Thánh-ngôn thuở khai đạo, Đức Chí-Tôn có lần hỏi Đức Phạm Hộ-Pháp rằng: <EM>“Tắc, Thầy lấy đức tính của con mà lập đạo được chăng?”.</EM> Xem vậy, đức tính của Đức Ngài thật quan trọng, có tác dụng lớn trong nền tân Tôn-Giáo. Mỗi Thánh-nhân giáng trần giáo đạo có hai tính đức: một là Nhân-tính, hai là Thánh-tính. Nhân-tính là tính làm người ở thế-gian vì còn chịu mang thi phàm xác thịt. Thánh-tính, là tính Trời định cho chơn-linh ấy khi lâm phàm. Vì Đức Ki-Tô cũng phải mang hai đức tính đó, nên Ngài đã ba lần bị quỉ Satan thử-thách mới đạt đạo. Trường hợp Đức Phạm Hộ-Pháp cũng vậy, vì mang thi phàm mà phải chịu bao nhiêu thử-thách để xứng đáng trở về ngôi xưa cảnh cũ.
<P>Nhân-tính của Đức Ngài phảng-phất nhiều hương-vị hiền triết của Thích-Ca, Chúa Ki-Tô, Khổng-Tử, Gandhi, Nguyễn Bỉnh Khiêm … Bởi Đức Ngài đã từng nghiên cứu về cuộc đời của các bậc siêu-nhân thế giới nầy. Bằng chứng là lúc còn sanh tiền, ngoài lịch kỷ-niệm trong Đạo, Ngài còn cho thiết lễ kỷ niệm các nhân vật trên. Do đó vô hình trung con người của Đức Ngài được hun đúc qua các Thánh-chất đó, trở thành Bát Tính sau:</P>
<P><IMG style="WIDTH: 136px; HEIGHT: 157px" height=125 src="http://daidaotamkyphodo.sky.vn/files/2008/05/cdhp.jpg" width=88 border="0"></P>
<P><strong>1.- Hy-sinh thân-thế và chịu đựng tù đày mưu tìm hạnh-phúc cho nhơn-sanh: </strong><BR>Đức tính đầu tiên của Đức Phạm Hộ-Pháp là hy-sinh và chịu đựng một mình để cứu vớt muôn sanh linh.<BR>Đó là gương hy-sinh chịu đựng của bậc Thánh-nhân. Về các điểm nầy, tính đức của Đức Ngài phảng-phất tư chất của Gandhi (1869-1946) và Chúa Kitô. Thánh Cam-Địa sinh ra đời, thì nước Ấn chịu dưới sự đô-hộ của người Anh. Tuy đỗ Tiến-sĩ Luật-Khoa ở Anh, nhưng ông chống lại sự áp bức của người Anh. Trong thế chiến thứ nhứt, trước lời hứa hẹn của chính-phủ Anh, Gandhi kêu gọi đồng-bào đầu quân giúp chính quốc. Khi chiến tranh kết thúc, Anh quên lời hứa. Thế nên, Gandhi lập Đảng Quốc-Đại dùng chánh-sách bất bạo động chống Anh. Dân chúng hưởng-ứng nhiệt liệt. Chánh quyền phải bắt giam ông. Khi ra tù ông vẫn tiếp tục tranh đấu rồi bị người đồng bào quá khích ám sát chết.</P>
<P>Đức Phạm Hộ-Pháp cũng sanh dưới chế độ thuộc-địa Pháp. Khi thế-chiến thứ hai bùng nổ, theo lời hứa của chánh phủ Pháp, Đức Ngài kêu gọi toàn đạo đầu quân giúp Pháp và cũng bị Pháp cầm tù ở Sơn-La, rồi Mã-Đảo (1941-1946). Được tự-do, Đức Ngài tiếp tục tìm phương giành lấy độc-lập trong tay người Pháp. Cuối cùng Đức Ngài tự lưu đày do chính các đệ-tử của Ngài làm áp lực và bỏ xác nơi xứ người.</P>
<P>Điều khác thường là cả hai vị, không ai giữ địa-vị cao trọng nào trong chính-phủ và cũng không là chính-khách nắm vận mạng quốc-gia.</P>
<P>Trên 5 năm chịu đựng ở Mã-Đảo, mấy tháng bị bọn phản Thầy lừa Đạo thanh trừng tại Hộ-Pháp Đường. Nếu không là bậc Thánh-nhân, hoặc vì sự liêm-sĩ nhất thời không tìm phương gỡ rối thế tình, … không cách nào hơn để giữ tình sư đệ, là phản tỉnh ra đi.</P>
<P>Chánh sách về quốc gia của Mahatma Gandhi cũng giống như Chánh Sách Hòa-Bình Chung Sống của Đức Hộ-Pháp. Chủ-nghĩa quốc-gia của chúng ta không làm hại quốc-gia khác, cũng như chúng ta không phá hoại nước nào.<BR><strong>2.- Hành-động tích-cực và tận tâm: </strong><BR>Thiên-tính của Đức Phạm Hộ-Pháp là hành-động tích-cực và quả quyết. Đề xướng một việc gì nhất định sẽ đi đến kết quả tốt và nhất định vận dụng mọi kế-hoạch để thực-hiện cho kỳ được. Tìm việc chớ không đợi việc. Nếu không có đức tính tích-cực thì kỳ chắc Tòa-Thánh xây dựng không xong. Không tiền, không nguyên vật-liệu, chỉ “bắt gió nắn hình” (Ngài nói) mà công thợ phải trường trai tuyệt dục, thì thử hỏi không tận tâm và hết sức làm việc, tổ-đình đồ-sộ kia làm sao hoàn-thành?</P>
<P>Với thái-độ tích cực nầy, giống như Tổng-Thống Hoa-Kỳ Théodore Roosevelt (1858-1969), người đã hành-pháp tại Kiêm-Biên giúp đạo. Théodore Roosevelt là một người tích-cực, hoạt động không ngừng, có ý kiến trong hầu hết các vấn-đề trên mọi địa hạt và diễn tả với khí phách như thác lũ. Đức Phạm Hộ-Pháp cũng vậy, Ngài phê-kiến và giải-quyết mọi vấn-đề. Ai có đọc tập “Lời phê của Đức Phạm Hộ-Pháp” thì rõ. Từ việc nhỏ như đắp đường đến nền chánh-trị đạo to lớn, nơi nào cũng có mắt của Đức Ngài. Từ sau khi ở Mã-Đảo về, Đức Ngài đã ban hành nhiều Thánh-Lịnh và Thánh-Huấn. Théodore Roosevelt cũng vậy, chỉ trong hai tháng đầu nắm quyền Tổng-Thống, các công văn do ông ký có thể nối liền từ Mỹ quốc đến Việt-Nam.<BR><strong>3.- Óc sáng tạo huyền-bí:</strong><BR>Một Tôn-Giáo bao gồm Thể-pháp và Bí-Pháp. Thể-pháp là cái hình ảnh bên ngoài ai cũng có thấy và biết được. Bí-Pháp là huyền nhiệm hư hư thực thực bên trong. Thiếu một trong hai pháp đó thì không còn là Tôn-Giáo.</P>
<P>Đức Chí-Tôn lập Đạo căn cứ trên thiên-tính của Đức Hộ-Pháp thì Ngài cũng giao bí-pháp Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ nơi tay Hộ-Pháp. Vào năm 1948, Đức Ngài đã để ra thời gian dài giảng về bí-pháp của Đạo, được các tốc-ký viên ghi chép và in thành tập. Các đạo-hữu truyền miệng nhau những lời tiên-tri của Ngài. Chẳng hạn như khi thiên-phong nhiều cho phái Tiên-Thiên, nhiều đạo-hữu suy bì theo ý phàm tục, Đức Ngài nói:<EM> “Các em đừng lo, rồi đây áo mão máng đầy rừng Thiên-nhiên. Có ai đem đi đâu mà sợ”.</EM> Thật vậy, chẳng bao lâu, mấy trăm chức-sắc phái Tiên-Thiên do ông Nguyễn Bửu Tài lãnh đạo “cuốn tượng” về quê cũ. Danh từ “cuốn tượng” rất thịnh hành trong vùng Thánh-Địa, ám chỉ những kẻ chối Đạo bỏ Thầy. Hiện tượng nầy xảy ra nhiều lần khi bị cường quyền áp-chế, những đạo hữu nhát nhúa, thiếu đức tin “cuốn tượng”, dẹp trang thờ Thầy (tức Đức Chí-Tôn). Từ “cuốn tượng” ngày nay đã bình-dân-hóa, ám chỉ những kẻ thua rút chạy.</P>
