<P> Chào quý huynh, tỷ, đệ, muội !</P>
<P>Đệ có thấy trong 1 Diễn Đàn mọi người trao đổi ý kiến về cách xưng hô trong Đạo Cao Đài.</P>
<P>Nhân đọc được 1 huấn lịnh của Hội Thánh Tây Ninh về việc xưng hô trong Đạo. Đạo đệ xin chép lại để mọi người cùng tham khảo.</P>
<P><strong><EM>Số: 211/CV</EM></strong> <strong>ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ</strong></P>
<P><strong> (Nhị Thập Thất Niên)</strong></P>
<P><strong> TOÀ THÁNH TÂY NINH</strong></P>
<P> <strong><FONT size=3>HUẤN LỊNH</FONT></strong></P>
<P> THÁI, THƯỢNG VÀ NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ</P>
<P>GỬI CHO QUÝ VỊ CHỨC SẮC THIÊN PHONG, TOÀN ĐẠO</P>
<P>Chư hiền huynh hiền tỷ:</P>
<P>Nhận thấy trong các công văn về mặt Đạo có một phần ít chức sắc không mấy rành về cách xưng hô cùng nhau cho y một khuôn khổ.</P>
<P>Muốn bổ khuyết điều ấy và nơi do sự để nghị của Hội Thánh, Đức HỘ PHÁP đã phê chuẩn Huấn Lịnh này, xin chư hiền huynh hiền tỷ do theo các danh từ xưng hô cùng nhau kể dưới đây mà dùng trong các công văn đạo.</P>
<P>1. GIÁO TÔNG và HỘ PHÁP xưng Bần Đạo.</P>
<P>2. CHƯỞNG PHÁP và ĐẦU SƯ xưng Tinh Tế.</P>
<P> - Tinh là tinh vi, thuần túy.</P>
<P> - Tế là tế độ chúng sanh.</P>
<P>3- CHÁNH PHỐI SƯ và PHỐÍ SƯ xưng Tiện Minh.</P>
<P> - Tiện là tiếng khiêm tốn, ám chỉ là còn thiếu kém tài đức.</P>
<P> - Minh là sáng, là minh mẫn, lấy trí khôn mà xét đoán việc hành sự.</P>
<P>4. GIÁO SƯ xưng Tiện Hiền.</P>
<P> - Tiện đã giải khoản trên.</P>
<P> - Hiền là hiền đức, hiền lành. Đức CHÍ TÔN đã ban cho 72 Giáo Sư là Thất Thập Nhị Hiền, thì cách xưng hô của Giáo Sư có chữ Hiền, hiểu nghĩa trắng thiết tưởng không quá đáng.</P>
<P>5. GIÁO HỮU xưng với bề trên là Tiện Đệ, đối với bề dưới là Tiện Huynh.</P>
<P> - Đệ là em mà có nghĩa trong số Tam Thiên Đồ Đệ của CHÍ TÔN ban cho.</P>
<P>6. LỄ SANH xưng là Thiểu Phẩm.</P>
<P> - Thiểu là ít là nhỏ, xưng là chức nhỏ một cách khiêm cung. Lễ Sanh là người có hạnh đức hơn hết trong chư môn đệ của CHÍ TÔN mà dùng chữ khiêm tốn xưng mình là giá trị càng cao.</P>
<P>Luận một cách tổng quát chức sắc nhỏ đối với chức sắc lớn hơn, có thể gọi là Hiền Huynh, còn mình tự xưng là Tiện Đệ; còn bề trên xưng với cấp dưới, thì tự gọi mình là Tiện Huynh, kêu em là Tiện Đệ.</P>
<P>Luận về hai tiếng ÔNG và Ngài hay dùng thường thức trong Đạo.</P>
<P> - Từ tín đồ cho đến Giáo Hữu thì dùng chữ ÔNG.</P>
<P> - Từ bậc GIÁO SƯ trở lên mới dùng chữ Ngài.</P>
<P> - Trong việc liên quan giữa gia đình và thân thuộc thì cứ giữ như xưa nay cô, bác, cậu, dì, anh, chị, em, cháu,...v.v...</P>
<P> Đặc biệt riêng về Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp thì phải đề trên các đầu văn kiện " Bạch Đức Giáo Tông" " Bạch Đức Hộ Pháp " kế đó là " Bạch Đức Ngài ". Dài theo trong câu chuyện nếu lập đi, lập lại thì đề " Bạch Đức Ngài " luôn.</P>
