Ngày Giỗ Chư Thánh

hien_trunghien

New member
Ngày mai là mùng 10 tháng 7 Âm Lịch, toàn bộ tín đồ của HTTG sẽ thành tâm hồi hướng về các Chư Thánh Tông Đồ đã nguyện hy sinh thân mình để giữ vững mối đạo còn sơ khai tại Trung Kỳ.
Tối nay 9-7 ở Linh Tháp tại Quảng Ngãi sẽ có lễ để tưởng nhớ đến Chư Thánh Tông Đồ. mong huynh tỷ nào có hình ảnh hay tin tức gì sẽ chia sẽ để anh em chúng ta cùng có cơ hội hồi hướng đến Chư Thánh Tông Đồ.
Mong Huynh Tỷ nào có các bài viết về Chư Thánh hay những bài tìm hiểu về sự kiện này(trong chừng mực của diễn đàn), sẽ cùng chia sẽ để cùng nhau tưởng nhớ đến tấm gương hy sinh của các Chư Thánh Tông Đồ.

Mong được sự đóng góp của quý huynh tỷ
 

dtcl

Administrator
Có 1 bài hát để tưởng niệm công đức Chư Thánh Tông Đồ, không biết quý huynh tỷ nào biết không?
 

Trung ngôn

Active member
Gần 50 năm qua, Chư thánh Tôn đồ đã để lại một trang sử hào hùng, một dấu son đỏ trên tiến trình đưa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ra Trung phần và rồi cả Bắc phần.
Mời chư Huynh tỷ cùng đọc lại bài Thánh ngôn để biết người xưa đã trọn tin nơi Thượng Đế như thế nào; lấy đó làm tấm gương soi trên con đường tu học của mình. Quá khứ đã khép lại, các thử thách "ngoại lai" không còn nhưng chướng ngại "nội tại" vẫn còn đó; Cơ đạo cứ mãi dùng dằng ...
Cầu xin Chư thánh tông đồ hộ trì cho Cơ đạo Trung Hưng; soi dẫn cho Anh Chị Em chúng em.
Trích từ Thánh Truyền Trung Hưng, HTTG Cao Đài.
__________________________________
Linh Tháp, ngày 16-12-ĐĐ.33 (Mậu Tuất)
(24-01-1959)

THI

THÁI bình duyên khởi ở từ đây,
BẠCH bạch minh minh đã hiện bày;
KIM nhựt quyết tâm tùng Chánh Pháp,
TINH minh vẹn ở chỗ tin THẦY.