<P>Chuyện Đức Ngài giải phép ếm Long Tuyền Kiếm ở Phú-Mỹ, Mỹ-Tho; chuyện tiếp Kinh Phật-Mẫu ở Kiêm-Biên, v.v. … không thể kể hết được … Khi còn nhỏ quạt hầu Đức Ngài ở Hộ-Pháp Đường, tôi mê xem hát “Con Bạch-Tuột” ở rạp “Dân Tiến”, sát cửa số 6 mà vào muộn, Đức Ngài rầy nhẹ: “Sắp nhỏ mê xem hát quá hé! Thời gian nữa gánh hát sẽ đến hát tận nhà. Lúc đó không thèm coi mới lạ kỳ chớ!”. Bây giờ tôi mới biết Đức Ngài muốn ám chỉ về truyền-hình hay vidéo. Chao ôi! Ngài nhìn xa, xa quá …</P>
<P>Ngoài ra Đức Ngài còn tuyên-bố nhiều yếu ngôn quan trọng về nền Đạo, chính-trị nước nhà và thế-giới. Những lời nói đó có thể sưu tập và in thành sách, chẳng thua gì “Sấm Trạng-Trình” của Thanh-Sơn Đạo-Sĩ.</P>
<P>Đức Ngài nắm giữ bí-pháp các kiến-trúc xây cất Đền-Thánh, Thánh-Thất, Báo-Ân-Từ … Những chi phái chấp nhận giáo-lý Đạo qua Thánh-Ngôn Hiệp-Tuyển và Pháp-Chánh-Truyền, thì không thể phủ-nhận các công-trình kiến-trúc. Mặt khác Đạo Cao-Đài được phổ-quát và truyền-bá trong dân chúng là do cặp cơ Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc, đã phong thánh cho tất cả tướng súy, những tông-đồ đầu tiên của nền Đại-Đạo. Rồi từ đó, ví lý do này nọ, các chức-sắc bỏ Tòa-Thánh đi lập Hội-Thánh riêng, nhưng vẫn giữ theo Tân Luật và Pháp-Chánh-Truyền. Có những kẻ đi xa hơn, chối bỏ Hộ-Pháp Phạm Công Tắc, mà lại giữ những Thánh-Ngôn buổi đầu do cặp cơ Cư - Tắc viết ra. Sao có hiện tượng kỳ lạ vậy: vừa là Hộ-Pháp, vừa không là Hộ-Pháp? Nếu bất kính Hộ-Pháp Phạm Công Tắc, thì nên dẹp bỏ luôn những gì do ông viết ra mà lập một Đạo khác, làm như thế mới hợp với lẽ hằng. Chỉ có một cách giải-thích lý-luận bất nhất đó là: “Ông Hộ-Pháp Phạm Công Tắc không được độc-quyền cơ bứt, mà để họ tự quay cơ ban tặng các chức: Giáo-Tông, Hộ-Pháp, Đầu-Sư, v.v. … cho một ít người hám danh (*). Đức Chí-Tôn đã dạy: <EM>“Thà là một tín-đồ mà làm tròn nhiệm-vụ còn hơn mũ cao áo rộng mà phạm luật Thiên-Điều”.</EM></P>
<P>~~~~~~~~~~~<BR>(*)<FONT size=-1><EM>(Khi nhóm Nguyễn Bửu tài cề Tòa Thánh, Đức Hộ Pháp cho tự do lập đàn cơ ở chùa Thiên Linh Tự để học hỏi. Đồng tử đi qúa đà phong cho ông Đốc Nguyễn Bửu Tài là Chưởng quản Cửu Trùng Đài, và BS Cao Sỉ Tấn làm chưởng quản Hiệp Thiên Đài)</EM></FONT><BR><strong>4.- Chịu nỗi thống-khổ và oan-nghiệt của một con người: </strong><BR>Vì còn mang thi phàm xác thịt, thì còn chịu bao nhiêu thử thách, khổ ải của một kiếp người. Chẳng-hạn, Đức Kitô bị quỉ Satan khai chiến ba lần. Lần thứ nhất Satan vấn nạn: “Nếu ông là con Thiên-Chúa, hãy truyền cho những hòn đá này trở thành bánh đi”. Ngài đáp rằng: “Người ta khôngsống bằng bánh, nhưng bằng mọi lời bởi Chúa phán ra”. Satan mở cuộc tấn công thứ hai: “Nếu ông là con Thiên-Chúa, hãy gieo mình xuống sông”. Chúa Kitô đáp: “Người chớ thử Chúa là Chúa của ngươi”. Và lần thứ ba, nó đem Ngài lên một ngọn núi rất cao, cho xem tất cả các nước trên thế gian với những vinh-quang của trần thế và bảo Ngài rằng: “Tất cả những vinh-quang phú quí đó ta sẽ cho ông, nếu ông quì xuống mà lạy ta”. Đức Jésus Christ: “Hỡi Satan cút đi, vì có lời chép rằng: ngươi sẽ thờ phượng Chúa là Thiên-Chúa của ngươi”. Kết quả là ác quỉ bỏ Ngài và Thiên-Thần hiện đến hầu hạ Ngài.</P>
<P>Đấng Kitô chỉ chịu đựng và truyền đạo trong ba năm, còn Đức Phạm Hộ-Pháp phải chịu lắm nỗi nhọc nhằn từ năm 1926 đến năm 1959. Đức Ngài không bị Kim Quang Sứ (ngang với Satan) khảo đảo mà bị cường quyền Pháp đàn áp lưu đày. Đức Ngài nói: “Khi vâng lịnh Đức Chí-Tôn đến Gò-Kén mở Đạo, Bần Đạo có xin pbép nghỉ sáu tháng (vì là công-chức). Đến chừng trở lại làm việc, người ta không cho Bần-Đạo làm ở Nam-Việt nữa mà chuyển lên Kiêm-Biên … Từ khi lập Đạo chịu khổ hạnh truân-chuyên, chịu nhục nhã, chịu mọi điều thống khổ”. Ngài chịu sự đàn áp của 6 đời toàn quyền Pháp ở Đông-Dương.</P>
<P>Năm 1941 Đức Ngài bị chánh quyền Pháp bắt đi an trí ở Di Linh rồi Sơn La. Viên cai tù nói với Đức Ngài “Nếu ông do trời sai xuống hãy phá tù mà ra”. Đức Ngài trả lời: “thân phàm ta ở trong tù, chớ chơn linh ta ở thượng giới”. Sau đó Đức Ngài bị đày đi Mả Đảo (Phi Châu) suốt 5 năm 2 tháng 3 ngày. Một sĩ quan Pháp nói: “Ong là giáo chủ Đạo Cao Đài hả, hãy nhảy xuống biển mà lội về Việt Nam”. Ngài mạnh dạn đọc bài thơ của Đấng Vô-Danh vừa cho Ngài tại Madagascar:</P>
<UL>
<LI>
<UL>Hòn đão này đây trước nhốt tù,<BR>Mà nay làm khám nhốt thầy tu.<BR>Quả như oan-nghiệt vay rồi trả,<BR>Thì lũ Tây-Man, Nhật-bổn trừ.</UL></LI></UL>
<P>Chúng cho là giả điên nên cười rồi bỏ đi. Bởi lẽ, chúng cũng không hiểu Đức Ngài ngâm nga nói gì.</P>
<P>Gần cuối năm 1955, Nguyễn Thành Phương, nguyên Tổng Tư Lệnh Quân-Đội Cao-Đài <FONT size=-1><EM>(Lúc ấy ông Nguyễn Thành Phương vẫn chưa nhập môn theo Đạo (?). Khi chết đám tang ông không được làm phép xác )</EM></FONT>, sau khi được quốc-gia-hóa, vì miếng đỉnh chung, nghe lời Ngô Đình Diệm lập “Ban Thanh-Trừng” bao vây Hộ-Pháp Đường và bắt nhiều thiếu nữ, ép buộc phải khai gian dối nhiều điều khiếm-nhã cho Đức Ngài, mà toàn thể các tín-hữu ai cũng biết là Ban Thanh-Trừng vu khống. Anh của Nguyễn Thành Phương là Nguyễn Thành Danh nói với chúng tôi: đó là khổ-nhục kế. Khổ-nhục kế gì mà kẻ chủ mưu vênh cao mặt, được nhiều lợi lộc, còn người chịu nhục bị tơi tả suốt bao năm trời không hề thấy mặt kẻ phản bội nào nhận lỗi.</P>
