THẤT NƯƠNG - DIÊU TRÌ CUNG

Nhat Minh

New member
<FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>  </FONT>
<H3 align=center><FONT face="Courier New, Courier, mono" color=#cc0000>LỄ - THẤT NƯƠNG <BR><BR>(Thủ bối : Liên Hoa)</FONT></H3>
<UL>
<UL>
<P align=center><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" color=#000066 size=3><strong>Lễ bái thường hành tâm đạo khởi, <BR><BR>Nhân từ tài thế tử vô ưu. <BR><BR>Ngày xuân gọi thế hảo cừu<BR><BR>Trăm duyên phước tục khó bù buồn Tiên.</strong></FONT></EM></P></UL></UL>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>THÍCH NGHĨA :</strong> <BR><BR>Cúng lạy thường ngày thì đạo trong tâm khởi hiện. <BR><BR>Người hiền đủ tài đức ở đời thì khi chết không biết lo âu. <BR><BR>Ngày còn thuở con gái (thanh xuân) gọi như thế là một oán hờn tốt. <BR><BR>Dù duyên nợ được trăm phước ở cõi tục cũng không bằng cái buồn ở cõi Tiên. Nghĩa là cái trăm vui ở cõi trần gian không sánh nổi cái u buồn ở cõi trên, tức là cái buồn ở Thượng giới vẫn vui hơn trăm lần vui ở hạ giới. </FONT></FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>GIẢI NGHĨA :</strong> <BR><BR>Bài này tả tâm sự của cô Vương Thị Lễ. Cô được sanh ra trong một nhà quan, khi bị bệnh trầm kha. Thân mẫu của Cô nói ai cứu được thì gả Cô cho người ấy. Nào ngờ, khi Cô được thầy thuốc chữa lành bịnh, mẹ cô quên lời hứa cũ. Còn Cô thì vẫn âm thầm thương nhớ vị lương y "Ngày xuân gọi thế là hảo cừu". Nhưng sau nhờ tu luyện "Lễ bái thường hành", Cô đắc đạo mới rõ "Trăm duyên phước tục chẳng bù buồn Tiên". </FONT></FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Cô là Thất Nương có bổn phận độ người theo đạo. Cô là người đầu tiên dẫn dắt các Thiên sứ theo Đạo mới và lập Đạo mới, nên tượng thờ Cô, trên tay có cầm hoa sen. </FONT>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>SỰ TÍCH : </strong><BR><BR>Cô Vương Thị Lễ sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, con ông Vương Quan Trân (anh ruột giáo sư Vương Quan Kỳ) và bà Đỗ Thị Sang (con gái của ông Tổng đốc Đỗ Hữu Phương). </FONT></FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Nhà họ Đỗ sanh con khó nuôi, nên phải ra tận Huế thỉnh lư hương của Bà Cửu Thiên Huyền Nữ (tức Phật Mẫu) về thờ để mong phò hộ. Nhờ đó cô Vương Thị Lễ được nuôi lớn. Nhưng đến năm 18 tuổi Cô "phủi nợ xuống tuyền đài". </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Theo lời của Đức Hộ Pháp thuật lại thì tiền kiếp của cô Lễ là một vị công chúa, con một vị vua. Trong triều có một vị quan yêu cô, nhưng vì môn đăng hộ đối không lấy được cô nên vị quan bị thất tình mà chết. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Đến kiếp này, cô đầu thai vào gia đình họ Vương, đang theo học trường Sainte Enfance đến trình độ Brevet Elémentaire (Trung học Pháp), có nhiều danh gia vọng tộc đi hỏi cưới mà cô không chịu, thì Cô mắc phải bệnh ngặt nghèo, chạy đủ thầy mà không hết. Thân mẫu cô mới truyền rao ai cứu được cô thỉ gả cho người ấy. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Lúc đó có một ông thầy thuốc tây, học ở Hà Nội (Médecin Indochinois) mới bổ lên Saigon. Gia đình cô rước đến chữa khỏi bịnh cho cô. Cô biết vị lương y nầy là ông quan trẻ thầm yêu cô trước kia vì "nợ ba sinh" mà hai người cùng đầu kiếp để nên nghĩa vợ chồng. