ĐẠO SƯ VIVEKANANDA

Tien Duc

New member
<P><FONT size=3>Kính chào quý huynh, tỷ , đệ, muội.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Xin giới thiệu với mọi người bài viết của huynh Nhất Quán về đạo sư Vivikananda.</FONT></P>
<P><FONT size=3>                                        <strong><FONT color=#0000ff>ĐẠO SƯ VIVEKANANDA</FONT></strong></FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3><strong>             CON NGƯỜI CỦA LÝ TƯỞNG ĐẠI ĐỒNG TÔN GIÁO</strong></FONT></P>
<P><FONT size=3>     Dù đối với một số người Việt Nam thường nghiên cứu về tôn giáo Ấn Độ, tên tuổi của đạo sư Vivekananda không còn xa lạ gì. Tuy nhiên đa số hình như cũng còn nhiều người chưa quen thuộc mấy với nhà sư Ấn Độ đặc biệt này. Tuy Ngài chỉ lưu lại thế gian một thời gian ngắn ngủi, hưởng thọ chưa được bốn mươi tuổi, nhưng những di sản tinh thần của Ngài để lại trong lãnh vực tôn giáo, đặc biệt là lý tưởng đại đồng tôn giáo, có thể nói là đã tạo những ảnh hưởng rất sâu đậm trong cách suy nghĩ của lòai người trên một trăm năm qua. Chẳng hạn, trào lưu dung thông tư tưởng càng ngày càng trở nên phổ quát trong quảng đại quần chúng tại các quốc gia tiến bộ trên thế giới ngày nay có thể nói là phần nào ít nhiều chịu ảnh hưởng, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, những tháng ngày lưu giảng của Ngài trên nhiều quốc gia Âu Mỹ trong những năm cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Nhận thấy viết về đạo sư Vivekananda trong phạm vi một bài báo không có một tài liệu nào giới thiệu về con người và tư tưởng của Ngài một cách trong sáng và súc tích như bài giới thiệu của Christopher Íherwood trong quyển sách nhỏ mang tựa đề " Teaching of Swami Vivekananda " xuất bản bởi Advaita Ashrama, Calculta năm 1948. Chúng tôi xin dựa vào tài liệu này chuyển đến bạn đọc những dòng giới thiệu về đạo sư Vivekananda để chúng ta có thêm hiểu biết về con người tiền phong trong lý tưởng đại đồng tôn giáo, phải chăng cũng chính là lý tưởng mà tín hữu Cao Đài luôn ấp ủ.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Vào một buổi sáng sớm tháng Chín năm 1893 bà George W. Hale nhìn qua cửa sổ căn nhà xin xắn của bà trên đường Dẻaborn Avenue, thành phố Chicago, và chợt nhìn thấy bên kia đường có một chàng thanh niên có dáng dấp Á Đông, trang phục theo kiểu một nhà sư Ấn Độ, đang ngồi trong thế tỉnh tọa ngay bên vệ đường.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     May mắn thay, bà Hale không có phản ứng như mọi người đàn bà khác. Bà không gọi cảnh sát đến đuổi người lạ mặt đi nơi khác, hoặc kêu người ăn kẻ ở trong nhà ra hỏi ông ta muốn gì. Bà nhìn kỹ thấy chàng thanh niên có vẽ như nhiều ngày râu tóc không được chải cạo và áo quần nhăn nhúm dơ bẩn, nhưng bà nhận thấy có một cái gì đó tóat ra từ con người này mang nhiều vẻ vương giả khác thường. Ông ta ngồi đó, ngay bên vệ đường, thật trang nghiêm, chìm sâu trong trạng thái tỉnh tọa, xuất thần. Trông ông ta thì không có vẻ gì là người lạc đường (thực vậy, ngược lại là đàng khác, ông ta không phải bị lạc đường mà chỉ quyết định ngồi đó chờ sự dẫn lối của Thiên Ý ). Bà Hale bất chợt nảy ra một suy đoán thật sáng suốt, bà quyết định ra khỏi nhà rồi băng qua đường đến gần người đàn ông lạ mặt hỏi một cách rất lễ phép: "  Thưa ông, ông có phải là người trong phái đoàn đến dự Đại Hội về Tôn Giáo Thế Giới không? "</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Tức thì bà cũng được trả lời bằng một sự lễ phép không kém và bằng một thứ Anh ngữ lưu lóat của một người có học thức. Người lạ mặt tự giới thiệu là Swami Vivekananda và nói cho bà ta biết là quả thực như vậy, ông đến để tham dự đại hội, mặc dù ông không phải là thành viên chính thức của một phái đoàn nào cả.</FONT></P>
<P><FONT size=3>còn tiếp</FONT></P>
<P> </P>     
 

Tien Duc

New member
<P><FONT size=3>     Thực ra, ông đã từ Ấn Độ đến Chicago hồi giữa tháng Bảy, nhưng sau đó mới khám phá ra rằng khai mạc Đại Hội được đổi lại giữa tháng Chín. Túi tiền mang theo của ông bắt đầu vơi dần, rồi có người khuyên ông nên qua Boston vì ở đó sinh họat rẻ hơn, nên ông sau đó đã lấy xe lửa đi Boston. Trên xe lửa, ông gặp một người đàn bà mời ông về lưu lại tại biệt thự Breezy Meadows của bà. Từ đó ông đã đến diễn giảng nhiều lần tại những nhà thờ và các hội quán, đã được hỏi những câu hỏi ngớ ngẩn về xứ sở của ông. Nhiều trẻ em đã reo cười khi thấy quần áo lạ lùng buồn cười của ông. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Cho đến hai ngày trước đây giáo Sư  J. H. Wright, một giáo sư cổ ngữ Hy Lạp tại đại học Harvard, mua cho ông, một vé tàu trở lại Chicago và bảo đảm là ông sẽ được hoan nghinh tại Đại Hội, mặc dù ông không có giấy mời.</FONT> <FONT size=3>Giáo sư Wright còn nói rằng: " <EM>Với đạo sư mà hỏi có chứng minh thư hay không thì cũng như hỏi xem mặt trời có giấy phép để chiếu sáng không</EM> ". </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Vị giáo sư này cũng cho ông địa chỉ của Ủy Ban lo việc tiếp đón các phái đoàn đại biểu, nhưng Vivekananda loay hoay thế nào đã đánh mất nó trên đường đến Chicago. Ông cố gắng hỏi thăm người qua đường, nhưng xui cho ông là trạm xe lại nằm ngay khu vực gặp toàn người nói tiếng Đức cho nên ông không có cách nào nhờ họ giúp ông được. Trong khi đó màn đêm lại đến mà vị đạo sư của chúng ta lại không quen sử dụng số điện thọai để tìm cách mướn phòng khách sạn. Đối với ông lúc đó cách giản dị nhất là ngủ qua đêm ngay trên toa xe lửa chở hàng bỏ trống tại bến xe lửa là xong chuyện. Sáng hôm sau, bụng vừa đói, quần áo lại xốc xếch, ông thức dậy, và theo lời của ông "<EM>ngửi thấy hơi mát của nước</EM>", ông bắt đầu đi bộ về hướng bờ hồ Michigan. Nhưng những gia đình giàu có trên đường bờ hồ Lake Shore Drive thì không hiếu khách tí nào; ông đã đến gõ cửa nhiều nơi để hỏi đường và bị xua đuổi tàn nhẩn. Cuối cùng sau khi loanh quanh một hồi, ông thấy mình lại tìm đến chỗ này, và quyết định không đi lang thang thêm nữa mà nhất định ngồi xuống tại đây để chờ xem Thượng Đế sẽ an bày cho ông như thế nào. Và bây giờ đây, Vivekananda kết luận: " <EM>sự giải cứu mới lãng mạn làm sao! Thượng Đế quả là có cách an bày lạ lùng của Ngài</EM> ".</FONT>      </P><edited><editID>Tien Duc</editID><editDate>39730.2159606482</editDate></edited>
 

