Lược sử văn hóa Cao Đài

dong tam

New member
Có một điều khác cũng đáng lưu tâm là các quyển Kinh đã được xuất bản trong những năm đầu tiên của Cao Đài giáo vào các năm 1926 và 1927 đều không có phần hướng dẫn nghi thức lễ bái. Mãi cho đến quyển Tứ Thời Nhật Tụng Kinh 1928 mới có, ghi như sau:

quỳ (…) cho ngay. Thẳng cái mình, mặt thì ngó cho ngay Thiên Nhãn, mới đưa tay kiết quả lên trán chánh giữa mà lấy dấu, (nam mô Phật) đưa qua bên tả gần lỗ tai niệm (nam mô Pháp), đưa qua bên hữu gần lỗ tai niệm (nam mô Tăng)…”

Cách lấy dấu Tam Quy này khá tương tự như cách được đa số thực hiện rộng rải.
 

dong tam

New member
1.2. Cách lấy dấu Tam Quy hiện nay

Trong thực tế hiện nay, đa số các tín hữu Cao Đài khi thực hiện cách lấy dấu Tam Quy đều lấy trán làm chuẩn, chứ không còn thực hiện như hướng dẫn ban đầu.

Hình thức lấy dấu Tam quy thông dụng như hiện nay có được Đức Trưng Vương ôn lại tại Tam Giáo điện Minh Tân vào năm 1970:

… đưa lên giữa trán niệm: NAM MÔ PHẬT; đưa qua bên tả: NAM MÔ PHÁP; đưa qua bên hữu niệm: NAM MÔ TĂNG” .

Với những ai có được học về pháp môn tu tịnh Cao Đài cũng đều biết trong nghi thức nhập tịnh. Lúc đầu thời tịnh bao giờ cũng có thực hiện nghi thức “thỉnh Thánh nghi” vẽ dấu Tam Quy tại 3 góc của tam giác với vòng tròn của gương mặt tiếp xúc trong, v.v…
 

dong tam

New member
1.3. Trường hợp lễ bái Đức Mẹ

Trong thực tế hành đạo, có khi nào chúng ta có thắc mắc vì sao mình được hướng dẫn mỗi khi bái lạy Đức Mẹ lại không lấy dấu Tam quy? Chúng ta tìm thấy trong Châu Tri 61 của Hội Thánh Tây Ninh vào năm Mậu Dần 1938 đã có hướng dẫn:

Nhớ lấy dấu Phật, Pháp, Tăng duy có một mình Đức Chí Tôn mà thôi còn Thần Thánh Tiên Phật thì không có lấy dấu chi hết.”.

Vì thế chúng ta thấy trong những ngày sóc vọng, nơi có Đền Phật Mẫu hay không, mỗi khi cúng Đức Mẹ đều không lấy dấu Tam Quy.

1.4. Lễ bái ở nơi thờ tự của các tôn giáo bạn

Như vậy, từ Châu tri 61 đã nói trên, ngoài điện thờ Đức Chí Tôn chúng ta cũng không nên lấy dấu Tam Quy mỗi khi lễ bái tại các đình, chùa, miếu, nhà thờ, Thánh đường, v.v...
 

dong tam

New member
2. Chấp tay

2.1. Chấp tay Ấn Tý:


Chúng ta thấy các vị bên Chiếu Minh Vô Vi từ trước đến nay vẫn chấp tay như bên Phật giống như Minh Sư, v.v… nhưng tay trái Ấn tý.

Như vậy, vào đêm giao thừa Bính Dần (12-02-1926) thời điểm Đức Chí Tôn “Lập Đạo”, chư vị Tiền Khai khi hành lễ thì hai tay vẫn chấp lại như bên nhà Phật hay đã biết bắt Ấn Tý như lời Thầy đã dạy trước đó mấy ngày?

Có thể trong những buổi đầu của năm Bính Dần đó, chư vị còn chưa quen với cách chấp tay Ấn Tý mới vừa được dạy. Cho nên trước ngày Lễ Thượng Nguơn - Rằm tháng giêng Bính Dần trong buổi đàn ngày 13, Đức Chí Tôn đã dạy chi tiết thêm về cách thức bái lạy cho chư vị. Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có ghi nhận đàn này như sau:

Trung... vô giữa lễ bái, cho Thầy coi... Con làm lễ trúng, song mỗi gật, con nhớ niệm câu chú của Thầy: “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”...

