<P> Kính cùng Thuý Oanh !</P>
<P> Hình như đây là câu hỏi KHÔNG MẤY PHÙ HỢP với lứa tuổi của Thuý Oanh đó nghen ! Nhưng xét về phưong diện tôn giáo thì đây là một Vấn ĐỀ ( theo ý riêng của Minh Hỷ thì còn nhiều sự tranh cãi và cũng không kém phần gay cấn quan trọng ) Thiết nghĩ trước đây 2 tháng mà Oanh hỏi như vậy thì chắc Minh Hỷ cũng bó tay rửa tay lắng nghe rồi ! Nhưng may thay ! Minh Hỷ có duyên đọc được quyển Tiểu Sử Đức Thượng Sanh , Minh Hỷ thấy cũng có đề cập đến vấn đề mà Oanh vừa hỏi , không biết Minh Hỷ có thể bắt tay và góp phần tham gia ý kiến không nhỉ??? <IMG src="smileys/smiley36.gif" border="0"></P>
<P> Mời Oanh xem những gì Minh Hỷ sưu tập được sau đây thì rõ ý :</P>
<P> <A name=c4><FONT color=maroon>TẠO TRUYỀN THỐNG <BR> CHO CON ĐƯỜNG TU NHƠN ĐẠO</FONT></A></P>
<P> Đây là giai đoạn khó khăn nhất của Đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp và năm vị Chức sắc bị Pháp bắt lưu đài. Thắng-1941, Tỉnh trưởng Tây Ninh hỏi mượn Tòa Thánh cho lính vào ở, Đức Thượng Sanh rất ưu tư, nhiều người đến gặp Ngài ở Sài Gòn mong được Ngài về Tây Ninh lèo lái nền Đạo, Ngài thấy thời cơ đen tối, vai trò Ngài chưa tới nên Ngài vẫn tiếp tục con đường thế đạo, độ đời đưa vào cõi Đạo. </P>
<P>Có người viết sử cho Đạo Cao Đài có hai phần vô vi và hữu hành (phổ độ) như vậy là mất cân đối mà vô vi thì không phổ độ hay sao ? Phổ độ theo kiểu của vô vi chứ thật ra, Đạo Cao Đài theo luật "nhất dĩ hoán chi', chỉ có một, nhưng PHƯƠNG TU ĐAÏI ĐẠO <FONT size=-1><I>(. . . ?)</I></FONT> theo Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, con đường nào cũng đưa về cõi thiêng liêng hằng sống, con đường hành đạo theo Cửu Phẩm Thần Tiên, hay Tam Thừa vô vi (hạ thừa, trung thừa và thượng thừa) tức tu tỉnh .....???...........ngộ.
<P>Phương tu thứ nhất là con đường Hành Đạo, tu theo hàng Giáo phẩm, phổ độ chúng sanh, đây là mặt nổi của nền đạo, chư vị các Đạo theo con đường này là Phạm Hộ Pháp, Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung ...
<P>Phương tu thứ hai là con đường Thiên Đạo vô vi hay con đường tu luyện tắt. Con đường vô vi lặng lẽ nhưng rất trù phú về tâm linh. Người đắc đạo theo lối tu này là Đức Ngô Minh Chiêu, Đức Cao Thượng Phẩm ....
<P>Đức Thượng Sanh là hình ảnh, là mô thức con đường Thế Đạo. Pháp Chánh Truyền ghi : "Trong các kiếp hữu sanh, duy có phẩm người là cao hơn hết, nên gọi là Thượng Sanh".
<P>Lập Tam Kỳ Phổ Độ này, Thầy............. các chơn linh ......... nguyên sanh hay là hóa sanh lên phẩm vị nhơn loại mới trọn câu phổ độ :
<P><I>"Chơn linh các nguyên nhân bị đọa trần nay hóa nhân thăng cấp đều nhờ Thượng Sanh độ rỗi (ấy là Thế Độ) nên Thượng Sanh làm chủ của Thế Đạo, nắm luật thế nơi tay mà dìu dẫn cả chúng sanh vào cửa Đạo. <BR>"Thượng Sanh là cây cờ đầu của ..........thì Thượng Sanh nơi đó" </I>(24 ?).