HUYNHDEDAIDONG

New member
<P><FONT size=3>Cảm ơn bạn Tiến Đức đã bỏ công sưu tầm và chia sẻ cùng A C E bài viết về Đạo Sư Vivekananda.</FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>"...<EM>Thượng Đế quả là có cách an bày lạ lùng của Ngài"</EM></FONT></FONT></P>
<P><FONT color=#000000 size=3>Thân,</FONT></P> <edited><editID>HUYNHDEDAIDONG</editID><editDate>39731.0025462963</editDate></edited>
 

Tien Duc

New member
<P><FONT size=3>Cám ơn bạn HDDD đã ủng hộ Tiến Đức. Mà câu chuyện còn dài lắm , bây giờ mình viết tiếp nhé.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Bà Hale có lẽ cũng bật cười khi nghe ông kể lại đầu đuôi câu chuyện như vậy, vì Vivekananda luôn luôn có tài kể về những câu chuyện phiêu lưu may rủi của ông một cách trào phúng rất có duyên và làm cho người nghe không thể nhịn cười. Bà Hale bèn mời ông vào nhà, mời ông rửa ráy chải gở và dùng điểm tâm. Sau đó bà cùng đi với ông đến trụ sở của Ủy Ban phụ trách việc sắp xếp cho các phái đoàn Á Châu đến dự đại hội.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     </FONT> <FONT size=3>Cái ý kiến về  việc tổ chức một Đại Hội Tôn Giáo Thế Giới tại Chicago đã bắt đầu được thai nghén từ năm năm trước, một phần trong dự án về cuộc Triễn Lãm Thế Giới - The World`s Columbian Exposition - để kỷ niệm 400 năm đánh dấu ngày Columbus (Kha Luân Bố ) khám phá ra Mỹ Châu. Cuộc triển lãm này là nhằm trình bày các tiến bộ vật chất của Tây Phương, đặc biệt là những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật. Tuy nhiên, nhiều người đồng ý rằng những tiến bộ về các lãnh vực khác cũng cần được trình bày.  Do đó mới có các cuộc hội thảo về rất nhiều đề tài, chẳng hạn như về sự tiến bộ của phụ nữ, về thông tin đại chúng, về y khoa và giải phẩu, về thương mại và tiền tệ, về âm nhạc, về cải tổ hệ thống công quyền, về khoa học kinh tế và về cả những điều nghe rất lạ tai đối với chúng ta ngày nay, như đề tài về việc nghỉ ngày Chủ Nhật. Và vì vậy, theo nguyên văn lời của Ủy Ban tổ chức: </FONT><FONT size=3>" <EM>Sự tín ngưỡng về một quyền năng Thiêng Liêng luôn luôn giống như mặt trời đem đến ánh sáng và mang lại những kết quả về sự phát triển trong các lãnh vực trí tuệ và luân lý của lòai người</EM> ", một Đại Hội Tôn Giáo Thế Giới do đó cũng được tổ chức.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Một số người có thể mỉm cười vì danh từ nghe có tính cách đao to búa lớn, nhưng phải công nhận rằng sự triệu tập một đại hội như vậy quả thật là một việc làm có tính cách lịch sử trong tiến trình phát triển của sự tự do tư tưởng. Đây có lẻ là lần đầu tiên trong lịch sử nhân lọai, đại diện của hầu hết các tôn giáo chính trên thế giới được mời ngồi lại với nhau và được tự do trình bày những giáo lý của tôn giáo mình. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     <FONT color=#0000ff>Có một điều rất nghịch lý, đó là hầu hết những người có tư tưởng tiến bộ thuộc thành phần ban tổ chức của đại hội đều là những người không tin tôn giáo (the Agnostics); và họ chỉ muốn vận động cổ vỏ cho tinh thần tương dung giữa các tôn giáo.</FONT> Những người Ki Tô giáo cực đoan thì có một quan điểm ít vô tư hơn, như có thể dự đoán được. Chẳng hạn qua lời của một linh mục Công Giáo sau đây: " <EM>Nói rằng tất cả tôn giáo đều tốt như nhau cũng không đúng; đồng thời cũng không đúng khi nói rằng chỉ có một tôn giáo nào đó là tốt, còn tất cả các tôn giáo khác đều không tốt. Trong Ki Tô giáo của ngày mai, sẽ công chính hơn là trong quá khứ, mỗi một yếu tố đều có cái vai trò của nó trong sự dọn đường cho công cuộc truyền bá Phúc Âm mà các trưởng lão tiên khởi của Giáo Hội đã ghi nhận nơi chính những người ngọai đạo, và cái vai trò dọn đường đó đến nay vẫn còn chưa hoàn tất. Hay nói cách khác, những tư tưởng ngọai đạo cũng có cái hữu dụng của nó trong công cuộc dọn đường cho Ki Tô giáo</EM> ". </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Nhưng cái điều thực sự có ý nghĩa nhất chính là sự kiện đức Hồng Y Gibbons, nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ, chấp nhận lời mời làm chủ tọa đại hội. Điều này lại càng có ý nghĩa hơn nữa khi Giáo Chủ của Giáo Hội Anh Giáo (Canterbury) đã từ chối tham dự đại hội và phản đối rằng chính sự tham dự một đại hội như vậy sẽ có hàm ý công nhận sự bình đẳng giữa các tôn giáo. Ngòai các đại diện Ki Tô giáo, đại diện của nhiều tôn giáo như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo, Khổng giáo, Thần Đạo (shintoism), Hỏa giáo (Zoroastrianism) và nhiều giáo phái nhỏ khác nữa đều có mặt tham dự đại hội. Vivekananda dĩ nhiên có thể được kể vào thành phần phái đoàn Ấn Độ giáo; nhưng thực ra, như chúng ta sẽ thấy sau này, ông tiêu biểu cho một cái gì to lớn hơn là một giáo phái; đó chính là nền triết giáo lâu đời của Ấn Độ về tính đại đồng của chân lý trong sinh họat tâm linh chung của cộng đồng lòai người.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Ngay trong ngày khai mạc của đại hội, vào buổi sáng ngày 11 tháng chín năm 1893, Vivekananda, trong tăng phục màu vàng lộng lẫy và có khuôn mặt màu đồng tuấn tú, đã đặc biệt là người có sức thu hút nhất trong số những khuôn mặt được mời ngồi trên giảng đài. Khi nhìn vào những bức hình của ông, người ta dễ bị thu hút bởi cái nét vĩ đại tóat ra từ con người của ông. Cái dáng dấp của một con sư tử, với chiếc mũi to lớn vạm vở, với đôi môi dày và cặp mắt đen nhánh sáng quắc. Những người có mặt trực tiếp diện kiến với ông có thể thực sự cảm thấy được tính chất oai vệ uy nghi phát ra từ con người của ông. Mặc dù thân hình Vivekananda chỉ thuộc mức trung bình, nhưng ông luôn luôn  cho người ta cái cảm giác của một cái gì vĩ đại quanh người ông. Dù với tầm vóc bình thường, qua cái dáng đi oai vệ đầy nam tính của ông, có người nói ông có cái hổ tướng, hay nói ông đi như một con mèo khổng lồ, như cách diễn đạt của một phụ nữ Mỹ. Ở Hoa Kỳ ông thường bị nhận lầm là một hoàng tử Ấn Độ hay là một nhân vật lãnh đạo cao cấp, ví cái dáng dấp uy nghi của một cấp chỉ huy nơi ông.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Nhiều người khác thì có nhận xét rằng ông có cái nhìn  " nội mãn " (inly- pleased); hình như ông luôn luôn cho thấy một sức mạnh tiềm tàng rất uy mãnh ở bên trong, và những nét vừa vui tánh vừa chuyên chú trong ánh mắt, một ánh mắt cho thấy ông luôn luôn có một trạng thái tâm hồn tĩnh lặng hoan vui mà không vướng bận. Khi ông bắt đầu cất tiếng, là mọi người đều có phản ứng ngay trước giọng nói trầm hùng và có uy lực phi thường như phát ra từ nơi bụng  của ông. Những làn âm ba rung động từ giọng nói của ông tức thì gây nên một sự phấn kích kỳ diệu trong hàng thính chúng. Và không sai, chính sức lôi cuốn trong giọng nói của ông đã đưa đến những phản ứng kinh ngạc nơi thính giả ngay trong buổi nói chuyện đầu tiên của Vivekananda.</FONT></P>
<P><FONT size=3>còn tiếp</FONT></P> <edited><editID>Tien Duc</editID><editDate>39731.3409953704</editDate></edited>
 

