Câu chuyện Nhập môn cầu Đạo

Nhat Minh

New member
<P align=center><strong><FONT size=5> </FONT></strong><FONT color=#800000><strong><FONT size=5>Câu chuyện Nhập môn cầu Đạo</FONT></strong> </FONT><FONT face="Times New Roman"></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Trong một xóm nghèo ở ngoại ô Thị Xã VL có vợ chồng ông Hai Thiệt đều theo Đạo Cao Đài, căn nhà của hai ông bà đang ở là nhà xưa, lợp ngói âm dương, cột gỗ và vách ván đều hư mục gần hết, cửa nẻo xệch xạc, trong nhà không có gì quí giá ngoài hai bàn thờ : bàn thờ giữa nhà để thờ Đức Chí Tôn, bàn thờ bên cạnh để thờ Tổ Tiên. Hai ông bà đều già, gần 70 tuổi, không còn sức lao động, sống được là nhờ vợ chồng đứa con gái làm nghề bán gạo lẻ tại chợ nhỏ CL, cung cấp lương thực tạm đủ để nuôi sống ông bà, vợ chồng đứa con gái ấy không khá giả chi, chỉ đủ tay làm hàm nhai. Vả lại ông bà Hai Thiệt đều ăn chay trường, cũng ít tốn kém. Hai ông bà đều siêng năng cúng kiếng tại nhà, hàng xóm thường nghe tiếng chuông mõ nhẹ nhàng phát ra từ ngôi nhà cũ kỹ ấy. Khi đến ngày mùng 1 hay rằm, ông bà Hai Thiệt thường tới Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu để chầu lễ Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu, cách nhà của ông bà khoảng hai ngàn thước.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Những người trong xóm đều rất cảm mến ông bà Hai Thiệt, vì tánh nết hiền hậu và thật thà.</FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>Trong số láng giềng có ông Út Mô thường qua nhà nói chuyện chơi. Gia đình Út Mô không có Đạo, chỉ thờ ông bà, rất có cảm tình với ông bà Hai Thiệt, nên cũng có cảm tình với Đạo Cao Đài.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Thình lình ông Hai Thiệt bị cảm nặng, nằm một chỗ không dậy nổi. Ông Út Mô thấy có nhiều vị Đạo Cao Đài mặc áo trắng quần trắng đến thăm ông Hai Thiệt bịnh, có xách theo đường sữa và trái cây tặng cho người bịnh. Vài ngày sau, bịnh ông Hai Thiệt trở nặng hơn, khó bề thang thuốc. </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Út Mô thấy có vài vị Đạo Cao Đài mặc đạo phục nghiêm chỉnh, đem theo mấy đứa con gái nhỏ tuổi làm đồng nhi đến nhà ông Hai Thiệt để tụng Kinh Hấp Hối cho ông. Chừng một lúc sau, ông Hai Thiệt thở hơi cuối cùng. Mọi người đều không cầm giọt lệ.</FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>Ông Út Mô cảm thấy thương xót ông Hai Thiệt, nghĩ rằng gia đình ông rất nghèo, bà Hai thì già, không còn sức lao động, đứa con gái làm chỉ đủ ăn, làm sao lo hòm rương và làm đám tang cho ông Hai Thiệt. Ông Út Mô đang lo lắng nghĩ cách giúp đỡ thì bỗng nhiên Út Mô thấy nhiều người Đạo Cao Đài chở đến nhà ông Hai Thiệt một cái hòm, thấy cũng khá tốt, có đủ đồ tẫn liệm, có vài ông mặc áo đạo tỳ đi theo lo việc tẫn liệm. Mấy ông cúng vái nơi bàn thờ giữa, rồi đến chỗ xác ông Hai Thiệt nằm, đồng nhi tụng kinh rồi mấy ông đạo tỳ liệm xác ông Hai Thiệt vào quan tài.</FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>Một nhóm người đạo khác, đủ cả nam nữ, chở tới bàn ghế, chén dĩa, son nồi nấu nướng, rồi phân công ra, người đi chợ mua rau cải củ đậu, người lo chẻ củi đun bếp, người lo dựng rạp, trải bàn, sắp ghế. Còn các vị trong ban nhạc thì chở nhạc cụ tới gồm : cặp trống, đờn cò, đờn kìm, kèn, mõ, vv... rồi có người đi mua đồ cúng gồm : nhang, đèn sáp, bông, trái cây, rượu, trà cũng vừa mang tới. </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Những người đạo đến giúp đám tang làm việc rất trật tự, mỗi người một việc rất ăn khớp nhau, làm rất quen tay, không nghe một tiếng nói lớn, không một tiếng chửi thề, không một tiếng cười giỡn, mọi người đều tỏ dấu bi ai.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Hôm sau, ông Út Mô thấy một nhóm thanh niên của Đạo Cao Đài đến đám tang, vào nhà thay quần áo lễ sĩ màu xanh đậm, đội mão lễ sĩ trắng có thêu hoa thị đen phía trước, để làm lễ cúng tế. Ban nhạc đánh trống và đờn, đồng nhi tụng kinh, lễ sĩ hiến lễ, hai tay cung tròn ngang mày, cầm dĩa cúng phẩm, chân bước đi rập ràng theo tiếng trống, bước tới, rồi đi xen qua lộn lại hay xây vòng theo bài bản rất trật tự, tập luyện rất công phu, đem cúng phẩm dâng lên bàn vong.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=3><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">Các người đạo đi đám thì mặc toàn áo dài trắng, quần trắng, nữ để đầu trần, nam thì đội khăn đóng đen, đứng hầu xung quanh nghiêm trang, trật tự, </SPAN><SPAN lang=X-NONE style="FONT-SIZE: 11pt">đồng</SPAN><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"> nhi tụng kinh giọng trầm bổng bi ai, lúc nhanh lúc chậm, tạo thành một khung cảnh tôn nghiêm, huyền bí.