Chào chư Thiên ân chư Chức sắc Chức việc và toàn thể Đạo tâm.
Đứng trước ngôi Linh Tháp các Đấng Tông đồ chư Đạo tâm quá cố, Lão bùi ngùi giọt lệ, hạ cố tỏ lòng quí mến!
Lật qua các trang sử Đạo, những nét oai hùng một chấm, một phết đều tỏ ra cương cường mảnh liệt! Kéo qua những bức màn, trông cả một sự uy nghi Quyền Pháp, ai thấy không kinh sợ e dè! Những Thiên ân Hướng Đạo giác ngộ lãnh lấy một trọng trách, xây dựng công cuộc cứu thế, đã trải qua không biết bao đoạn đường đầy ghê sợ, mà lòng không nao núng trước một sứ mạng tiền đồ sự nghiệp ngày mai.
Nền Đạo chỉ 32 năm, mà trên lịch sử đã đánh dấu nhiều giai đoạn quan trọng vô cùng, Hướng đạo đã làm gì đóng góp vào công cuộc truyền bá Đạo Trời xây dựng nền tự do hòa bình cho nhơn loại?
Ôi! Biết bao người đã tuẫn tiết hy sinh đổi lấy hạnh phúc cho đời, hoàn cảnh đã đưa đến cho đời trăm ngàn gay go thắc mắc, đường đầy chông gai, thân nhiều tai nạn, khắp trên dãi đất Việt Nam làm nơi nung đúc can trường chí hướng không đầu hàng bất cứ một trường hợp nào nghịch với lương tâm, chống cùng Thánh ý, nên họ phải chịu tù đày ở khắp các Côn Đảo cheo leo, những rừng sâu nước độc, những khám ngục hiểm nghèo, các nhà giam yếu trọng, họ từng đói rét, chưn cùm tay kẹp, thân bị nỏ bị tra, ngồi trên ổ kiến, nhốt trong ngục mù, lấy thân chịu đựng với Đất Trời, ngọn roi xé thịt, tiếng chửi đầy tai! Ngày một vắt cơm, đời cùng gió bụi, cũng có người bị treo hàng tháng, bị trói hàng tuần, bị xô thân vào lửa, ném thân xuống hầm, đổ thân ra bể, đời của Hướng Đạo trăm đắng ngàn cay, cũng đã biết bao nhiêu người chết vì súng, chết vì dao, chết vì ngộp thở, chết vì hỏa thiêu, vì thuốc độc, mà lòng họ luôn luôn tươi cười bình tĩnh không một mảy may lo sợ, không một lời chối cãi, họ đã nhận ra sứ mạng cứu thế đã đến, Quyền Pháp đã trao bày, người của họ lúc nào cũng tinh minh thể Thiên hoằng Đạo, họ thân yêu gần gũi cùng mọi người mà nhất là lân mẫn hòa thân cùng Đạo hữu, chia sẻ nỗi lòng chung sống với người trong mọi cảnh ngộ, nên giữa Hướng đạo và nhơn sanh đã kết chặt một tràng thân yêu tin cậy.
Người Hướng đạo vị nhơn sanh thế Trời mà dìu dắt, nên lòng thiết tha, ngày hằng ưu tư, dù khổ dù sướng cũng cùng với Đạo hữu mà chia sẻ mối tình thiêng liêng huyết thống, lòng vô ngại như như, nhơn sanh đói khổ họ không dám ăn ngon ngủ ấm, Đạo hữu gặp tai biến họ rất lo buồn, cởi áo ngoài cho kẻ rách, đưa nón che cho người gặp mưa, nhường cơm cho kẻ lỡ bước, lòng Hướng Đạo lân mẫn ân cần, lúc nào thái độ cũng tỏ ra khoan thai đúng đắn.
Vì vậy mà họ đi đâu nhơn sanh theo đó, ở trong ngục cũng đến thăm, xa vắng đôi ngày đều nhớ thương han hỏi. Nhơn sanh cùng Hội Thánh xe săn một mối thân hòa, một niềm tin tưởng. Vì vậy mà bao phen dời đổi mà lòng giữa nhau chẳng chút mẻ sờn, chinh biến mấy lần Hội Thánh tản cư Đạo đồ đều kéo nhau đến đốn lá che chòi, khai rừng làm ruộng để cùng ăn cùng ở, chết sống có nhau, tình thiêng liêng cột chặt, đôi bên ràng rịt yêu mến, kẻ sĩ làm công chức chia lương, kẻ nông làm ruộng nhà bỏ lúa, người buôn lấy lãi góp vào, người thợ người thuê đến cất trại làm nhà, hiến công bỏ của.
