<P> </P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> Nhân ngày lễ Khánh Đản Đức Thích Ca Mâu Ni năm 2009 sắp đến nhằm ngày Rằm tháng Tư Âm lịch, chư tín hữu Cao Đài chúng ta khắp toàn cầu đều thiết lễ vui mừng ngày Thánh Đản Đức Thích Ca Mâu Ni là lý đương nhiên vì Ngài là một vị đứng vào hàng Tam Giáo trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Đô.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Chúng ta thử tìm hiểu yếu lý sự sùng kính và thờ phượng Ngài :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong><U> I.- CHƠN LÝ ĐẠO PHẬT QUA TAM KỲ PHỔ ĐỘ</U></strong></FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> 1.- <strong><U>Cách thờ phượng của Đạo Cao Đài</U></strong> : Trên Thiên Bàn ở cấp cao trên cùng là thờ biểu tương Thánh Nhãn , ở cấp bậc Tam Thanh Giáo Chủ thì có linh vị của Thích Ca Như Lai , dưới đó một bậc trong hàng Tam Trấn Oai nghiêm , đại diện cho Đạo Phật có linh vị Đức Quan Âm Bồ Tát , và bên ngòai ngó vào Thiên Bàn thì có pho tượng Đức Hộ Pháp cầm giáng ma xử.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> <strong>2<U>.-Các nghi lễ</U> :</strong> </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> * Kinh nhật tụng. Có kinh xưng tụng Đức Nhiên Đăng Cổ Phật </FONT><FONT face="Times New Roman" size=4> </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> * Trong số 14 bài kinh nôm do Tòa Thánh Định Tường ( Mỹ Tho ) tiếp được thì có bài kinh Xưng tụng Đức Thích Ca Phật Tổ và bài kinh xưng tụng Đức Quan Âm Nam Hãi. </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> * Về việ tang lễ thì trườc kia trong Tam Kỳ Phổ Độ còn dung Kinh Di Đà , Hồng Danh , Vu Lan . Nhưng sau này các bài kinh nầy được thay thế vào bài Kinh Di Lặc Tân kinh </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> * Về lấy dấu Tam quy : Quy y Phât. Quy y Pháp, Quy y Tăng , </FONT></P>
<P> <FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4><strong> 3.- <U>Về nhạc cụ</U> : </strong>Dùng trống lớn gọi là Lôi Âm Cổ, và Đại Đồng chung gọi là Bạch Ngọc Chung để dùng lễ Đại đàn đánh lên Ngọc Hoàng Sấm.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> 4<strong><U>.- Lễ cúng phẩm</U></strong> : Hương , Hoa, Trà, Rượu ,trái cây, Sớ điệp.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>II<U>.- MỐI TƯƠNG QUAN MẬT THIẾT GIỮA ĐẠO PHẬT VÀ TAM KY PHỔ ĐỘ</U></strong><U>.</U></FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> A<strong>.- <U>ĐỊNH NGHĨA</U></strong> :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4><strong> * Tam Kỳ Phổ Độ</strong> : hay là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có nghĩa là : Đạo Trời ( Đại Đạo ) khai diên lần Ba để cứu độ chúng sanh . Tiêu ngữ ấy đáng lẽ phải viết như sau : <strong>ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ</strong>.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> *<strong> Tam</strong> <strong>Giáo Quy Nguyên</strong> : Ba Giáo lớn và lâu đời nhất ở Á Châu là Nho , Thích, Đạo nay cùng nhìn nhận đồng thuộc về một nguyên gốc.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>* Ngủ Chi Phục Nhứt </strong>: Năm trình độ tu hành trong Đại Đạo là : Nhơn đạo , Thần đạo , Thánh đạo , Tiên đạo, và Phật đạo đồng trở về ngôi MỘT là Đại Đạo hay Lý Nhứt Nguyên ( Thượng Đế không thị hiện ).</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> B<strong><U>.- CÁC THÁNH GIÁO</U></strong> tiếp được từ buổi sơ khai của Đại Đại Tam Kỳ Phổ Độ cho đến nay nói về mối liên quan mật thiết ấy :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> 1<strong>.- Đàn tại Vĩnh Nguyên Tự</strong> : ( Cần Giuộc ) đêm 07.4.1926 Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương dạy : </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Nhiên Đăng Cổ Phật thị <strong>NGÃ</strong> ,</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Thích Ca Mâu Ni thị <strong>NGÃ</strong> ,</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Thái Thượng Ngươn Thỉ thị <strong>NGÃ</strong> ,</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Kim viết <strong>CAO ĐÀI</strong> . (Tòa Thánh Tây Ninh , Thánh Ngôn Hiệp Tuyển , trang 18 ).