<P> Trên đầu văn kiện chính thức gữi cho Chức sắc cấp trên thì phải đề Chức Phẩm.</P>
<P> Thí dụ: Như Giáo Hữu mà gửi cho Qu. Ngọc Chánh Phối Sư thì đề " Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH KHÂM CHÂU ĐẠO CẦN THƠ, kính gửi Ngài Qu. NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ " hàng dưới cách khoảng thì đề: " Kính Ngài Qu. Ngọc Chánh Phối Sư " rồi trong thân văn kiện thì xưng hô như cách đã chỉ trên hoặc dùng tiếng chung mà gọi người là Hiền Huynh, xưng mình là Tiện Đệ...v.v...</P>
<P> Bên Nữ Phái, trên đối với dưới thì xưng là Tiện Tỷ, gọi em là Tiện Muôi. Dưới đối với trên thì gọi vị bề trên là Hiền Tỷ mình tự xưng là Tiện Muội.</P>
<P> Vậy từ đây xin chư vị chức sắc nam, nữ tuân theo Huấn Lịnh này để tùy giai cấp mà xưng hô cùng nhau và ban hành cho toàn Đạo đặng rõ.</P>
<P>TÒA THÁNH TÂY NINH, ngày rằm tháng 7 năm Nhâm Thìn</P>
<P>(Dl.3 SEPTEMBER 1952)</P>
<P> NỮ Qu. THÁI; Qu. THƯỢNG; Qu. NGỌC</P>
<P>CHÁNH PHỐI SƯ CHÁNH PHỐI SƯ CHÁNH PHỐI SƯ CHÁNH PHỐI SƯ</P>
<P>(ký tên đóng dấu) (ký tên đóng dấu) (ký tên đóng dấu) (ký tên đóng dấu)</P>
<P> Hương Hiếu Th ái Khí Thanh Thượng Sáng Thanh Ngọc Non Thanh</P>
<P>-----------------------------</P>
<P><FONT color=#ff0000>Trích trong Tập San <strong>Ánh Sáng Phương Đông</strong>, số 2 tháng 11-2005, trang 89-91</FONT></P><FONT color=#cccccc> (Có chỉnh sửa kỹ thuật bởi Admin)</FONT>
<P>Đệ có thấy trong 1 Diễn Đàn mọi người trao đổi ý kiến về cách xưng hô trong Đạo Cao Đài.</P>
<P>Nhân đọc được 1 huấn lịnh của Hội Thánh Tây Ninh về việc xưng hô trong Đạo. Đạo đệ xin chép lại để mọi người cùng tham khảo.</P>
<P><strong><EM>Số: 211/CV</EM></strong> <strong>ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ</strong></P>
<P><strong> (Nhị Thập Thất Niên)</strong></P>
<P><strong> TOÀ THÁNH TÂY NINH</strong></P>
<P> <strong><FONT size=3>HUẤN LỊNH</FONT></strong></P>
<P> THÁI, THƯỢNG VÀ NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ</P>
<P>GỬI CHO QUÝ VỊ CHỨC SẮC THIÊN PHONG, TOÀN ĐẠO</P>
<P>Chư hiền huynh hiền tỷ:</P>
<P>Nhận thấy trong các công văn về mặt Đạo có một phần ít chức sắc không mấy rành về cách xưng hô cùng nhau cho y một khuôn khổ.</P>
<P>Muốn bổ khuyết điều ấy và nơi do sự để nghị của Hội Thánh, Đức HỘ PHÁP đã phê chuẩn Huấn Lịnh này, xin chư hiền huynh hiền tỷ do theo các danh từ xưng hô cùng nhau kể dưới đây mà dùng trong các công văn đạo.</P>
<P>1. GIÁO TÔNG và HỘ PHÁP xưng Bần Đạo.</P>
<P>2. CHƯỞNG PHÁP và ĐẦU SƯ xưng Tinh Tế.</P>
<P> - Tinh là tinh vi, thuần túy.</P>
<P> - Tế là tế độ chúng sanh.</P>
<P>3- CHÁNH PHỐI SƯ và PHỐÍ SƯ xưng Tiện Minh.</P>
<P> - Tiện là tiếng khiêm tốn, ám chỉ là còn thiếu kém tài đức.</P>
<P> - Minh là sáng, là minh mẫn, lấy trí khôn mà xét đoán việc hành sự.</P>
