tranthiminhthu
New member
<P> </P>
<P> <FONT color=#ff0000> <strong>CUNG ĐẠO VÀ BA BÀI THÁNH NGÔN. </strong></FONT></P>
<P>Hẳn nhiên là nhiều người đến viếng hay là nghiên cứu về kiến trúc , về thể pháp tại Toà Thánh Tây Ninh đã biết vị trí của Cung Đạo trong Đền Thánh nhưng vì tính liên tục của đề tài chúng tôi cũng xin phép nhắc lại . </P>
<P> <strong><FONT color=#0000ff> 1- Cung Đạo Trong Thể Pháp. </FONT></strong></P>
<P>Nếu đi từ hai bên cửa hông vào Đền Thánh theo qui định thì bên Nam hay bên Nữ cũng vào Hiệp Thiên Đài đến Cửu Trùng Đài đến Cung Đạo rồi mới đến Bát Quái Đài ( phần nội điện) . <BR>Trong kiến trúc của Toà Thánh thì Cung Đạo rất bé so với Cửu Trùng Đài và rất đơn giản so với Bát Quái Đài. <BR>Nhưng theo giáo lý Tôn Giáo Cao Đài thì :<BR>Từ Hư Vô Chi Khí sanh ra Ngôi Thái Cực ( Thầy, Chí Tôn …) .<BR>Thái Cực sanh Lưỡng Nghi . <BR>Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng.<BR>Tứ Tượng biến Bát Quái.<BR>Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giới nên mới gọi là Pháp. (là tài nguyên và môi trường sống).<BR>Pháp có mới sanh ra Càn Khôn Vạn Vật rồi mới có người, nên gọi là Tăng… (là sinh vật hay chúng sanh sống trong tài nguyên và môi trường đã lập- mà con người là một trong những sinh vật sống trên vũ trụ)<BR>Như vậy thì từ Đạo mới sinh ra tất cả … trong đó có Bát Quái.<BR><strong>Biện chứng về ý nghĩa thì rõ ràng là Bát Quái nằm trong Cung Đạo…</strong> ( Vì có Đạo rồi mới có Ngôi Thái Cực …. mới đến Bát Quái …) nhưng trong kiến trúc hiện thể thì Cung Đạo rất khiêm nhượng so với Bát Quái Đài. ( Thiễn nghĩ đây cũng là một cách giúp ta cảnh giác hơn trong việc tìm hiểu thể pháp … chớ có thấy khiêm nhượng hay ít được đề cập đến … mà cho là nhỏ …)<BR>( Vách nóc vòm về phía Bát Quái Đài có một vầng tròn trắng… theo thiễn ý ấy là thể hiện cho vô cực …để gắn liền với Cung Đạo ).</P>
<P> <strong> <FONT color=#0000ff>2 – Ý Nghĩa Cung Đạo </FONT></strong></P>
<P>Về ý nghĩa Cung Đạo thì có nhiều điều để suy nghĩ nhưng trọng tâm của bài nầy là giới thiệu 03 bài Thánh Ngôn trên Cung Đạo nên chỉ xin nói vắn tắc:<BR>Bước sang một cuộc canh-tân để chuyễn sang ngươn thánh-đức thì <strong><FONT color=#ff00ff>Đức Chí-Tôn không giao chánh-giáo cho tay phàm nên lập ra Cung Đạo tại Toà-Thánh Tây-Ninh cho con người thấy được sự huyền-diệu của chính nhân loại: khả năng giao tiếp với vô hình…</FONT></strong><BR>Cũng nhờ có sự huyền-diệu đó mà Đại-Đạo mới giữ được chơn-truyền trong thất ức niên<BR> <U><strong><FONT color=#ff00ff> Trong Hội Long-Hoa tại thế thì cơ phong-thánh cũng nhờ nơi Cung Đạo (Bát-Quái-Đài) mà nối liền những hiền-nhân với cõi vô-hình và nhờ đó mà Tôn-giáo Cao-Đài đủ năng lực đưa nhân-thế đến chổ an-cư lạc-nghiệp. </FONT></strong></U><BR>Đây là nguồn không bao giờ cạn … nguồn vô tận của Tôn Giáo Cao Đài .</P>