Khi bái lễ: hai tay con chấp lại, song phải để tay trái Ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên.”

Vậy nếu hiểu theo nghĩa đen của lời Thánh Ngôn này, để ý đến cụm tử “tay mặt ngửa ra”, chúng ta dễ dàng thấy rằng hình thức bắt Ấn Tý vào lúc ban sơ có khác với hiện nay.

Ngày nay chúng ta thấy quý vị tu bên Minh Lý cũng xưng danh là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ - Minh Lý đạo (1924). Bên nữ vẫn giữ cách chấp tay như Phật giáo nhưng nam phái lại chấp tay Ấn Tý giống bên Cao Đài giáo. Điều này thúc đẩy chúng tôi đi tìm hiểu xem môn sanh Minh Lý đã được dạy như thế từ khi nào.
 

dong tam

New member
Theo tài liệu lưu trử của Minh Lý đạo, chúng tôi tìm được đàn giải thích ý nghĩa việc bái lạy vào ngày 03-10-1926:

Nam Nhạc Hoành Sơn Tư Thiên Chiêu Thánh Đại Đế…

Ta có lên yết Thánh Vương. Ta có hỏi giùm việc lễ thì Ngài nói để chừng chư nhu học thêm kha khá thì dạy mới hiểu. Ngài có chỉ sơ ít câu…

- Hai tay chấp nơi ngực gọi là gì? Chư nhu nói thử coi.
- Thiện bạch: tay trái là dương, tay mặt là âm, hai tay hiệp lại tại tâm chỉ nghĩa là âm dương hiệp thành nhứt khí.
- Là lưỡng thủ bảo Thái Cực.

Lưỡng thủ bảo Thái Cực, chẳng phải nói như thể chư nhu đồng chấp tay vậy đâu. Phải Ấn Tý và trở hai phía nơi ngón cái ra ngoài, ngón út vào trong ngực.

Thiện ngươi làm cho ta xem.(Thiện làm không được)

- Chánh ngươi phải để cơ xuống cho ta cử thủ.
(Ngài sửa tay Chánh thành ra một cái Ấn.)
- Chư nhu rõ chưa?
- Cái ấn khi xưa cũng có chỗ dùng vì đã cho bài “lục căn” “tam tâm”: sáu ngón ngay ra là lục căn, còn ba lỗ lớn là tam tâm
.”

Qua nội dung của bài Thánh giáo này, chúng ta có thể suy đoán rằng việc dạy cách lễ bái và bắt Ấn Tý cho chư vị nam Minh Lý chỉ mới có trong thời gian gần đấy mà thôi, vào khoảng sau giữa năm 1926. Tiếc là bổn lưu trữ của đàn này vẫn chưa tìm ra.
 

dong tam

New member
Đem so sánh 2 lời Thánh giáo giữa Cao Đài và Minh Lý:

▪ “Khi bái lễ: hai tay con chấp lại, song phải để tay trái Ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên” (Cao Đài).
▪ “Phải Ấn Tý và trở hai phía nơi ngón cái ra ngoài, ngón út vào trong ngực” (Minh Lý).

và lần lượt thực hành, chúng ta thấy cách bắt Ấn Tý vào năm Bính Dần lịch sử xưa kia, dầu của Cao Đài hay Minh Lý đều giống nhau ở chỗ lòng bàn tay ngửa ra và hướng lên trên. Ngày nay, cách này áp dụng mỗi khi tịnh. Như vậy, cách chấp tay Ấn Tý ban sơ có khác với cách thông dụng hiện nay.
 

dong tam

New member
4qjwo2um0kmtgiusm4g.jpg


Có một số đạo hữu chấp tay kiết quả theo cách bàn tay phải ngửa ra để dưới nhưng chỉ ôm ngón út bàn tay trái bắt ấn Tý. Họ cho rằng khi xưa hồi năm 1936, Ngài Phạm Hộ Pháp có dạy như thế.

Vào những thập niên đầu của thiên niên kỷ 2000 cũng có hiện tượng chấp tay như thế của một ít tín hữu Tây Ninh.
 

dong tam

New member
2.2. Chấp tay kiết quả.