Tien Duc

New member
<P>      <FONT size=3>Trong phiên họp của buổi sáng đầu tiên hôm đó, khi đến lượt ông lên diễn đàn, Vivekananda đã xin được hoãn lại và ông cần có thêm thì giờ để chuẩn bị. Sau này, trong một lá thư gởi cho bạn bè ở Ấn Độ ông thú nhận là lúc đó ông hơi khớp trước giảng đài. Trong khi các đại biểu khác ai nấy đều có bài soạn trước, chỉ có mình ông là không có gì cả. Tuy nhiên, sự do dự này chỉ làm tăng thêm sự tò mò thích thú nơi mọi người mà thôi.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Cuối cùng, vào buổi chiều hôm đó, Vivekananda lên diễn đàn. Bằng một giọng trầm hùng, ông bắt đầu nói " thưa các anh chị em của Mỹ châu " tức thì cả hội trường có tới mấy trăm người, bắt đầu vỗ tay và reo hò một cách điên cuồng kéo dài đến hai phút đồng hồ. Từ sáng cho đến lúc này hội trường chắc chắn đã quen với nề nếp rồi; các diễn giả trước đó đã được hoan nghinh nồng nhiệt nhưng trong tinh thần lịch sự vừa phải. Nhưng khi Vivekananda bắt đầu nói thì sự hoan nghinh đã không giống như bất cứ những gì xảy ra trước đấy. Đa số những người có mặt hôm đó cũng không biết tại sao toàn hội trường có thể bị kích động một cách mãnh liệt như vậy. Vóc dáng oai vệ cũng như giọng nói trầm hùng của Vivekananda cũng không thể giải thích hết được lý do tại sao. Trước một đám đông thính chúng như vậy, có thể do một sức giao cảm từ trong tầng sâu của tâm thức khiến nên ai nấy như cảm nhận được tính phi thường nơi con người ngoại hạng này, một con người đặc biệt mà mỗi lời nói ra đều phản ảnh chính xác con người thật của ông. Khi Vivekananda cất tiếng nói " thưa các anh chị em" , ông đã thực sự chân thành coi những người đàn ông, đàn bà, những người bạn Mỹ, là những người anh người chị thực sự của ông. Những câu sáo ngữ trong nghệ thuật diễn giảng giờ đây trở thành một thứ chân lý giản dị.</FONT></P>
<P><FONT size=3>   còn tiếp</FONT></P>
 

Tien Duc

New member
<P>      <FONT size=3>Khi hội trường trở lại yên tỉnh ông tiếp tục bài diễn văn tương đối ngắn ngủi, kêu gọi tinh thần đại đồng tương dung và nhấn mạnh đến nền tảng căn bản chung nơi tất cả các tôn giáo. Khi bài diễn văn của ông chấm dứt cả hội trường vổ tay như sấm dậy và càng dữ dội hơn trước đó. Một bà có mặt hôm đó kể lại rằng: " tôi thấy một số đông phụ nữ rời chỗ ngồi tiến gần về phía ông, và tôi đã nói trong bụng Ông Đạo ơi, nếu ông có thể cưỡng lại sự tấn công này thì ông quả là một vị Thánh sống ". Và những tấn công kiểu đó đã xảy ra như cơm bửa trong suốt thời gian Vivekananda lưu lại đất Mỹ.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Trong những ngày sau đó, ông còn đọc nhiều bài diễn văn nữa , trong đó có bài quan trọng nói về bản tướng và lý tưởng của Ấn Độ giáo. Vào lúc đại hội bế mạc ông trở thành một diễn giả nổi tiếng nhất không ai sánh bằng. Nhiều đề nghị được đưa ra để mời ông đến giảng ở nhiều nơi. Một văn phòng tổ chức đứng ra sắp xếp một chuyến lưu giảng cho ông. Và ông nhận lời.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Vào thời đó những nét sinh họat của vùng Đất mới (The Frontier) vẫn còn là hình ảnh sống động, người ta không cần đi xa những thành phố theo kiểu lều trại của những miền mới khai phá. Những nhà chính trị gia, triết gia, văn sĩ và cả Sarah Bernhardt, một nữ tài tử nổi tiếng thời bấy giờ, tất cả đều được tiếp đón như những gánh xiếc không hơn không kém. Cho đến ngày nay, từ ngữ "Swami" vẫn còn làm cho nhiều người liên tưởng đến một cái gì liên hệ đến hý trường, và phần đông người Mỹ vẫn còn chưa hiểu rằng những người được phép sử dụng một lối xưng hô như vậy đã phải chính thức thọ trì giới luật của hàng tu sĩ. Tức là một danh xưng cần có sự kính trọng, chẳng hạn như những danh xưn " Cha" ở trong đạo Công Giáo. Vivekananda tự xưng Swami, và do đó trong mắt mọi người ông cũng là một nhà giải trí nào đó. Ông có thể được người ta hoan hô, nhưng không thể hỵ vọng người ta dành cho ông chút kiêng kỵ tư riêng nào cả. Ông đã phải đương đầu với những đám đông rất quái ác, những sự tò mò rất tàn nhẫn. Lòng hiếu khách của họ thì có thừa nhưng cũng ác nghiệt và làm cho người ta mệt nhòai. Một sự tiếp đón như vậy quả đã làm ông kiệt sức và gần làm tiêu tan sức khoẻ của ông. Nhưng lúc đó có vẻ ông đương đầu nổi và lại còn thấy thích thú nữa. Ông đã bị đám đông chất vấn đủ điều, có những điều rất trắng trợn không e dè, nhưng ông luôn luôn có những câu trả lời thỏa đáng, không bao giờ mất bình tỉnh, ngay cả khi ông phải gầm lên trong những giây phút giận dữ vì sự bất công ác độc của những câu hỏi xuẩn ngốc về đồng bào " ngoại đạo " của ông tại quê nhà.  Không ai có thể cười ông như ông tự cười chính mình; và không ai có thể  cảm kích được hoàn cảnh nặng tính cách khôi hài tế nhị của sự kiện một nhà sư giảng Đạo giữa một gánh xiếc.</FONT></P>
<P><FONT size=3>còn tiếp</FONT></P>
 