<P>Việc trên đây, chẳng khác nào việc Juda bán Đức Chúa Jésus Christ cho bọn Giáo-trưởng Caiphe. Một lãnh-tụ tôn-giáo mà bị chính kẻ mình lập lên bêu xấu, thì thử hỏi đứng ở địa-vị phàm nhân, thiếu độ-lượng có lẽ sẽ xảy ra điều gì khác hơn là tấm lòng đại độ phản tỉnh ra đi? Một đòn tâm lý hết sức cao nhã. Nếu những ai còn chút lương-tri, còn chút hương-vị đạo đức trong lòng, chắc chắn không khỏi bị tòa-án lương-tâm xét xử. Càng được sống lâu, thì càng ray rứt nhiều, càng tiếc một hành động vội vàng, vị-kỷ, quên hẳn nghiệp đạo chung, quên hẳn vị đại-diện tối cao của một tôn-giáo với bao nhiêu tín hữu đang thờ kính. Kính Đạo phải trọng Thầy, không Thầy thì ai giữ Đạo cho ta kính.<BR><strong>5.- Người của bình-dân:</strong><BR>điều nầy quá hiển-nhiên, vì “Ngày nay Thầy đã khai Đạo nơi Đông Dương là cực Đông của Á-Châu, mà lại khai nơi xứ Nam-Kỳ là xứ thuộc-địa. Ấy là do nơi thiên-cơ tiền-định cả muôn năm, lại để thưởng cái lòng tín ngưỡng của người Nam từ thử”. <FONT size=-1><EM>(Lời thuyết giáo của Đức Quyền Giáo Tông, 1933 )</EM></FONT></P>
<P>Đức Chí-Tôn đã chọn hạng bình-dân Việt-Nam để dạy đạo trước tiên và chọn hạng trung lưu để lãnh đạo. Hạng bình-dân lắm lòng trong sạch, cơ hàn đáng được đặc-ân. Đức Phạm Hộ-Pháp tuy xuất thân trong đám trung-lưu, nhưng lại đứng về phía bình-dân. Đức Ngài thường nói: “Không cần người giỏi, chỉ cần biết làm và chịu làm là được”. Sở dĩ Đức Chí-Tôn thay vì chọn bậc bác họ tháing thái để giáo đạo, lại chọn hạng trung lưu và bình-dân mà dạy đạo là để cho thế gian nầy thấy rõ quyền năng của Đức Chí-Tôn; bằng không, đời sau với tật sùng bái cá nhân sẽ cho rằng Đạo Cao-Đài do các bậc thông-thái bày ra, chớ không phải do Trời lập. Đức Ngài coi các thợ-hồ, nông dân là con của Thượng-Đế. Trong một lời phê năm tân-Sửu, Đức Ngài viết:</P>
<UL><EM>“Qua đã biết trước thế nào trong mấy em cũng có đứa ngồi ngục. Gấm bị trước vì Phối-Thánh Thoại (vốn thợ-hồ đắp vẽ) muốn cho nó trả quả đối với Phối-Thánh lúc còn ở phàm; đáng kiếp Gấm đụng đầu xe lửa, cũng như mẹ con Út Giáp đụng đầu xe lửa của Màng (cũng thợ hồ, ân phong Phối-Thánh) buổi trước vậy. Mấy em ráng cẩn thận, đừng ăn hiếp mấy ông Thánh ẩn thân bất ngờ, phải ngồi cửa Phong-Đô mà khóc đa nghe”.</EM></UL>
<P>Việc nầy, trùng hợp với việc Thánh Gandhi nâng đỡ tập cấp (caste) Paria, cùng đinh của xã hội Ấn, hết lòng thương họ vì họ bị ghét bỏ, cho là cặn bã của xã-hội. Thánh Gandhi cho họ là con của “Thượng-Đế”.</P>
<P>Đức Hộ-Pháp, trong câu văn ngắn, đã nhắc lại hai lần “đụng đầu xe lửa”. Nhất là quí ông Bùi Ái Thoại và Phạm văn Màng, họ là những người như chiếc xe định hướng, chỉ đi về một hướng, chỉ đi về một phía đạo-đức. Ai có đàn áp, chưởi mắng thế nào, họ vẫn một lòng làm công quả. Khi qua đời, nhị vị hiển Thánh. Đức Phạm Hộ-Pháp mới cảnh-giác cho những ai lấy quyền thế khôn-ngoan khinh khi kẻ nghèo hèn bình dân, rồi thế nào cũng bị trả quả nhãn tiền.<BR><strong>6.- Có hấp lực mãnh liệt:</strong><BR>Đức Ngài có một nhân điện mãnh liệt, nhờ luyện đạo đến chỗ đạt pháp và sức nói lôi cuốn trong khi thuyết đạo. Ngoài cái khẩu khí của bậc Thánh lâm phàm, Ngài còn am tường thủ thuật nói trước công-chúng và “phương pháp Socrate” là đặt những câu hỏi làm thế nào cho khách bàng quang chỉ có thể đáp có mà thôi. Chính nhờ vậy, đến ngày nay chưa thấy ai phản đối hành động của Đức Ngài, chỉ trừ biến cố thiếu suy-nghĩ của lũ môn-đồ Juda cuối năm 1955.</P>
<P>Nhờ có giọng nói ôn tồn mà Đức Ngài thuyết IJng ròòng rã hằng tháng về “Con Đường Thiêng-Liêng hằng sống” và “Bí-Pháp” vào ban đêm. Đêm nào cũng đông chật tín-hữu, giờ mà mọi người ngoại đạo đang yên giấc. Nếu không có một mãnh lực hấp dẫn lôi cuốn được người nghe, mấy ai có thể theo dõi được những đêm triền miên thuyết giảng đó.</P>
<P>Nhân điện của Đức Ngài mạnh đến nỗi kẻ đối diện, đừng nói đến chư tín-đồ, ít dám nhìn thẳng tạng mặt. Lúc Ngài ban phép lành tuy đứng xa hàng 10 đến 20 mét mà trong người nghe nhân-điện chạy rờn rợn. Lời Ngài phán là răm rắp tuân theo, dù là chức-sắc Thiên-phong đương quyền. Tất cả vì kính mà hành theo, không ai dám cãi sửa điều gì. Còn nếu vì sợ mà làm theo, thì khi Ngài triều thiên chắc có người sẽ bươi móc và chối bỏ những di sản của Đức Ngài. Sự kính trọng ấy đã đóng thành khối và trở thành ấng tron?ng trong đầu mỗi tín-hữu, coi lời Đức Ngài nói là một định đề hằng đúng.</P>
<P>Đức Ngài đã tiên liệu: <EM>“Qua nói rằng mỗi vị tín-đồ đều có cái mão Giáo-Tông và Hộ-Pháp, không lấy là lỗi tại mấy em, chẳng lẽ chỉ có một người mà người đó chết rồi thì diệt tiêu Đạo?<BR>“Ngày kia không có gì vui cho qua hơn, khi thấy xuất-hiện trong mấy em, ở dưới bước lên ngồi địa-vị cao trọng trong Đạo”. </EM><FONT size=-1><EM>(Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp , quyển II, Tây Ninh 1973, trang 122, 123 )</EM></FONT><BR><strong>7.- Công bình và chính trực: </strong></P>
<P><IMG height=550 src="http://daidaotamkyphodo.sky.vn/files/2008/05/dl24.jpg" width=393 border="0"><BR>Đọc tập “Những lời phê của Đức Hộ-Pháp” về việc Đạo, ta thấy rõ hai đạo công-bình và chính-trực. Hai đức-tính nầy ảnh hưởng nơi Nho-Giáo, cách hành sử đối với các tông-đồ của Đức Khổng Phu-Tử.</P>
<P>Ngày 17.03 Nhâm-Thìn, Đức Ngài phê về việc đánh lộn như sau:</P>
<UL><EM>“Xem rõ vụ đánh lộn đã nêu gương xấu cho đám trẻ nơi Long-Hoa-Thị, do một vị Lễ-Sanh và một Giáo-viên trường Đạo-Đức. Hai người như thế mà làm gương như thế … Lễ-Sanh Hoàng đã dạy đàn em đánh lộn: võ-sĩ chớ không phải là một vị Lễ-Sanh của Hội-Thánh! Hoàng không nên phận đàn anh, có đâu làm chức-sắc. </EM><EM>“Giáo-viên Thới là một Giáo-viên, dạy dỗ đoàn thiếu sinh trong trường Đạo-Đức mà thô lỗ, không lể nghi khiêm tốn, hỏi dạy sấp nhỏ học cái gì? </EM><EM>“Bần-Đạo định án:<BR>“Ngưng chức Lễ-Sanh trong sáu tháng và buộc phải cầu khẩn một vị Thiên-phong cho phục-vụ và bảo lãnh giáo đạo cho Hoàng, trong sáu tháng mà không thuần nết thì sa thải xuống hàng tín-đồ. Giáo viên Thới thì không cho dạy ở trường Đạo-Đức nữa và nếu từ nay còn sanh sự với ai thì đuổi ra khỏi Thánh-Địa”.</EM></UL>