</SPAN></FONT></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Đặc biệt vào buổi sáng hôm sau, ông Út Mô thấy một vị Chức sắc mặc áo rộng đỏ, đầu đội mão tròn cũng màu đỏ, giữa mão có thêu một con mắt, đến làm phép cho người chết. Đồng đạo đến dự rất đông, đứng vào hai bên phía trước quan tài, nam bên trái, nữ bên phải. Vị Chức sắc cúng nơi bàn thờ giữa xong thì đến đứng trước quan tài, ra hiệu lịnh cho đồng nhi tụng kinh. Út Mô để ý thấy vị Chức sắc ấy đi rất chậm quanh quan tài, bước đi chắc chắn, nghiêm nghị, tay mặt cầm cành dương rẩy nước làm phép, sau đó đi vòng thứ nhì, tay trái cầm cây kéo như lựa chỗ rồi cầm kéo cắt khơi khơi trong không khí, đi giáp vòng rồi trở lại đứng trước quan tài, kế đó có người phụ lễ đưa cho ông bó nhang đang cháy để ông tiếp tục làm phép. Khi ông làm phép xong thì đồng nhi tụng kinh vừa dứt.   </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Út Mô hỏi một người đạo, ông Chức sắc mặc áo đỏ ấy làm phép gì vậy ?  Vị ấy trả lời : Đó là ông Giáo Hữu đến làm phép xác, phép cắt dây oan nghiệt và phép độ thăng cho ông Hai Thiệt, để linh hồn của ông sớm được siêu thăng lên cõi thiêng liêng. Buổi lễ diễn ra rất trật tự, trang nghiêm, đầy vẻ thiêng liêng.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Buổi lễ làm phép vừa xong, ông Út Mô thấy một chiếc xe có hình dáng là một con rồng, đầu xe làm hình đầu rồng, cuối xe làm hình đuôi rồng, mình xe làm nhà vàng, trước và sau xe đều có cắm cờ đạo 3 màu : vàng, xanh, đỏ. Chiếc xe nầy sơn và vẽ hình con rồng màu vàng rất đẹp, đậu trước nhà ông Hai Thiệt. Ông Út Mô hỏi một người đạo thì được biết đây là tượng trưng chiếc thuyền Bát Nhã chở xác người chết đem chôn nơi nghĩa địa.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Trong nhà lúc đó, đồng nhi tụng kinh, hết bài kinh nầy tới bài kinh khác, sau đó đứng dạt ra hai bên để ban đạo tỳ vào đứng trước quan tài làm lễ, có người chỉ huy cầm nhịp gõ lớn làm hiệu lịnh, các đạo tỳ đi vòng qua lộn lại rồi đi xen kẻ rất trật tự, có tập luyện thuần thục. Bàn vong được dẹp bỏ, các đạo tỳ vào đứng quanh quan tài, chuẩn bị khiêng quan tài ra đặt lên thuyền Bát Nhã.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=3><SPAN lang=EN-US>Đoàn đưa đám tang khởi hành, đi đầu là tấm bảng lớn bằng vải đen có thêu 6 chữ lớn màu trắng “ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”, tiếp theo là một người cầm phướn 3 màu vàng xanh đỏ, trên phướn có hai chữ nho, đi tiếp theo là bàn vong, hai bên có hai hàng đồng nhi vừa đi vừa tụng kinh, kế đó là thuyền Bát Nhã đặt trên 4 bánh xe chạy chậm chậm nối theo, tang gia đi tiếp theo và sau cùng là các đồng đạo nam nữ đi tiễn đưa. Ông Út Mô để ý thấy </SPAN><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">không</SPAN><SPAN lang=EN-US> có việc rải giấy tiền vàng bạc khi đám tang đi dọc đường. . . . . .</SPAN><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 10pt">  (Nghi thức của đám tang sẽ được trình bày đầy đủ chi tiết trong Chương 24 sau cùng)</SPAN></FONT></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Út Mô quan sát đám tang của Hai Thiệt do Đạo Cao Đài tổ chức, đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác, không ngờ Hai Thiệt nghèo như vậy mà Đạo Cao Đài tổ chức cho ông một đám tang rất long trọng, đầy đủ nghi lễ, trật tự trang nghiêm, bi ai, trong sự trợ giúp hết sức nhiệt tình của đồng đạo, với tính cách là làm công quả. Dù gia đình giàu có ở ngoài đời, chịu tốn nhiều tiền, cũng không thể tổ chức được một đám tang tốt đẹp như vậy.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Út Mô cảm thấy rất khâm phục Đạo Cao Đài và trong trí ông lóe lên tư tưởng : hay là mình xin gia nhập vào Đạo Cao Đài.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Út Mô suy nghĩ mấy ngày, rồi quyết định xin nhập môn vào Đạo Cao Đài. Ông liền tìm đến Thánh Thất, nói rõ ý muốn của mình, được người đạo đưa vào gặp vị Lễ Sanh Cai Quản Thánh Thất.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Út Mô nói : </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Xin ông Lễ Sanh cho tôi theo Đạo Cao Đài.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Lễ Sanh hỏi : - Bạn vui lòng có thể cho biết lý do nào khiến bạn muốn nhập môn vào Đạo Cao Đài ?</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Út Mô thành thật trình bày : - Thưa ông Lễ Sanh, tôi tên là Nguyễn Văn Mô, ở kế cận nhà ông Hai Thiệt vừa mới mất đó, tôi thấy ông Hai Thiệt là người Đạo Cao Đài, rất hiền lành nhưng rất nghèo, được Đạo Cao Đài tổ chức cho một đám tang rất long trọng, lại giúp đỡ tiền bạc vật chất đủ hết, làm cho tôi rất kính phục Đạo Cao Đài, nên tôi muốn xin nhập vào Đạo Cao Đài.