<P>( Thế nào là Chánh giáo là một vấn đề khác...)</P>
<P> <strong> <FONT color=#0000ff>3- Tại Sao Gọi Nơi Đó Là Cung Đạo?</FONT></strong></P>
<P><strong>Với Toà Thánh Tây Ninh mổi một kiến trúc đều là thể pháp chứ không có cái chi là kiến trúc đơn thuần … cho có thẩm mỹ …</strong><BR>Cái vĩ đại của Đền Thánh không ở chổ nguy nga lộng lẫy, không ở chổ bề thế đồ sộ.… nếu xét về nguy nga lộng lẫy hay sự đồ sộ ta phải nhìn nhận sự thật là Đền Thánh còn thua lâu đài của nhiều người giàu có … chứ chưa nói đến các công sở hay dinh thự của các quốc gia …<BR>Cái vĩ đại của Đền Thánh chính là từ cát đá vô tri “ vật chất” đã được tay tạo tác của nhân loại hoá thân vào đó làm cho nó có những ý nghĩa rất thiêng liêng hay là tạo nên những công thức vô song để cung ứng cho nhân loại. <BR>Ý nghĩa thiêng liêng vô tận trong mổi kiến trúc hay cách bố trí… toát lên một thông điệp trong yên lặng … nên cũng là vô giá trị với những ai không chấp nhận lý hội vấn đề. (2).<BR>Thông điệp ấy được gọi là bí pháp… <BR>Đứng tại Cung Đạo ngó thẳng lên nóc ta thấy có một khung hình bầu dục có thiên nhãn là trung tâm.<BR>Đây là Thiên Nhãn trong Đền Thánh nhìn thẳng góc xuống địa cầu “góc 90. độ ”. <BR>Thiên Nhãn ở Quả Càn Khôn song song với mặt địa cầu. “góc 180 độ”<BR>Hai Thiên Nhãn giao nhau tại Cung Đạo. “ một theo trục tung- một theo trục hoành hay là kinh tuyến và vĩ tuyến”. <BR><U><strong><FONT color=#ff00ff>Cả hai Thiên Nhãn giao nhau tạo nên một hệ thống toạ độ gốc tại đây cho nên gọi là cung Đạo. </FONT></strong></U></P>
<P> Hệ thống nào cũng có toạ độ gốc để xác định toạ độ của các phần tử trong hệ thống. Toạ độ gốc ấy không bao giờ đổi trong suốt tiến trình của nó... </P>
<P><FONT color=#ff00ff> <strong>Khi thể pháp của DĐTKPĐ đã nên hình thì Toạ độ gốc của DĐTKPĐ chính là cung Đạo; cho nên những văn bút xuất phát từ đây thì không ai nơi cõi thế nầy có thể chỉnh sửa được.</strong></FONT></P>
<P><strong><FONT color=#ff00ff> Toà Thánh Tây Ninh là gốc của DĐTKPĐ thì Cung Đạo chính là gốc của cái gốc ấy... </FONT></strong></P>
<P> Đó chính là Đạo pháp hiện hữu vậy.... </P>
<P>Cái ý nghĩa thâm sâu của Cung Đạo nằm ở trong cách bố trí hiện thực chứ không phải do nơi suy diễn qua văn bút một chiều mà không biện chứng vấn đề của ai hết... </P>
<P> Ca tụng một chiều không biện chứng chỉ làm kém đi cái sâu sắc của đạo học mà thôi.</P>
<P> <FONT color=#0000ff> <strong> 4- Ba Bài Thánh Ngôn Trên Cung Đạo.</strong></FONT></P>