Ôi! Quí hóa thay! Hội Thánh anh minh ta ôi! Hướng đạo anh dũng ta ôi! Chư Đạo đồ nhiệt tín trung thành ta ôi! Gương tốt đẹp kia còn treo đó, cả một sự mạnh mẽ oai hùng. Nào Huỳnh Ngọc Trác, Trần Nguyên Chất, Cao Hữu Chí, Nguyễn Chơn Khai, Nguyễn Như Sơ và biết bao người nữa. Họ làm những việc phi thường lãnh lấy chức anh hùng vô danh.
Và còn bao người sống sót lại đây, đứng trong hàng Thiên ân Hội Thánh để hoàn thành sứ mạng, thì người Hướng đạo ngày nay không ai khỏi những hoàn cảnh mài giũa, thời gian nấu nung, từng vào tù ra tội quên thân lãnh lấy gánh Đạo, xa gia đình, lìa vợ con, bỏ lợi danh, quên khổ nhọc, suốt một thời gian liên tiếp không chối chạy lơ là, qui giới vững, đạo hạnh tròn, thịt cá nhét vào miệng họ cũng nhả ra, tiền bạc đưa vào tay họ không chịu lấy, gươm súng giơ trước mặt, họ cũng một dạ vì Đạo cùng THẦY, không đầu hàng trước mọi ngăm nghe cám dỗ. Người ấy cũng đã xứng đáng làm anh Hướng Đạo của chư Đạo hữu!
Chư Đạo hữu Nam, Nghĩa, Bình, Phú ôi! Có thấy những vai Quyền Pháp lãnh đạo, THẦY đã nhắc lên để dẫn đầu đưa bước cho thiện tín tìm đến đường sống chơn thật đời đời. Thời các Đạo hữu coi ai là người chưa đáng làm anh Hướng đạo.
Bởi vậy mà hôm nay người tài ba lý trí sao thấy được công phu sự nghiệp tu hành, cả một quá trình của họ đầy yêu thương lành mạnh rồi chê hay nói dở, so sánh nhứt thời, làm sao thấu được lẽ huyền vi mối công bình của THƯỢNG ĐẾ.
Đây Huỳnh Ngọc Trác còn đứng kia, sừng sững uy nghi, đưa tay dắt nhơn sanh theo về với Đạo, Huỳnh Ngọc Trác đã dẫn đầu một số Đạo hữu ở tỉnh này tỏ ra một can trường Bồ Tát. Chết chết mà thôi không chịu bỏ tu chối Đạo. Họ anh minh trung tín, quyết đổ máu đào nhuộm cờ Đạo, họ chui thân xuống hầm để người ta lấp. Họ lớn tiếng hô lên CAO ĐÀI THƯỢNG ĐẾ Cha lành đến cứu con! Ôi! Cái chết đã trở nên giá trị tô thêm cho trang sử Đạo oai hùng. Nên hôm nay nơi đây con mất cha, vợ mất chồng, anh mất em, cũng vì Đạo cả. Họ đã hiện thân trong trắng mà xây nên lầu đài bình đẳng bác ái, xương họ sắp theo thứ tự để xây nên bức tường kiên cố cho Đại Đạo, thịt họ đổ ra để đắp lấy móng nền chan máu đỏ lòng lành mà làm hồ tô vách.
Ôi! Các Thánh Tử Đạo danh dự thay! Thế mà họ chết rồi! Nhà của họ cũng bị đoạt phá! Của ruộng họ cũng bị tịch thu! Con vợ họ bị hà hiếp, sử Đạo nét mực đậm đà, nơi đây là những ngôi sao tỏ sáng các Thánh anh minh!
Thế giới nhơn loại sau nầy ai đi ngang qua không kính mến mà cúi đầu trước Đài Tử Đạo.
Bởi vậy nhờ lòng nhiệt tín trung thành, nhờ cái can trường Bồ tát, nhờ tình đồng Đạo thương yêu mà hôm nay THẦY mới chọn lấy nơi nầy nhắc lên Hội Thánh, trao sứ mạng Trung Hưng.
Sứ mạng Trung Hưng đã chọn đặt vào Hội Thánh Truyền Giáo, là bởi toàn Đạo có cái lòng hy hữu, có cái chí yêu đời, có cái gan Bồ tát mà THẦY mới trao Quyền Pháp, dựng huyền cơ đưa bước nhơn sanh mở con đường sống.
Sử Đạo đã nên giá trị, mà nơi đây được đóng góp một phần xương máu thì ân phước biết ngần nào. Nền móng và sự nghiệp con anh của Đạo hữu đã đắp nên vững chắc, thì sao được Đạo hữu nơi nầy không cố gắng để gìn giữ cái gia tài kia mà hưởng, lại thờ ơ tu hành bê trễ, qui giới không gìn, Quyền Pháp không trọng, công phu công quả không chuyên còn ngắm đó trông đây, sao không noi cái chí anh dũng cao cả kia, thật Lão lấy làm thương, mong sao mạnh bước tiến lên kẻo để trễ lỡ cơ hội quí. Thôi tái cầu THẦY đến ban phước huệ.
Lão chào, Lão thăng.