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Song, thân mẫu Cô quên lời hứa, chỉ trả tiền cho thầy thuốc rồi thôi. Riêng cô vẫn giữ dạ keo sơn rồi trở bệnh cho đến chết. Thế nên, đêm 30-7-1925, khi ba Thiên sứ Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, họp nhau xây bàn tại nhà ông Cao Hoài Sang thì cô giáng bàn cho thi. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>THI<BR><BR></FONT><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><EM>Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai ? <BR><BR>Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài. <BR><BR>Những ngỡ trao duyên vào ngọc các, <BR><BR>Nào dè phủi nợ xuống tuyền đài. <BR><BR>Dưỡng sinh cam lỗi tình sông núi, <BR><BR>Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai. <BR><BR>Dồn dập tương tư quằn một gánh, <BR><BR>Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai ?</EM><BR><BR>Ký tên : Đoàn Ngọc Quế. </FONT></FONT></UL>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Ngài Cao Quỳnh Cư hỏi : - Hồi còn tại thế, xứ ở đâu ? <BR><BR>Cô đáp : - Ở Chợ Lớn. <BR><BR>Ngài Phạm Công Tắc hỏi : - Cô học ở đâu ? <BR><BR>Cô đáp : Học ở trường đầm. <BR><BR>Tên Đoàn Ngọc Quế chỉ là mượn tên của một người bạn thân với ông Cao Quỳnh Diêu, mục đích tạo hiếu kỳ cho các ông ham tìm hiểu để dẫn dắt vào đường Đạo. Ba Ngài đều có hoạ bài thi trên. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Cũng đêm đó, Ngài Cao Quỳnh Cư hỏi cô bịnh gì mà chết, cô đáp bằng hai bài thi sau : </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>THI <BR><BR></FONT><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Trời già đành đoạn nợ ba sinh, <BR><BR>Bèo nước xẻ hai một gánh tình<BR><BR>Mấy bữa nhăn mày lâm chước qủi, <BR><BR>Khiếm ôm mối thảm lại Diêm đình. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Người thì ngọc mã với kim đàng, <BR><BR>Quên kẻ dạ đài mối thảm mang<BR><BR>Mình dặn lấy mình, mình lại biết, <BR><BR>Mặc ai chung hưởng phận cao sang</FONT></EM></P><BR></UL>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Một tối thứ bảy, (8-1925) trong lúc các Ngài Cư, Tắc, Sang xây bàn, cô nhập bàn. Các Ngài xin kết nghĩa làm anh em. Cô bằng lòng và gọi : <BR><BR>- Ông Cư là Trưởng ca<BR><BR>- Ông Tắc là Nhị ca<BR><BR>- Ông Sang là Tam ca<BR><BR>Còn cô là Tứ muội ( em gái thứ tư). </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Nhờ kết nghĩa anh em, các ông bèn gạn hỏi tên thật. Cô mới gỏ bàn viết ba chữ "VTL". Cô còn chỉ rõ ngôi mộ của cô hiện ở khu Bà Lớn ( gần Ngã bảy ngày nay). Sáng chúa nhật, các ông rủ nhau đi tìm, tìm thấy mộ cô xây gạch rất đẹp, nơi nhà bia có khắc hình cô, dưới đề tên Vương Thị Lễ. Các ông mới khấn vái mời cô về nhà nhập bàn hỏi chuyện. Khi các ông đem bàn ra cầu, cô nhập bàn xác nhận các ông tìm đúng mộ của cô. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Đến 18-8-1925, Cô Lễ giáng bàn, các Ngài hỏi rằng : <BR><BR>- Em còn chị em nào nữa biết làm thi, xin cầu khẩn đến dạy ba anh em qua làm thi. <BR><BR>Cô Lễ nhịp bàn trả lời : <BR><BR>- Có chị Hớn Liên Bạch, Lục Nương, Nhứt Nương làm thi hay lắm. Ba anh muốn cầu thì ba anh phải ăn chay mới cầu được. