Đạo Trưởng Thanh Long- Lương Vĩnh Thuật

nguoihocDao

New member
   1. <strong>Thời Kỳ Thiếu niên</strong>:
<br />      Đạo Trưởng Thanh Long sinh vào ngày 13-2 năm Mậu Ngọ (Thứ 2, 25-3-1918) Tại làng Kỳ Lam, Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam. Tên tộc là Lương Tam Sách, tên đi học Lương Hữu Thành.
<br />      Năm lên 5,6 tuổi đã bắt đầu học chữ Hán, ban đầu học các sách giáo khoa vỡ lòng sau chuyên học sách thuốc Đông y. Năm lên 9 tuổi bắt đầu học chữ quốc ngữ tại trường làng Nông Sơn.
<br />      Từ thời niên thiếu với bản chất nhẹ nhàng, tính tình vui vẻ, tư chất thông minh mau hiểu chóng thuộc, nhớ lâu. Những gì nghe qua một lần là nhớ mãi nên việc học hành đối với Đạo Trưởng khá dễ dàng. Năm lên 10 tuổi bắt đầu học nghề thuốc từ thân phụ và chữa bệnh cho các con vật trong gia đình và cũng ở tuổi này Đạo Trưởng đã biết rung cảm trước những mẫu chuyện bi hùng, những tấm gương hy sinh của các bậc chí sĩ yêu nước. ĐT cũng đã biết làm thơ, viết những câu đối từ tuổi thiếu thời ví như khi ĐT được 13 tuổi trong lúc đi quăng con chuột chết đã làm câu đối sau:
<br />                          “Sống chẳng ích gì, đục khoét của đời, đời chán ghét
<br />                            Ch ết    còn có ích, thịt xương thành đất, đất thêm phân”
<br />      Tới năm 14,15 tuổi ĐT đã biết dịch, biết làm thơ, biết quan niệm được thơ để bộc lộ ý chí của con người và đặc biệt ĐT đã có được nghề thầy thuốc Đông Y trong tay.
<br /> 2.<strong>Thời Kỳ Nhập Đạo</strong>:
<br />    a. <strong>Nhập Môn</strong>:
<br />      Đạo Cao Đài truyền ra Quảng Nam là duyên do của 2 gia đình bà Mục Cưu Trần Thị Cải và ông Xã Xước Trần Công Trác. Hai gia đình này có ĐT Trần Công Bang (Ba Nga) con ông Xã Xước và ĐT Lê Văn Liêm con của bà Mục Cưu vào làm ăn ở Sài Gòn và nhập môn Đại Đạo. Quý vị này đã viết thư về khuyên nhủ gia đình theo Đạo và gởi kinh sách, thánh giáo ra quê. Hai gia đình này theo đạo và thờ Thầy. Tuy nhiên do lúc bấy giờ ở Miền Trung có đạo dụ số 10 của Vua Bảo Đại “Nhất Thiết Cao Đài thư tịch, bất đắc truyền bá trung kỳ” nên việc tu hành, tụ tập rất khó khăn và phải làm lén lút. Trong thời điểm ấy, thân phụ của Ngài ĐT Thanh Long vừa mới qua đời, trong lúc gia cảnh đau buồn ĐT thường tham gia nghe Thánh Giáo Đại Đạo và cúng nước. Và đặc biệt với tư chất vốn có của mình Ngài rất thích bài ngụ đời của Đức Lý Thái Bạch giáng cơ. Chính bài ngụ đời này thúc đẩy ĐT nhập Môn Cao Đài ngày 9-1 Năm Quý Dậu (3-2-1933) tại Thiên Bàn nhà Bà Mục Cưu. Và kể từ đó Ngài cùng nhóm đạo tâm trẻ tuổi ở Quảng Nam phát nguyện xả thân học Đạo, Tu Đạo và Hành Đạo.