<P>Lẽ ra thì đi thẳng vào ba bài thơ nơi cung đạo nhưng cũng xin kể sơ lược mấy vật phẩm có bố trí trong vòng cung ( Tôi xin lỗi vì không biết cách gởi hình qua đường truyền nên xin quí vị vào mục 10 phút tìm hiểu Đạo Cao Đài của Đào Công Tâm thì có tấm hình nầy rất đẹp và rõ … Ước chi vị nào có thiện ý và khả năng sau khi đọc bài nầy thì gởi hình đó liền vào để cho bài được rõ hơn … ) </P>
<P>a-<FONT color=#0000ff> Sơ lược mấy vật phẩm trong khuôn hình:<BR></FONT>Tính từ trung tâm ra thì: <BR>Hướng Nam của Thiên Nhãn gồm: Một cái dĩa, một bài Thánh Ngôn; và lổ tai người nằm ngoài cùng. ( Bài thánh ngôn 1) <BR>- Hướng Bắc của Thiên Nhãn: Ống xin xâm có chữ: Nam-Mô Cao-Đài Tiên Oâng, kế đó là hai miếng gỗ nằm trái trả để xin keo. <BR> ( Hướng Đông Bắc có một bài Thánh Ngôn chỉ có cây viết trên bài Thánh Ngôn mà không có bàn tay cầm viết, cách viết giống như bài trước) ( Bài Thánh Ngôn 2)<BR>Hướng Đông: Đại Ngọc Cơ. <BR>Bố trí theo trục Bắc Nam. Phần đầu Đại Ngọc Cơ có gắn cây viết quay về hướng Nam. “ Hướng của bài Thánh Ngôn không có cây viết” <BR>Hướng Tây: <BR>Hình người mang đậm nét Đông-phương (đầu bới tóc, râu chòm; khuôn mặt đượm nét phúc hậu mà uy nghi…) và đối xứng với Đại Ngọc Cơ qua Thiên Nhãn. Hình người bố trí trên một nữa hình tròn. Đường kính hình tròn theo trục Bắc Nam. <BR>Bên “tai trái” của hình người có bảng chữ cái của Chữ Quốc Ngữ và miếng ván có dạng hình chữ nhật. Hai cạnh dài nhau theo chiều Đông Tây. Cạnh ngắn ở hướng Đông có mủi nhọn để chỉ chữ trên bảng khi sử dụng… cạnh còn lại ở hướng Tây là một đường cong nhô lên về hướng Tây. ( Cuối và trên bảng chữ cái một chút có bàn tay cầm viết, viết bài thánh ngôn ) ( Bài thánh ngôn 3 )<BR>Bên “ tai phải” của hình người là quyển Kinh Dịch liền đó là cái bàn chỉ thấy có 03 chân.<BR>Hình người song song với mặt đất thể hiện cho trục hoành.<BR>Hình tượng các Đấng nơi Bát Quái Đài theo trục tung.<BR>Cả hai giao nhau tại cung Đạo.<BR>( Nếu người nhìn vào Thiên nhãn thì cũng giao nhau với hình người từ cung Đạo- Với toán học: Giao điểm của trục tung và hoành thể hiện cho cái gốc của hệ thống toạ độ. Còn đạo học gọi đó là Đạo).</P>
<P><FONT color=#0000ff>b- Ba Bài Thánh Ngôn .</FONT><BR>Gọi thứ tự một hay ba là gọi theo bài nầy chứ không phải gọi theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. Cả ba bài đều viết bằng chữ Nôm “ không phải chữ Hán” . </P>
<P>+ Bài Thánh Ngôn một . <BR>Bài Thánh Ngôn tứ tuyệt nhưng chỉ viết đến chữ thứ 18. <BR>Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,<BR>Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên.<BR>Đạo mầu rưới khắp….<BR>Bài nầy giống như viết trên bảng đá có một cây chống tấm bảng lên không có cây viết nhưng Đại Ngọc Cơ lại quay đầu có viết về hướng nầy nên cũng xem như có cây viết …<BR>Cách viết : Thánh Ngôn viết từ phải sang trái và từ trên xuống dưới theo cách viết chữ Nho. </P>