<P><FONT color=#ff0000>Đức Cao Thượng Sanh một trong những hàng giáo lãnh buổi đầu của nền Đạo, Ngài cũng có bổn phận thi hành Thiên mạng mà Đức Chí Tôn giao phó. Nếu Đức Phạm Hộ Pháp, Đức Cao Thượng Phẩm để lại những gương hành đạo tận tụy, vô ưu, đại độ cho chư tín đồ thì Đức Cao Thượng Sanh tạo ra một truyền thống về phần <I>Nhơn Đạo,</I> Ngài là điển hình mẫu mực cho con người Thế Đạo, làm khuôn thước cho người đời noi theo. Thế nên, từ năm 1941 đến 1956, Ngài ở lẫn lộn với đời để độ đời, vì <I>"đời nơi nào thì Thượng Sanh nơi đó". </I></FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Cái nếp sống nhơn đạo, giữ gìn thế luật thể hiện qua những nét lớn như sau ; vừa làm vừa tu, giữ gìn thế luật , độ Đời vào Đạo, làm tròn nhơn đạo mong được cứu rỗi. Chữ NHƠN trong chữ Nhơn Đạo gồm chữ Nhơn đứng và chữ Nhị, có nghĩa là từ hai người trở lên mới thấy được lòng nhơn, nói cách khác nhơn đạo là cách đối xử giữa người này và người kia trong mối tương quan tam cang ngũ thường, tứ đức tam tùng, thành ý, chánh tâm ... Muốn được vậy "ăn ở chơn chánh, hành động đơn giản" (cư kính như hành giản) và "người có nhân hễ muốn tự lập thì họ lập cho người còn muốn đạt đích thì làm cho người cùng đạt, hễ xử với mình thế nào thì cũng xử với người như thế" (Luận Ngữ). Thế thì lối tu giữa chợ Sài Gòn mà Đức Cao Thượng Sanh thử nghiệm là lối tu khó nhất, bị quyến rũ và khảo đảo hơn lối tu núi (Lão), tu Chùa (Phật), tu tề (Nho) còn Đạo Cao Đài là <I>tu tâm,</I>trị cái tâm bướng bỉnh, phải lo tròn <I>Nhơn Đạo</I> mới bước qua <I>Thiên Đạo.</I> Giáo lý Cao Đài không từ chối cuộc sống hiện tại, không mơ ước một Thiên đường xa mờ mà trái lại, Thần học Cao Đài vẫn coi cuộc sống này là một phần của đời sống vĩnh cửu phải làm cho nó tốt đẹp : Thiên đường trần gian. Con người đang sống trong hiện tại, cũng là sống trong trường cửu. Nói một cách khác ý niệm về thời gian hiện tại và trường cửu vẫn là một. Cho nên giá trị về nhơn đạo trong Đạo Cao Đài rất tinh tế và siêu thoát. Chưa sống giữa con người, chưa chịu sự khảo đảo của thế gian thì tu không thể thành đạt, vì "tu thân dĩ Đạo, tu Đạo dĩ nhân". </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Đặc điểm đầu tiên của Đức Cao Thượng Sanh là vừa đi làm việc đời vừ tu tại gia cho đến lúc hồi hưu dưỡng lão. Nhiều vị theo chân Ngài như Trương Hiến Pháp, Phạm Hiến Đạo ... và đa số các phái Đạo. </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Khi làm việc tại cơ quan Nhà nước, Ngài luôn luôn giữ gìn thế luật : "ra giao thiệp với đời thì giữ tánh ôn, lương, cung, khiêm, nhượng" (25 ?). Còn "đối với hàng đạo hữu nuôi nấng cái tính thù tạc với nhau cho khắng khít cái cây liên lạc' (26 ?). Đối với hàng tín đồ, trong những việc tang, hôn, Ngài đều đến thăm viếng. Đối với những vị Thời Quân cư ngụ tại Sài Gòn, Ngài đến bang giao hành Đạo rất tương thân tương ái, phải nói cả số vị Thời Quân .......... quan điểm về việc hành Đạo của Ngài. Đối với hàng Giáo lãnh Hiệp Thiên Đài và như Đức Cao Thượng Phẩm, Đức Hộ Pháp, Ngài cũng cộng ưu chung sự. </FONT>