TIẾP ĐIỂN:

THẦY các con, THẦY mừng các con.

THI

NGỌC lành sao trẻ chẳng giồi trau,
HOÀNG phụ mong con gắng tạo đào;
THƯỢNG chí chớ sờn gan tiết nghĩa,
ĐẾ đầu sớm tối Pháp Quyền trao.

THẦY lấy làm khổ tâm cho những con kém giác ngộ, lời châu tiếng ngọc đã lắm phen to nhỏ dạy bày, tình thương yêu điều độ như phăng gan rút ruột để vào lòng các con, rồi tỉnh đó, mê đó, thiệt là căn quả nặng nề; nghiệp oan lôi cuốn, mà phải lanh quanh trong rọ tài, sắc, lợi, danh bỏ không đứt, dứt không đành, thì cơ xáo lộn đến đây còn phương nào cứu ra cho khỏi.
Bởi vậy, đời còn mê luyến mà có thấy gì phải quấy chánh tà. Nếu mãi vầy, thì chừng nào mới ăn năn quay về cảnh cũ!
Nơi Tỉnh Đạo nầy các con còn kém sút quá! Không mạnh mẽ tiến lên, để đón lấy Hồng ân mà đóng góp một phận sự Quyền Pháp để cứu đời độ mình.
Ân phước lắm là Tỉnh nầy đã có nhiều kỳ công xá sinh vong kỷ mà đắp tô nền tảng giáo lý. Sao các con không kế tiếp xây dựng lên đó một lâu đài hạnh phúc cho mình. Các con cũng thấy sự đời sớm có, chiều không, thở vô thì còn, thở ra thì mất, danh lợi tợ chiêm bao, tài sắc như khói lửa, mà không lo cứu lấy phần hồn. THẦY chỉ mong con giác ngộ. Có giác ngộ mới thấy đạo đức là quí, tu hành là phước, thì đức tin mới cứng mạnh, lòng thành hiện ra, Quyền Pháp mới trọn, Thánh linh được đến, con đường thành Tiên tác Phật cũng chẳng khó gì!
Vì nơi nầy các con thiếu giác ngộ mà công quả cũng ít, công phu cũng lơ là, mà công phu lơ là thì trí tuệ đâu được, trí tuệ không có thì vô minh phiền não dẫn dắt đời con. Công quả không làm thì phước đức đâu thấy, phúc đức không có thì tai họa đến thân, nghiệp chướng kéo lôi vào vòng đen tối. Nên THẦY muốn cứu con, đòi hỏi vào lòng con bằng sự giác ngộ, có giác ngộ mới trọng Đạo mến đức, yêu người kỉnh Trời. Lòng tin kỉnh đã có, thì con đường Phật Tiên cũng dễ như lật bàn tay.
Vậy các con bình tĩnh mà suy xét, dừng bước đời mà trở lại cùng THẦY, thì lo gì Quyền Pháp không được giao phó.
THẦY muốn tạo cho con nơi nầy một trường công quả, để các con thi nhau mà chuộc lấy tội tình, xây dựng một cuộc đời hạnh phúc ở đời này, khi chết thì linh hồn cũng thong dong nơi miền Cực lạc. Nếu các con tu mà không sửa thì suốt kiếp khó thành. Tu không lập đức bồi công cũng như ở không mà chờ của bổng.
Vậy mạnh lên mà giỏi giắng đi con! Qui giới là bờ bạn của người tu, lời răn của Quyền Pháp, rán lo giữ giới trọng Tam qui.
Chư Thiên ân phải làm gương mà đẩy bước Đạo
cho con cái của THẦY, đâu đâu cũng được tiến đều, đâu đâu cũng sống liền trong Thánh thể. Các con phải thương yêu và thành thật với nhau, để giúp lẫn nhau mà thẳng bước về THẦY, đừng để phiền lòng THẦY, mệt cho Hướng Đạo mà mất phước đi con!
Các lời giáo hóa của Lý Bạch nghe đó mà mau mau tỉnh ngộ!

BÀI

Đường về Thiên quốc mau lên,
Có THẦY dẫn lối con nên vững lòng.

Theo THẦY thì được thong dong,
Không nghe thì mãi lòng dòng trầm luân.

Đường đời danh lợi dừng chân,
Còn mê luyến phải tấm thân đọa đày.

Có không như lật bàn tay,
Khổ vui, vui khổ mấy ai tỉnh hồn.

Tu hành con sớm lo bôn,
Cho tròn đạo hạnh kỉnh tôn d.