- Nhìn hình tượng của cách chấp tay Ấn tý như hiện nay, chúng ta thấy có khác biệt rõ với cách chấp tay trong thời Nhị Kỳ. Cách chấp tay thời Tam kỳ thể hiện hình tượng một quả tròn. Tuy chưa tìm thấy đàn cơ nào vào thuở Lập Đạo, Thầy dạy chi tiết về cách “Chấp Tay Kiết Quả” nhưng chúng ta có thể tìm thấy ý này ở trang 47 đoạn hướng dẫn “cách lạy” trong quyển “Tứ Thời Nhật Tụng Kinh 1928” của hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt.
Gần đây trên trang web của Ban Chỉnh Đạo có chụp lại ảnh văn bản của Lễ Nhạc Viện ngày 13-5-1928 do ngài Ngọc Lịch Nguyệt và Ngài Thượng Trung Nhựt ký tên: http://caodaibanchinhdao.org/home/v...t-va-Dau-Su-Ngoc-Lich-Nguyet-nam-1928-34.html.

Cần lưu ý đến chi tiết, thuở ban đầu mới lập đạo có nhiều vấn đề Đức Chí Tôn hay các Đấng dạy chư vị Tiền Khai và bắt thực hành tại chỗ ngay trong lúc đàn cơ để được uốn nắn sửa chữa cho đúng Thánh Ý. Như vậy, có thể cách thực hành chấp tay kiết quả của nhị vị Đầu Sư là dựa theo sự chỉ dẫn trực tiếp của Thầy. Sự thay đổi cách chấp tay từ Nhứt Kỳ phổ độ sang Nhị Kỳ rồi Tam Kỳ được hai vị Đầu Sư giải thích như sau:

""Lạy chấp tay theo ba kỳ mở Đạo Tam Giáo: Kỳ nhứt, Đức Lão Tử dạy đạo Tiên, phải chấp hai tay Kiết Nhị như bông sen búp. Khi lạy thì xòe hai tay úp xuống đất, cúi đầu xuống ba lạy kêu là khể thủ.

Kỳ nhì Đức Thích Ca giáng sanh dạy đạo thì chấp tay Hiệp Chưởng Hoa Khai. Khi lạy thì ngửa hai bàn tay để xuống đất cúi đầu xuống kêu là hòa nam. Khi Khổng Phu Tử giáng sanh dạy đạo Thánh cung tay đến mài mà lạy kêu là phủ phục. Nay Đấng Chí Tôn giáng cơ tiếp điển mở Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hiệp đủ Phật Thánh Tiên là kỳ kiết quả độ đủ 92 ức nguyên nhân về nơi Nguyên tu. Có câu sách Thiên Điạ tuần huờn châu nhi phục thỉ Tam Giáo quy nguyên, chấp tay hoa sen đã thành trái quả. Bên trái thuộc dương, ngón tay cái là Mẫu chỉ vào chữ Tý. Còn tay hữu ngón cái chỉ vào chữ Dần tay tả. Bốn ngón đều bao ngoài tay tả là nhơn vật quần linh tận quy nguyên vị. Tay tả là dương mà có ngón tay hữu âm chỉ vào, còn tay hữu âm mà có tay tả dương ở trong. Vậy nên Kinh Dịch nói: âm nội hữu chơn dương, dương nội hữu chơn âm, âm dương lưỡng cá tứ, năng hữu kỷ nhơn tri. Như cách lạy này là thời kỳ dạy đạo. Còn người luyện Đạo cách lạy cũng hai tay kiết quả, nhưng mà khi lạy chí đất phải để hai bàn tay ngửa mới cúi đầu. Cách lạy mầu nhiệm nghĩa lý xâu xa chưa đến kỳ Tịnh Thất nên không dám giải diệu mầu e lậu Thiên cơ chẳng dễ
” .