<P>+ Bài Thánh Ngôn hai: <BR>Bài Thánh Ngôn chỉ có cây viết trên bài Thánh Ngôn mà không có bàn tay cầm viết, cách viết giống như bài trước: <BR>Viết thử thiên thơ với nét trần,<BR>Hầu sau bền vững nghiệp Hồng Quân.<BR>Chuyển luân thế sự….</P>
<P>+ Bài Thánh Ngôn 3:<BR>Bài Thánh Ngôn có bàn tay đang viết .<BR>Bài nầy viết từ trên xuống dưới và từ trái sang phải. ( Khác với hai bài trên).<BR>Ký thành một cuốn gọi Thiên Thơ,<BR>Khai đạo muôn năm trước định giờ.<BR>May bước phải gìn….<BR>Cả ba bài Thánh ngôn đều dùng chữ Nôm và dừng lại ở chữ thứ 18.</P>
<P>( Tại sao cả ba bài đều dừng lại ở chữ thứ 18 là một câu hỏi khác???)</P>
<P><strong> <FONT color=#0000ff> 5- Xuất Xứ Ba Bài Thánh Ngôn.</FONT></strong></P>
<P>Tôi chỉ trình bày phần xuất xứ mà không phân tích về các bài Thánh Ngôn trên.</P>
<P>a- Bài một :<BR>Đó là bài đầu tiên của Thánh Ngôn Hiệp Tuyển . <BR> Noel. 1925.<BR>Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,<BR>Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên.<BR>Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,<BR>Ngàn tuổi muôn tên giử trọn biên.</P>
<P>b- Bài hai: “ TNHT Q.2 T. 121- Bản in 1963”<BR>Viết thử Thiên- Thơ với nét trần,<BR>Hầu sau bền vững nghiệp Hồng- Quân.<BR>Chuyển luân thế sự đưa Kinh- Thánh,<BR>Trừ- diệt tà gian múa bút thần.<BR>Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,<BR>Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.<BR>Công- danh nước Việt tay đành nắm,<BR>Mưa mốc dân sanh gắng gội nhuần.</P>
<P>( Bài nầy Đức Lý Đại Tiên cho năm 1937 tại Báo Ân Từ.... Lý do: Trong Hội Quyền Vạn Linh 1937 khi Đức Hộ Pháp tuyên bố giao quyền phong thưởng chức sắc lại cho quyền Vạn Linh " theo mật chỉ " của Chí Tôn...thì tối lại Lý Đại Tiên khen và cho bài thi trên )</P>
<P>c- Bài ba : “TNHT. Q1. T. 115- Bản in 1973”.<BR>Ký thành một cuốn gọi Thiên Thơ,<BR>Khai đạo muôn năm trước định giờ.<BR>May bước phải gìn cho mạnh trí ,<BR>Nắm đuôi phướn phụng đến dương bờ.<BR> Hết .</P>
<P> ( KÍNH NHỜ: Vị nào biết post hình thì vào mục 10 phút tìm hiểu Đạo Cao Đài của Đào Công Tâm Post tấm hình Cung Đạo vào đây để minh hoạ thì rất cám ơn...) <BR>_______________________________<BR>(1): Lý hội không phải là biện chứng. <BR>Nói đơn giản thì biện chứng phải rõ ràng như một bài toán đơn giản với phép cộng và trừ còn lý hội nó cao cấp hơn trừu tượng hơn được hiểu như là giải phương trình hay các phép tính phức tạp như rút căn hay vi phân, tích phân …. <BR>Nhưng lý hội vẫn không được nghịch lý với biện chứng vẫn phải tôn trọng nguyên tắc của biện chứng cũng như các phép tính cao cấp vẫn phải tôn trọng nguyên tắc của phép cộng trừ … hay vẫn phải tuân y bảng cửu chương )</P>
<P> Trần Thị Minh Thu.<BR></P> <edited><editID>tranthiminhthu</editID><editDate>39307.4561689815</editDate></edited>