Tien Duc

New member
<P> <FONT size=3>     Vivekananda đã đến Mỹ để nói về đất nước của ông. Ông muốn nói cho những người bạn Mỹ biết về sự nghèo đói của Ấn Độ và kêu gọi sự giúp đở của họ. Nhưng đồng thời ông cũng mang đến cho phương Tây một thông điệp. Ông kêu gọi những người đến nghe ông hãy coi nhẹ đời sống vật chất và cũng nên tìm hiểu về giá trị đời sống tâm linh lâu đời của Ấn Độ. Cái điều ông đang làm thực ra là một sự trao đổi giá trị giữa hai nền văn hóa. Ông ghi nhận những đức tánh vĩ đại của phương Tây, như sự nhiệt tình, óc sáng kiến và lòng can đảm, những điều thường thấy thiếu nơi đồng bào người Ấn của ông. Ông cũng không đến Mỹ Châu với thành kiến tiêu cực. Một điều có ý nghĩa là ngay trong những ngày đầu của chuyến viếng thăm, ông đã được đưa đi xem một nhà tù gần Boston, và ông có cảm tưởng sau đây:</FONT></P>
<P><FONT size=3>     " <EM>Những can phạm được đối xử thật tử tế. Họ đã được cải hóa như thế nào và được giúp đở để trở lại thành phẩn tử hữu dụng của xã hội như thế nào! Thật đẹp ! Thật cao cả! Các bạn không thấy thì không thể tin được. Và than ôi ! mới đau lòng làm sao khi chúng ta phải nghĩ về những người nghèo khổ thấp hèn ở Ấn Độ . Những người này không hề có ngày mai, không có ngõ thóat, không thể ngóc đầu lên được. Ngày qua ngày họ cứ phải trên đà đi xuống mãi. "</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>     </EM>Tuy vậy ông cũng làm phật lòng nhiều người vì tính trực ngôn của ông.  Ở Nữu Ước , ông thường vừa nói vừa cười, " tôi đã nhiều lần làm cả hội trường bỏ ra về ". Không có gì lạ cả ! Đối với lỗ tai của những người còn nặng tính bảo thủ, những lời giảng của ông về Thiên tính căn bản của lòai người là những điều nghe qua có vẻ rất phạm thượng đối với Thiên Chúa , nhất là qua lối dẫn dụ ví von của ông. Chẳng hạn như: <EM>" <strong><FONT color=#ff0000>Hãy nhìn xem , đâu có sự khác nhau nào giữa một con kiến và một Thiên Thần. Mỗi một con sâu con bọ cũng có thể làm anh em huynh đệ với vị Chúa cứu thế ở Nazareth.... </FONT><FONT color=#ff0000>Hãy tuân lời dạy trong các Thánh kinh cho đến khi các bạn có đủ sức mạnh và không còn cần đến đó nữa thì thôi</FONT></strong>... Đa số những người sống trong các quốc gia theo Ki Tô giáo đều đội một cái vương cung thánh đường vĩ đại trên đầu, và trên nóc cái thánh đường đó là một quyển sách... Các Thần linh được sắp hạng từ tượng gỗ đến tượng đá , và từ tượng Chúa Jesu đến tượng Phật Đà... v.v."</EM>  <strong><FONT color=#ff0000>Vivekananda rao giảng là <U>Chúa ở ngay bên trong mỗi người của chúng ta, và rằng mỗi người chúng ta sinh ra để khám phá cho ra cái Thiên tính đó nơi mình</U>. </FONT></strong>Câu chuyện đắc ý nhất của ông là về một con sư tử tường mình là con cừu cho đến khi có người chỉ vào bóng của nó trong ao ước và nói cho nó biết nó là con sư tử, như ông thường nói với thính giả của ông: <strong><FONT color=#ff0000>" </FONT><FONT color=#ff0000><EM>Các bạn là những linh hồn thánh khiết, toàn thiện và tự bản chất vốn là vô sinh vô diệt.... Cái Đấng mà bạn khóc lóc khẩn cầu trong các nhà thờ, các giáo đường thực ra chính là Tự Tánh của các bạn (your onw self ) </EM></FONT><FONT color=#ff0000>" </FONT></strong>. Trong trào lưu tư tưởng cận đại, ông quả là người tiền phong trong sự hô hào về con đường tự độ, tự tu, tự ngộ, qua sự cố gắng của cá nhân.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Ông ít khi nói về những hình thức thờ phượng của Ấn Độ giáo, đặc biệt là những hình thức sùng bái các Đấng như Rama Kali Víhnu hay Krishna mà đa số hầu hết các giáo phái Ấn Độ tôn thờ. Thỉnh thoảng ông mới đề cập đến tín ngưỡng riêng của bản thân ông và tiết lộ rằng ông cũng có một Đấng Tôn sư, người mà ông coi như là một bậc Tiên Phật giáng trần. Vị Tôn sư đó của ông chính là <strong>Ramakrishna</strong> đã liễu đạo trước đây mười năm, người mà ông đã được gần gũi và có những quan hệ tu hành mật thiết. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     </FONT><FONT size=3>còn tiếp</FONT></P>
 

Tien Duc

New member
<P><FONT size=3>    Vivekananda là một người rất sùng đạo, nhưng ông không bao giờ làm ra vẻ để cho người khác biết sự sùng đạo của mình. Và ông quyết định làm như vậy là có dụng ý. Khi nói về những điều ông làm ở Mỹ sau khi trở về Ấn Độ, ông đã nói: </FONT></P>
<P><FONT size=3>     " Nếu tôi mà giảng về những quyền năng của Ramakrishna thì tôi đã có thể làm cho nữa thế giới theo đạo, nhưng một sự lôi cuốn như vậy chỉ có tính cách theo tình cảm nhất thời. Vì vậy, thay vào đó tôi chỉ giảng về những nguyên tắc và giáo lý của Ramakrishna, một khi người ta chấp nhận cái nguyên tắc thì người ta sau này ắt sẽ chấp nhận con người của Ông."</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Khi đi tham dự Đại Hội Tôn Giáo Thế Giới Vivekananda lúc đó chỉ mới có 30 tuổi. Ông ra đời tại thành phố Calcutta, Ấn Độ, nhằm ngày 12 tháng 11 năm 1863. Ông thuộc dòng họ Datta và cái tên cha mẹ đặt cho là Narendranath, hay gọi tắt là Naren. Khi còn là một du tăng lê gót đây đó khắp xứ Ấn Độ ông mang rất nhiều tên khác nhau. Ông chỉ mới lấy tên Vivekananda không lâu trước khi xuống tàu đi Hoa Kỳ theo lời đề nghị của một đại sự ở Khetri, người đã cùng với đại sư ở Mysore đóng kinh phí cho chuyến Mỹ du của ông. Viveka theo tiếng Sanskrit có nghĩa là hạnh phân biệt, đặc biệt theo ý nghĩa triết lý có nghĩa là sự phân biệt giữa Chân (Thượng Đế ) và Huyễn (tức thế giới hiện tượng theo sự cảm nhận của giác quan ). Ananda có nghĩa là hỷ lạc, tức là trạng thái có được sau khi đạt đến sự giác ngộ, chữ Ananda rất thường được tìm thấy kèo theo sau tên của các nhà tu Ấn Độ.</FONT></P>
 

Tien Duc

New member
<P><FONT size=3>     Khoảng năm mười mấy tuổi Naren bắt đầu đi học đại học ở Calcutta. Chàng là một thanh niên bảnh trai, có tướng tá của một thể thao gia và đặc biệt rất thông minh. Chàng ta có giọng ca rất tốt và có thể chơi được nhiều lọai nhạc khí. Từ nhỏ cậu đã thể hiện khả năng lãnh đạo chỉ huy đối với những bạn bè cùng trang lứa. Các thầy dạy học của cậu đều tiên đoán  là cậu sẽ có một tương lai không bình thường. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Vào thời đó Calcutta là nơi tiếp thu chính các luồng tư tưởng và văn hóa Âu Châu, do đó không một thanh niên Ấn nào không bị ảnh hưởng ít nhiều. Để đổi lại những sự thách thức của công cuộc truyền đạo của Ki Tô giáo, một phong trào canh tân Ấn Độ giáo ra đời nhằm phá bỏ những hình thức lễ nghi phẩm tước, nhằm giải phóng phụ nữ và hủy bỏ tục lệ tảo hôn . Phong trào này lấy cái tên là Brahmo Samaj. Naren lúc đầu cũng có tham gia phong trào này, nhưng về sau nhận thấy nó chỉ có tính cách hình thức mà chưa thực sự thỏa mãn những nhu cầu tinh thần của ông. Do đó ông quay qua đọc nhiều về các nhà tư tưởng nổi tiếng phương Tây như Hume, Herbert Spenser và John Stuart Mill, và ông bắt đầu tự cho mình thuộc thành phần những người không tin tôn giáo (an agnostic). Cha mẹ ông bắt ông lập gia đình, nhưng ông đã từ chối vì nhận thấy là phải dành trọn vẹn tâm hồn và sự tự do của mình để cống hiến cho một mục tiêu cao cả nào đó. Dù lúc đó ông vẫn chưa biết được là mục tiêu gì. Ông vẫn còn đi tìm một cái gì đó, một nhân vật nào đó để ông có thể hết lòng tin tưởng và dâng hiến trong khi nhiệt huyết của tuổi trể luôn luôn thôi thúc ông phải làm một cái gì. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Có thể nói là cũng do cơ duyên mà Naren có người bà con là một người rất sùng bái <strong>Ramakrishna</strong>, và đồng thời một trong những thầy dạy học của Naren, giáo sư Hastie, cũng là một trong số vài người Anh đã từng gặp qua vị đạo sư này. Những điều hai người này nói về Ramakrishna hẳn đã gợi ra những tò mò nơi Naren. Rồi nhân một dịp vào khoảng tháng 11 năm 1881 cậu ta được mời đến hát tại một nơi mà lúc đó Ramakrishna đang làm khách ở đó. Hai người họ có một cuộc gặp gỡ nhau ngắn ngũi, và sau đó Ramakrishna đã mời chàng thanh niên trẻ đến thăm ông tại nhà thờ Dakshineswar Temple bên bở sông Hằng cách Calcutta vài dặm đường.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Còn tiếp</FONT></P> <edited><editID>Tien Duc</editID><editDate>39737.3290162037</editDate></edited>
 