<br />       Sau một thời gian ngắn, Đạo Cao Đài ở Quảng Nam đã bị chính phủ dòm ngó và bắt bớ, một số gia đình đạo tâm muốn việc tu hành dễ dàng hơn nên đã di dời vào Sài Gòn sinh sống. Đạo Trưởng cùng một số ít thanh niên ở tại quê nhà để tiếp tục tu học nhưng không còn rầm rộ như trước. Lúc này ĐT mới lên tuổi 16 nhưng có tác phong đạo hạnh, và đã trở thành một thầy lang chuyên chữa bệnh cho gia đình và người trong xóm. Cuối mùa thu quý Dậu, Đạo Trưởng trở thành một thầy thuốc thật sự và nổi tiếng danh y nhờ cải tử hoàn sinh cho một người cùng làng.
<br />   b. <strong>Được Ơn Trên Tuyển Dụng Phò Loan</strong>:
<br />       Đêm 1-10 năm Quý Dậu (1933) Đàn Cơ tại Huỳnh Long Phủ ở xóm Gà Gia Định, Đức Lý Giáo Tông dạy Đạo Trưởng Lê Kim Tỵ cho đòi Lương Tam Sách (16 tuổi), Lê Văn Phụng (18 tuổi), Lê Văn Quy (15 tuổi), Trần Công Sĩ (13 tuổi) có lệnh dạy.
<br />      - Đêm 30-10 Quý Dậu (1933) Đạo Trưởng cùng Lê Văn Phụng, Lê Văn Quy, Trần Công Sĩ theo chân ĐT Trần Công Ban và Lê Văn Liêm đến Huỳnh Long Phủ trình diện Đức Lý Giáo Tông. Đêm ấy đức Lý Giáo Tông về dạy như sau: “Bần Đạo cho đòi Sách, Phụng, Quy, Sĩ đến truyền thánh ý lập 2 cặp phò loan, Sách dương Phụng Âm một cặp, Quy dương Sĩ âm một cặp, bộ phần Phò Loan này có sứ mạng phổ thông Chơn Đạo trong đại sau này. Tỵ hiền đệ có trong trách trong sứ mạng ấy hiền đệ phải bảo trợ chu toàn dìu dắt, Bang Liêm luyện tập và hướng dẫn, Pháp hiệu và các việc khác Bần Đạo sẽ dạy sau”. Và Đức Lý dạy tiếp “Sách, Phụng, Quy Sĩ các tiểu đồng có nhiều ân phước được tuyển vào hàng sứ đồ hãy cúc cung tận tụy tuân hành Thiên mạng, vâng lời các đàn anh làm tròn nhiệm vụ, ngày sau có trong công, ắt có trong thưởng”. Bộ phận phò loan này đều đang ở tuổi thiếu niên từ 13->18 tuổi nên được ơn trên gọi là tiểu đồng hay đồng tử.
<br />      c. <strong>Đồng Tử Tứ Linh và Sứ Mạng Truyền Giáo</strong>:
<br />        Đêm 30 rạng sáng ngày 01-12 Giáp Tuất (1934) Đạo Trưởng Lê Kim Tỵ đưa 4 vị đồng tử đến chứng lễ khai đàn thiết lập đàn cơ. Đức Lý về giáng đàn dạy nghi thức minh thệ, trấn thần Ngọc Cơ và ban đạo hiệu cho bộ phần đồng tử
<br />                 <strong> Lương Tam Sách Đạo Hiệu Thanh Long
<br />                  Lê Văn Phụng Đạo Hiệu Bạch Phụng
<br />                  Lê Văn Qui Đạo Hiệu Kim Quy
<br />                  Trần Công Sĩ Đạo Hiệu Xích Lân</strong>
<br />      Pháp hiệu chung là <strong>Tứ Linh Đồng Tử (Long, Lân, Quy, Phụng)</strong> giao cho Trần Công Bang,      Lê Văn Liêm pháp đàn, Thân Đức Giang điển ký.