Cuộc đời diễn biến kinh thiên,
Không tu sao được bình yên cho mình.

Đây kìa thế giới đao binh,
Nhơn dân khốn đốn yêu tinh hại đời.

Lo tu để được phước Trời,
Tránh tai thoát khổ thảnh thơi cho lòng.

THẦY ban ơn các con, THẦY thăng./.

 

Hao Quang

New member
tưởng nhớ các Bậc Hướng Đạo đã hi sinh!
Tháng 8 và tháng 9 năm 1945 là những tháng ngày đau buồn nhất của các tín hữu Cao Đài Đại Đạo các hội thánh miền Trung và cà nước khi diễn ra cuộc thảm sát tại quảng Ngãi!
Vụ thảm sát xảy ra trên tất cả các phủ - huyện của tỉnh quản ngãi như: Bình Sơn, Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành những nơi đều có các Thánh Cao Đài như Tây Ninh, Bến Tre, Truyền Giáo, Tiên Thiên ..
Dù bị tra khảo nhưng các tín đồ quyết không chối Đạo!


linh tháp tại quảng ngãi được xây dựng để tưởng niệm các bậc hướng Đạo và Tín đồ Cao Đài đã hi sinh!
và những ai là tín đồ Cao Đài, những ai có cảm tình với Đại Đạo khi đi ngang qua nơi này nhớ ghé một lần để tưởng nhớ ...tại noi này 50 năm về trước các bậc hướng Đạo Cao Đài đẽ vẻ nên một trang sử hào hùng với đức tin mãnh liệt vì Thầy vì Đạo! là một tấm gương sáng cho hậu bối soi theo!

Linh tháp tưởng nhớ chư thánh tông đồ

Đền Thờ các bậc Hướng Đạo tại Quãng Ngãi​
 

quynhuyengoc

New member
Đến nay mới gia nhập được diễn đàn này, lại đọc được mục này xin gởi bài viết này, nguyên của gia đình hiền đệ Nguyễn Quốc....nguyên ở tại Thánh Thất Trung Quang Bình, Quảng Nam, để cho quý huynh tỷ tham khảo.
<!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if !mso]><object classid="clsid:38481807-CA0E-42D2-BF39-B33AF135CC4D" id=ieooui></object> <style> st1\:*{behavior:url(#ieooui) } </style> <![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]-->
Tiểu sử Thánh Nữ Nguyễn Thị Lan
(1913-1945)