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Cũng vào tháng 8 năm đó, thiết đàn xây bàn, các Ngài được Cô Lễ báo tin có một Đấng đến tiếp xúc : </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>THI <BR><BR></FONT><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><EM>Ớt cay cay ớt gẫm mà cay, <BR><BR>Muối mặn ba năm muối mặn dai. <BR><BR>Túng lúi đi chơi nên tắp lại, <BR><BR>Ăn bòn chẳng chịu tắp theo ai. </EM><BR><BR>A-Ă-Â.</FONT></FONT></UL>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Đến ngày 25-8-1925 (8-8-Aát Sửu), Đấng A Ă Â dạy ba Ngài vào rằm tháng 8 thiết tiệc chay thỉnh Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương đến dự tiệc. Đó là lễ Hội Yến Diêu Trì (xem ở trước) mà về sau, hằng năm Toà Thánh Tây Ninh đều có tổ chức. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Sau đó, các Ngài xây bàn, Đấng A Ă Â giáng cho thi, rồi đến Đức Phật Mẫu, Cửu Vị Tiên Nương, mỗi vị đều giáng cho một bài mà ngày nay hằng năm thài để hiến lễ vào dịp Hội Yến. Những bài mà sách nầy dùng làm cơ bản để truy nguyên lai Cửu Vị Tiên Nương. Riêng Lục Nương thì giáng cho thêm một bài <EM>(Xem Đại Đạo Sử Cương , quyển I trang 35)</EM> và cô cũng cho biết cô Vương Thị Lễ là Thất Nương Diêu Trì Cung. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Tóm lại, chính cô Vương Thị Lễ, lúc đầu dùng văn chương tình tứ để dẫn dắt 3 vị Thiên sứ theo Đạo mới, sau nghiêm khắc buộc các Ngài ăn chay cầu Đạo, rồi giới thiệu với Đấng A Ă Â (tức Đấng Chí Tôn), Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Ta phải nói công đầu khai mở Đạo Cao Đài là công của Thất Nương. Cô còn phổ độ hầu hết chúng sanh vùng Sài gòn, Chợ Lớn, Gia Định theo Đạo. </FONT>
<P><FONT size=3><BR><BR><FONT face="Courier New, Courier, mono"></FONT></FONT>
<CENTER>
<H4><FONT face="Courier New, Courier, mono">THI VĂN DẠY ÐẠO</FONT></H4></CENTER>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>1. VIẾNG CỐ NHÂN :</strong> </FONT></FONT></P><BR>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Lừa dịp đình chơn viếng cố nhân, <BR><BR>Cảm tình trông đợi, dạ ân cần. <BR><BR>Chầy ngày tuy chẳng thăm nhau đặng, <BR><BR>Mà tấm lòng kia vẫn luống gần.</FONT></EM></UL>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>2. GIẢI THI QÚI CAO.</strong> </FONT></FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Ngày 27-11-1925, Quí Cao giáng cho thi : <BR><BR></FONT>
<UL><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Tử sanh dĩ định tự thiên kỳ, <BR><BR>Tái ngộ đồng hoan hội nhứt chi. <BR><BR>Bắc Nguỵ quan vân tâm mộ hữu, <BR><BR>Giang Đông khán thụ lụy triêm y.</FONT></EM></UL>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Hôm sau, Thất Nương giải nghĩa 2 câu chót : <BR><BR>"Khi Như Hoành ở Bắc Nguỵ đi thuyết chiến bên Giang Đông gặp Bạch Hàm thì tâm đầu ý hợp kết làm anh em. Khi Như Hoành về Nguỵ thì anh em khó phân ly, Như Hoành than rằng: </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>- Bắc Nguỵ văn thiên thụ. <BR><BR>- Giang Đông nhứt mộ vân. Bạch Hàm đáp. <BR><BR>Nghĩa là : <BR><BR>- Ngó Bắc Ngụy, ngàn câu đưa tiếng bạn, <BR><BR>- Nhìn Giang Đông thấy khóm mây vẽ hình anh. </FONT>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>3. MỪNG THAY !