<P> <FONT color=#ff0000> <strong>CUNG ĐẠO VÀ BA BÀI THÁNH NGÔN. </strong></FONT></P>
<P>Hẳn nhiên là nhiều người đến viếng hay là nghiên cứu về kiến trúc , về thể pháp tại Toà Thánh Tây Ninh đã biết vị trí của Cung Đạo trong Đền Thánh nhưng vì tính liên tục của đề tài chúng tôi cũng xin phép nhắc lại . </P>
<P> <strong><FONT color=#0000ff> 1- Cung Đạo Trong Thể Pháp. </FONT></strong></P>
<P>Nếu đi từ hai bên cửa hông vào Đền Thánh theo qui định thì bên Nam hay bên Nữ cũng vào Hiệp Thiên Đài đến Cửu Trùng Đài đến Cung Đạo rồi mới đến Bát Quái Đài ( phần nội điện) . <BR>Trong kiến trúc của Toà Thánh thì Cung Đạo rất bé so với Cửu Trùng Đài và rất đơn giản so với Bát Quái Đài. <BR>Nhưng theo giáo lý Tôn Giáo Cao Đài thì :<BR>Từ Hư Vô Chi Khí sanh ra Ngôi Thái Cực ( Thầy, Chí Tôn …) .<BR>Thái Cực sanh Lưỡng Nghi . <BR>Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng.<BR>Tứ Tượng biến Bát Quái.<BR>Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giới nên mới gọi là Pháp. (là tài nguyên và môi trường sống).<BR>Pháp có mới sanh ra Càn Khôn Vạn Vật rồi mới có người, nên gọi là Tăng… (là sinh vật hay chúng sanh sống trong tài nguyên và môi trường đã lập- mà con người là một trong những sinh vật sống trên vũ trụ)<BR>Như vậy thì từ Đạo mới sinh ra tất cả … trong đó có Bát Quái.<BR><strong>Biện chứng về ý nghĩa thì rõ ràng là Bát Quái nằm trong Cung Đạo…</strong> ( Vì có Đạo rồi mới có Ngôi Thái Cực …. mới đến Bát Quái …) nhưng trong kiến trúc hiện thể thì Cung Đạo rất khiêm nhượng so với Bát Quái Đài. ( Thiễn nghĩ đây cũng là một cách giúp ta cảnh giác hơn trong việc tìm hiểu thể pháp … chớ có thấy khiêm nhượng hay ít được đề cập đến … mà cho là nhỏ …)<BR>( Vách nóc vòm về phía Bát Quái Đài có một vầng tròn trắng… theo thiễn ý ấy là thể hiện cho vô cực …để gắn liền với Cung Đạo ).</P>
<P> <strong> <FONT color=#0000ff>2 – Ý Nghĩa Cung Đạo </FONT></strong></P>
<P>Về ý nghĩa Cung Đạo thì có nhiều điều để suy nghĩ nhưng trọng tâm của bài nầy là giới thiệu 03 bài Thánh Ngôn trên Cung Đạo nên chỉ xin nói vắn tắc:<BR>Bước sang một cuộc canh-tân để chuyễn sang ngươn thánh-đức thì <strong><FONT color=#ff00ff>Đức Chí-Tôn không giao chánh-giáo cho tay phàm nên lập ra Cung Đạo tại Toà-Thánh Tây-Ninh cho con người thấy được sự huyền-diệu của chính nhân loại: khả năng giao tiếp với vô hình…</FONT></strong><BR>Cũng nhờ có sự huyền-diệu đó mà Đại-Đạo mới giữ được chơn-truyền trong thất ức niên<BR> <U><strong><FONT color=#ff00ff> Trong Hội Long-Hoa tại thế thì cơ phong-thánh cũng nhờ nơi Cung Đạo (Bát-Quái-Đài) mà nối liền những hiền-nhân với cõi vô-hình và nhờ đó mà Tôn-giáo Cao-Đài đủ năng lực đưa nhân-thế đến chổ an-cư lạc-nghiệp. </FONT></strong></U><BR>Đây là nguồn không bao giờ cạn … nguồn vô tận của Tôn Giáo Cao Đài .</P>