<P>Đức Ngài lại phê về việc xin chế giảm phẩm Thính-Thiện và Hành-Thiện thuộc Cơ-Quan Phước-Thiện:</P>
<UL><EM>“Đạo luật chơn-pháp của Đức Chí-Tôn đã dạy, không được phép chế sửa. Nam phái thật hành chơn pháp, đúng lý ra nữ phái cũng phải tùng nam phái mà thật-hành y luật định. Nghĩ lúc ban sơ, nếu thi hành y luật thì phải thất phận, nên Bần-Đạo chế giảm cho nữ phái mà thôi”.</EM></UL>
<P>Đức Ngài đã áp dụng đúng câu: “Tư vô tà” của Đạo Nho, lấy công bình chính trực mà trị an thiên-hạ.<BR><strong>8.- Từ-bi, khoan hồng và đại độ:</strong><BR>nói đến khoan hồng và từ-bi là nói đến tấm lòng, nói đến cái tâm của nhà Phật. Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc chơn-linh là Hộ-Pháp Di Đà. Gặp kỳ ba phổ-độ, Ngài hạ mình mà dìu dẫn toàn chư môn-đệ.</P>
<P>Đối với chức-sắc Đại Thiên-phong như Đức Ngô Minh Chiêu, Đức Ngài gọi là Giáo-chủ; Đức Quyền Giáo-Tông, Đức Ngài gọi là Anh Cả; Đức Cao Thượng-Phẩm, thì một cũng Anh Tư hai cũng Anh Tư.</P>
<P>Đối với huynh đệ và người cộng-sự, tuy Đức Ngài nắm chi Pháp, nên phải dùng pháp-trị: công-bình chánh trực, nhưng về tình người lúc nào cũng khoan dung thân thiện. Nhất là trong hàng Thập Nhị Thời Quân, những người lỡ phạm lỗi, Đức Ngài quên quá khứ chống báng của họ. Đức Ngài cho lập Thánh-Xa-Thơ tìm rước hài cốt các chiến-sĩ vị quốc vong thân <FONT size=-1><EM>(Nay Ngài dùng huyền diệu cho các đồng tử dân gian tầm xác các liệt sĩ )</EM></FONT> và cả chức-sắc bỏ mình ngoài Thánh-Địa. Nhờ thế, cốt của đại-huynh Nguyễn Bảo-Pháp mới được cải táng về phần đất của Thập Nhị Thời Quân. Còn Trần Khai-Pháp có lời quá đáng đối với Đức Ngài khi ở Mã Đảo. Đức Ngài không nhớ và vẫn dùng công-quả của Trần Khai-Pháp. Khi qui vị, đám tang của Trần Khai-Pháp, Đức Ngài cho làm rất lớn, không thua gì đám tang của Đức Thượng-Sanh. Năm 1946 khi tái thủ quyền hành, Đức Ngài ân-xá cho những người lầm đường. Nhờ vậy Cao Bảo-Văn (Bảo-Văn Pháp-Quân Cao Quỳnh Diêu), Sĩ-Tải Phạm văn Ngọ (được phong là Bảo-Đạo ở Ban Chỉnh-Đạo), rời phái Bến-Tre trở về Tây-Ninh. Cao Bảo-Văn, sau khi qui vị được xây tháp và táng trước Tòa-Thánh, Còn Sĩ-Tải Phạm văn Ngọ được thăng lên Truyền-Trạng. Những sự kiện đó, cho đồng-đạo thấy tấm lòng khoan dung và đại độ của Đức Ngài. Đức Phạm Hộ-Pháp còn ban tặng cho những nhân-tài, những đạo-tâm phẩm Hiền-Tài, như Hiền-Tài Mã Nguyên Lương (Tướng Trung-Hoa), Hiền-Tài Hồ Tấn Khoa (Đốc Phủ-Sứ) và các vị Lễ-Sanh Nagafuchi (Nhựt-bổn), Serge Vanony (Pháp), Ngọc Ba Thanh, Ngọc HòaThanh … Các Lễ-Sanh do Ngài ứng phong này đều tạm dùng phái Ngọc, để mở rộng cơ tận-độ và đáp ứng sự phát triển của nền Đạo. Đức Ngài còn cho lớp Hiền-Tài cầu phong vào hàng Thánh-thể thay lớp chức-sắc cũ ít học.</P>
<P>Năm 1955, quí Ngài Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối-Sư cầu xin Đức Hộ-Pháp truy-phong tướng Trình Minh Thế vào hàng phẩm Thế-Đạo. Đức Ngài phê như sau: “Truy thăng Trình Minh Thế vào hàng phẩm Quốc-Sĩ và đặng thờ nơi Báo-Quốc-Từ cùng Đức Thành-Thái và Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường-Để”.</P>
<P>Xem vậy, không những truy tặng phẩm Quốc-sĩ đầu tiên Ban Thế-Đạo, mà còn đặc ân cho thờ chung với các vì vương, thì đủ rõ lòng yêu mến người chiến-sĩ của Đức Ngài như thế nào!</P>
<P>Khi Hội-Thánh Phước-Thiện trình về việc ông Giáo-Thọ Nguyễn văn Tuờng, đại-diện ông Đạo Nằm, Phật-Giáo Thiền-Lâm (Long Xuyên), xin về hiệp nhất vào Phước-Thiện, Đức Ngài phê:</P>
<UL><EM>“Cửa từ-bi Phước-Thiện vẫn mở rộng … Bần Đạo lấy làm vui đẹp và hân-hạnh mà tiếp đón họ, chỉ khuyên họ đừng quá mê tín mà thôi”.</EM></UL>
<P>Do phúc-trình số 329/PT, ngày 7.11.1952, dâng lên Đức Hộ-Pháp về việc Thiếu-Tá Khanh xin nhường chức Lễ-Sanh cho thân phụ là cựu Chánh-Trị-Sự Đỗ văn Cầm, 73 tuổi, Đức Ngài phê:</P>
<UL><EM>“Phê y và tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối-Sư lập Thánh-lịnh ân phong cho cụ Đỗ văn Cầm vào hàng Lễ-Sanh phái Ngọc (hàm phong). Còn Thiếu-Tá Khanh chỉ là một tín-đồ mà thôi.<BR>Bần Đạo để lời khen lòng hiếu thảo của Khanh, đáng ghi vào Đạo-Sử”.</EM></UL>
<P>Sau nầy, Đức Ngài giáng cơ phong cho ông Khanh làm Hộ-Đàn Pháp-Quân.</P>
<P>Đại-Đạo không phải là nơi nhường tước phẩm thiêng-liêng. Đây là trường hợp biệt lệ. Thứ nhất, cụ Cầm đã là cựu Chánh-Trị-Sự, tức đủ điều kiện lên Lễ-Sanh. Thứ hai, cụ đã 73 tuổi, không biết thăng thiên lúc nào, có thể không đợi Hội Nhơn-Sanh phán xét kịp. Đây chỉ có “phụ từ tử hiếu”, lòng hiếu động thấu đến lòng Trời mà thôi.</P>
<P>Bát Tính của Đức Ngài xin tóm lược bằng câu: <strong>“Tâm vô quái ngại, đại hùng, đại lực, đại từ-bi”.</strong></P>
<P>Với tám chương xây dựng nên Bát Tính của Đức Phạm Hộ-Pháp. Còn về hoạt-động giúp đời, giúp nước của Đức Ngài, xin để lịch-sử phán xét.</P>
<P>Về sự nghiệp Đạo, tác-giả chỉ nêu được những nét chính, còn biết bao nhiêu điều khác nữa, nên khó tóm tắt trong vài hàng.</P>
<P>Có điều chắc chắn, theo các Đạo Sử của bà Đầu-Sư Nguyễn Hương-Hiếu và của Ngài Trương Hiến-Pháp là <EM>“Không có Đức Ngài thì không có Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ, vì khi Đức Chí-Tôn đến với Đức Ngô Minh Chiêu, chỉ xưng là Thầy và ban hồng-danh Cao-Đài Tiên-Ông”.</EM></P>