Tien Duc

New member
<P> <FONT size=3>     Ngay từ đầu Naren đã lấy làm thích thú và kỳ lạ về con người của Ramakrishna. Chàng ta chưa từng bao giờ gặp một người như con người này. Một người thân hình thì mình hạc xương mai đầy râu ria, tuổi trạc tứ tuần, nhưng luôn luôn có cái nét ngây thơ hồn nhiên của một đứa trẻ. Quanh người ông như tỏa ra một sự an lạc kỳ diệu. Ở ông làm như lúc nào cũng tràn đầy một niềm hoan lạc vô biên chực tuôn trào, vì sự hiện diện của Thượng Đế và Đức Mẹ Kali lúc nào cũng sống động linh họat nơi ông. Những diễn đạt tư tưởng của ông là một sự hòa hợp giữa những vấn đề triết lý cao siêu lẫn những dẫn dụ bình dân quê mùa. Ông nói chuyện một cách hơi ngọng nghẹo bằng một thứ thổ âm của một vùng quê Bengal và thỉnh thoảng xen vào những từ ngữ quê mùa bộc trực giản dị của một nông dân. Vào thời gian này tên tuổi của ông đã được lan truyền và nhiều nhân vật tên tuổi của xứ Bengal thường lui tới viếng thăm ông, kể cả Keshab Chandra Sen, nhà lãnh đạo của phong trào Brahmo Samaj. Keshab rất thích và ngưỡng mộ Ramakrishna dù cho ông thì chủ trương hô hào cải cách, còn Ramakrishna là một người vẫn theo truyền thống lễ nghi Ấn giáo. Đối với ông những hòai bảo cải cách xã hội của Keshab chỉ là trò chơi cho vui chứ chẳng đem lại kết quả gì. Người Ấn thường có một câu nói là thế gian này như cái đuôi cuộn tròn của một con chó, bạn không thể nào làm cho nó thẳng ra được nữa. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Như vậy Naren đã đến gặp Ramakrishna ở Dakshineswar trong tâm trạng phân vân. Một nửa là với lòng nhiệt thành dâng hiến, còn nửa kia là do ảnh hưởng của Tây học, sự nghi ngờ những gì có tính cách dị đoan mê tín. Khi Naren và một số bạn bè đến thì Ramakrishna bảo Naren hát cho ông nghe và Naren bèn làm theo. Nhưng sau đó một điều kỳ dị đã xảy ra mà Vivekananda kể lại theo lời của ông như sau:</FONT></P>
<P><FONT size=3>     " Vậy là lúc đó tôi hát cho ông nghe bài hát quen thuộc, sau đó ông bất ngờ đứng dậy nắm lấy tay tôi và dẫn đến một phòng nhỏ kế cạnh, ông bèn đóng và khóa trái cửa lại, lúc đó chỉ còn có hai chúng tôi trong phòng. Tôi nghĩ chắc là ông sắp chỉ dẫn riêng cho tôi một điều gì đó quan trọng. Nhưng không phải vậy, trước sự kinh ngạc của tôi ông nắm lấy tay tôi mà khóc ràn rụa nước mắt và nói như nói nói với một người bạn cũ lâu ngày mới gặp lại. Chao ôi! ông nói : </FONT></P>
<P><FONT size=3>     <EM>" Sao mà con xử tệ với ta như thế! Sao mà con bắt ta phải chờ đợi lâu như thế! Tai ta đã chán ngấy không muốn nghe những chuyện của thế gian trần tục lắm rồi. Ta đã từ lâu mong mỏi có người hiểu được nỗi lòng của ta, hiểu được những điều thâm diệu nhất mà ta kinh nghiệm được"</EM>. Ông cứ tiếp tục vừa khóc vừa nói những lời như vậy. Đoạn ông chấp tay lại và hướng về phía tôi mà trịnh trọng nói :</FONT></P>
<P><FONT size=3>     <EM>" Ngài, tôi đã nhận ra rồi. Ngài chính là Sara, là vị Cổ Phật Narayana. Ngài đã đến thế gian để cứu khổ cho lòai người...."</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3>     còn tiếp</FONT></P> <edited><editID>Tien Duc</editID><editDate>39738.2024305556</editDate></edited>
 

Tien Duc

New member
<P> <FONT size=3>     Tôi lúc đó hoảng hốt đến cứng miệng trước thái độ kỳ dị của ông. Tôi tự hỏi:</FONT></P>
<P><FONT size=3>      <EM>" Người đàn ông này là ai vậy mà tôi đã lặn lội đến đây để gặp. Ông quả là một người điên loạn rồi ! Tại sao lạ vậy. Rõ ràng tôi là con của gia đình Vishwanath Datta mà sao ông dám cả gan gọi tôi là Nara nào đó !  Nhưng tôi cứ đứng trân đó để cho ông tiếp tục. ông bèn trở lại phòng của ông mang ra một số bánh kẹo và chính tay ông đút vào miệng tôi bắt tôi phải ăn. Tôi xin ông cho tôi để tôi đem chia với bạn bè, nhưng ông không chịu dừng tay và nhứt định bắt tôi phải ăn hết mới thôi. Xong ông nắm tay tôi và bắt tôi hứa là sẽ một mình trở lại thăm ông. Ông năn nỉ đến độ tôi bắt buộc phải nhận lời hứa với ông, để trở ra ngòai gặp lại bạn bè. "</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3>     Đây quả là một thử thách tâm lý lớn lao đối với một chàng sinh viên đại học mới 18 tuổi. Nhưng trực giác cho Naren biết là có một cái gì đặc biệt nơi con người này khiến chàng không thể dễ dàng giản dị kết luận đó chỉ là một con người dị hợm điên điên khùng khùng. Nếu người này điên thì trong cái điên của ông có ẩn chứa cái gì thiêng liêng; Naren cảm thấy là hình như chàng vừa diện kiến một vị Thánh sống và chàng bắt đầu thấy thích thú ông ta. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Trong lần gặp gỡ thứ nhì, Ramakrishna đã cho thấy một con người hoàn toàn khác hẳn, một con người có nhiều quyền năng siêu phàm. Lần này Naren gặp ông một mình trong phòng riêng. ông tiếp đón Naren một cách rất thân mật, biểu chàng ngồi bên cạnh ông, và Naren diễn tả buổi gặp gỡ này như sau:</FONT></P>
<P><FONT size=3>    <EM> " Ông lẩm bẩm gì đó trong miệng, hai mắt ông nhìn thẳng vào người tôi và tiến lại gần... và qua một cái chớp mắt ông bất thần đặt bàn chân phải của ông trên người tôi. Ngay khi ông vừa chạm vào người tôi, tức thì tôi cảm thấy mình trải qua một thứ kinh nghiệm kỳ lạ. Hai mắt tôi mở lớn và nhìn thấy những bức tường chung quanh quay vòng vòng và mất hút vào trong  một khoảng không  vô tận; vũ trụ bao quanh cùng với cá thể của tôi như đều tan biến vào trong một trạng thái Hư Vô mầu nhiệm! (a mysterious Void). Tôi vô cùng kinh khiếp và tưởng là mình sắp chết. Tôi không còn tự chủ được nữa và tôi đã la lớn lên: </EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>     " Ông đã làm gì tôi thế ! Tôi vẫn còn có cha mẹ ở nhà! ". </EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>     Lúc đó ông cười lớn , vỗ nhẹ vào ngực tôi và nói: " Không sao cả. Vậy cũng đủ rồi. Mọi chuyện đúng ngày đúng giờ sẽ đến ". </EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>     Điều kỳ diệu là ngay khi ông nói như vậy là cảm giác lạ lùng đó biến mất, tôi lấy lại tinh thần, và mọi chuyện trở thành bình thường".</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3>     Ramakrishna qua sự va chạm nhẹ vào người của Naren đã đưa chàng ta đến bên bờ một kinh nghiệm tâm linh mà người Ấn Độ gọi là Nhập Đại Định (Samadhi). Chính trong trạng thái này tất cả cảm giác về bản ngã biến mất, và Chân Ngã (<EM>the real self</EM>) , tức Thiên Tính hay Phật Tính lộ bày ra. Cái Thiên Tính này vốn là một cái gì hằng hữu nơi con người, được kinh nghiệm thấy như là một trạng thái Hư Vô Tịch Diệt (<EM>Void or Nothingness</EM>), khác hẵn với pháp giới lung linh thiên hình vạn trạng của thế giới hiện tượng tiếp nhận được qua các giác quan thông thường. Trong cái trạng thái Hư Vô Tịch Diệt này, và không còn có nhận thức về bản ngã nữa nên đối với một người chưa có kinh nghiệm hay sự chuẩn bị tâm lý sẽ cảm thấy giống như là đang trải qua sự chết.</FONT></P>   còn tiếp<edited><editID>Tien Duc</editID><editDate>39739.4240856481</editDate></edited>
 