</strong> </FONT></FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Đã cùng nhau trót mấy lời giao, <BR><BR>Cách mặt mà lòng chẳng lãng xao. <BR><BR>Đàng đạo càng đi càng vững bước, <BR><BR>Cõi Thiên sau ắt hội cùng nhau. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Một nhà vầy hội rất mừng thay, <BR><BR>Đạo Thánh từ đây đặng vẹn ngay. <BR><BR>Một bước một đi đường một tới, <BR><BR>Lòng thành xin trọng thấu Cao Đài. </FONT></EM><BR><BR><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>(22-12-1925)</FONT></P><BR></UL>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>4. CHO ÔNG CHẤN :</strong> </FONT></FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><EM>Hồ thủy vẫy vùng đáng phận trai, <BR><BR>Trời chiều nay đã rạng cân đai. <BR><BR>Gành Nam nếu đặng người tên tuổi. <BR><BR>Đất Bắc mừng an bước lạc loài. <BR><BR>Lộc nước gắng đền công chín tháng, <BR><BR>Nợ nhà tua vẹn gánh hai vai. <BR><BR>Qui điền có lúc phong trần rảnh, <BR><BR>Đinh sắt một lòng chí chớ lay. </EM><BR><BR>(21-12-1925)</FONT></FONT></UL>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>5. Ngày 13-11-1925, ba Thiên sứ trách Cô Thất Nương không nói thật thiên cơ, Cô giáng cho thi : </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Người vô tình, kẻ bạc tình, <BR><BR>Ba anh chẳng nghĩ nghĩa đồng thinh. <BR><BR>Đặng chim trách kẻ toan quên ná, <BR><BR>Buồn bực cho đây vẫn một mình. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Thử lòng tri kỷ đó mà thôi, <BR><BR>Tương ngộ có hơn bảy tháng rồi. <BR><BR>Yêu mến một lòng đây biết rõ, <BR><BR>Thuỷ chung đâu để hổ cùng lời.</FONT></EM></P><BR></UL>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Ba ông Cư, Tắc, Sang nói : <BR><BR>- Anh trách sao em không nói thật A Ă Â là ông Trời, em thấy ba anh như mù, em cứ gạt hoài.<BR><BR>Thất Nương đáp : <BR><BR>- Trời là Trời, em là em. Em rõ biết nhưng không dám lậu, nay ba anh đặng biết vậy em mừng. </FONT>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>6.THẤT NƯƠNG KÍNH TẶNG :</strong> </FONT></FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><EM><strong>Thất</strong> thế náo thân chớ tưởng lâu, <BR><BR><strong>Nương</strong> cùng quí vị chỉ đường cầu. <BR><BR><strong>Kính</strong> đem đến tận bờ dương liễu, <BR><BR><strong>Tặng</strong> nghĩa đài sơn kẻ chực chầu. </EM><BR><BR>(2-9-1942)</FONT></FONT></UL>
<P><strong><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>7. THƠ VỊNH </FONT></strong>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><EM>Cầm hoa sen Thất Nương nguyện rỗi, <BR><BR>Cõi Hạo Nhiên mở lối vĩnh tồn. <BR><BR>Âm quang nhiệm vụ độ hồn, <BR><BR>Tái sanh Vương đạo Chí Tôn siêu phàm. </EM><BR><BR>H.P</FONT></FONT></UL>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>8.ÂM QUANG LÀ GÌ ?</strong> </FONT></FONT>