Thánh nữ sinh ngày 06-07 năm Giáp Dần(1913). Con ông Giáo thiện Nguyễn Trung(tên thường gọi là ông Hương Dung) và bà Nguyễn Thị Hòe tại làng Đại Bình, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Thánh nữ khi lên đến 12 tuổi thì mẹ qua đời. Trong gia đình có 7 anh chị em. Nay còn lại một em trai là Sĩ tải Nguyễn Quốc Tín và 3 người em gái cùng cha khác mẹ tên là Tám, Chín Mười.
1/ Về học lực :
Thánh nữ theo truyền thống gia đình học được một ít chữ Nho. Riêng Quốc ngữ tại địa phương lúc bấy giờ chưa có thầy dạy. Năm 16 tuổi, gia đình cho Thánh nữ đến một làng khác để theo học chữ Quốc ngữ . Nhờ bản chất thông minh, tinh thần hiếu học,có trí nhớ tốt nên sau một thời gian ngắn,Thánh nữ đã biết đọc biết viết thông thạo. Thánh nữ yêu thích văn thơ nên thuộc làu làu hai áng văn cổ là Truyện KiềuLục Vân Tiên.
2/Về nghề nghiệp :
Sinh sống trong một môi trường nông thôn, nếp sống gia đình thuần nông, nên ngay từ còn nhỏ, mẹ lại mất sớm, sẵn bản tính cẩn cù, chịu khó, lại được bà Nội dạy bảo chu đáo nên Thánh nữ rất thạo việc đồng áng lẫn quán xuyến việc nhà, nữ công gia chánh. Gặp những kỳ giỗ chạp của gia đình, một tay Thánh nữ lo liệu trong ngoài, đảm đang chu tất.
3/ Về tín ngưỡng :
Ngày sóc vọng hằng tháng, Thánh nữ thường theo thân phụ đến am Chiêu Võ Tự, thờ Đức Quan Thánh Đế Quân để lễ bái, cầu nguyện, tụng kinh Đức Quan Thánh. Từ đó hình thành một ý hướng tâm linh và nuôi dưỡng đức tin về thiêng liêng tạo cơ duyên cho việc gặp Đạo Thầy sau nầy.
4/ Về Đạo hạnh :
Trong gia đình, Thánh nữ là người con hiếu thảo với cha mẹ. Đối với thân tộc đôi bên Nội Ngoại và với chòm xóm cũng được sự thương yêu, quí mến và tin cậy. Bản chất thật thà, tác phong nết na đằm thắm, lời ăn tiếng nói dịu dàng, đúng mực. Nhưng tố chất kiên cường, thẳng thắn, giàu nghị lực. Song, sống trong môi trường xã hội lúc bấy giờ ở miền sơn cước nên văn hóa chưa phát triển, thân gái đi lại phương xa khi vắng vẻ thường hay gặp nghịch cảnh. Do đó, thánh nữ xin phép thân phụ đến nhà người bà con bên ngoại là ông Bùi Hý, một võ sư đệ nhất tại Quảng Nam xin truyền thụ võ nghệ để rèn luyện sức khỏe và tự vệ bản thân.
5/ Gặp Đạo Thầy :
Đến khi cơ Đạo miền Trung khai mở, năm 1936, Đạo Cao Đài phát triển mạnh mẽ tại Quảng Nam, lan rộng dần lên miền núi, Thánh nữ thường hay theo bà Thìn, là vợ ông Kha(Người bà con trong tộc) về tại Thánh tịnh Thanh Quang để nghe Ngài Phối sư Nguyễn Quang Châu dạy Đạo. Duyên lành đã đến, từ đó về sau, tháng nào thánh nữ cũng có mặt tại Thánh tịnh Thanh Quang hay Từ Quang để tìm hiểu giáo lý, tuy chưa nhập môn nhưng lòng rất tín thành, phát tâm hồi hướng.
Đến năm 1937, ông Nguyễn Phương(tức ông Kha) cùng thân sinh của Thánh nữ làm giấy đứng tên, phát tâm hiến cúng cơ sở Chiêu Võ Tự, là nơi thờ bái Đức Quan Thánh cùa tiền nhân trong bổn tộc đã tạo dựng từ thời vua Minh Mạng năm thứ 20, nay đem hiến cúng cho Giáo hội Cao Đài để làm thiên bàn thờ phượng Đức Chí Tôn.
Ngày rằm tháng 7 âm lịch năm đó, đích thân ngài Phối sư Nguyễn Quang Châu về Chiêu Võ Tự tại làng Đại Bình làm chủ lễ thượng Thánh tượng, lập Thiên bàn cho xã đạo Đại Bình. Cũng trong ngày đó, Thánh nữ cùng gia đình cùng thọ nguyện nhập môn, chính thức là tín đồ Cao Đài giáo.
Nhập môn xong, Thánh nữ rất chăm lo đi lại Thiên bàn chầu lễ, cúng tứ thời, học thuộc rất nhiều Thánh giáo dạy Đạo, đặc biệt là Huấn Nữ Từ Âm. Trong những kỳ đàn lệ,Thánh nữ rất say sưa, hăng hái đọc thánh ngôn, Thánh giáo cho quí chị em nữ phái cùng nghe, gây nên một phong trào tu học rất sôi nổi.
Năm 1940, Đoàn Thanh Xuân Tân Sinh Hoạt do Ngài Phố sư Nguyễn Quang Châu thành lập tại Thánh tịnh Thanh Quang. Thánh nữ cùng với chị Phan Hương Thôi, là bạn chí thân vào Đoàn một lần. Từ đó, Thánh nữ phát tâm trường trai và có tâm nguyện thoát ly gia đình, xuất thân hành đạo.
Cơ Đạo ngày càng phát triển mạnh. Năm xã miền tây thuộc huyện Quế Sơn đã hình thành nhiều cơ sở tín ngưỡng gồm 3 thánh thất là Trung Bình, Trung Quang và Liên Hòa. Không những phát triển về số lương tín đồ mà còn tạo ảnh hưởng, thanh thế lớn mạnh của nền Tân pháp Đức Chí Tôn tại địa phương.
Đầu năm 1939, cơ khảo đảo xảy ra, sau đại hội Vạn linh do Cơ quan Truyền giáo trung chủ trì, nền đạo gặp nhiều chinh nghiêng, trở ngại do chính phủ Nam triều và thực dân Pháp đàn áp. Nhiều chùa thất bế niêm, hướng đạo bị bắt, tù đày, nhân sanh ly tán. Người ngoài đời không hiểu cơ mầu nhiệm của Đức Chí tôn cho rằng : Tín đồ Cao Đài ngày nay như rắn không đầu, như gà mắt mẹ.
Nhưng Thánh nữ và nhiều tín đồ khác vẫn một lòng trọn vẹn đức tin vào lời dạy của thiêng liêng, như thánh ngôn sau đây :