<P>Thế nên, hình thể của Đạo Cao-Đài, danh từ “Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ” là do cặp cơ Cư - Tắc viết ra trong Pháp Chánh-Truyền trích từ Thánh-Ngôn của các Đấng, chớ không phải nơi nào khác. Ngay cả hình thể hữu-vi Đền-Thánh, Đền thờ Phật-Mẫu, Thánh-Thất đều do Đức Ngài chấp bút vẽ nên. Vì thế, bất cứ ai theo Đạo Cao-Đài cũng đều cần tìm hiểu về các hoạt-động tôn-giáo của Đức Ngài.</P>
<P><EM>(Chơn Dung Đức Hộ Pháp - Hiền Tài Trần Văn Rạng)</EM> </P>
<P>Nhân-tính của Đức Ngài phảng-phất nhiều hương-vị hiền triết của Thích-Ca, Chúa Ki-Tô, Khổng-Tử, Gandhi, Nguyễn Bỉnh Khiêm … Bởi Đức Ngài đã từng nghiên cứu về cuộc đời của các bậc siêu-nhân thế giới nầy. Bằng chứng là lúc còn sanh tiền, ngoài lịch kỷ-niệm trong Đạo, Ngài còn cho thiết lễ kỷ niệm các nhân vật trên. Do đó vô hình trung con người của Đức Ngài được hun đúc qua các Thánh-chất đó, trở thành Bát Tính sau:</P>
<P><IMG style="WIDTH: 136px; HEIGHT: 157px" height=125 src="http://daidaotamkyphodo.sky.vn/files/2008/05/cdhp.jpg" width=88 border="0"></P>
<P><strong>1.- Hy-sinh thân-thế và chịu đựng tù đày mưu tìm hạnh-phúc cho nhơn-sanh: </strong><BR>Đức tính đầu tiên của Đức Phạm Hộ-Pháp là hy-sinh và chịu đựng một mình để cứu vớt muôn sanh linh.<BR>Đó là gương hy-sinh chịu đựng của bậc Thánh-nhân. Về các điểm nầy, tính đức của Đức Ngài phảng-phất tư chất của Gandhi (1869-1946) và Chúa Kitô. Thánh Cam-Địa sinh ra đời, thì nước Ấn chịu dưới sự đô-hộ của người Anh. Tuy đỗ Tiến-sĩ Luật-Khoa ở Anh, nhưng ông chống lại sự áp bức của người Anh. Trong thế chiến thứ nhứt, trước lời hứa hẹn của chính-phủ Anh, Gandhi kêu gọi đồng-bào đầu quân giúp chính quốc. Khi chiến tranh kết thúc, Anh quên lời hứa. Thế nên, Gandhi lập Đảng Quốc-Đại dùng chánh-sách bất bạo động chống Anh. Dân chúng hưởng-ứng nhiệt liệt. Chánh quyền phải bắt giam ông. Khi ra tù ông vẫn tiếp tục tranh đấu rồi bị người đồng bào quá khích ám sát chết.</P>
<P>Đức Phạm Hộ-Pháp cũng sanh dưới chế độ thuộc-địa Pháp. Khi thế-chiến thứ hai bùng nổ, theo lời hứa của chánh phủ Pháp, Đức Ngài kêu gọi toàn đạo đầu quân giúp Pháp và cũng bị Pháp cầm tù ở Sơn-La, rồi Mã-Đảo (1941-1946). Được tự-do, Đức Ngài tiếp tục tìm phương giành lấy độc-lập trong tay người Pháp. Cuối cùng Đức Ngài tự lưu đày do chính các đệ-tử của Ngài làm áp lực và bỏ xác nơi xứ người.</P>
<P>Điều khác thường là cả hai vị, không ai giữ địa-vị cao trọng nào trong chính-phủ và cũng không là chính-khách nắm vận mạng quốc-gia.</P>
<P>Trên 5 năm chịu đựng ở Mã-Đảo, mấy tháng bị bọn phản Thầy lừa Đạo thanh trừng tại Hộ-Pháp Đường. Nếu không là bậc Thánh-nhân, hoặc vì sự liêm-sĩ nhất thời không tìm phương gỡ rối thế tình, … không cách nào hơn để giữ tình sư đệ, là phản tỉnh ra đi.</P>
<P>Chánh sách về quốc gia của Mahatma Gandhi cũng giống như Chánh Sách Hòa-Bình Chung Sống của Đức Hộ-Pháp. Chủ-nghĩa quốc-gia của chúng ta không làm hại quốc-gia khác, cũng như chúng ta không phá hoại nước nào.<BR><strong>2.- Hành-động tích-cực và tận tâm: </strong><BR>Thiên-tính của Đức Phạm Hộ-Pháp là hành-động tích-cực và quả quyết. Đề xướng một việc gì nhất định sẽ đi đến kết quả tốt và nhất định vận dụng mọi kế-hoạch để thực-hiện cho kỳ được. Tìm việc chớ không đợi việc. Nếu không có đức tính tích-cực thì kỳ chắc Tòa-Thánh xây dựng không xong. Không tiền, không nguyên vật-liệu, chỉ “bắt gió nắn hình” (Ngài nói) mà công thợ phải trường trai tuyệt dục, thì thử hỏi không tận tâm và hết sức làm việc, tổ-đình đồ-sộ kia làm sao hoàn-thành?</P>
<P>Với thái-độ tích cực nầy, giống như Tổng-Thống Hoa-Kỳ Théodore Roosevelt (1858-1969), người đã hành-pháp tại Kiêm-Biên giúp đạo. Théodore Roosevelt là một người tích-cực, hoạt động không ngừng, có ý kiến trong hầu hết các vấn-đề trên mọi địa hạt và diễn tả với khí phách như thác lũ. Đức Phạm Hộ-Pháp cũng vậy, Ngài phê-kiến và giải-quyết mọi vấn-đề. Ai có đọc tập “Lời phê của Đức Phạm Hộ-Pháp” thì rõ. Từ việc nhỏ như đắp đường đến nền chánh-trị đạo to lớn, nơi nào cũng có mắt của Đức Ngài. Từ sau khi ở Mã-Đảo về, Đức Ngài đã ban hành nhiều Thánh-Lịnh và Thánh-Huấn. Théodore Roosevelt cũng vậy, chỉ trong hai tháng đầu nắm quyền Tổng-Thống, các công văn do ông ký có thể nối liền từ Mỹ quốc đến Việt-Nam.<BR><strong>3.- Óc sáng tạo huyền-bí:</strong><BR>Một Tôn-Giáo bao gồm Thể-pháp và Bí-Pháp. Thể-pháp là cái hình ảnh bên ngoài ai cũng có thấy và biết được. Bí-Pháp là huyền nhiệm hư hư thực thực bên trong. Thiếu một trong hai pháp đó thì không còn là Tôn-Giáo.</P>
<P>Đức Chí-Tôn lập Đạo căn cứ trên thiên-tính của Đức Hộ-Pháp thì Ngài cũng giao bí-pháp Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ nơi tay Hộ-Pháp. Vào năm 1948, Đức Ngài đã để ra thời gian dài giảng về bí-pháp của Đạo, được các tốc-ký viên ghi chép và in thành tập. Các đạo-hữu truyền miệng nhau những lời tiên-tri của Ngài. Chẳng hạn như khi thiên-phong nhiều cho phái Tiên-Thiên, nhiều đạo-hữu suy bì theo ý phàm tục, Đức Ngài nói:<EM> “Các em đừng lo, rồi đây áo mão máng đầy rừng Thiên-nhiên. Có ai đem đi đâu mà sợ”.</EM> Thật vậy, chẳng bao lâu, mấy trăm chức-sắc phái Tiên-Thiên do ông Nguyễn Bửu Tài lãnh đạo “cuốn tượng” về quê cũ. Danh từ “cuốn tượng” rất thịnh hành trong vùng Thánh-Địa, ám chỉ những kẻ chối Đạo bỏ Thầy. Hiện tượng nầy xảy ra nhiều lần khi bị cường quyền áp-chế, những đạo hữu nhát nhúa, thiếu đức tin “cuốn tượng”, dẹp trang thờ Thầy (tức Đức Chí-Tôn). Từ “cuốn tượng” ngày nay đã bình-dân-hóa, ám chỉ những kẻ thua rút chạy.</P>