</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>2.- Đàn cơ tại Chùa Giác Hải</strong> ( Phú Lâm, Chợ Lớn đêm 15.8.Bính Dần 1926) Thích Ca Mâu Ni Phật viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chuyển Phật Giáo Nam Phương.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Như Nhãn con nghe Thầy :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi giáng trần Chí Tôn Phật Tổ , Thầy duy đặng có bốn môn đệ , chúng nó đều chối Thầy.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi giáng lập Đạo Tiên , Thầy có một trò là Ngươn Thỉ .</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi lập Đạo Thánh , thì đặng 12 môn đệ , song đến khi bị bắt và hành hình , thì chúng nó đều trốn hết , lại còn bán xác Thầy nữa..Thánh.ngôn Hiệp Tuyển II , trang 10 -11 ). </FONT><FONT face="Times New Roman" size=4>(Phụ giải : Như Nhãn là pháp danh của Hòa Thượng trù trì Chùa Giác Hải ) </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> 3.- <strong>Đàn cơ tại Long Ẩn Đàn</strong> ( Sài gòn ) đêm 08.10.Kỷ Sửu (18.11.1939 )</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Thầy các con. Mừng các con nam nữ.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>THI BÀI</strong> </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> THÍC CA xưa vốn CAO ĐÀI</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> CAO ĐÀI nay cũng NHƯ LAI giáng trần </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Các con rõ ý Thấy phân </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Phật , Tiên chi cũng phàm nhân luyện thành </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Cùng chung một phái Tam Thanh</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Chuyên lo tu tịnh căn lành hoàn nguyên </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Thoát vòng khổ hải truân chuyên </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Muôn năm mới gặp chơn truyền Thấy ban </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Huệ đao đoạn dứt dây oan </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Tu thành chánh quả Hội Bàn Cung Diêu.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> 4.- <strong>Đàn cơ tại Liên Hoa Cửu Cung</strong> ( Thủ Đức ) độ vào năm 1940-1941</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Vào độ thời gian nói trên, trong một Đàn cơ lập tại Liên Hoa Cửu Cung , sau khi Đức Thượng Đế Cao Đài giáng xuống thì một vị hầu Đàn ( Chủ tịch một Hội Phật Học trứ danh ờ miền Nam ) bèn quỳ xuống dâng lên một cái khải (mật sớ) trong đó có viết 6 chữ : Nam Mô A Di Đà Phật và cầu xin Ơn Trên minh cái sớ ấy. Đại Ngọc cơ chuyển động và viết : <EM><strong>" Thập nhị tùng lục</strong></EM> " Người dâng sớ nói lớn<strong>"trật</strong>" Đại Ngoc Cơ chẩm rải viết : " Thầy cho phép con khai cái mật khải ấy và đọc lớn cho cả đàn cùng nghe." Vị ấy tuân lệnh và đọc lớn : " Nam Mô A Di ĐÀ Phật ". Cơ viết tiếp : " Còn tá danh của Thầy mấy chữ ". Vị ấy đếm và bạch : " Mười hai chữ". Cơ tiếp tục viết :" À ! Mười hai chữ ngày hôm qua nay do sáu chữ xưa kia mà ra. "<strong>Trật chổ nào</strong>? "Vị nói trến sụp đầu xuông lạy và xin lỗi . </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> . </FONT> <FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4>5.-Đàn cơ tại Thiên Lý Đàn ( Hòa Hưng ) đêm giao thừa 30 tháng Chạp năm Giáp Thìn ( 01-01-1956 )CQPTGL Thánh Giáo sưu tấp 1956, trang 12.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Tại Đàn cơ nầy Đức Thượng Đế Cao Đài giáng xuống xưng danh như sau :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>THI</strong></FONT></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Muôn thưở từ bi cứu chúng sanh,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Không phân kẻ dữ với người lành ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Nghiệp duyên vay trả tùy căn độ ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> TAM GIÁO khác màu cũng một danh.