Hội Vạn Linh nhân sanh kinh cụ
Bảng Long Hoa chính phủ chấm tường
Thử ai bá, thử ai vương
Cửa càng đóng lại, thì đường rộng thêm.

Hay có câu :

Coi cái chí thương nòi thương giống
Coi cái tâm hờ hững, hững hờ
Coi con con đợi con chờ
Coi cơ trời định một giờ mà nên
Chuột đổ mèo, mèo quên chối cải
Con đổ Thầy, thầy lại giao con
Con kìa, bảng ngọc danh son
Miệng cười, tay vỗ nước non khoe màu
Càng khốn đốn càng trau nên giá
Càng giũa mài sắt đá cọ chơi
Cọ chơi cho biết mùi đời
Cọ chơi cho biết cơ trời định phân

Trước tình hình cơ khảo thí nặng nề, Thánh nữ không chịu ở yên, xin phép gia đình đi lập công, bồi quả trong điều kiện khó khăn, tự túc về kinh tế. Thánh nữ lập kế hoạch về Hội An mua vải vóc mang về miền ngược sông Thu Bồn gần Hòn Kẽm, Đá Dừng để bán cho bà con đạo hữu.
Công việc trên được thực hiện khá tốt trong khoảng thời gian từ năm i941 đến 1945 phù hợp với hoàn cảnh đất nước và cơ đạo chinh nghiêng lúc bấy giờ. Dựa vào cớ giao lưu buôn bán, đi đến đâu, ở lại đâu, đến tối lại Thánh nữ cũng nói chuyện Đạo, đọc thánh giáo cho đạo hữu nghe. Do vậy, nhà đạo hữu ai cũng thích mời Thánh nữ lui tới, tạo thành một sinh hoạt học đạo âm thầm nhưng phấn chấn, duy trì đức tin, hồi hướng về Thầy, về Đạo chờ cơ khảo đảo qua đi. Mỗi khi đến nhà đạo hữu nào Thánh nữ không làm phiền về đời sống kinh tế gia đình đó, mà xử sự khéo léo ơn qua nghĩa lại trong sự thương yêu vui vẻ, chân thành cùng nhau.
Năm 1946, quân Pháp rút khỏi Việt Nam, hòa bình lập lại, các bậc hướng đạo ra khỏi nhà tù, liền bắt tay vào phục hồi gây dựng lại các sơ sở đạo, qui tập nhân sanh. Cơ Quan Truyền Giáo Cao Đài Trung Việt tổ chức lễ Đại Đạo Phục Hưng tại các thánh thất thuộc phạm vi giáo hội. Đức Huỳnh Chơn Nhân đến chủ trì buổi lễ tại các thánh thất tỉnh Quảng Ngãi
Trong tình hình biến cố dồn dập của thời cuộc, Đức Huỳnh tiên liệu mọi việc và để đề phòng những bất trắc có thể xảy ra nên tập hợp những người thừa hành, cộng sự, trong đó có Thánh nữ Nguyễn Thị Lan, cho phép về lại gia đình. Nhưng Thánh nữ xin được ở lại, Đức Tuệ Minh cũng đồng lòng như vậy.
Thế rồi, việc gì đến cũng đã đến, do sự hiểu lầm, ngày 10/7 năm đó, Đức Huỳnh đã tuẫn đạo, về với Thầy tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Váo đêm 16/7, Thánh nữ Nguyễn Thi Lan và một số đồng môn khác thọ nạn tại huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi, cùng với hơn 3000 tín đồ Cao Đài khác.
Sau ngày Thánh nữ qui vị, gia đình được tin, thiết bàn thờ thọ tang. Trong ngày đó, có Anh lớn Phối sư Nguyễn Quang Châu thay mặt cho Cơ quan Truyền giáo Trung Việt, Ban cai quản Thánh thất Trung Bình và Nữ đoàn Thanh Xuân đến dự lễ.
Đoàn Thanh Xuân có lời phúng điếu như sau :