<P>Chuyện Đức Ngài giải phép ếm Long Tuyền Kiếm ở Phú-Mỹ, Mỹ-Tho; chuyện tiếp Kinh Phật-Mẫu ở Kiêm-Biên, v.v. … không thể kể hết được … Khi còn nhỏ quạt hầu Đức Ngài ở Hộ-Pháp Đường, tôi mê xem hát “Con Bạch-Tuột” ở rạp “Dân Tiến”, sát cửa số 6 mà vào muộn, Đức Ngài rầy nhẹ: “Sắp nhỏ mê xem hát quá hé! Thời gian nữa gánh hát sẽ đến hát tận nhà. Lúc đó không thèm coi mới lạ kỳ chớ!”. Bây giờ tôi mới biết Đức Ngài muốn ám chỉ về truyền-hình hay vidéo. Chao ôi! Ngài nhìn xa, xa quá …</P>
<P>Ngoài ra Đức Ngài còn tuyên-bố nhiều yếu ngôn quan trọng về nền Đạo, chính-trị nước nhà và thế-giới. Những lời nói đó có thể sưu tập và in thành sách, chẳng thua gì “Sấm Trạng-Trình” của Thanh-Sơn Đạo-Sĩ.</P>
<P>Đức Ngài nắm giữ bí-pháp các kiến-trúc xây cất Đền-Thánh, Thánh-Thất, Báo-Ân-Từ … Những chi phái chấp nhận giáo-lý Đạo qua Thánh-Ngôn Hiệp-Tuyển và Pháp-Chánh-Truyền, thì không thể phủ-nhận các công-trình kiến-trúc. Mặt khác Đạo Cao-Đài được phổ-quát và truyền-bá trong dân chúng là do cặp cơ Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc, đã phong thánh cho tất cả tướng súy, những tông-đồ đầu tiên của nền Đại-Đạo. Rồi từ đó, ví lý do này nọ, các chức-sắc bỏ Tòa-Thánh đi lập Hội-Thánh riêng, nhưng vẫn giữ theo Tân Luật và Pháp-Chánh-Truyền. Có những kẻ đi xa hơn, chối bỏ Hộ-Pháp Phạm Công Tắc, mà lại giữ những Thánh-Ngôn buổi đầu do cặp cơ Cư - Tắc viết ra. Sao có hiện tượng kỳ lạ vậy: vừa là Hộ-Pháp, vừa không là Hộ-Pháp? Nếu bất kính Hộ-Pháp Phạm Công Tắc, thì nên dẹp bỏ luôn những gì do ông viết ra mà lập một Đạo khác, làm như thế mới hợp với lẽ hằng. Chỉ có một cách giải-thích lý-luận bất nhất đó là: “Ông Hộ-Pháp Phạm Công Tắc không được độc-quyền cơ bứt, mà để họ tự quay cơ ban tặng các chức: Giáo-Tông, Hộ-Pháp, Đầu-Sư, v.v. … cho một ít người hám danh (*). Đức Chí-Tôn đã dạy: <EM>“Thà là một tín-đồ mà làm tròn nhiệm-vụ còn hơn mũ cao áo rộng mà phạm luật Thiên-Điều”.</EM></P>
<P>~~~~~~~~~~~<BR>(*)<FONT size=-1><EM>(Khi nhóm Nguyễn Bửu tài cề Tòa Thánh, Đức Hộ Pháp cho tự do lập đàn cơ ở chùa Thiên Linh Tự để học hỏi. Đồng tử đi qúa đà phong cho ông Đốc Nguyễn Bửu Tài là Chưởng quản Cửu Trùng Đài, và BS Cao Sỉ Tấn làm chưởng quản Hiệp Thiên Đài)</EM></FONT><BR><strong>4.- Chịu nỗi thống-khổ và oan-nghiệt của một con người: </strong><BR>Vì còn mang thi phàm xác thịt, thì còn chịu bao nhiêu thử thách, khổ ải của một kiếp người. Chẳng-hạn, Đức Kitô bị quỉ Satan khai chiến ba lần. Lần thứ nhất Satan vấn nạn: “Nếu ông là con Thiên-Chúa, hãy truyền cho những hòn đá này trở thành bánh đi”. Ngài đáp rằng: “Người ta khôngsống bằng bánh, nhưng bằng mọi lời bởi Chúa phán ra”. Satan mở cuộc tấn công thứ hai: “Nếu ông là con Thiên-Chúa, hãy gieo mình xuống sông”. Chúa Kitô đáp: “Người chớ thử Chúa là Chúa của ngươi”. Và lần thứ ba, nó đem Ngài lên một ngọn núi rất cao, cho xem tất cả các nước trên thế gian với những vinh-quang của trần thế và bảo Ngài rằng: “Tất cả những vinh-quang phú quí đó ta sẽ cho ông, nếu ông quì xuống mà lạy ta”. Đức Jésus Christ: “Hỡi Satan cút đi, vì có lời chép rằng: ngươi sẽ thờ phượng Chúa là Thiên-Chúa của ngươi”. Kết quả là ác quỉ bỏ Ngài và Thiên-Thần hiện đến hầu hạ Ngài.</P>
<P>Đấng Kitô chỉ chịu đựng và truyền đạo trong ba năm, còn Đức Phạm Hộ-Pháp phải chịu lắm nỗi nhọc nhằn từ năm 1926 đến năm 1959. Đức Ngài không bị Kim Quang Sứ (ngang với Satan) khảo đảo mà bị cường quyền Pháp đàn áp lưu đày. Đức Ngài nói: “Khi vâng lịnh Đức Chí-Tôn đến Gò-Kén mở Đạo, Bần Đạo có xin pbép nghỉ sáu tháng (vì là công-chức). Đến chừng trở lại làm việc, người ta không cho Bần-Đạo làm ở Nam-Việt nữa mà chuyển lên Kiêm-Biên … Từ khi lập Đạo chịu khổ hạnh truân-chuyên, chịu nhục nhã, chịu mọi điều thống khổ”. Ngài chịu sự đàn áp của 6 đời toàn quyền Pháp ở Đông-Dương.</P>
<P>Năm 1941 Đức Ngài bị chánh quyền Pháp bắt đi an trí ở Di Linh rồi Sơn La. Viên cai tù nói với Đức Ngài “Nếu ông do trời sai xuống hãy phá tù mà ra”. Đức Ngài trả lời: “thân phàm ta ở trong tù, chớ chơn linh ta ở thượng giới”. Sau đó Đức Ngài bị đày đi Mả Đảo (Phi Châu) suốt 5 năm 2 tháng 3 ngày. Một sĩ quan Pháp nói: “Ong là giáo chủ Đạo Cao Đài hả, hãy nhảy xuống biển mà lội về Việt Nam”. Ngài mạnh dạn đọc bài thơ của Đấng Vô-Danh vừa cho Ngài tại Madagascar:</P>
<UL>
<LI>
<UL>Hòn đão này đây trước nhốt tù,<BR>Mà nay làm khám nhốt thầy tu.<BR>Quả như oan-nghiệt vay rồi trả,<BR>Thì lũ Tây-Man, Nhật-bổn trừ.</UL></LI></UL>
<P>Chúng cho là giả điên nên cười rồi bỏ đi. Bởi lẽ, chúng cũng không hiểu Đức Ngài ngâm nga nói gì.</P>
<P>Gần cuối năm 1955, Nguyễn Thành Phương, nguyên Tổng Tư Lệnh Quân-Đội Cao-Đài <FONT size=-1><EM>(Lúc ấy ông Nguyễn Thành Phương vẫn chưa nhập môn theo Đạo (?). Khi chết đám tang ông không được làm phép xác )</EM></FONT>, sau khi được quốc-gia-hóa, vì miếng đỉnh chung, nghe lời Ngô Đình Diệm lập “Ban Thanh-Trừng” bao vây Hộ-Pháp Đường và bắt nhiều thiếu nữ, ép buộc phải khai gian dối nhiều điều khiếm-nhã cho Đức Ngài, mà toàn thể các tín-hữu ai cũng biết là Ban Thanh-Trừng vu khống. Anh của Nguyễn Thành Phương là Nguyễn Thành Danh nói với chúng tôi: đó là khổ-nhục kế. Khổ-nhục kế gì mà kẻ chủ mưu vênh cao mặt, được nhiều lợi lộc, còn người chịu nhục bị tơi tả suốt bao năm trời không hề thấy mặt kẻ phản bội nào nhận lỗi.</P>
<P>Việc trên đây, chẳng khác nào việc Juda bán Đức Chúa Jésus Christ cho bọn Giáo-trưởng Caiphe. Một lãnh-tụ tôn-giáo mà bị chính kẻ mình lập lên bêu xấu, thì thử hỏi đứng ở địa-vị phàm nhân, thiếu độ-lượng có lẽ sẽ xảy ra điều gì khác hơn là tấm lòng đại độ phản tỉnh ra đi? Một đòn tâm lý hết sức cao nhã. Nếu những ai còn chút lương-tri, còn chút hương-vị đạo đức trong lòng, chắc chắn không khỏi bị tòa-án lương-tâm xét xử. Càng được sống lâu, thì càng ray rứt nhiều, càng tiếc một hành động vội vàng, vị-kỷ, quên hẳn nghiệp đạo chung, quên hẳn vị đại-diện tối cao của một tôn-giáo với bao nhiêu tín hữu đang thờ kính. Kính Đạo phải trọng Thầy, không Thầy thì ai giữ Đạo cho ta kính.<BR><strong>5.- Người của bình-dân:</strong><BR>điều nầy quá hiển-nhiên, vì “Ngày nay Thầy đã khai Đạo nơi Đông Dương là cực Đông của Á-Châu, mà lại khai nơi xứ Nam-Kỳ là xứ thuộc-địa. Ấy là do nơi thiên-cơ tiền-định cả muôn năm, lại để thưởng cái lòng tín ngưỡng của người Nam từ thử”. <FONT size=-1><EM>(Lời thuyết giáo của Đức Quyền Giáo Tông, 1933 )</EM></FONT></P>