<P><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Tiếc thay em có dặn trước ngày em đến, đặng hội hiệp đông đủ cùng nhiều chị, nhưng phò loan trể nãi, nên em không phương gặp đặng, nhất là về việc Diêu Trì Cung bị mượn danh nơi khác mà dối gạt nhơn sanh. Cái hại ấy vốn chẳng vừa về phần tín ngưỡng. Chớ chi thất tại tà quyền, thì có mấy em trừ khử, nhưng tại nơi đồng tử thì mấy em không phương giải nạn cho mấy người mê tín. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Thưa cùng mấy chị, em xin nhắc nhở điều nầy : </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Ngày hội Ngọc Hư đặng lo phương tiếp pháp của Tây phương Cực Lạc qua, em đã đặng nghe thấy những lời của Địa Tạng Vương Bồ Tát than thở rằng : Ngài là Phật nên khó gần gũi các hồn Nữ phái mà khuyến giáo cơ giải thoát mê đồ. Bởi cớ nơi Âm quang, nữ hồn còn bị luyện tội nhiều hơn Nam phái bội phần. Em lại nghe Người ước rằng : chớ chi có một đấng Nữ Tiên dám đảm đương đến phổ tế mới mong tận độ chư vong của Phong đô thoát kiếp. Em mới để dạ lo lường cả lòng lẫn ái đến đó; em đã chán thấy nhiều tội tình chẳng trọng hệ, song có hồn chịu sầu thảm lạ thường. Em đã liệu nhiều phương thế cho từ đây mấy chơn hồn có bề dễ tránh khỏi cửa Âm quang hãm tội. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Em nên nói rõ âm quang là gì trước đã, rồi thì mấy chị mới hiểu đặng. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Âm quang là nơi Thần Linh Học gọi là nơi Trường đình của chư hồn giải thể hay nhập thể. Đại Từ Phụ đã định nơi ấy cho Phật gọi là "Tịnh Tâm xá" nghĩa là nơi của chư hồn đến đó đặng tịnh tâm, xét mình coi trong kiếp sanh bao nhiêu phước tội. Vậy thì nơi ấy là nơi xét mình. Chớ chi cả nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác, thì tự nhiên tránh khỏi Âm quang. Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi, thì cũng lánh xa khỏi cửa Âm quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay là đặng giáo hoá mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của các chơn hồn cầu rỗi. </FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Ôi ! Tuy vân, hồng ân của Đại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đoạ hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu kém đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy; đó là mấy Đạo hữu tín đồ bị thất thệ. Em trông thấy bắt đau lòng, phái Nữ lại là phần đông hơn heat</FONT></EM><BR><BR><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>. (Ngày 9-4-Giáp Tuất). </FONT>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>9. TẶNG THANH SƠN :</strong> </FONT></FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3>Tài Thanh Sơn, trí Thanh Sơn ! <BR><BR>Câu văn tuyệt bút vẽ nên hờn. <BR><BR>Giục lòng chí sĩ chưa vừa sức, <BR><BR>Múa bút thần tiên đủ chấp quờn. <BR><BR>Dệt thảm lê dân Trời cám cảnh, <BR><BR>Thêu sầu xã tắc Đất kinh hồn. <BR><BR>Nắn nhồi trí sĩ thành linh khí, <BR><BR>Rèn chất anh thư đắp lũy đồn.</FONT></EM></UL>
<P><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><strong>10. TÌNH ÁI :</strong> </FONT></FONT>
<P><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3></FONT>