<P>Năm 1928, Đức Cao Thượng Phẩm bị nạn, Ngài về Tòa Thánh viếng thăm và chia buồn, an ủi, Đức Cao Thượng Phẩm cám cảnh nảy ra rồi tự thán :
<P>
<UL>THI
<P><I>Công trình gầy dựng Thất Tây Ninh <BR>Bằng địa sóng xao khiến rập rình<BR>Tà mị phàm rung rinh chất Thánh<BR>Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh<BR>Xưa Tòa Thánh dập dìu lai vãng <BR>Nay Bửu đình hiu quạnh lụy nhìn<BR>Thương Đạo mến Thầy xin sớm liệu<BR>Cộng tâm chung trí chớ làm thinh (27 ?) </I></P></UL>
<P>Thông cảm được nỗi oan khiên của Đức Ngài, Đức Cao Thượng Sanh đã họa bài thi trên như vầy :
<P>
<UL>HỌA VĂN
<P><I>Dập dìu nào buổi Thất Tây Ninh, <BR>Hiu quạnh hôm nay gió rập rình<BR>Trước ngõ lơ thơ vài đạo hữu<BR>Sau hiên meo mốc mấy pho kinh<BR>Rừng xơ vẻ thắm chim không đỗ<BR>Cảnh lợt màu tươi khách biếng nhìn<BR>Xây dựng là ai, ai phá hoại<BR>Sụt sùi để bước khó làm thinh.</I> </P></UL>
<P>Tuy Ngài không ở tại Tòa Thánh hành đạo buổi đầu, nhưng tâm tư Ngài lúc nào cũng hướng về Tổ Đình. Cảm nhận niềm đau của Đức Cao Thượng Phẩm làm cái đau của Ngài, vì "con ngựa đau cả tàu bỏ không ăn cỏ", niềm vui của Đức Hộ Pháp là niềm vui của Ngài, của toàn Đạo.
<P>Năm 1946, Đức Phạm Hộ Pháp được chính phủ Pháp trả tự do từ Madagascar về Việt Nam rồi về Tây Ninh. Ngày 4-8-Bính Tuất, Ngài về Tòa Thánh đến thăm Đức Phạm Hộ Pháp và có làm một bài thơ cảm tác như sau :
<P>
<UL>CẢM TÁC
<P><I>Nhành lá rừng tòng đã điểm tươi, <BR>Còn non còn nước lại còn người. <BR>Xa nhà bỏ lúc thương pha hận, <BR>Gặp oan vầy khi khóc lộn cười. <BR>Nguồn Đạo xưa trông, đôi cảnh nghịch<BR>Thuyền từ nay lướt một dòng xuôi. <BR>Trời Nam thử điểm trang tân sử, <BR>Đổ lệ cùng nhau gượng để lời. <BR></I>CAO THƯỢNG SANH </P></UL>
<P>Đức Cao Thượng Sanh ở lại cúng Hàm, dự lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, bà Bát Nương giáng cơ cho Đức Hộ Pháp bài thi :
<P>
<UL>THI
<P><I>Đào Nguyên lại trổ trái hai lần<BR>Ai ngõ Việt Thường đã thấy lân. <BR>Cung Đẩu ví xa gươm xích quỉ, <BR>Thiên cung mở rộng cửa Hà Ngân. <BR>Xuân thu định vững ngô-lương-tề, <BR>Phật chủ quét tan lũ nịnh thần. <BR>Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc, <BR>Mở đường quốc thể định phong vân. </I><BR>BÁT NƯƠNG (28)
<P><BR>HỌA VẬN
<P><I>Dựng gầy xã tắc bấy nhiêu lần, <BR>Mong mỏi vùng Nam đặng thấy lân. <BR>Đảnh Việt Trời cho gìn cảnh trí<BR>Thuyền Nam Đạo vững lướt dòng ngân. <BR>Đài hoa tạc để gương anh kiệt, <BR>Thiên khiên dành riêng đám tội thần. <BR>Gặp phải nước nhà cơn loạn lạc, <BR>Làm trai tua vẹn chí thanh vân. </I><BR>CAO THƯỢNG SANH </P></UL>
<P><FONT color=#ff0000>Cái phong cách vừa làm việc đời vừa tu của Đức Cao Thượng Sanh không những phù hợp với tuyệt đại đa số tín đồ mà còn ảnh hưởng đến nhiều hàng Giáo lãnh, nhất là ở các phái Đạo. Ở các Thánh Thất tự lập người ta không phế đời hành đạo, ly gia cắt ái mà sống giữa dòng đời để độ đời vào Đạo. Nhưng ai ai cũng giữ gìn Thế luật : trai kỳ 10 ngày, tiếp tục sống chung lộn với vợ con, "rủi có chích lẻ giữa đường thì được chấp nối' (29 ?). Đức Cao Thượng Sanh đã thực hiện điều thứ 9 của Thế Luật, tuy đã được Thiên Phong từ năm 1925, nhưng đến năm 1946 vợ vẫn còn sanh người con út và