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Lễ Sanh nói : - Tu theo Đạo Cao Đài phải cúng kiếng hằng ngày, như bạn đã thấy ông Hai Thiệt đó, phải ăn chay và đi làm công quả cực lắm ! Bạn chịu nổi không ?</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Út Mô mạnh dạn đáp : </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Người ta làm nổi thì nhứt định tôi cũng làm nổi.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Lễ Sanh gọi một em công quả đến, bảo em đạp xe gấp, gọi ông Chánh Trị Sự và Thông Sự nơi hương đạo của ông Út Mô đến Thánh Thất vì ông Út Mô đến xin nhập môn cầu đạo.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Vị Lễ Sanh nói tiếp : </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Trong lễ nhập môn cầu đạo, bạn phải lập minh thệ trước Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn. Lập minh thệ là nói lên lời thề nguyện của mình quyết tâm theo đạo.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Lễ Sanh liền lấy ra một tờ giấy nhỏ, trên đó có in sẵn lời Minh Thệ, đưa cho Út Mô xem, rồi nói tiếp :</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Bạn phải đem sanh mạng của bạn ra mà thề với Đức Chí Tôn, quyết tâm theo Đức Chí Tôn tu hành, không lui lại đường đời hay tẽ qua ngả khác, bạn có chịu không ?</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Thề với Đức Chí Tôn thì tôi chịu thề liền.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Tôi đọc lời Minh Thệ, bạn nhìn vào giấy dò theo : “ Tên họ của bạn, tuổi của bạn,<B> thề rằng : <FONT color=#ff0000>từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục.”</FONT></B></FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>Thiên tru Địa lục là Trời Đất giết chết đó. Bạn dám thề không ?</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Thề với người khác thì tôi sợ, còn thề với ông Trời thì tôi bằng lòng.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Lúc đó, ông Chánh Trị Sự và Thông Sự của Hương đạo ông Út Mô ở cũng vừa tới Thánh Thất. Ông Lễ Sanh nhờ hai vị nầy tiến dẫn Út Mô nhập Đạo. Sau đó ông vào phòng thay đạo phục rồi cùng Út Mô lên Chánh điện của Thánh Thất. Ông Chánh Trị Sự chỉ cho Út Mô thấy Thiên bàn thờ bức họa vẽ Thiên Nhãn tượng trưng Đức Chí Tôn Thượng Đế, ý nghĩa là Trời thấy hết biết hết mọi việc của con người, không có gì mà giấu giếm được Trời.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Chánh Trị Sự hướng dẫn Út Mô cách bắt Ấn Tý và cách lạy Đức Chí Tôn. Ông Thông Sự thì giúp việc lên đèn, đốt nhang trên Thiên bàn và hầu chuông, vì người phụ trách lễ vụ vắng mặt.</FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Kế ông Lễ Sanh mặc đạo phục vàng, mão trắng có thêu Thiên Nhãn phía trước, bước vào Chánh điện, làm lễ Đức Chí Tôn, cầu nguyện, lạy xong thì đứng dậy, xá rồi bước ra nói : </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Ông Chánh Trị Sự hướng dẫn Anh Út vào làm lễ. </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Ông Chánh Trị Sự nói : </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>- Anh Út vào đứng trước Chánh điện, mặt hướng lên Thiên bàn, hai tay bắt Ấn Tý, xá 3 xá, quì xuống : </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>. đưa Ấn Tý lên giữa trán, niệm : <I>Nam mô Phật, </I></FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=3><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">. </SPAN></I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">đưa ấn Tý qua màng tang trái niệm :</SPAN><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"> Nam mô Pháp, </SPAN></I></FONT></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=3><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">. </SPAN></I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">rồi đưa qua bên phải, niệm : </SPAN><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">Nam mô Tăng</SPAN></I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">, </SPAN></FONT></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>. đem Ấn Tý xuống đặt giữa ngực, niệm : </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>  Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, </FONT></SPAN></I></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=3><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">. cúi đầu, niệm tiếp :</SPAN><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"> </SPAN></I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"> (mỗi niệm mỗi cúi đầu)</SPAN></FONT></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>  Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát, </FONT></SPAN></I></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>  Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại </FONT></SPAN></I></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>                                                Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, </FONT></SPAN></I></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>  Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân, </FONT></SPAN></I></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 21.3pt; TEXT-ALIGN: justify"><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>  Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.</FONT></SPAN></I></P>
<P =Msonormal style="TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=3><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">        Ông Chánh Trị Sự bảo Út Mô đưa Ấn Tý lên trán cầu nguyện : </SPAN><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">“ Tôi tên Nguyễn Văn Mô, … tuổi, hôm nay tự nguyện xin nhập môn vào Đạo tu hành.”</SPAN></I></FONT></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=3><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">Kế đó bảo Anh Út Mô lạy Đức Chí Tôn 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm : </SPAN><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><strong><FONT color=#ff0000>Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát</FONT></strong></SPAN></I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">. Phải gật chậm chậm để kịp câu niệm. </SPAN></FONT></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=3><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">Ông Lễ Sanh bảo Anh Út Mô cầm tờ giấy có in câu Minh Thệ, đọc lớn lên : </SPAN><I><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt">Tôi tên . . . . . . . tuổi . . . . . vv . . . </SPAN></I></FONT></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US style="FONT-SIZE: 11pt"><FONT size=3>Xong đặt tờ giấy xuống, tay bắt Ấn Tý trở lại, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật như đã hướng dẫn, đứng dậy, xá <FONT color=#ff0000><strong>Đức Chí Tôn</strong> </FONT>3 xá, quay lại xá chữ Khí 1 xá rồi lui ra. </FONT></SPAN></P>
<P =Msonormal style="TEXT-INDENT: 36pt; TEXT-ALIGN: justify"><SPAN lang=EN-US><FONT size=3>Ông Út Mô mới làm lễ lần đầu nên rất lọng cọng, vị Chánh Trị Sự phải sửa tới sửa lui, nhưng ai cũng vậy, vì chưa quen.  Thế là buổi lễ Nhập môn vào Đạo Cao Đài của ông Út Mô đã xong.</FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>Ông Chánh Trị Sự đưa Út Mô trở lại văn phòng, đến bàn viết, lấy sổ bộ ra ghi tên Nguyễn Văn Mô vào,  cấp cho ông Út Mô một giấy Sớ Cầu Đạo Tạm, rồi nói :</FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>- Bây giờ, Anh Út là tín đồ của Đạo Cao Đài, anh cần tập cúng lạy cho quen, bắt đầu tập ăn chay mỗi tháng 6 ngày, rồi học thuộc Kinh Cúng Tứ thời. Anh phải may một bộ đạo phục : áo dài trắng, quần trắng, khăn đóng đen. Sau thời gian 6 tháng, anh làm tròn bổn phận Đạo hữu thì anh sẽ được cấp Sớ Cầu Đạo Thiệt Thọ, dùng cho đến mãn đời, khi chết cũng phải đốt đem theo.  Anh nên sở hữu 4 quyển sách căn bản để học đạo buổi đầu : </FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2 style="TEXT-INDENT: 70.9pt"><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>* Kinh Thiên Đạo - Thế Đạo, </FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2 style="TEXT-INDENT: 70.9pt"><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>* Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I-II, </FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2 style="TEXT-INDENT: 70.9pt"><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>* Pháp Chánh Truyền. </FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2 style="TEXT-INDENT: 70.9pt"><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>* Tân Luật.</FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><FONT size=3>Tôi sẽ cung cấp cho anh các sách nầy. Anh là Đạo hữu trong Hương đạo của tôi, có việc gì thì anh liên lạc với tôi, hoặc với hai ông Phó Trị Sự và Thông Sự nơi ấp đạo của anh, chúng tôi sẽ giúp cho.        . . . . . . . . . . . .(ST)</FONT></SPAN></P>
<P =MsoTextIndent2 align=right><SPAN lang=EN-US style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><strong>-Nhat Minh-</strong></SPAN></P></FONT>
 