<P>Đức Chí-Tôn đã chọn hạng bình-dân Việt-Nam để dạy đạo trước tiên và chọn hạng trung lưu để lãnh đạo. Hạng bình-dân lắm lòng trong sạch, cơ hàn đáng được đặc-ân. Đức Phạm Hộ-Pháp tuy xuất thân trong đám trung-lưu, nhưng lại đứng về phía bình-dân. Đức Ngài thường nói: “Không cần người giỏi, chỉ cần biết làm và chịu làm là được”. Sở dĩ Đức Chí-Tôn thay vì chọn bậc bác họ tháing thái để giáo đạo, lại chọn hạng trung lưu và bình-dân mà dạy đạo là để cho thế gian nầy thấy rõ quyền năng của Đức Chí-Tôn; bằng không, đời sau với tật sùng bái cá nhân sẽ cho rằng Đạo Cao-Đài do các bậc thông-thái bày ra, chớ không phải do Trời lập. Đức Ngài coi các thợ-hồ, nông dân là con của Thượng-Đế. Trong một lời phê năm tân-Sửu, Đức Ngài viết:</P>
<UL><EM>“Qua đã biết trước thế nào trong mấy em cũng có đứa ngồi ngục. Gấm bị trước vì Phối-Thánh Thoại (vốn thợ-hồ đắp vẽ) muốn cho nó trả quả đối với Phối-Thánh lúc còn ở phàm; đáng kiếp Gấm đụng đầu xe lửa, cũng như mẹ con Út Giáp đụng đầu xe lửa của Màng (cũng thợ hồ, ân phong Phối-Thánh) buổi trước vậy. Mấy em ráng cẩn thận, đừng ăn hiếp mấy ông Thánh ẩn thân bất ngờ, phải ngồi cửa Phong-Đô mà khóc đa nghe”.</EM></UL>
<P>Việc nầy, trùng hợp với việc Thánh Gandhi nâng đỡ tập cấp (caste) Paria, cùng đinh của xã hội Ấn, hết lòng thương họ vì họ bị ghét bỏ, cho là cặn bã của xã-hội. Thánh Gandhi cho họ là con của “Thượng-Đế”.</P>
<P>Đức Hộ-Pháp, trong câu văn ngắn, đã nhắc lại hai lần “đụng đầu xe lửa”. Nhất là quí ông Bùi Ái Thoại và Phạm văn Màng, họ là những người như chiếc xe định hướng, chỉ đi về một hướng, chỉ đi về một phía đạo-đức. Ai có đàn áp, chưởi mắng thế nào, họ vẫn một lòng làm công quả. Khi qua đời, nhị vị hiển Thánh. Đức Phạm Hộ-Pháp mới cảnh-giác cho những ai lấy quyền thế khôn-ngoan khinh khi kẻ nghèo hèn bình dân, rồi thế nào cũng bị trả quả nhãn tiền.<BR><strong>6.- Có hấp lực mãnh liệt:</strong><BR>Đức Ngài có một nhân điện mãnh liệt, nhờ luyện đạo đến chỗ đạt pháp và sức nói lôi cuốn trong khi thuyết đạo. Ngoài cái khẩu khí của bậc Thánh lâm phàm, Ngài còn am tường thủ thuật nói trước công-chúng và “phương pháp Socrate” là đặt những câu hỏi làm thế nào cho khách bàng quang chỉ có thể đáp có mà thôi. Chính nhờ vậy, đến ngày nay chưa thấy ai phản đối hành động của Đức Ngài, chỉ trừ biến cố thiếu suy-nghĩ của lũ môn-đồ Juda cuối năm 1955.</P>
<P>Nhờ có giọng nói ôn tồn mà Đức Ngài thuyết IJng ròòng rã hằng tháng về “Con Đường Thiêng-Liêng hằng sống” và “Bí-Pháp” vào ban đêm. Đêm nào cũng đông chật tín-hữu, giờ mà mọi người ngoại đạo đang yên giấc. Nếu không có một mãnh lực hấp dẫn lôi cuốn được người nghe, mấy ai có thể theo dõi được những đêm triền miên thuyết giảng đó.</P>
<P>Nhân điện của Đức Ngài mạnh đến nỗi kẻ đối diện, đừng nói đến chư tín-đồ, ít dám nhìn thẳng tạng mặt. Lúc Ngài ban phép lành tuy đứng xa hàng 10 đến 20 mét mà trong người nghe nhân-điện chạy rờn rợn. Lời Ngài phán là răm rắp tuân theo, dù là chức-sắc Thiên-phong đương quyền. Tất cả vì kính mà hành theo, không ai dám cãi sửa điều gì. Còn nếu vì sợ mà làm theo, thì khi Ngài triều thiên chắc có người sẽ bươi móc và chối bỏ những di sản của Đức Ngài. Sự kính trọng ấy đã đóng thành khối và trở thành ấng tron?ng trong đầu mỗi tín-hữu, coi lời Đức Ngài nói là một định đề hằng đúng.</P>
<P>Đức Ngài đã tiên liệu: <EM>“Qua nói rằng mỗi vị tín-đồ đều có cái mão Giáo-Tông và Hộ-Pháp, không lấy là lỗi tại mấy em, chẳng lẽ chỉ có một người mà người đó chết rồi thì diệt tiêu Đạo?<BR>“Ngày kia không có gì vui cho qua hơn, khi thấy xuất-hiện trong mấy em, ở dưới bước lên ngồi địa-vị cao trọng trong Đạo”. </EM><FONT size=-1><EM>(Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp , quyển II, Tây Ninh 1973, trang 122, 123 )</EM></FONT><BR><strong>7.- Công bình và chính trực: </strong></P>
<P><IMG height=550 src="http://daidaotamkyphodo.sky.vn/files/2008/05/dl24.jpg" width=393 border="0"><BR>Đọc tập “Những lời phê của Đức Hộ-Pháp” về việc Đạo, ta thấy rõ hai đạo công-bình và chính-trực. Hai đức-tính nầy ảnh hưởng nơi Nho-Giáo, cách hành sử đối với các tông-đồ của Đức Khổng Phu-Tử.</P>
<P>Ngày 17.03 Nhâm-Thìn, Đức Ngài phê về việc đánh lộn như sau:</P>
<UL><EM>“Xem rõ vụ đánh lộn đã nêu gương xấu cho đám trẻ nơi Long-Hoa-Thị, do một vị Lễ-Sanh và một Giáo-viên trường Đạo-Đức. Hai người như thế mà làm gương như thế … Lễ-Sanh Hoàng đã dạy đàn em đánh lộn: võ-sĩ chớ không phải là một vị Lễ-Sanh của Hội-Thánh! Hoàng không nên phận đàn anh, có đâu làm chức-sắc. </EM><EM>“Giáo-viên Thới là một Giáo-viên, dạy dỗ đoàn thiếu sinh trong trường Đạo-Đức mà thô lỗ, không lể nghi khiêm tốn, hỏi dạy sấp nhỏ học cái gì? </EM><EM>“Bần-Đạo định án:<BR>“Ngưng chức Lễ-Sanh trong sáu tháng và buộc phải cầu khẩn một vị Thiên-phong cho phục-vụ và bảo lãnh giáo đạo cho Hoàng, trong sáu tháng mà không thuần nết thì sa thải xuống hàng tín-đồ. Giáo viên Thới thì không cho dạy ở trường Đạo-Đức nữa và nếu từ nay còn sanh sự với ai thì đuổi ra khỏi Thánh-Địa”.</EM></UL>
<P>Đức Ngài lại phê về việc xin chế giảm phẩm Thính-Thiện và Hành-Thiện thuộc Cơ-Quan Phước-Thiện:</P>