</FONT></strong></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Sau khai dạy xong mọi việc , Ngài sắp thăng thì mỗi vị hầu đàn Bạch : Yêu cầu Ngài cho biết trong hai pháp danh mà các đấng thiêng liêng đã ban cho vị ấy phải chọn pháp danh nào thì Đại Ngôc Cơ vừa viết câu : " Thầy ban ơn các con. Thăng " liền huy động mạnh trở lại và viết ra đoạn như sau :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong> THI</strong></FONT></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Tự con nhận hiểu đủ rồi ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Tên nào cũng phải ngược xuôi làm gì ?</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> TU đi con hãy TU đi ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Tên nào cũng được ngại chi con hiền? </FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Hiểu rằng nghiệp quả trần duyên ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Tên là cái già triền miên trên đời.</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Xuống lên, lên xuống luân hồi ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Đến tên NGỌC ĐẾ mấy hồi đổi thay !</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi xưng Giáo Chủ CAO ĐÀI ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi xưng THIÊN CHÚA , khi khai DI ĐÀ.</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Lắm hồi BỒ TÁT MA HA,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Bao lần KHỔNG - MẠNH cũng GIÀ nầy đây !</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Khuyên con an dạ từ rày ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Nghiệm suy cho hiểu lời THẦY định phân.</FONT></strong></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4><strong> <FONT size=3>__________</FONT></strong></FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT face="Times New Roman"> Trich đoạn SỐNG <FONT face=Arial>ĐẠO trang 9&11 tháng 4&5 Giáp Thân - 2004</FONT></FONT> </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman"></FONT> </P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=3> </FONT></P><FONT size=3> </FONT>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> Nhân ngày lễ Khánh Đản Đức Thích Ca Mâu Ni năm 2009 sắp đến nhằm ngày Rằm tháng Tư Âm lịch, chư tín hữu Cao Đài chúng ta khắp toàn cầu đều thiết lễ vui mừng ngày Thánh Đản Đức Thích Ca Mâu Ni là lý đương nhiên vì Ngài là một vị đứng vào hàng Tam Giáo trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Đô.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Chúng ta thử tìm hiểu yếu lý sự sùng kính và thờ phượng Ngài :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong><U> I.- CHƠN LÝ ĐẠO PHẬT QUA TAM KỲ PHỔ ĐỘ</U></strong></FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> 1.- <strong><U>Cách thờ phượng của Đạo Cao Đài</U></strong> : Trên Thiên Bàn ở cấp cao trên cùng là thờ biểu tương Thánh Nhãn , ở cấp bậc Tam Thanh Giáo Chủ thì có linh vị của Thích Ca Như Lai , dưới đó một bậc trong hàng Tam Trấn Oai nghiêm , đại diện cho Đạo Phật có linh vị Đức Quan Âm Bồ Tát , và bên ngòai ngó vào Thiên Bàn thì có pho tượng Đức Hộ Pháp cầm giáng ma xử.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> <strong>2<U>.-Các nghi lễ</U> :</strong> </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> * Kinh nhật tụng. Có kinh xưng tụng Đức Nhiên Đăng Cổ Phật </FONT><FONT face="Times New Roman" size=4> </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> * Trong số 14 bài kinh nôm do Tòa Thánh Định Tường ( Mỹ Tho ) tiếp được thì có bài kinh Xưng tụng Đức Thích Ca Phật Tổ và bài kinh xưng tụng Đức Quan Âm Nam Hãi. </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> * Về việ tang lễ thì trườc kia trong Tam Kỳ Phổ Độ còn dung Kinh Di Đà , Hồng Danh , Vu Lan . Nhưng sau này các bài kinh nầy được thay thế vào bài Kinh Di Lặc Tân kinh </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> * Về lấy dấu Tam quy : Quy y Phât. Quy y Pháp, Quy y Tăng , </FONT></P>
