II. ĐÀO TẠO GIÁO HỮU VỚI SỨ MẠNG “PHỔ THÔNG CHƠN ĐẠO”
1. Lịch sử tiêu chuẩn Giáo Hữu:
- Trong Đại Lễ Khai Minh Đại Đạo, vào đêm 14 rạng Rằm tháng 10 Bính Dần - 1926, Đức Chí Tôn có dạy:
“Thầy cần dùng ba chục đứa tình nguyện để phổ cáo xứ xa, ai đâu? Lấy tên, con Tương. Trung Kỳ, Bắc Kỳ (…). Cười, thôi con Tương.
Cả thảy Thầy phong chức Giáo Hữu. (danh sách) Đem đến sau. Thầy buộc học hết Thánh Ngôn rồi mới đi phổ cáo. Nghe à.”
Qua trích đoạn Thánh Ngôn trên, chúng ta thấy rõ rằng tiêu chuẩn đầu tiên của hàng Giáo Hữu ngay từ buổi ban sơ của nhà Đạo là phải học để nắm vững Thánh Ngôn của Thầy rồi mới có thể lên đường đi truyền Đạo.
- Sau đó, đầu tháng 2 năm Đinh Mão 1927, Tân Luật đã được Đức Chí Tôn phê chuẩn ân ban. Trong phần Đạo Pháp:
Chương I - Về Chức Sắc Cai Trị Trong Đạo, điều thứ sáu qui định: “GIÁO HỮU là người để phổ thông Chơn Đạo của Thầy,..”
Còn chương III, điều thứ mười chín qui định: “Một tháng hai ngày sóc vọng, bổn đạo phải tựu lại Thánh Thất sở tại mà làm lễ và nghe dạy...”
Kết hợp cả hai điều lại, có ý nghĩa là mỗi Chức Sắc Giáo Hữu có trách nhiệm hàng tháng hai lần phải thực hiện sứ mạng “phổ thông Chơn Đạo của Thầy” đến với bổn đạo Thánh thất sở tại, nơi vị Giáo Hữu đang hành chánh đạo.
- Một tháng, sau khi Tân Luật được phát hành, trong một buổi đàn cơ Đức Chí Tôn nhắc chư vị Giáo Hữu:
“Trung,… Thầy để lời cho con biết rằng phần nhiều các Giáo Hữu không xét biết trách nhậm của mình.
Con phải nhắc cho chúng nó hiểu: mỗi Giáo Hữu ít nữa phải thông cội rễ nền Đạo, chúng nó phải năng tìm biết Thánh Ngôn của Thầy đã dạy và thay phiên nhau mà nói đạo cho chư thiện nam, tín nữ hiểu.
Nhiều Giáo Hữu không biết một nét chi về việc Đạo. Chư tín đồ không trông học hỏi đến đặng thì chức sắc còn có ích chi? Con phải nhắc cho chúng nó và Hội Thánh phải hội một tháng một kỳ mà chỉ dẫn cho nhau về việc thuyết đạo trong mỗi đàn nghe.”
“Phải thông cội rễ nền Đạo”, “phải năng tìm biết Thánh Ngôn của Thầy” và “thay phiên nhau mà nói đạo cho chư thiện nam, tín nữ hiểu”. Đây là hai phần học và hành, nhiệm vụ chánh yếu của các Giáo Hữu. Nếu như không làm được hai điều căn bản này thì tuy được mang danh là Chức Sắc nhưng vị Giáo Hữu cũng chưa giúp được chi cho nhu cầu tìm học hiểu đạo lý của các tín đồ, chưa thể hiện được vai trò của mình trên đường phổ độ nhân sanh.
Tuy nhiên, nơi đây cũng có phần trách nhiệm của tổ chức cấp trên tức là Hội Thánh. Để khắc phục tình trạng này, Đức Chí Tôn đã dạy Hội Thánh tổ chức tập huấn, mỗi tháng phải có một lần các chức sắc được qui tụ về để thực hành thuyết đạo và góp ý cho nhau. Chúng ta thấy có đoạn Thánh Ngôn sau:
“Trung, con phải truyền cho các Giáo Sư, Giáo Hữu lo lắng về phần thuyết đạo cho kíp và mỗi đàn lệ đều phải trích một bài Thánh Ngôn dạy về đạo đức mà đọc cho chúng sanh nghe.
Như vậy thì lời Thánh giáo như còn vẳng bên tai các môn đệ để giục bước đường của chúng nó chẳng sụt sè vậy.”
Trong Đạo Sử Xây Bàn số 2, bà Hương Hiếu có bổ sung thêm đoạn Thánh Ngôn khác:
“Trung bạch: Con có ra đề hồi hôm nơi Ðàn Cầu Kho cho các Giáo Hữu làm bài Thuyết Ðạo.
- Phải, như Giáo Hữu nào bê trễ về phận sự và không quản đến lời Thầy thì con hội Chư Thánh, dâng sớ lên cho Lý Bạch phân đoán nghe.”