Tien Duc

New member
<P>      <FONT size=3>Đối với Ramakrishna một người đã thành đạt đạo của cao diệu ngòai sự tưởng tượng thì trạng thái nhập đại định Samadhi là những kinh nghiệm thường nhật. Đối với ông sự hiện diện của Thượng-Đế luôn luôn thường trực trong tâm thức. Vivekananda còn nhớ lại rằng:</FONT></P>
<P><FONT size=3>    <EM> " Lúc đó tôi bò lại gần và hỏi nhỏ ông cái câu hỏi mà suốt đời tôi đã đem ra hỏi rất nhiều người.</EM></FONT></P>
<P><EM><FONT size=3>              - Thưa thầy, thầy có tin có Thượng-Đế không?</FONT><FONT size=3> Ông trả lời : có chứ .</FONT></EM></P>
<P><FONT size=3><EM>              - Thưa như vậy thầy có cách nào chứng minh được không? </EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>              - Được.</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>              - Bằng cách nào? </EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>              - Vì ta thấy Ngài rõ ràng như ta thấy con vậy, và còn rõ ràng hơn nữa là đàng khác.</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>     Điều này thực sự gây một ấn tượng sâu sắc cho tôi. Vì đây là lần đầu tiên có người dám thẳng thắn nói rằng ông ta đã nhìn thấy Thượng-Đế. Và như vậy tức là một cái gì đó thực, là cái gì có thể cảm thấy được, có thể cảm nhận được một cách rõ ràng minh bạch còn hơn là cái thế giới mà chúng ta nhận biết được bằng giác quan. "</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3>      Sau đó, Naren trởi lại thăm nơi nầy thường hơn. Càng ngày cậu ta càng thấy bị lôi cuốn nhập bọn với một nhóm những đệ tử trẻ trạc tuổi cậu đang được Ramakrishna huấn luyện nếp sống tu hành. Nhưng Naren chưa để mình bị ảnh hưởng dễ dàng như vậy. Chàng ta cứ tự hỏi không biết những quyền năng của Ramakrishna có phải là do thuật thôi miên mà ra không. Trước hết cậu ta nhất định không chịu sự thờ lạy Thánh Mẫu Kali mà cậu cho là một sự mê tín. Và Ramakrishna có vẻ bằng lòng cái tính cứng đầu này. Ông ta thường bảo:</FONT></P>
<P><FONT size=3>     <EM>" Các con hãy cứ thử thách ta như những người đổi tiền thử để biết là tiền giả hay tiền thiệt. Các con không nên tin ta cho đến khi các con đã thử kỹ ta mọi mặt. "</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3>     Rồi đến phiên ông, ông cũng thử thách Naren bằng cách nhiều tuần lễ không thèm ngó ngàng gì đến chàng để thử xem chàng ta có chán nản mà bỏ cuộc, không còn đến học đạo nữa không. Cuối cùng Ramakrishna rất hài lòng và khen ngợi lòng kiên quyết của cậu.</FONT></P> còn tiếp<edited><editID>Tien Duc</editID><editDate>39739.8922916667</editDate></edited>
 

Tien Duc

New member
<P><FONT size=3>     Thực ra bản tính nghi ngờ của Naren là một trong những cá tính cao quý nhất. Tất cả chúng ta đều trải qua tâm trạng nghi ngờ như vậy. Và một con người mà đầu óc lúc nào cũng ưa phân tích lý luận như chàng không thể chấp nhận một điều gì dễ dàng. Thậm chí khi đọc về cuộc đời của Ramakrishna chúng ta thấy bao nhiêu lần ông đã hé mở cho chàng nhiều khải thị sâu sắc, vậy mà Naren vẫn còn cứ một mực giữ thái độ nghi hoặc. Nhưng chúng ta nên biết rằng Đức Tin đối với Naren không phải là cái gì có thể đem đặt để  dễ dàng.</FONT> </P>
<P>     <FONT size=3>Chàng ta nghi ngờ nhiều và chàng ta là người dám tin một cách chết sống. Đối với hầu hết chúng ta, chấp nhận theo một tín ngưỡng nào đó không hẳn  phải có một sự dấn thân sâu đậm. <FONT color=#0000ff>Đối với Naren một khi đã tin, tức là tuyệt đối tận hiến đời mình cho mục tiêu cao cả của niềm tin đó. Vì vậy mà chàng do dự rất lâu, và trải qua những tranh đấu nội tâm rất cam go</FONT>.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Đến năm 1885 Ramakrishna bắt đầu bị bịnh ung thư cổ họng. Khi mọi người thấy rõ rằng thầy của họ không thể qua được, các anh em sư huynh đệ sát cánh thương yêu nhau nhiều hơn. Naren trở thành đại sư huynh của họ cùng với thanh niên khác là Rakhal sau trở thành Swami Brahmananda. Một ngày nọ Ramakrishna đang nằm chờ những ngày cuối cùng của ông, Naren đang tham thiền trong một phòng ở dưới lầu. Bất ngờ cậu ta mất tất cả cảm giác và đi vào trạng thái Nhập Định. Giây phút đó chàng kinh hoảng và la lớn: </FONT><FONT size=3> "<EM> Thể xác tôi đâu rồi?</EM> ".</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Các sư huynh đệ tưởng chàng sắp chết nên chạy lên lầu cho sư phụ họ hay. Ramakrishna cười và bảo họ: </FONT></P>
<P><FONT size=3>     - <EM>" Hãy cứ để hắn như vậy trong chốc lát không sao đâu. Lâu nay hắn cứ đòi muốn được biết một kinh nghiệm như vậy sẽ cảm thấy như thế nào?"</EM>. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Một lát sau đó, Naren đến phòng Ramakrishna lòng tràn đầy sự hoan vui và an lạc. Ramakrishna bèn bảo chàng: </FONT></P>
<P><FONT size=3>     - <EM>" Vậy là Đức Mẹ đã cho con thấy mọi điều, nhưng ta sẽ còn giữ cái chìa khóa để con tìm lại kho tàng của con".</EM> </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Đây là một trong những lần  Ramakrishna đã cho thấy rõ rằng Naren có một sứ mạng mang giáo lý của ông đến cho thế giới.</FONT></P>
<P><FONT size=3>còn tiếp</FONT></P>
 