<P> <FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4><strong> 3.- <U>Về nhạc cụ</U> : </strong>Dùng trống lớn gọi là Lôi Âm Cổ, và Đại Đồng chung gọi là Bạch Ngọc Chung để dùng lễ Đại đàn đánh lên Ngọc Hoàng Sấm.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> 4<strong><U>.- Lễ cúng phẩm</U></strong> : Hương , Hoa, Trà, Rượu ,trái cây, Sớ điệp.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>II<U>.- MỐI TƯƠNG QUAN MẬT THIẾT GIỮA ĐẠO PHẬT VÀ TAM KY PHỔ ĐỘ</U></strong><U>.</U></FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> A<strong>.- <U>ĐỊNH NGHĨA</U></strong> :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4><strong> * Tam Kỳ Phổ Độ</strong> : hay là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có nghĩa là : Đạo Trời ( Đại Đạo ) khai diên lần Ba để cứu độ chúng sanh . Tiêu ngữ ấy đáng lẽ phải viết như sau : <strong>ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ</strong>.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> *<strong> Tam</strong> <strong>Giáo Quy Nguyên</strong> : Ba Giáo lớn và lâu đời nhất ở Á Châu là Nho , Thích, Đạo nay cùng nhìn nhận đồng thuộc về một nguyên gốc.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>* Ngủ Chi Phục Nhứt </strong>: Năm trình độ tu hành trong Đại Đạo là : Nhơn đạo , Thần đạo , Thánh đạo , Tiên đạo, và Phật đạo đồng trở về ngôi MỘT là Đại Đạo hay Lý Nhứt Nguyên ( Thượng Đế không thị hiện ).</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> B<strong><U>.- CÁC THÁNH GIÁO</U></strong> tiếp được từ buổi sơ khai của Đại Đại Tam Kỳ Phổ Độ cho đến nay nói về mối liên quan mật thiết ấy :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> 1<strong>.- Đàn tại Vĩnh Nguyên Tự</strong> : ( Cần Giuộc ) đêm 07.4.1926 Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương dạy : </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Nhiên Đăng Cổ Phật thị <strong>NGÃ</strong> ,</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Thích Ca Mâu Ni thị <strong>NGÃ</strong> ,</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Thái Thượng Ngươn Thỉ thị <strong>NGÃ</strong> ,</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Kim viết <strong>CAO ĐÀI</strong> . (Tòa Thánh Tây Ninh , Thánh Ngôn Hiệp Tuyển , trang 18 ).</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>2.- Đàn cơ tại Chùa Giác Hải</strong> ( Phú Lâm, Chợ Lớn đêm 15.8.Bính Dần 1926) Thích Ca Mâu Ni Phật viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chuyển Phật Giáo Nam Phương.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Như Nhãn con nghe Thầy :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi giáng trần Chí Tôn Phật Tổ , Thầy duy đặng có bốn môn đệ , chúng nó đều chối Thầy.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi giáng lập Đạo Tiên , Thầy có một trò là Ngươn Thỉ .</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi lập Đạo Thánh , thì đặng 12 môn đệ , song đến khi bị bắt và hành hình , thì chúng nó đều trốn hết , lại còn bán xác Thầy nữa..Thánh.ngôn Hiệp Tuyển II , trang 10 -11 ). </FONT><FONT face="Times New Roman" size=4>(Phụ giải : Như Nhãn là pháp danh của Hòa Thượng trù trì Chùa Giác Hải ) </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> 3.- <strong>Đàn cơ tại Long Ẩn Đàn</strong> ( Sài gòn ) đêm 08.10.Kỷ Sửu (18.11.1939 )</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Thầy các con. Mừng các con nam nữ.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>THI BÀI</strong> </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> THÍC CA xưa vốn CAO ĐÀI</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> CAO ĐÀI nay cũng NHƯ LAI giáng trần </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Các con rõ ý Thấy phân </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Phật , Tiên chi cũng phàm nhân luyện thành </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Cùng chung một phái Tam Thanh</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Chuyên lo tu tịnh căn lành hoàn nguyên </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Thoát vòng khổ hải truân chuyên </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Muôn năm mới gặp chơn truyền Thấy ban </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Huệ đao đoạn dứt dây oan </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Tu thành chánh quả Hội Bàn Cung Diêu.