nhiều Chức sắc khác đời sống vợ chồng vẫn được tiếp nối. </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Đây là quan niệm rất nhân bản, và rất mới mẻ của giáo lý Đạo Cao Đài, vì thế giới loài người phải tồn tại, các ngươn Đạo là chu trình kín tiếp nối nhau, con người phải luôn luôn luân lưu chuyển kiếp để được thánh thiện. Đạo Cao Đài xác định quan điểm trên bằng cách thờ Thần Shiva (Civa), Thần tình ái mà nhân dân Ấn Độ tôn sùng để hộ trì cho nước họ được miên trường, Thần có vợ là Parvati phò trợ cho tình yêu của thanh niên nam nữ Ấn Độ (30 ?). Đến kỷ nguyên Cao Đài thì Thần Shiva được các vị Phật, được tạc tượng thờ trên nóc Bát Quái Đài, quay mặt về hướng Bắc, chân đạp trên thất đầu xà tượng trưng cho diệt thất tình, khỏi hôn mê tình ái như lúc còn là Thần (nên đọc tiểu sử Thần Siva để biết rõ hơn). </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Việc thờ Phật Shiva bên ngoài Tòa Thánh xác nhận Đạo Cao Đài coi việc bảo tồn giống nòi là cần thiết (chớ không noi theo cả hành vi của Thần Shiva), nhưng đó không phải là căn cốt của giáo lý Đạo Cao Đài, mà giáo lý chính truyền nằm trong nội điện Tòa Thánh. </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Bàn những điều trên để thấy rằng Đạo Cao Đài rất nhân bản, gần gủi con người, thuận khoa học, tôn trọng luật tự nhiên của Tạo Hóa. Thượng Sanh theo Pháp Chánh Truyền thì "Trong các kiếp hữu sanh, duy có con người là cao hơn hết nên gọi là Thượng Sanh". Vậy Cao Thượng Sanh chỉ là một người biểu hiện đầy đủ tính người, nghĩa là cũng có đầy đủ đời sống tình ái vợ con, công ăn việc làm như mọi người. Nhưng Ngài có cái khác hơn là mang Thiên lịnh "độ dân các nguyên nhân đọa trần vào cửa Đạo", Ngài phải mặc áo màu tu sĩ để dẫn dắt người đời từ giữ gìn thế luật sang Thiên luật Đạo Pháp, mà muốn độ được đời thì phải giống đời, sống trong đời, nếu khác người thì người làm sao theo đạo được. </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Vả lại luật đạo không ngăn cấm tu sĩ lập gia đình, hoặc theo Đạo thì đứt tình vợ con, nhưng Đức Chí Tôn cũng không bao giờ buộc con cái Ngài phải trầm luân mãi trong vòng trần tục. Thế nên, chữ nhơn đạo của Ngài không bắt buộc phải thỏa mãn vấn đề tình dục giữa một nam và một nữ. </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>"Cái quyền tự chủ định phận lấy mình, Ngài đã giao trọn nơi tay chúng ta ... cái trí não tinh thần của một cá nhân vốn chẳng đồng nhau nên chẳng có sự buộc ràng nào về mặt sinh lý giữa một nam và một nữ. </FONT><FONT color=#ffff00><strong><FONT color=#ff00ff><EM>Trong quyển "Phương tu đại đạo", Đức Hộ Pháp khi luận về đạo vợ chồng, Ngài đã công khai nhắc nhở thanh niên nam nữ rằng : liệu như hoàn cảnh mình không đủ sức đùm bọc đời sống cho nhau thì đừng tạo thêm vòng oan trái.</EM></FONT> </strong></FONT>