<P>( Thế nào là Chánh giáo là một vấn đề khác...)</P>
<P> <strong> <FONT color=#0000ff>3- Tại Sao Gọi Nơi Đó Là Cung Đạo?</FONT></strong></P>
<P><strong>Với Toà Thánh Tây Ninh mổi một kiến trúc đều là thể pháp chứ không có cái chi là kiến trúc đơn thuần … cho có thẩm mỹ …</strong><BR>Cái vĩ đại của Đền Thánh không ở chổ nguy nga lộng lẫy, không ở chổ bề thế đồ sộ.… nếu xét về nguy nga lộng lẫy hay sự đồ sộ ta phải nhìn nhận sự thật là Đền Thánh còn thua lâu đài của nhiều người giàu có … chứ chưa nói đến các công sở hay dinh thự của các quốc gia …<BR>Cái vĩ đại của Đền Thánh chính là từ cát đá vô tri “ vật chất” đã được tay tạo tác của nhân loại hoá thân vào đó làm cho nó có những ý nghĩa rất thiêng liêng hay là tạo nên những công thức vô song để cung ứng cho nhân loại. <BR>Ý nghĩa thiêng liêng vô tận trong mổi kiến trúc hay cách bố trí… toát lên một thông điệp trong yên lặng … nên cũng là vô giá trị với những ai không chấp nhận lý hội vấn đề. (2).<BR>Thông điệp ấy được gọi là bí pháp… <BR>Đứng tại Cung Đạo ngó thẳng lên nóc ta thấy có một khung hình bầu dục có thiên nhãn là trung tâm.<BR>Đây là Thiên Nhãn trong Đền Thánh nhìn thẳng góc xuống địa cầu “góc 90. độ ”. <BR>Thiên Nhãn ở Quả Càn Khôn song song với mặt địa cầu. “góc 180 độ”<BR>Hai Thiên Nhãn giao nhau tại Cung Đạo. “ một theo trục tung- một theo trục hoành hay là kinh tuyến và vĩ tuyến”. <BR><U><strong><FONT color=#ff00ff>Cả hai Thiên Nhãn giao nhau tạo nên một hệ thống toạ độ gốc tại đây cho nên gọi là cung Đạo. </FONT></strong></U></P>
<P> Hệ thống nào cũng có toạ độ gốc để xác định toạ độ của các phần tử trong hệ thống. Toạ độ gốc ấy không bao giờ đổi trong suốt tiến trình của nó... </P>
<P><FONT color=#ff00ff> <strong>Khi thể pháp của DĐTKPĐ đã nên hình thì Toạ độ gốc của DĐTKPĐ chính là cung Đạo; cho nên những văn bút xuất phát từ đây thì không ai nơi cõi thế nầy có thể chỉnh sửa được.</strong></FONT></P>
<P><strong><FONT color=#ff00ff> Toà Thánh Tây Ninh là gốc của DĐTKPĐ thì Cung Đạo chính là gốc của cái gốc ấy... </FONT></strong></P>
<P> Đó chính là Đạo pháp hiện hữu vậy.... </P>
<P>Cái ý nghĩa thâm sâu của Cung Đạo nằm ở trong cách bố trí hiện thực chứ không phải do nơi suy diễn qua văn bút một chiều mà không biện chứng vấn đề của ai hết... </P>
<P> Ca tụng một chiều không biện chứng chỉ làm kém đi cái sâu sắc của đạo học mà thôi.</P>
<P> <FONT color=#0000ff> <strong> 4- Ba Bài Thánh Ngôn Trên Cung Đạo.</strong></FONT></P>
<P>Lẽ ra thì đi thẳng vào ba bài thơ nơi cung đạo nhưng cũng xin kể sơ lược mấy vật phẩm có bố trí trong vòng cung ( Tôi xin lỗi vì không biết cách gởi hình qua đường truyền nên xin quí vị vào mục 10 phút tìm hiểu Đạo Cao Đài của Đào Công Tâm thì có tấm hình nầy rất đẹp và rõ … Ước chi vị nào có thiện ý và khả năng sau khi đọc bài nầy thì gởi hình đó liền vào để cho bài được rõ hơn … ) </P>