<UL><FONT size=3><FONT face="Courier New, Courier, mono"><EM>Người tình ái lòng thương như biển, <BR><BR>Cả nước non hoà tiếng yêu đương. <BR><BR>Thương hồi gió lá đương sương, <BR><BR>Thương chim đổ cội, thương tường che hoa. <BR><BR>Thương tiếng dế như hoà khóc bạn (nhạn), <BR><BR>Thương hơi cây gió thoáng reo đờn. <BR><BR>Thương bầy thú nhẩy đầu sơn, <BR><BR>Kết đôi chẳng hiểu tiếng hờn chia bâu. <BR><BR>Thương sông chảy như rầu nhăn mặt, <BR><BR>Thương gành khuya như bắt cầu Lam. <BR><BR>Thương con thuyền bá nương buồm, <BR><BR>Thương dòng nhi nữ chứa hờn Tương giang. <BR><BR>Thương gió lạnh mây tan Trời rạng, <BR><BR>Thương muôn sao nhấp nhoáng bóng khuya. <BR><BR>Thương mưa đổ giọt châu ria, <BR><BR>Cỏ cây như nước chan hoà đầm xuân. <BR><BR>Thương đến chốn gọi rừng Trước tử, <BR><BR>Chứa hiền xưa đặng giữ Đạo Trời. <BR><BR>Thương công ngư phủ đầm khơi, <BR><BR>Đò nhơn rước khách lập đời an nguy. <BR><BR>Thương vạn vật cũng bì đồng loại, <BR><BR>Thương nhơn sanh chẳng mõi lòng thương. <BR><BR>Thương người lạc bước lỡ đường, <BR><BR>Tìm chơn Cung Tốt, lạc đường Bích Cung. <BR><BR>Thương các Đấng anh phong vị chủng, <BR><BR>Thương những trang bỏ sống vì nhà. <BR><BR>Thương luôn mả ủ thân ma, <BR><BR>Cốt căn bao Đấng san hà gây nên. <BR><BR>Thương cửa Khổng chẳng bền mối Đạo. <BR><BR>Thương nhà văn khó bảo cơ văn. <BR><BR>Đòi phen nắm viết muốn quăng, <BR><BR>Đề danh chẳng kể đáng bằng ghi tên. <BR><BR>Thương những kẻ vì hiền khổ phận. <BR><BR>Cửa tang du khó lấn đầu hiên. <BR><BR>Thương người đeo thảm chuốc phiền, <BR><BR>Nỗi duyên lỡ dỡ hương nguyền lạnh tanh. <BR><BR>Thương những kẻ ôm dành cả nghĩa, <BR><BR>Thương cho người cửa tía cầu ô, <BR><BR>Bán thân vì chút từ cô, <BR><BR>Đem duyên mà đổi liễu bồ buôn may. <BR><BR>Thương nỗi bạn hằng ngày trông bóng. <BR><BR>Kiếm người thương những ngóng tin sương. <BR><BR>Tuyết khuya bủa lạnh then giường, <BR><BR>Gối chăn chia nửa, bước đường lạnh tanh. <BR><BR>Thương nghe dế năm canh trổi giọng, <BR><BR>Tưởng như dường ướm gióng dây loan. <BR><BR>Thương ai thổn thức canh tràng, <BR><BR>Vô phòng phòng vắng, vén màn màn côi. <BR><BR>Thương cho kẻ ngậm ngùi lỡ phận, <BR><BR>Tìm kiếm đôi lại vấn vương oan. <BR><BR>Thương người lánh tục tìm nhàn, <BR><BR>Trễ chơn mà bị phụ phàng tình duyên. <BR><BR>Thương người giữ chẳng bền danh tiết, <BR><BR>Vì thương nên khó biết trong mình, <BR><BR>Thà cam chết sống với tình, <BR><BR>Chia tay chẳng chịu sớm đành phụ nhau. <BR><BR>Thương Trời rạng lao xao cánh nhạn, <BR><BR>Đến đưa tin cửa Hớn Chiêu Quân. <BR><BR>Thương người lạc bước phong trần, <BR><BR>Đem thân Hồ Hớn bỏ phần tơ duyên<BR><BR>Thương người những chờ thuyền biển ái, <BR><BR>Bồng con thơ ngần ngại trông chồng. <BR><BR>Tấm trinh đổi mặt non sông, <BR><BR>Đành đem thân đá hẹn cùng tuyết sương. <BR><BR>Thương mây toả như dường vẽ bóng, <BR><BR>Chức Nữ kia ngồi ngóng Ngưu lang. <BR><BR>Trông vời cánh thước nhộn nhàng, <BR><BR>Cầu ô chẳng đến lấp đàng hiệp đôi. <BR><BR>Thương Cung Quảng, Hằng ngồi ngó bể, <BR><BR>Đợi tin chàng Hậu Nghệ đến thăm. <BR><BR>Thương ai mến trộm nhớ thầm, <BR><BR>Lựa duyên chẳng chịu ôm cầm thuyền ai. <BR><BR>Thương Tô Huệ hằng ngày dệt gấm, <BR><BR>Dâng tấm trinh vào tận đền rồng. <BR><BR>Thương người chịu nhục cùng chồng, <BR><BR>Dầu xa ân ái còn nồng nghĩa nhân. </EM><BR><BR>(1933)</FONT></FONT></UL><!-- / message --><!-- / controls -->
 

Facebook Comment

Top