HUYNHDEDAIDONG

New member
<P><FONT size=3>Đọc đoạn viết sau:</FONT></P>
<P><FONT size=3><strong><FONT color=#ff0000>Vivekananda rao giảng là <U>Chúa ở ngay bên trong mỗi người của chúng ta, và rằng mỗi người chúng ta sinh ra để khám phá cho ra cái Thiên tính đó nơi mình</U>. </FONT></strong>Câu chuyện đắc ý nhất của ông là về một con sư tử tường mình là con cừu cho đến khi có người chỉ vào bóng của nó trong ao ước và nói cho nó biết nó là con sư tử, như ông thường nói với thính giả của ông: <strong><FONT color=#ff0000>" </FONT><FONT color=#ff0000><EM>Các bạn là những linh hồn thánh khiết, toàn thiện và tự bản chất vốn là vô sinh vô diệt.... Cái Đấng mà bạn khóc lóc khẩn cầu trong các nhà thờ, các giáo đường thực ra chính là Tự Tánh của các bạn (your onw self ) </EM></FONT><FONT color=#ff0000>" </FONT></strong>. Trong trào lưu tư tưởng cận đại, ông quả là người tiền phong trong sự hô hào về con đường tự độ, tự tu, tự ngộ, qua sự cố gắng của cá nhân.</FONT></P>
<P><FONT size=3>HDDD nhận thấy rất gần với lời dạy của Ơn Trên: <FONT color=#0000ff><strong>"Thầy là các con</strong>..." </FONT>trong Thánh Giáo Cao Đài. Thật là gần gũi, Thượng đế ở trong mỗi chúng ta.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Thân,</FONT></P>
 

Tien Duc

New member
<P> <FONT size=3>Chào HDDD! minh cũng nhớ là Thầy có dạy:</FONT></P>
<P><FONT size=3><EM> " Con là một Thiêng Liêng tại thế ,</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3><EM>Cùng với Thầy đồng thể linh quang..."</EM></FONT></P>
<P><FONT size=3>Con người nhờ đồng thể linh quang với đức Chí Tôn mà chúng ta có thể tu học để vươn lên trên trong trường tấn hóa. Nhưng phần đông nhân lọai vẫn còn nghĩ đức Chí Tôn theo quan niệm Thượng Đế hữu ngã. Chính vì thế con người lại kính sợ Ngài cảm thấy không thể trở nên thánh khiết để huyền đồng cùng Ngài. Thậm chí con người ở Tây phương trước đây lại bị rao giảng chỉ có đức Chúa Jésus mới là con một của Ngài. Thời kỳ mạt pháp này may duyên cho những tín hữu Cao Đài được chính đức Chí Tôn tới xác nhận mọi lòai trên thế gian này đều là con của Ngài nên đồng thể với Ngài (Thiên Địa vạn vật đồng nhứt thể ). Và những ai đã nhập môn vào Cao Đài thì hãy rán tu theo tâm pháp Cao Đài ; đừng đứng núi này trông núi nọ như Ơn Trên thường nhắc mà trể chuyến đò thời Đại Ân Xá.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Mến</FONT></P>
 

Tien Duc

New member
<P><FONT size=3>     Vào ngày 15 tháng 8</FONT> <FONT size=3>năm 1886 Ramakrishna còn tỉnh táo niệm hồng danh Đức Mẹ Kali một cách rõ ràng rồi đi vào đại định lần cuối. Cho đến trưa ngày hôm sau thì bác sĩ tuyên bố ông đã viên tịch.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Đám trẻ học trò của ông cảm thấy là phải quây quần với nhau. Một tín hữu tìm cho họ một căn nhà gần Baranagore, ở khoảng giữa con đường nối liền Calcutta và đền thờ ở Dakshineswar, nơi họ sẽ dùng làm một tu viện. Đó là một căn nhà hoang cũ kỹ, có cả rắn độc ở dưới gầm nhà, nhưng giá mướn rẽ vì có tin đồn là ngôi nhà ma. Bọn họ bèn đem tro cốt của Ramakrishna về thờ ở đấy và cúng bái hàng ngày. Dưới sự khuyến khích của Naren cả nhóm phát tâm xuất gia và sau đó chính thức thọ giới bắt đầu cuộc đời tu hành.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Tất cả gồm 15 người. Họ gần như không có tiền bạc gì cả và chỉ có một vài người bạn. Có những lúc cả bọn hoàn toàn kiếm không ra thực phẩm để ăn, có lúc thì tất cả  chỉ sống nhờ bằng chút ít nước cháo, muối và rau đắng để qua ngày. Mỗi người chỉ có hai mảnh vải để che thân, ngòai ra tất cả dùng chung một bộ quần áo để có người nào cần ra thành phố thì mặc. Ngủ thì họ nằm trên những manh chiếu lác trải trên sàn nhà. Tuy vậy họ cười giỡn vui vẻ cả ngày, có khi thì hát những bài Thánh ca, có khi thì luận bàn triết lý; họ chỉ yên lặng trong những giờ tham thiền nhập định. Có nhiều khi họ thực sự cảm thấy như Ramakrishna vẫn còn ở chung với bọn họ. Họ chẳng hề sợ sệt hay đau buồn gì cả. Thậm chí họ còn lấy ông ra làm trò cười nữa, như có lúc Naren làm bộ nhái dáng điệu của Ramakrishna khi ông ta nhập định và cả bọn phá ra cười. Nhưng dần dần đám đệ tử trẻ này cảm thấy không thể ngồi yên một chỗ được và thế là họ bắt đầu nếp sống của các du tăng. Mỗi người với một cây gậy và một bình bát, họ lê gót khắp xứ Ấn Độ, khi thì dừng chân thăm viếng những nơi đền thờ miếu mạo, những chốn hành hương, khi thì giảng đạo, khất thực hoặc trải qua những tháng dài tham thiền tịnh tọa trong rừng vắng. Thỉnh thoảng họ cũng được những gia đình thí chủ giàu có trai tăng cúng dường, nhưng phần lớn họ cùng chia sẻ những miếng ăn thanh đạm của đám dân nghèo khó.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Những ngày như vậy đã trở thành những kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với Naren. Trong suốt thời gian này từ những năm  1890 đến 1893 ông đã nhìn thấy tận mắt quê hương Ấn Độ của ông, thấy những sự nghèo đói khốn cùng, và đồng thời cũng thấy được những truyền thống tâm linh cao thượng nơi gia tài minh triết thâm diệu của Ấn Độ, tất cả sẽ được ông mang theo làm hành trang cho cuộc Mỹ du của ông sau này. Sau khi lê gót đi hết cả một chiều dài lục địa Ấn Độ, khi đến mũi Camorin thì ông có một sự  khải thị. Ông nhìn thấy Ấn Độ sẽ có một sứ mạng vô cùng lớn lao trong vai trò của một động lực chủ yếu cho một sự phục sinh tâm linh hữu hiệu, thì các điều kiện xã hội của Ấn Độ phải có những thay đổi vả cải thiện sâu rộng. Cần phải có tài khoản để xây trường học, mở bịnh viện, hàng ngàn cán bộ giảng huấn và chuyên môn phải được đào tạo và tổ chức để làm việc hữu hiệu cho các công trình canh tân cải tiến này. Chính lúc này ông nảy ra ý định đi Hoa Kỳ để tìm sự giúp đở. Và ý định này được quyết định tiến hành khi có người đề nghị ông nên đi tham gia cuộc Đại Hội Về Tôn Giáo Thế Giới dự trù tổ chức tại Chicago vừa được công bố. Như vậy là một cơ hội đặc biệt lại phù hợp với ý định của Naren. Vào khoảng cuối tháng 5, 1893 từ hải cảng Bombay ông xuống tàu đi qua ngả Hồng  Kông, Nhật Bản đến Vancouver; rồi từ đó ông đáp xe lửa đi Chicago.</FONT></P>
<P><FONT size=3>còn tiếp</FONT></P> <edited><editID>Tien Duc</editID><editDate>39748.4124074074</editDate></edited>
 