<P><FONT color=#ff0000>"Như vậy nhơn đạo không nằm trong sự ràng buộc về sinh lý giữa hai thể xác nam nữ mà nằm trong mối tương quan có tính cách giao tế giữa hai con người, khi hai kẻ ấy đã tự mình ký thỏa ước chung về cùng nghiệp là lập gia đình.... </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>"Vòng thê tử luôn luôn có cái nhân của nó, cái nhân ấy do chính chúng ta gây ra, nhưng chúng ta lại sợ hãi quả nghiệp nên cái trí tinh ranh, xảo quyệt của ta mới tìm ra những luận lý sắc bén để trấn an tâm thức rằng đó là cái đạo làm người, rằng Đức Chí Tôn muốn thế. Cái trí xảo quyệt của chúng ta còn tìm cách xuyên tạc Thánh giáo. Đại ý nói rằng nhơn đạo tròn mới bước qua Thiên Đạo, như là một điều kiện bắt buộc ai ai cũng phải có vợ, có chồng rồi mới có thể tu theo đường Thiên Đạo. </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>"<FONT color=#ff00ff><EM><strong>Buổi mới khai đạo, nhiều người vừa thức tỉnh mộng tràn, toan tìm đường lên non luyện thuốc trường sanh, phế bỏ việc làm ăn sinh sống của gia đình, trút hết gánh nặng của mình đã tạo ra, bỏ mặc cho xã hội, tìm đường chạy trốn cho được yên thân, gọi là tu hành (?).</strong></EM> </FONT>Ngài thấy vậy, biết chắc kết quả chẳng đến đâu, bởi luật công bình không dung thứ cho <I>kẻ trốn nợ đời, </I>nên mới có lời khuyên như trên, tuyệt đối Ngài không hề khuyến khích tiếp tục cuộc ân ái gối chăn ... </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>"</FONT><FONT color=#ff00ff><strong><EM>Tuyệt nhiên Ngài không hề xác nhận rằng việc nối dõi tông đường là một bổn phận về nhơn đạo mà Ngài chỉ cho phép nếu ý chúng ta như vậy. Đây là một điểm trọng hệ, vì nếu điều luật này hiểu một cách máy móc thì học thuyết Cao Đài sẽ có những điểm mâu thuẫn nội tại, hai tiếng Đại Đạo sẽ thành ảo tưởng, cái cơ duyên ........... dung hợp tất cả ............giáo thuyết sẽ không còn nữa" (31 ?) </EM></strong></FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Khi tâm thức bừng sáng ánh Đạo ở điểm nào thì ta bước ngay sang đường Thiên Đạo ở điểm đó, mà không chút ngần ngại. </FONT>
<P><FONT color=#ff0000>Tóm lại, Phương Tu Đại Đạo có ba con đường : Vô Vi Thiên Đạo, Đạo Pháp Thiên Đạo (Hành Đạo) và nhơn đạo, thì con đường nhơn đạo trù phú vì gần gũi với dục tâm con người hơn cả. Đức Cao Thượng Sanh là một người phản ảnh đầy đủ sắc thái của nếp sống nhơn đạo : thi hành Thế luật ................giữ ngũ giới cấm, tứ đại điều qui, tam cang ngũ thường và những bổn phận con người trong xã hội. Hạng tín đồ và tuyệt đại đa số các phái Đạo đã coi Ngài là cái gương phản chiếu trong cuộc sống, vì lo tròn nhơn đạo là được cứu rỗi rồi. </FONT>
<P><strong><FONT color=#0000ff>Thật vậy, Đức Cao Thượng Sanh đã để lại cho hậu thế một truyền thống tu theo đường nhơn đạo, làm nền nếp cho mọi tín đồ khi bước chơn vào cửa đạo noi theo</FONT></strong></P>
<P><strong><FONT color=#0000ff> </FONT><FONT color=#000000>( Trích trong Quyển Tiểu Sử ĐỨC THƯỢNG SANH và THẬP NHỊ BẢO QUÂN của Hiền Tài Trần Văn Rạng ) </FONT></strong></P>
<P><strong> </strong>Hy vong qua đây Minh Hỷ đã cung cấp đựơc chút xíu gì đó gọi là sự trả lời cho câu hỏi của Thuý Oanh và có lẽ qua đây tất cả chúng ta sẽ tìm được hướng đi mới cho bản thân mình về vấn đề TU HỌC ngõ hầu làm tròn NHƠN Đạo , bước qua Thiên Đạo về với Thầy Mẹ </P>
<P> Chúc Thuý Oanh tu học tốt hơn nhé , chúc toàn thể quý huynh tỷ an khang !</P>
<P> Thân ái kính chào ! </P>