<br />      Giờ tý ngày 15-2 Giáp Tuất (1934), Tại Bác Bửu Điện(1 trong 72 Thánh Tịnh của Hội Thánh Tiên Thiên) nghi thức lễ khai khiếu và Hồng Thệ cho bộ phận đồng tử Tứ Linh đã diễn ra.
<br />      Đêm 25-7 Giáp Tuất (1934) lệnh Ơn Trên dạy Đồng Tử Tứ Linh chuẩn bị thi hành sứ mạng Phổ Truyền Chơn Đạo khai giáo Trung Kỳ.
<br />      (còn tiếp)
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
<br />Tài liệu tham khảo chính: Hồi Ký Đạo Trưởng Bảo Pháp Thanh Long
 

nguoihocDao

New member
      Đêm 24-8 Giáp Tuất (1934) Đức Cao Đài giáng dạy và chính thức trao truyền Sứ Mạng Truyền Đạo Trung Kỳ cho Giáo Sư Trần Công Bang và Đồng Tử Tứ Linh.Nguyên văn bài dạy hôm ấy như sau:
<br />                          “    <strong>Ngọc</strong> chỉ ban ra dạ nghẹn ngùng
<br />                                <strong>Hoàng</strong> cầu thế giới vẫn trời chung
<br />                                <strong>Thượng</strong> cờ qui phất Minh Chơn Đạo
<br />                                <strong>Đế</strong> mạng chừ ai gánh vác cùng.
<br />     Thầy mừng các con. Thầy rất vui cho đàn hôm nay các con chí thành mà bàn đến Thiên Cơ, Thầy rất lo cho các con xoay tròng ngày qua tháng qua rồi lại mất, cơ âm dương phát động cuộc Thế Giới đao binh, trước từ đông phương đến tây phương, các sắc dân các chủng tộc phải chịu cảnh tiệu diệt máu chày thành sông xương chồng tợ núi. Than ôi! Chính mình Thầy đến khua chuông cảnh tỉnh đánh trống giác mê gây thuyền Bát nhã phất cờ qui nguyên, lấy đức nhẫn nại tình thương làm hướng đạo để qui tụ các con đem về một mối. Cái mối mà Thầy dắt cho các con đây chính là mối chung thiên hạ, không phân Nam Bắc chẳng luận Đông Tây, bắt tay nhau đi đến thế giới hòa bình Nhơn nhi vô nhơn, ngã nhi vô ngã còn cuộc quả bao lịch kiếp giảm tăng là lý đương nhiên của nhân loại
<br />...
<br />Ngày nay một phận sự quan hệ là Truyền Đạo Trung Kỳ, Bang, Thầy sai con và Tứ Linh Đồng Tử khá kịp về Trung đặng hoát khai Chơn Đạo
<br />...
<br />Vẫn biết Trung là khó, các con phải chịu khó hơn ai hết, mà không sao con, chi chi cũng có Thầy. Nếu Thầy sai một con nào có tên tuổi e không khỏi điều tắc trở, vậy con chớ chối từ.
<br />....
<br />                               <strong>Bang</strong> nặng gánh đôi vai triều triệu
<br />                               Khó nổi trung, nổi hiếu, nổi tình.
<br />                               Đường đê chân bước gập ghình
<br />                               Dầm mưa chải gió thân mình quản chi.
<br />                               Thầy dặn con những khi vắng vẻ
<br />                               Con đề phòng những kẻ như con
<br />                               Nhẹ lòng lấp bể dời non
<br />                               Sao mà cho đáng là con của Thầy!
<br />                               <strong>Giang</strong> đã biết nơi này là khổ.
<br />                               Quyết đem mình đến chỗ vô sanh.
<br />                               Dốc lòng cùng bạn cùng anh,
<br />                               Làm trai nghĩa vụ hy sanh phải là.
<br />                               Thầy đã nói đạo là phương thuốc.
<br />                               Con phải nhìn thời cuộc đa mang.
<br />                               Bệnh nhân gặp phải danh lang,
<br />                               Còn vương lấy bệnh tại chàng muốn vương
<br />                               <font color=blue><strong>Thanh Long</strong> con đường trường giục ngựa.