<P>4. GIÁO SƯ xưng Tiện Hiền.</P>
<P> - Tiện đã giải khoản trên.</P>
<P> - Hiền là hiền đức, hiền lành. Đức CHÍ TÔN đã ban cho 72 Giáo Sư là Thất Thập Nhị Hiền, thì cách xưng hô của Giáo Sư có chữ Hiền, hiểu nghĩa trắng thiết tưởng không quá đáng.</P>
<P>5. GIÁO HỮU xưng với bề trên là Tiện Đệ, đối với bề dưới là Tiện Huynh.</P>
<P> - Đệ là em mà có nghĩa trong số Tam Thiên Đồ Đệ của CHÍ TÔN ban cho.</P>
<P>6. LỄ SANH xưng là Thiểu Phẩm.</P>
<P> - Thiểu là ít là nhỏ, xưng là chức nhỏ một cách khiêm cung. Lễ Sanh là người có hạnh đức hơn hết trong chư môn đệ của CHÍ TÔN mà dùng chữ khiêm tốn xưng mình là giá trị càng cao.</P>
<P>Luận một cách tổng quát chức sắc nhỏ đối với chức sắc lớn hơn, có thể gọi là Hiền Huynh, còn mình tự xưng là Tiện Đệ; còn bề trên xưng với cấp dưới, thì tự gọi mình là Tiện Huynh, kêu em là Tiện Đệ.</P>
<P>Luận về hai tiếng ÔNG và Ngài hay dùng thường thức trong Đạo.</P>
<P> - Từ tín đồ cho đến Giáo Hữu thì dùng chữ ÔNG.</P>
<P> - Từ bậc GIÁO SƯ trở lên mới dùng chữ Ngài.</P>
<P> - Trong việc liên quan giữa gia đình và thân thuộc thì cứ giữ như xưa nay cô, bác, cậu, dì, anh, chị, em, cháu,...v.v...</P>
<P> Đặc biệt riêng về Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp thì phải đề trên các đầu văn kiện " Bạch Đức Giáo Tông" " Bạch Đức Hộ Pháp " kế đó là " Bạch Đức Ngài ". Dài theo trong câu chuyện nếu lập đi, lập lại thì đề " Bạch Đức Ngài " luôn.</P>
<P> Trên đầu văn kiện chính thức gữi cho Chức sắc cấp trên thì phải đề Chức Phẩm.</P>
<P> Thí dụ: Như Giáo Hữu mà gửi cho Qu. Ngọc Chánh Phối Sư thì đề " Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH KHÂM CHÂU ĐẠO CẦN THƠ, kính gửi Ngài Qu. NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ " hàng dưới cách khoảng thì đề: " Kính Ngài Qu. Ngọc Chánh Phối Sư " rồi trong thân văn kiện thì xưng hô như cách đã chỉ trên hoặc dùng tiếng chung mà gọi người là Hiền Huynh, xưng mình là Tiện Đệ...v.v...</P>
<P> Bên Nữ Phái, trên đối với dưới thì xưng là Tiện Tỷ, gọi em là Tiện Muôi. Dưới đối với trên thì gọi vị bề trên là Hiền Tỷ mình tự xưng là Tiện Muội.</P>
<P> Vậy từ đây xin chư vị chức sắc nam, nữ tuân theo Huấn Lịnh này để tùy giai cấp mà xưng hô cùng nhau và ban hành cho toàn Đạo đặng rõ.</P>
<P>TÒA THÁNH TÂY NINH, ngày rằm tháng 7 năm Nhâm Thìn</P>
<P>(Dl.3 SEPTEMBER 1952)</P>
<P> NỮ Qu. THÁI; Qu. THƯỢNG; Qu. NGỌC</P>
<P>CHÁNH PHỐI SƯ CHÁNH PHỐI SƯ CHÁNH PHỐI SƯ CHÁNH PHỐI SƯ</P>
<P>(ký tên đóng dấu) (ký tên đóng dấu) (ký tên đóng dấu) (ký tên đóng dấu)</P>
<P> Hương Hiếu Th ái Khí Thanh Thượng Sáng Thanh Ngọc Non Thanh</P>
<P>-----------------------------</P>
<P><FONT color=#ff0000>Trích trong Tập San <strong>Ánh Sáng Phương Đông</strong>, số 2 tháng 11-2005, trang 89-91</FONT></P><FONT color=#cccccc> (Có chỉnh sửa kỹ thuật bởi Admin)</FONT>