-Vì Đạo bỏ mình, tên tuổi thêm xinh, tươi sáng tương lai hàng nữ giới.
-Âm u vũ trụ, miền Nam trung bộ, tháng ngày thương nhớ bạn thanh xuân.

Đến năm 1956, cơ Đạo hanh thông. Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài được thành lập, khánh thành Trung Hưng Bửu Tòa. Để tưởng nhớ các vị đã vì Đạo quên mình, ghi dấu một thời gian lao khổ nhọc và nêu tấm gương sáng cho toàn Đạo về đức hạnh, Hội thánh cho thành lập cơ sở Linh Tháp tại Quảng Ngãi. Ngôi mộ cụ Huỳnh, Thánh nữ Lan, Tuệ Minh cùng hai chức sắc khác được Hội thánh cung nghinh qui tập về, cải táng sau nhà Thánh và Báo Ân Từ của Linh Tháp.
Có thể nói, từ lúc sinh thành đến khi liễu đạo, Thánh nữ Nguyễn Thị Lan kể về tuổi đời và tuổi đạo còn trẻ. 24 tuổi, gặp đạo, 32 tuổi, về với Thầy. Thời gian tu học, lập công và hành Đạo rất ngắn ngủi, chỉ vỏn vẹn có 8 năm. Nhưng cuộc đời đã gắn bó với một giai đoạn bi hùng của cơ đạo miền Trung, gắn chặt với hoàn cảnh lịch sử của đất nước trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Chỉ có bằng tấm gương trung liệt, một dạ chí thành, tròn vẹn đức tin, lòng nhân ái, dũng mãnh đem Đạo vào đời mới nêu gương sáng cho đời sau, làm rạng rỡ, sáng danh Đạo Thầy.
Được thiêng liêng ban ơn, vào ngày 8-9 năm 1956, Thánh nữ NguyễnThị Lan lai cơ, có bài thi như sau:
NGUYỄN đã bao lần ghé lại đây
THỊ mong gặp gỡ buổi sum vầy
LAN khai sở sở bên dền thánh
Mừng đặng vườn hoa được đượm đầy.

Hôm nay, tệ nữ hân hoan được lệnh Diêu cung đến để có lời viếng thăm chị em trong thời gian cách biệt. Từ ngày tệ nữ lìa khỏi cõi trần, nhờ chí nguyện tâm tu, lòng trung trinh thủ tử thiện đạo, mặc dù công đức chưa bao nhiêu, đời ta quá ngắn ngủi. Cũng may cho tệ nữ được lệnh vào hàng hy sinh để chuộc tội. Cái ngày đau đớn nhất của trang sử đạo là cái ngày may mắn nhất của tệ nữ. Nếu không nhờ lòng từ bi hỉ xả của Thầy Mẹ trong buổi Tam kỳ nầy thì dù có gắng công tu hành đến đâu cũng chưa chắc gì về nơi tiên cảnh.
Nhân ngày Kỷ niệm Chư Thánh Tông Đồ, năm Đại Đạo thứ 84, bào đệ là Sĩ tải Nguyễn Quốc Tín, có viết đôi dòng sau đây, đặt trang trọng tại phòng tịnh tu của gia đình để tưởng niệm :

Nhớ lại năm xưa đem Đạo vào đời, chẳng nệ gian lao, rạng rỡ tâm trường gương nữ giới.
Tinh thần bất diệt, chuyển tình về tánh xem thường oai võ, nhẹ nhàng hiển hách thánh Trung Hưng./-
 

Facebook Comment

Top