người dẫu đau buồn vẫn thế thôi


    Vâng ý thiêng liêng về Bến Trước


    Gầy Ban Chỉnh Đạo để vun bồi.”


     


     


     


  6. #6
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Bài viết
    182
    Thiên Sứ's Avatar

     3. THÀNH ĐẠO



    (Hình chụp trong ngày Lễ Thành Đạo-Trước Thánh Thất An Hội)


     


    “Cơ Đạo từ đây đã lập thành


    Rạng nền chánh giáo nghĩa yêu sanh


    Người lo xây đấp tình nhân-loại


    Giải thoát cho đời cảnh đấu tranh”


  7. #7
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Bài viết
    182
    Thiên Sứ's Avatar


    “ Khi Người con ở cảnh bua Quan


    Một dạ thanh liêm khó chẳng màng.


    Danh lợi vốn lòng không chút bợn,


    Hướng về nước mạnh với dân an”


     



    “ Tấm tình nhân – loại vẫn không vơi


    Xui khiến Người theo mối Đạo Trời


    Toại chí yêu sinh, yêu lý tưởng


    Con thuyền Bác Ái tít mù khơi”



     


    “Hiểu Đạo Người liền quyết xả thân


    Trên đường hoạn lộ vội lui chân


    Thương đời nên mới theo về Đạo


    Dựng nghĩa yêu-sinh tỉnh khách trần”


     



    ( Hình họa mẫu chuyện đàn kiến mối trê đường dời nhà )


     


    " Theo đúng tình yêu của Đất Trời


    Là không riêng ở với loài người


    Mà yêu đến cả loài sanh vật


    Như tấm gương lành Đức Giáo Tông"


     



    (ảnh chụp trước năm tháng tịch diệt )


     


    “Người vào thiền-định chịu ân thiên


    Giữa lúc muôn dân cảnh luỵ phiền,


    Nhơn loại càng gây nhiều chiến họa


    Đạo Trời càng phải vững chơn truyền”


     


     


  8. #8
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài viết
    76
    dotieucuc's Avatar
      Lại gặp Thiên Sứ nữa, may quá.

    Thiên Sứ hỏi TC lấy trích dẫn từ đâu mà nói thì hãy tìm đọc Nhân Vật Cao Đài Giáo - Đồng Tân - 2008, phần Ngài Nguyễn Ngọc Tương - Lê Bá Trang.

    Sách này hơn khó kiếm, nếu muốn TC sẽ gửi qua cho mượn.

    Tiểu sử Ngài Nguyễn thì TC đọc lâu rồi, sẵn đây thì hỏi luôn Thiên Sứ hiền hữu nghĩ gì về cuốn "Những đêm trắng của đức Giáo Tông"

    Có gì email qua cho TC biết nhé



  9. #9
    Tham gia ngày
    May 2007
    Bài viết
    266
    Nguyên văn bởi dotieucuc
      Tiểu sử Ngài Nguyễn thì TC đọc lâu rồi, sẵn đây thì hỏi luôn Thiên Sứ hiền hữu nghĩ gì về cuốn "Những đêm trắng của đức Giáo Tông"Có gì email qua cho TC biết nhé
    Sách đó có hay không huynh Thiên sứ và tỷ dotieucuc, có gì mang lên diễn đàn cho quý Huynh tỷ đệ muội học hỏi thêm với nhé!

  10. #10
    Tham gia ngày
    Feb 2010
    Bài viết
    1.096
    dong tam's Avatar
    ĐỨC ĐỆ TAM GIÁO TÔNG
    NGUYỄN NGỌC TƯƠNG
    (1881 – 1951
    )


    I. GIAI ĐOẠN ĐỜI ĐẠO SONG HÀNH
    . Thế Đạo song hành cùng xây đắp nền tảng Thiên Đạo
    II. GIAI ĐOẠN XUẤT GIA HÀNH ĐẠO
    . Nhiều lần đại tịnh
    . Luôn quan tâm đến việc liên giao hòa hiệp trong đồng đạo.
    III. KẾT LUẬN
    . Hình ảnh minh chứng ý nghĩa chữ Tu theo Cao Đài

      

    Diễn biến của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong 36 năm đầu, qua thực tiễn lịch sử phân nhánh để phổ độ của các Hội Thánh, đã có nhiều Chức sắc Đại Thiên phong được tôn vinh ở phẩm Giáo Tông. Tuy nhiên, sau đó trong giai đoạn chuyển sang định hướng vận động “thống nhất tinh thần” nhà Đạo Kỳ Ba qua hình thức hoạt động phổ thông giáo lý do Tam Giáo Tòa sắc lệnh, chỉ có 4 vị Đại Thiên Phong khi được phép giáng cơ, trong danh xưng có từ Giáo Tông đi kèm. Một trong bốn Giáo Tông chánh vị, chính danh ấy có Đức Nguyễn Ngọc Tương - Giáo Tông Ban Chỉnh.

    Nhân kỷ niệm thời điểm một hoa giáp 60 năm quy Thiên, Rằm tháng 5 Tân Mão 1951 – Rằm tháng 5 Tân Mão 2011, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại bài học từ tấm gương “tâm hạnh đức tài” của Đức Ngài.

Trang 1/4
1 2 3 ... 4

Nội quy viết bài

Nội quy viết bài
  • Quý hiền không thể tạo chủ đề
  • Quý hiền không thể gởi Trả lời
  • Quý hiền không thể gởi tập tin đính kèm
  • Quý hiền không thể sửa bài viết của quý hiền
Chủ đề giống nhau
  1. Lễ Kỷ Niệm Sanh Nhựt Giáo Tông Nguyễn Ngọ
    Bởi Nhan Nai trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 0
    Có Bài Mới: 23-06-2009, 06:36 PM
  2. Thơ Lược Sử Đức Nguyễn Ngọc Giáo Tông
    Bởi NAMMÔ trong mục Cơ sở Đạo & Hội thánh
    Replies: 12
    Có Bài Mới: 21-03-2009, 07:58 AM
  3. Đức Nguyễn Ngọc Tương
    Bởi Vinh Nguyen trong mục Cơ sở Đạo & Hội thánh
    Replies: 24
    Có Bài Mới: 02-05-2008, 08:09 AM
  4. Đêm trắng của Đức GT Nguyễn Ngọc Tương
    Bởi DangVo trong mục Tin tức khắp nơi
    Replies: 18
    Có Bài Mới: 14-04-2008, 11:54 AM