<UL><EM>“Đạo luật chơn-pháp của Đức Chí-Tôn đã dạy, không được phép chế sửa. Nam phái thật hành chơn pháp, đúng lý ra nữ phái cũng phải tùng nam phái mà thật-hành y luật định. Nghĩ lúc ban sơ, nếu thi hành y luật thì phải thất phận, nên Bần-Đạo chế giảm cho nữ phái mà thôi”.</EM></UL>
<P>Đức Ngài đã áp dụng đúng câu: “Tư vô tà” của Đạo Nho, lấy công bình chính trực mà trị an thiên-hạ.<BR><strong>8.- Từ-bi, khoan hồng và đại độ:</strong><BR>nói đến khoan hồng và từ-bi là nói đến tấm lòng, nói đến cái tâm của nhà Phật. Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc chơn-linh là Hộ-Pháp Di Đà. Gặp kỳ ba phổ-độ, Ngài hạ mình mà dìu dẫn toàn chư môn-đệ.</P>
<P>Đối với chức-sắc Đại Thiên-phong như Đức Ngô Minh Chiêu, Đức Ngài gọi là Giáo-chủ; Đức Quyền Giáo-Tông, Đức Ngài gọi là Anh Cả; Đức Cao Thượng-Phẩm, thì một cũng Anh Tư hai cũng Anh Tư.</P>
<P>Đối với huynh đệ và người cộng-sự, tuy Đức Ngài nắm chi Pháp, nên phải dùng pháp-trị: công-bình chánh trực, nhưng về tình người lúc nào cũng khoan dung thân thiện. Nhất là trong hàng Thập Nhị Thời Quân, những người lỡ phạm lỗi, Đức Ngài quên quá khứ chống báng của họ. Đức Ngài cho lập Thánh-Xa-Thơ tìm rước hài cốt các chiến-sĩ vị quốc vong thân <FONT size=-1><EM>(Nay Ngài dùng huyền diệu cho các đồng tử dân gian tầm xác các liệt sĩ )</EM></FONT> và cả chức-sắc bỏ mình ngoài Thánh-Địa. Nhờ thế, cốt của đại-huynh Nguyễn Bảo-Pháp mới được cải táng về phần đất của Thập Nhị Thời Quân. Còn Trần Khai-Pháp có lời quá đáng đối với Đức Ngài khi ở Mã Đảo. Đức Ngài không nhớ và vẫn dùng công-quả của Trần Khai-Pháp. Khi qui vị, đám tang của Trần Khai-Pháp, Đức Ngài cho làm rất lớn, không thua gì đám tang của Đức Thượng-Sanh. Năm 1946 khi tái thủ quyền hành, Đức Ngài ân-xá cho những người lầm đường. Nhờ vậy Cao Bảo-Văn (Bảo-Văn Pháp-Quân Cao Quỳnh Diêu), Sĩ-Tải Phạm văn Ngọ (được phong là Bảo-Đạo ở Ban Chỉnh-Đạo), rời phái Bến-Tre trở về Tây-Ninh. Cao Bảo-Văn, sau khi qui vị được xây tháp và táng trước Tòa-Thánh, Còn Sĩ-Tải Phạm văn Ngọ được thăng lên Truyền-Trạng. Những sự kiện đó, cho đồng-đạo thấy tấm lòng khoan dung và đại độ của Đức Ngài. Đức Phạm Hộ-Pháp còn ban tặng cho những nhân-tài, những đạo-tâm phẩm Hiền-Tài, như Hiền-Tài Mã Nguyên Lương (Tướng Trung-Hoa), Hiền-Tài Hồ Tấn Khoa (Đốc Phủ-Sứ) và các vị Lễ-Sanh Nagafuchi (Nhựt-bổn), Serge Vanony (Pháp), Ngọc Ba Thanh, Ngọc HòaThanh … Các Lễ-Sanh do Ngài ứng phong này đều tạm dùng phái Ngọc, để mở rộng cơ tận-độ và đáp ứng sự phát triển của nền Đạo. Đức Ngài còn cho lớp Hiền-Tài cầu phong vào hàng Thánh-thể thay lớp chức-sắc cũ ít học.</P>
<P>Năm 1955, quí Ngài Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối-Sư cầu xin Đức Hộ-Pháp truy-phong tướng Trình Minh Thế vào hàng phẩm Thế-Đạo. Đức Ngài phê như sau: “Truy thăng Trình Minh Thế vào hàng phẩm Quốc-Sĩ và đặng thờ nơi Báo-Quốc-Từ cùng Đức Thành-Thái và Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường-Để”.</P>
<P>Xem vậy, không những truy tặng phẩm Quốc-sĩ đầu tiên Ban Thế-Đạo, mà còn đặc ân cho thờ chung với các vì vương, thì đủ rõ lòng yêu mến người chiến-sĩ của Đức Ngài như thế nào!</P>
<P>Khi Hội-Thánh Phước-Thiện trình về việc ông Giáo-Thọ Nguyễn văn Tuờng, đại-diện ông Đạo Nằm, Phật-Giáo Thiền-Lâm (Long Xuyên), xin về hiệp nhất vào Phước-Thiện, Đức Ngài phê:</P>
<UL><EM>“Cửa từ-bi Phước-Thiện vẫn mở rộng … Bần Đạo lấy làm vui đẹp và hân-hạnh mà tiếp đón họ, chỉ khuyên họ đừng quá mê tín mà thôi”.</EM></UL>
<P>Do phúc-trình số 329/PT, ngày 7.11.1952, dâng lên Đức Hộ-Pháp về việc Thiếu-Tá Khanh xin nhường chức Lễ-Sanh cho thân phụ là cựu Chánh-Trị-Sự Đỗ văn Cầm, 73 tuổi, Đức Ngài phê:</P>
<UL><EM>“Phê y và tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối-Sư lập Thánh-lịnh ân phong cho cụ Đỗ văn Cầm vào hàng Lễ-Sanh phái Ngọc (hàm phong). Còn Thiếu-Tá Khanh chỉ là một tín-đồ mà thôi.<BR>Bần Đạo để lời khen lòng hiếu thảo của Khanh, đáng ghi vào Đạo-Sử”.</EM></UL>
<P>Sau nầy, Đức Ngài giáng cơ phong cho ông Khanh làm Hộ-Đàn Pháp-Quân.</P>
<P>Đại-Đạo không phải là nơi nhường tước phẩm thiêng-liêng. Đây là trường hợp biệt lệ. Thứ nhất, cụ Cầm đã là cựu Chánh-Trị-Sự, tức đủ điều kiện lên Lễ-Sanh. Thứ hai, cụ đã 73 tuổi, không biết thăng thiên lúc nào, có thể không đợi Hội Nhơn-Sanh phán xét kịp. Đây chỉ có “phụ từ tử hiếu”, lòng hiếu động thấu đến lòng Trời mà thôi.</P>
<P>Bát Tính của Đức Ngài xin tóm lược bằng câu: <strong>“Tâm vô quái ngại, đại hùng, đại lực, đại từ-bi”.</strong></P>
<P>Với tám chương xây dựng nên Bát Tính của Đức Phạm Hộ-Pháp. Còn về hoạt-động giúp đời, giúp nước của Đức Ngài, xin để lịch-sử phán xét.</P>
<P>Về sự nghiệp Đạo, tác-giả chỉ nêu được những nét chính, còn biết bao nhiêu điều khác nữa, nên khó tóm tắt trong vài hàng.</P>
<P>Có điều chắc chắn, theo các Đạo Sử của bà Đầu-Sư Nguyễn Hương-Hiếu và của Ngài Trương Hiến-Pháp là <EM>“Không có Đức Ngài thì không có Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ, vì khi Đức Chí-Tôn đến với Đức Ngô Minh Chiêu, chỉ xưng là Thầy và ban hồng-danh Cao-Đài Tiên-Ông”.</EM></P>
<P>Thế nên, hình thể của Đạo Cao-Đài, danh từ “Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ” là do cặp cơ Cư - Tắc viết ra trong Pháp Chánh-Truyền trích từ Thánh-Ngôn của các Đấng, chớ không phải nơi nào khác. Ngay cả hình thể hữu-vi Đền-Thánh, Đền thờ Phật-Mẫu, Thánh-Thất đều do Đức Ngài chấp bút vẽ nên. Vì thế, bất cứ ai theo Đạo Cao-Đài cũng đều cần tìm hiểu về các hoạt-động tôn-giáo của Đức Ngài.</P>
<P><EM>(Chơn Dung Đức Hộ Pháp - Hiền Tài Trần Văn Rạng)</EM> </P>