2. Mục tiêu đào tạo Giáo Hữu:
Ngày nay ở đầu thế kỷ 21, sau gần 90 năm xuất hiện của Đạo Thầy, đọc lại những lời Thánh Ngôn năm xưa, chỉ riêng về lãnh vực phổ truyền giáo lý chúng ta thấy tính thời sự vẫn còn nóng hổi! Ý thức làm cho “Thánh thất là trường Đạo giáo dân” vẫn chưa được bắt rễ vững chắc trong phần lớn các nơi!
Hãy thử nhìn lại trong thực tế đã có bao nhiêu Thánh thất mỗi kỳ đàn sóc vọng có đọc lời Thánh Ngôn hay Thánh Huấn Thiêng Liêng và phân tích lý đạo cho đạo hữu học hỏi. Nhưng điều quan trọng hơn cả là những vị đang mang chức phẩm Giáo Sư, Giáo Hữu có hiểu và ý thức được trọng trách của mình phải thực hiện đúng theo qui định của Pháp Chánh Truyền – Tân Luật và nhu cầu bức xúc của nhân sanh đạo chúng hay chưa? Các Hội Thánh chúng ta, cần thấy rõ yêu cầu chánh đáng này để bổ sung thêm vào tiêu chuẩn xét chọn hàng chức sắc đúng theo Pháp và Luật Đạo: Buộc phải thông hiểu lịch sử nền Đạo vào buổi sơ khai (10 năm đầu của Đạo) và Thánh Giáo Căn Bản (bao gồm Thánh Ngôn Hiệp Tuyển cùng phần Thánh giáo riêng của mỗi Hội Thánh).
Tóm lại, qua những lời Thánh Ngôn của Thầy và Đức Lý Giáo Tông, chúng ta có thể tóm lược lại mấy điểm căn bản sau:
a. Phải ý thức để biến thành hành động cụ thể: mỗi Thánh thất là một Trường Đạo Giáo dân.
b. Hội Thánh cần phải huấn luyện khả năng sư phạm truyền đạo và phương pháp quản lý giáo dục cho hàng Giáo Hữu.
c. Người Giáo Hữu phải luôn trăn trở với lời phiền trách của Thầy: “Nhiều Giáo Hữu không biết một nét chi về việc Đạo. Chư tín đồ không trông học hỏi đến đặng thì chức sắc còn có ích chi?”[/COLOR][/B]
3. Chương trình và Kế hoạch đào tạo Giáo hữu: nâng cao thêm phần Tâm pháp.
- Giáo Hữu có trách nhiệm phải thực hiện việc “phổ thông Chơn Đạo của Thầy” đến với tín hữu. Để có thể hỗ trợ cho nhiệm vụ căn bản này thì phần trí huệ của mỗi vị Giáo Hữu cần phải được đủ đầy, vì thế về việc công phu thực hành Tâm pháp, các Giáo Hữu cần phải bước lên thêm một bước nữa trên đường Thiên Đạo như lời dạy của Ngài Nguyễn Ngọc Tương:
“Chức sắc từ Giáo Hữu đổ lên muốn vào chánh vị phải thật hành những điều kể ra dưới đây:
1. Phải có vào Thượng thừa là phải trường trai, tuyệt dục, thật hành Ngũ Giới Cấm, Tứ Đại Điều Qui, phế hết muôn việc trần gian, hiến thân trọn đời cho Đạo.
2. Phải có học Đạo là phải thông hiểu kinh luật của Đạo và Thánh Giáo của Thầy buổi Đạo mới khai…
3. Phải có tịnh 36, 72 ngày, …”
- Khóa Hạnh Đường vào năm Bính Ngọ 1966 tại Tòa Thánh Châu Minh, Đức Giáo Tông Tiên Thiên Thiện Pháp Nguyễn Bửu Tài đã giáng cơ dạy cho chư chức sắc Giáo Hữu khi đó:
“Chiếu theo Tân Luật Pháp Chánh Truyền thì Giáo Hữu phải trường chay tuyệt dục, xả thân hành đạo trọn đời, luôn luôn phục tùng mạng lịnh của Ơn Trên và Hội Thánh thuyên chuyển khắp nơi Thánh Tịnh để lãnh đặc trách, hành đúng quyền hạn và nhiệm vụ của mình. Vậy nam nữ Chức Sắc phải kiểm điểm, soi rọi kỹ lại công việc hành đạo từ trước có đúng với luật pháp không?
Nếu nhận thức được điều nào Chức Sắc Giáo Hữu của mình hoặc không hành tròn thì từ nay sắp tới phải ráng cố gắng hành xong trọn vẹn để hạnh hưởng ngày phán đoán đại đồng, vinh quang rực rỡ. Nếu đi ngược lại với Tân Luật tức là trái với Thiên điều mà trái với Thiên điều thì không phải dễ vì câu “Thuận Thiên Giả Tồn, Nghịch Thiên Giả Vong”...”
Qua các Thánh giáo vừa trích dẫn, chúng ta thấy chuẩn đạo hạnh của hàng Giáo Hữu là: phải “trường trai tuyệt dục, tâm tánh trọn lành thuần chơn vô ngã”. Có được như thế mới có thể “thế Thiên hành hóa”.