Nếu so sánh nội dung bản hướng dẫn nghi thức bái lạy của Ban Lễ Nhạc với nội dung trong quyển kinh Tứ Thời 1928 chúng ta thấy nội dung của Ban Lễ Nhạc Viện ngày 24/3 Mậu Thìn (16/5-1928) gọn hơn nhiều. Từ đây cho thấy quyển Kinh tuy đề xuất bản 1928 nhưng có thể xuất hiện sớm nhứt từ cuối quý 2 năm 1928. Như vậy có thể nói việc bắt Ấn Tý đã được Thầy dạy vào cuối tháng chạp Ất Sửu – đầu 1926, còn bước đầu chi tiết cách chấp tay Ấn Tý đã được Đức Chí Tôn dạy thêm vào đầu trung tuần tháng giêng Bính Dần - 1926.
 

dong tam

New member
93lg96fjv8hlfhp0f.jpg


Văn bản lịch sử đầu tiên hướng dẩn cách lễ bái từ năm 1928 của Lễ nhạc viện Tòa Thánh Tây Ninh, trước khi xuất bản quyển TỨ THỜI NHẬT TỤNG KINH 1928.
 

dong tam

New member
- Lúc đầu trong cách chấp tay Ấn Tý chưa có hướng dẫn chi tiết ngón cái bàn tay phải đặt ở vị trí nào. Về sau, năm 1928, lại có thêm chi tiết này: ngón cái tay mặt bấm vào chân ngón trỏ tay trái. Thông tri số 5-NCPS/TT văn phòng Ngọc Chánh Phối Sư của Tòa Thánh Tây Ninh ngày 6 tháng 02 Tân Hợi (02-3-1971) nhắc lại cách bắt Ấn Tý ngón cái tay phải bấm vào cung Dần, ấn Tý để nơi ngực.

Ngày mùng 3 tháng 3 nhuần Bính Ngọ (23-4-1966), Đức Hưng Đạo Đại Vương có giải thích thêm cho bên Minh Lý.

Tóm lại, lúc mới đầu cách chấp tay Ấn Tý của tín hữu Cao Đài khác với môn sanh Minh Lý ở vị trí ngón cái bàn tay phải. Bên Cao Đài “ngón cái chấm góc ngón trỏ tay tả.” trong khi bên Minh Lý “ngón cái tay mặt xỏ trong tay trái”. Trong thập niên 40, quyển kinh Thiên Đạo - Thế Đạo của Tây Ninh lại hướng dẫn đổi vị trí ngón cái tay mặt giống như cách của bên Minh Lý “xỏ trong tay trái”. Hơn ba mươi năm sau có đoạn Thánh giáo, Ơn Trên dạy lại với nội dung tương tợ: “Khi nhập đàn xá sâu ba xá, quì xuống. Tay tả, ngón cái ấn vào góc ngón áp út. Tay hữu ấp vào, ngón cái chấm góc ngón trỏ tay tả
 

dong tam

New member
2.3. Chấp tay cúng vong

Các tín hữu Cao Đài khi chào hỏi nhau hai tay chấp lại ôm tròn. Hình thức này kế thừa văn hóa người Việt và có cải tiến .
Hiện nay, vào đầu thế kỷ 21 hầu như cách chấp tay cúng vong của tín hữu các Hội Thánh Cao Đài đều không chấp tay Ấn Tý trừ tín hữu Hội Thánh Tây Ninh. Thông thường mọi người cũng chấp hai tay ôm tròn, bàn tay phải bao ngoài bàn tay trái nhưng 2 ngón cái gác song song trên các ngón trỏ của tay trái và tay phải.

Thật ra với Hội Thánh Tây Ninh, cách chấp tay cúng vong có thay đổi theo thời gian. Theo lời của chư vị lớn tuổi , lúc trước 1975, khi cúng vong không bắt Ấn Tý.
Chúng ta có tìm thấy chứng cứ qua văn bản hướng dẫn như:

Theo quyển “Thiên Bàn tại Tư gia” do Ban Tu Thư Đạo Đức học đường ấn hành, Giáo Hữu Thượng Lý Thanh chấp bút đã được Hội Thánh kiểm duyệt ngày 10-7 Canh Tuất (11-8-1970).
Trích Châu tri 61, 18-8 Mậu Dần (10-10-1938):
Ấn Tý: Chỉ khi nào lạy Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu mới bắt Ấn Tý
...”.