<P>a-<FONT color=#0000ff> Sơ lược mấy vật phẩm trong khuôn hình:<BR></FONT>Tính từ trung tâm ra thì: <BR>Hướng Nam của Thiên Nhãn gồm: Một cái dĩa, một bài Thánh Ngôn; và lổ tai người nằm ngoài cùng. ( Bài thánh ngôn 1) <BR>- Hướng Bắc của Thiên Nhãn: Ống xin xâm có chữ: Nam-Mô Cao-Đài Tiên Oâng, kế đó là hai miếng gỗ nằm trái trả để xin keo. <BR> ( Hướng Đông Bắc có một bài Thánh Ngôn chỉ có cây viết trên bài Thánh Ngôn mà không có bàn tay cầm viết, cách viết giống như bài trước) ( Bài Thánh Ngôn 2)<BR>Hướng Đông: Đại Ngọc Cơ. <BR>Bố trí theo trục Bắc Nam. Phần đầu Đại Ngọc Cơ có gắn cây viết quay về hướng Nam. “ Hướng của bài Thánh Ngôn không có cây viết” <BR>Hướng Tây: <BR>Hình người mang đậm nét Đông-phương (đầu bới tóc, râu chòm; khuôn mặt đượm nét phúc hậu mà uy nghi…) và đối xứng với Đại Ngọc Cơ qua Thiên Nhãn. Hình người bố trí trên một nữa hình tròn. Đường kính hình tròn theo trục Bắc Nam. <BR>Bên “tai trái” của hình người có bảng chữ cái của Chữ Quốc Ngữ và miếng ván có dạng hình chữ nhật. Hai cạnh dài nhau theo chiều Đông Tây. Cạnh ngắn ở hướng Đông có mủi nhọn để chỉ chữ trên bảng khi sử dụng… cạnh còn lại ở hướng Tây là một đường cong nhô lên về hướng Tây. ( Cuối và trên bảng chữ cái một chút có bàn tay cầm viết, viết bài thánh ngôn ) ( Bài thánh ngôn 3 )<BR>Bên “ tai phải” của hình người là quyển Kinh Dịch liền đó là cái bàn chỉ thấy có 03 chân.<BR>Hình người song song với mặt đất thể hiện cho trục hoành.<BR>Hình tượng các Đấng nơi Bát Quái Đài theo trục tung.<BR>Cả hai giao nhau tại cung Đạo.<BR>( Nếu người nhìn vào Thiên nhãn thì cũng giao nhau với hình người từ cung Đạo- Với toán học: Giao điểm của trục tung và hoành thể hiện cho cái gốc của hệ thống toạ độ. Còn đạo học gọi đó là Đạo).</P>
<P><FONT color=#0000ff>b- Ba Bài Thánh Ngôn .</FONT><BR>Gọi thứ tự một hay ba là gọi theo bài nầy chứ không phải gọi theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. Cả ba bài đều viết bằng chữ Nôm “ không phải chữ Hán” . </P>
<P>+ Bài Thánh Ngôn một . <BR>Bài Thánh Ngôn tứ tuyệt nhưng chỉ viết đến chữ thứ 18. <BR>Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,<BR>Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên.<BR>Đạo mầu rưới khắp….<BR>Bài nầy giống như viết trên bảng đá có một cây chống tấm bảng lên không có cây viết nhưng Đại Ngọc Cơ lại quay đầu có viết về hướng nầy nên cũng xem như có cây viết …<BR>Cách viết : Thánh Ngôn viết từ phải sang trái và từ trên xuống dưới theo cách viết chữ Nho. </P>