<br />                               Mảnh thân sinh đứng giữa trần gian
<br />                               Vui chi cười buồn chi than,
<br />                               Hễ càng cay đắng, con càng nên con
<br />                               Tranh Thiên cổ nét son tô điểm
<br />                               Hội vạn linh thử kiếm anh tài
<br />                               Nhấm biết đắng, nếm biết cay,
<br />                               Phải người vì đạo, hiếm tay thương đời.</font>
<br />                               <strong>Bạch Phụng</strong> con mạng Trời phụng lãnh
<br />                               Gánh nhơn sanh là gánh chung cùng.
<br />                               Vì ai, ai đợi, ai trông?
<br />                               Cây ngô dấu phụng đã không thấy rồi.
<br />                               <strong>Kim Qui</strong> con thì thôi nhân sự.
<br />                               Cuộc tuần hoàn hỏi thử sao đây?
<br />                               Bương theo cho kịp gót Thầy,
<br />                               Cam lai khổ tận hiếm ngày đó con.
<br />                               <strong>Xích lân</strong> nhớ lo tròn phận sụ
<br />                               Cùng anh em vẹn giữ thủy chung.
<br />                               Phong sương tùng mới phải tùng,
<br />                               Đường xa vững chí ngại ngùng chi con.
<br />                               <strong>Châu</strong> độc giả lo tròn độc giả,
<br />                               Phận sự con Thầy đã định phòng
<br />                               Bao giờ <strong>Hổ</strong> hội cùng <strong>Long</strong>
<br />                               Bên ngoài sắp đặt bên trong an bày.”
<br />      Theo lệnh ơn trên, Ngày 15-9 Giáp Tuất (1934) đoàn Sứ Giả lên đường khai giáo Trung Kỳ, từ ấy trang sử Đạo miền Trung được mở ra.
<br /><strong> d. Gắn Liền với cơ Đạo Trung Hưng:</strong>
<br />     Ất Hợi (1935) Đồng Tử Tứ Linh gãy gánh giữa đường như lời Đức Cao Đài đã giáng dạy trước đó:
<br />                           “     <strong>Long</strong> con hãy nặng phần trách nhiêm
<br />                                   <strong>Bang Qui, Lân, Phụng</strong> nhắm rừng non
<br />                                   <font color=blue>Lời <strong>Thầy</strong> gắng nhớ nghe con,
<br />                                   Dầu chi chi nữa cũng còn <strong>Thầy</strong> đây</font>”
<br />      Không còn Đồng Tử Tứ Linh , theo thánh lệnh ĐT Thanh Long kết hợp với ĐT Trần Quang Châu Hiệu Bạch Hổ tạo thành cặp Phò Loan Thanh Long- Bạch Hổ như Thiên cơ đã định:
<br />                             “Bao giờ <strong>Hổ</strong> hội cùng <strong>Long</strong>
<br />                                   Bên ngoài sắp đặt bên trong an bày.”
<br />
<br />       Sau những biến cố dồn dập xảy ra với đoàn truyền giáo Trung Kỳ, Ngài rất đau buồn về sự ra đi đột ngột của những người anh, người bạn đạo thân thiết. Đồng thời cùng thời điểm ấy với nhiệt huyết tuổi 17, ĐT Thanh Long rất thán phục nhân vật An Tiêm trong truyện “Quả Dưa Đỏ” của tác giả Đồ Nam Nguyễn Trong Thuật. Vì quá kính mến cụ Nguyễn Trong Thuật, và theo như lời ĐT để ghi nhớ tinh thần tri ngộ giữa già và trẻ, giữa bậc tiền nhân và hậu bối, ĐT xin phép cụ Nguyễn Trọng Thuật đổi tên mình thành Lương Vĩnh Thuật và tên ấy gắn liền với cuộc đời Ngài.
<br />(Còn Tiếp)
<br />
 

Facebook Comment

Top