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> 4.- <strong>Đàn cơ tại Liên Hoa Cửu Cung</strong> ( Thủ Đức ) độ vào năm 1940-1941</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Vào độ thời gian nói trên, trong một Đàn cơ lập tại Liên Hoa Cửu Cung , sau khi Đức Thượng Đế Cao Đài giáng xuống thì một vị hầu Đàn ( Chủ tịch một Hội Phật Học trứ danh ờ miền Nam ) bèn quỳ xuống dâng lên một cái khải (mật sớ) trong đó có viết 6 chữ : Nam Mô A Di Đà Phật và cầu xin Ơn Trên minh cái sớ ấy. Đại Ngọc cơ chuyển động và viết : <EM><strong>" Thập nhị tùng lục</strong></EM> " Người dâng sớ nói lớn<strong>"trật</strong>" Đại Ngoc Cơ chẩm rải viết : " Thầy cho phép con khai cái mật khải ấy và đọc lớn cho cả đàn cùng nghe." Vị ấy tuân lệnh và đọc lớn : " Nam Mô A Di ĐÀ Phật ". Cơ viết tiếp : " Còn tá danh của Thầy mấy chữ ". Vị ấy đếm và bạch : " Mười hai chữ". Cơ tiếp tục viết :" À ! Mười hai chữ ngày hôm qua nay do sáu chữ xưa kia mà ra. "<strong>Trật chổ nào</strong>? "Vị nói trến sụp đầu xuông lạy và xin lỗi . </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> . </FONT> <FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4>5.-Đàn cơ tại Thiên Lý Đàn ( Hòa Hưng ) đêm giao thừa 30 tháng Chạp năm Giáp Thìn ( 01-01-1956 )CQPTGL Thánh Giáo sưu tấp 1956, trang 12.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Tại Đàn cơ nầy Đức Thượng Đế Cao Đài giáng xuống xưng danh như sau :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong>THI</strong></FONT></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Muôn thưở từ bi cứu chúng sanh,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Không phân kẻ dữ với người lành ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Nghiệp duyên vay trả tùy căn độ ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> TAM GIÁO khác màu cũng một danh.</FONT></strong></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Sau khai dạy xong mọi việc , Ngài sắp thăng thì mỗi vị hầu đàn Bạch : Yêu cầu Ngài cho biết trong hai pháp danh mà các đấng thiêng liêng đã ban cho vị ấy phải chọn pháp danh nào thì Đại Ngôc Cơ vừa viết câu : " Thầy ban ơn các con. Thăng " liền huy động mạnh trở lại và viết ra đoạn như sau :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong> THI</strong></FONT></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Tự con nhận hiểu đủ rồi ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Tên nào cũng phải ngược xuôi làm gì ?</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> TU đi con hãy TU đi ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Tên nào cũng được ngại chi con hiền? </FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Hiểu rằng nghiệp quả trần duyên ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Tên là cái già triền miên trên đời.</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Xuống lên, lên xuống luân hồi ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Đến tên NGỌC ĐẾ mấy hồi đổi thay !</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi xưng Giáo Chủ CAO ĐÀI ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Khi xưng THIÊN CHÚA , khi khai DI ĐÀ.</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Lắm hồi BỒ TÁT MA HA,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Bao lần KHỔNG - MẠNH cũng GIÀ nầy đây !</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Khuyên con an dạ từ rày ,</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT face="Times New Roman" size=4> Nghiệm suy cho hiểu lời THẦY định phân.</FONT></strong></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4><strong> <FONT size=3>__________</FONT></strong></FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT face="Times New Roman"> Trich đoạn SỐNG <FONT face=Arial>ĐẠO trang 9&11 tháng 4&5 Giáp Thân - 2004</FONT></FONT> </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman"></FONT> </P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=3> </FONT></P><FONT size=3> </FONT>