Nhưng một thời gian sau 1975, bộ phận nghi lễ của Hội Thánh Tây Ninh lại có qui định mới: tất cả các sinh hoạt lễ nghi đều phải chấp tay Ấn Tý. Không hiểu vì sao mà có cách thay đổi này và vì lý do gì. Cần truy tìm lại xem sự thay đổi này đã có từ thông tư nào.
 

dong tam

New member
3. Cách niệm danh các Đấng
3.1. Khi hành lễ trước Thiên bàn Đức Chí Tôn


- Các quyển kinh Nhựt tụng được chư vị Tiền Khai xuất bản trong các năm 1926, 1927 đều không ghi hướng dẫn cách niệm danh cách Đấng. Chúng ta chỉ tìm được lời hướng dẫn vào thuở ban sơ, trong quyển Tứ Thời Nhật Tụng Kinh 1928 nhưng chưa thấy lời Thánh Ngôn:

“… để tay kiết quả nơi ngực mình chỗ trái tim chớ rời ra, cúi đầu thứ nhứt niệm (nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát), cúi lần thứ nhì niệm (nam mô Lý Thái Bạch Tiên Trưởng) kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cúi lần thứ ba niệm (nam mô Quan Âm Bồ Tát), cúi lần thứ tư niệm (nam mô Quan Thánh Đế Quân) cúi lần thứ năm niệm (nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần) dứt rồi đọc bài Niệm Hương…” .

Vậy vị chứng đàn chủ lễ, khi cầm 3 nén nhang lúc đọc bài “Niệm hương” vẫn phải để ở nơi ngực.

Đến 1930, Tòa Thánh ban hành quyển Nghi Tiết Đại Đàn-Tiểu Đàn. Trong phần Sớ Văn và Lễ Cúng Tứ Thời thay đổi thứ tự Quan Thế Âm Bồ Tát trước Lý Thái Bạch Kim Tinh.

- Về sau, Kinh Thiên Đạo - Thế Đạo (1936) của Hội Thánh Tây Ninh căn cứ vào Nghi Tiết đó hướng dẫn sửa đổi như sau:
“... rồi để ngay ngực mà niệm:
Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam Mô Lý Đại Tiên Trưởng Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
Nam Mô chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần
”.

Sau này, Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo có thay đổi lại 2 câu niệm danh Đức Lý Giáo Tông và Đức Quan Âm theo thứ tự vị trí của Tam Trấn, y như hướng dẫn của quyển kinh năm 1928. Về hình tướng, trong thực tế chúng ta thấy đa số chư vị chứng đàn hai tay cầm nhang để nơi trán mà nguyện.

- Tuy nhiên, sau này vào khoản thập niên 60 của thế kỷ 20, Ơn Trên có hướng dẫn lại cách niệm mới tổng quát và tương thích với cách thờ phượng như hiện nay. Đàn năm 1970 :

Đưa lên giữa trán niệm: Nam Mô Phật.
Đưa qua bên tả niệm: Nam Mô Pháp.
Đưa qua bên hữu niệm: Nam Mô Tăng.
Xá sâu xuống niệm:
Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn.
Nam mô Tam Giáo Đại Tôn Sư.
Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm.
Nam mô Chư Phật, Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần cảm ứng chứng minh.
Rồi lạy hoặc đọc kinh tùy các em hành sự
” .
 

dong tam

New member
3.2. Niệm khi lễ bái Đức Mẹ:

Hướng dẫn trong kinh của Hội Thánh Tây Ninh như sau:

Chấp tay kiết quả, xá ba lần, quỳ xuống và niệm:
- Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
- Nam mô Cửu Vị Nữ Phật.
- Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh
”.

Lời dạy về cách niệm này xuất phát từ đâu, qua Thánh giáo nào vẫn còn là một ẩn số!
 

dong tam

New member
3. Xá - quỳ:

Cho đến nay chúng ta vẫn chưa tìm thấy đàn cơ nào hướng dẫn những nghi thức xá – quỳ của Ơn Trên. Duy chỉ có quyển Tứ Thời Nhật Tụng Kinh 1928, nhị vị Tiền Khai Đầu Sư viết:

bước vào chỗ quỳ… rồi ngước lên điện mới đưa tay Kiết quả đến trán… xá đến gối ba xá, phối Thiên áp địa gọi là tam tài. Mới khởi chơn trái bước tới một chút, quỳ chơn mặt xuống trước, chơn trái quỳ theo cho ngay thẳng cái mình. Mắt thì ngó cho ngay Thiên Nhãn mới đưa tay Kiết quả lên trán…” [Tứ Thời Nhật Tụng Kinh 1928, trang 48.]
 

Facebook Comment

Top