<P>+ Bài Thánh Ngôn hai: <BR>Bài Thánh Ngôn chỉ có cây viết trên bài Thánh Ngôn mà không có bàn tay cầm viết, cách viết giống như bài trước: <BR>Viết thử thiên thơ với nét trần,<BR>Hầu sau bền vững nghiệp Hồng Quân.<BR>Chuyển luân thế sự….</P>
<P>+ Bài Thánh Ngôn 3:<BR>Bài Thánh Ngôn có bàn tay đang viết .<BR>Bài nầy viết từ trên xuống dưới và từ trái sang phải. ( Khác với hai bài trên).<BR>Ký thành một cuốn gọi Thiên Thơ,<BR>Khai đạo muôn năm trước định giờ.<BR>May bước phải gìn….<BR>Cả ba bài Thánh ngôn đều dùng chữ Nôm và dừng lại ở chữ thứ 18.</P>
<P>( Tại sao cả ba bài đều dừng lại ở chữ thứ 18 là một câu hỏi khác???)</P>
<P><strong> <FONT color=#0000ff> 5- Xuất Xứ Ba Bài Thánh Ngôn.</FONT></strong></P>
<P>Tôi chỉ trình bày phần xuất xứ mà không phân tích về các bài Thánh Ngôn trên.</P>
<P>a- Bài một :<BR>Đó là bài đầu tiên của Thánh Ngôn Hiệp Tuyển . <BR> Noel. 1925.<BR>Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,<BR>Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên.<BR>Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,<BR>Ngàn tuổi muôn tên giử trọn biên.</P>
<P>b- Bài hai: “ TNHT Q.2 T. 121- Bản in 1963”<BR>Viết thử Thiên- Thơ với nét trần,<BR>Hầu sau bền vững nghiệp Hồng- Quân.<BR>Chuyển luân thế sự đưa Kinh- Thánh,<BR>Trừ- diệt tà gian múa bút thần.<BR>Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,<BR>Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.<BR>Công- danh nước Việt tay đành nắm,<BR>Mưa mốc dân sanh gắng gội nhuần.</P>
<P>( Bài nầy Đức Lý Đại Tiên cho năm 1937 tại Báo Ân Từ.... Lý do: Trong Hội Quyền Vạn Linh 1937 khi Đức Hộ Pháp tuyên bố giao quyền phong thưởng chức sắc lại cho quyền Vạn Linh " theo mật chỉ " của Chí Tôn...thì tối lại Lý Đại Tiên khen và cho bài thi trên )</P>
<P>c- Bài ba : “TNHT. Q1. T. 115- Bản in 1973”.<BR>Ký thành một cuốn gọi Thiên Thơ,<BR>Khai đạo muôn năm trước định giờ.<BR>May bước phải gìn cho mạnh trí ,<BR>Nắm đuôi phướn phụng đến dương bờ.<BR> Hết .</P>
<P> ( KÍNH NHỜ: Vị nào biết post hình thì vào mục 10 phút tìm hiểu Đạo Cao Đài của Đào Công Tâm Post tấm hình Cung Đạo vào đây để minh hoạ thì rất cám ơn...) <BR>_______________________________<BR>(1): Lý hội không phải là biện chứng. <BR>Nói đơn giản thì biện chứng phải rõ ràng như một bài toán đơn giản với phép cộng và trừ còn lý hội nó cao cấp hơn trừu tượng hơn được hiểu như là giải phương trình hay các phép tính phức tạp như rút căn hay vi phân, tích phân …. <BR>Nhưng lý hội vẫn không được nghịch lý với biện chứng vẫn phải tôn trọng nguyên tắc của biện chứng cũng như các phép tính cao cấp vẫn phải tôn trọng nguyên tắc của phép cộng trừ … hay vẫn phải tuân y bảng cửu chương )</P>
<P> Trần Thị Minh Thu.<BR></P> <edited><editID>tranthiminhthu</editID><editDate>39307.4561689815</editDate></edited>