HUYNHDEDAIDONG

New member
<P><FONT size=3>Bạn Tiến Đức đã nhắc lại cho A C E chúng ta:</FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3>"...Thời kỳ mạt pháp này may duyên cho những tín hữu Cao Đài được chính đức Chí Tôn tới xác nhận mọi lòai trên thế gian này đều là con của Ngài nên đồng thể với Ngài (Thiên Địa vạn vật đồng nhứt thể ). Và những ai đã nhập môn vào Cao Đài thì hãy rán tu theo tâm pháp Cao Đài ; đừng đứng núi này trông núi nọ như Ơn Trên thường nhắc mà trể chuyến đò thời Đại Ân Xá..."</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vậy thì chúng ta phải mau lên cùng nhau anh trước em sau, bên cạnh chăm lo cho đời sống vật chất này mình cũng phải song hành bồi dưỡng đời sống tâm linh không thì lại trể chuyến đò (vì chúng ta không biết lúc nào đò sẽ rời bến, sanh tử vô thường)</FONT></P>
<P><FONT size=3>Thân,</FONT></P>
 

Tien Duc

New member
<P>     <FONT size=3>Sau khi Đại Hội Tôn Giáo kết thúc, Vivekananda đã ở lại gần 2 năm trời đi giảng nhiều nơi trên khắp các miền đông và trung Hoa Kỳ, đặc biệt tại các thành phố như Chicago, Detroit, Boston và New York. Đến khoảng cuối mùa xuân năm 1895 ông đã kiệt lực và sức khoẻ bị suy yếu, nhưng ông vẫn bản tính coi thường mọi sự. Ngay cả đối với những hạng người làm bùa chú chữa bịnh trừ ma muốn lợi dụng ông hoặc phá khuấy ông, ông cũng vẫn nhìn họ bằng khía cạnh trào lộng. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Đồng thời trong những tháng ngày này ông cũng đã gặp gỡ và gây những ấn tượng tốt với một số người đàng hoàng nghiêm chỉnh hơn, như Robert Ingersoll một nhà tư tưởng vô tôn giáo, Nikola Tesla nhà phát minh, bà Calve, ca sĩ. Quan trọng hơn hết là ông đã thu hút được một số sinh viên không phải chỉ có  những hăng say nhất thời mà sẵn sàng cung hiến đời mình, đem ra thực hành và áp dụng những giáo lý của ông. Đến tháng 6, 1895 ông đã được mời đến dạy về con đường tu hành cho một nhóm độ chừng 12 người tại Thousand Island Park bên dòng sông St-Lawrence. Tại nơi đây trong hai tháng trời ông đã dạy đạo cho họ, qua một đường lối thân mật không câu nệ hình thức, như đường lối mà Ramakrishna đã dạy cho sư huynh đệ của ông trước đây. Những người có mặt tham dự không ai có thể quên được quãng thời gian này, đó ắt hẳn là những ngày vui vẻ nhất trong chuyến đi đầu tiên này của Vivekananda đến Mỹ Châu.</FONT></P>
<P><FONT size=3>     Đến tháng 8 thì ông xuống tàu đi Pháp, Anh quốc và sau đó trở lại New York vào tháng 12. Chính lúc này theo sự khẩn khoản yêu cầu của nhiều tín hữu, ông đã bằng lòng cho sáng lập những tổ chức <strong><EM>Vedanta Societies</EM></strong> đầu tiên ở Hoa Kỳ. (<FONT color=#0000ff><EM><strong>Vedanta</strong> có nghĩa là một triết lý đại đồng nhất nguyên " Non-dualistic philosophy "</EM></FONT> căn cứ theo Thánh kinh Vedas, những Thánh kinh cổ nhất của Ấn Độ,  và dĩ nhiên phù hợp với tư tưởng của Vivekananda đề cập ở trên, và do đó ông đã không lấy tên của Ramakrishna để đặt tên cho những tổ chức này). Cũng vào thời gian này ông được hai đại học Harvard và Columbia mời giữ một chân giáo sư triết học Đông Phương, nhưng ông đã từ chối viện lý do là một du tăng như ông không thể ngồi lại để làm công tác giảng dạy được. Dù sao đi nữa trong lòng ông chỉ mong được trở về Ấn Độ. Đến tháng 4, 1896 ông xuống tàu qua Anh quốc, trạm đầu tiên hồi hương. Từ Anh quốc ông dẫn theo hai người đệ tử thân tín nhất, đó là thuyền trưởng và bà Sevier, cùng với.J. J. Goodwin, một người Anh ông gặp lần đầu ở Mỹ và sau đó trở thành người đã ghi lại tất cả những bài giảng của ông. Lại thêm một bà quý tộc người Ái Nhỉ Lan, sau này trở thành nữ tu Nivedita, cũng theo ông qua Ấn Độ. Bà là người đã cống hiến hết đời mình vào công cuộc giáo dục dành cho phụ nữ và cuộc tranh đấu dành độc lập của Ấn Độ. Hầu hết các người này, trừ bà Sevier, sau này đều qua đời ở Ấn Độ.</FONT></P>
<P><FONT size=3>còn tiếp</FONT></P>
 

Tien Duc

New member
<P><FONT size=3>     Vivekananda về đến đảo Tích Lan vào giửa tháng 1, 1897.  Từ đó trở đi, đường về của ông trở thành một đám rước linh đình. Dân chúng Ấn trước đó đã theo dõi tin tức về những câu chuyện kể trên báo chí về những kỳ diễn giảng của ông ở Hoa Kỳ. Có thể là những thành công của ông đã được báo chí hơi phóng đại. Nhưng cũng đúng khi cho rằng chuyến đi Tây phương của ông là biểu hiện của một sự chiến thắng, vượt xa so với số tiền ông quyên được cho các dự án xã hội của ông, hoặc là số đệ tử được ông thu nhận. </FONT></P>
<P><FONT size=3>     Thực vậy, trước Vivekananda chưa có một người Ấn Độ nào được người Mỹ và người Anh chấp nhận trên cương vị như vậy. Không phải với cương vị một đồng minh vai dưới, cũng không phải một kẻ đối nghịch không thể tương nhượng, mà là vị trí của một người với hảo ý, một người bạn sẵn sàng đến để chỉ dạy, mà cũng sẵn sàng đến để học hỏi, đến để yêu cầu sự giúp đở và cũng sẵn sàng ra tay giúp đở. Vào thời đó ai có thể có cái thế đứng như ông, một thế đứng công minh giữa Đông và Tây, vừa ca ngợi những giá trị đạo đức, vừa lên án những tệ đoan của cả hai nền văn hóa. Ai có thể tiêu biểu bằng chính cuộc đời mình tính tổng hợp của một nước Ấn Độ vào cuối thế kỷ 19 còn lạc hậu non nớt, và một nước Ấn Độ cổ truyền với nền triết lý Vệ Đà đồ sộ. Ai có thể nêu lên cái quyết tâm của Ấn Độ trong công cuộc tranh đấu chống lại nghèo đói và áp bức, và đồng thời vẫn chân thành ca ngợi lý tưởng tự do của người Mỹ và tinh thần cương quyết của người Anh. Đây chính là sự vĩ đại của Vivekananda.</FONT></P>
<P><FONT size=3>còn tiếp</FONT></P>
 

Facebook Comment

Top