Do đó các Hội Thánh cần có định hướng chung, có kế hoạch huấn luyện và chương trình đào tạo cụ thể để các vị Giáo Hữu nương vào đó nâng cao năng lực hầu đủ sức triển khai phần trách nhiệm trong địa phận cai quản của mình.
Cũng như phần Lễ Sanh, cấp Giáo Hữu cũng cần được trải qua 2 khóa đào tạo.
Hạnh Đường cấp 1 để bồi dưỡng đức hạnh của hàng Giáo Sĩ như: Kiên nhẫn – Trì thủ; Đại tín – Hy sinh. Tiếp tục học các quẻ “tiến đức tu nghiệp” còn lại như: Ích, Khổn, Tỉnh, Tốn. Và phần Đạo Lý gồm Thánh Ngôn Hiệp Tuyển cùng Thánh giáo căn bản của mỗi Hội Thánh đồng thời nâng cao nghiệp vụ sư phạm về các phương pháp giáo dục hiện đại.
Và Hạnh Đường cấp 2 để bồi dưỡng tâm hạnh Đại thừa như: chánh tâm diệt dục, thuần chơn vô ngã. Và về Đạo Sử Khai Đạo cùng Lịch sử hình thành Hội Thánh của mình đồng thời bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức và quản lý trong giáo dục: lý thuyết và thực hành phải song hành. Hiện nay, phần thực hành là khâu yếu nhất trong chương trình huấn luyện đào tạo! Trách nhiệm về lãnh vực này thuộc về cấp Hội Thánh.
4. Nâng cao Tâm Hạnh Đức Tài cho việc hiến thân hành đạo và xây dựng Họ đạo sớm thành “Trường đạo giáo dân”:
Cần tổ chức lại những khóa ngắn hạn bồi dưỡng năng lực thuyết đạo cho các Giáo Hữu như theo lời của Thầy dạy từ năm 1927. Đã được mang danh Giáo Hữu là một trong “tam thiên đồ đệ” của Thầy nơi địa cầu 68 này thời phải nhớ và ý thức đến phần vai trò và trách nhiệm chữ “Giáo” của mình, trách nhiệm phổ truyền những lời Thánh giáo của Thầy, của Tam Trấn và các Đấng Thiêng Liêng để cố gắng tự bồi dưỡng thêm bằng việc siêng năng tham khảo những tài liệu kinh sách của Đại Đạo không phân biệt nguồn gốc. Hơn nữa người Giáo Hữu còn phải là tấm gương “thân giáo” về Tâm Hạnh Đức Tài đến với đồng đạo và nhơn sanh.
Mỗi Giáo Hữu sau khi được đào tạo sẽ có một trình độ sư phạm căn bản bậc trung cấp và quan trọng nhất là ý thức cũng như năng lực tổ chức để các Họ Đạo do mình trách nhiệm sẽ mau chóng vươn mình lên trở thành Trường Đạo Giáo dân. Chúng ta hãy làm thế nào để khi đến thời điểm 2026, khi kỷ niệm 100 năm hiện diện của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thì hoàn tất việc chuẩn hóa hàng ngũ Giáo Hữu. Đến khi đó, trình độ các Giáo Hữu thuộc tất cả các Hội Thánh đã tương đối cùng ở một mặt bằng chung.
Với các Hội Thánh lớn số lượng Lễ Sanh và Giáo Hữu khá nhiều cho nên kế hoạch huấn luyện sẽ có không ít khó khăn nhưng ngược lại, lại có thuận lợi tương đối về hàng ngũ giảng viên. Còn với những Hội Thánh nhỏ vấn đề khả năng tự đào tạo lại là một trở ngại không nhỏ! Vì thế cần có sự liên kết giữa các Hội Thánh trên cùng địa bàn khu vực để đỡ nâng, hỗ trợ, san sẻ cho nhau trên tinh thần tất cả chỉ vì lợi ích của Đại Đạo. Những góp ý trên đây không chỉ giới hạn cho việc đầu tư, huấn luyện chức sắc Cửu Trùng Đài, tất nhiên song song đó cũng phải đào tạo cho chức sắc Hiệp Thiên Đài ở đối phẩm tương ứng như Thừa Sử, Truyền Trạng, v.v… những hiểu biết căn bản về đạo hầu có năng lực thực hiện vai trò nhiệm vụ “giữ gìn Pháp Đạo”.
Từ nay đến năm 2026 là một thời hạn tuy không dài nhưng cũng không quá căng thẳng, tuy nhiên nếu không có sự nỗ lực và có kế hoạch hợp lý khoa học thời cũng không dễ dàng hoàn thành được chỉ tiêu kế hoạch chung! Thiển nghĩ những điều nêu trên nếu thực hiện được cũng là một bước đi rất căn bản để chúng ta có thể đem Đạo vào đời qua nội dung giáo dục đồng thời tiến đến việc thống nhất nhà đạo ở tương lai. Rất mong thay!