hien hoa

New member
<P> <strong>Thưa các huynh ! Câu chuyện kể thật rất hay và tràn trề ý nghĩa lắm lắm , đệ xin để lời cám ơn huynh Nhật Minh đã sưu tầm cho toàn thể anh em bạn đạo tham khảo cũng như phục vụ tốt hơn trong việc tu học vậy !</strong></P>
<P><strong> Chào hòa ái !!!</strong></P>
 

tu hoc

New member
<P> kinh quý Huynh</P>
<P>Đọc xong bài rất cảm động, nó rât đúng với tâm trạng chung khi người mới vào đạo, xin hỏi thêm ngươi viết bài nầy vị LỂ SANH ấy có phải là H/H THÁI KIM THANH không vây.</P>
 

MinhBachHoa

New member
<P> Đệ rất tự hào mình là người Cao Đài. Ở bất cứ đâu trên thế giới này, người Cao Đài cũng đối đãi với nhau đầy tình thương, cả khi "sinh ký" lẫn lúc "tử quy". Nhiều người vì cảm kích điều đó mà nhập môn cầu đạo như ông Út Mô trong câu chuyện cảm động ở trên. </P>
<P>Vị Lễ sanh làm lễ nhập môn đã về với Thầy, còn người được nhập môn không biết giờ này ra sao?</P>
 

Donghanh

New member
<P> Chào tất cả ACE.</P>
<P>Vâng ! như quý H ĐTM đã nói ,câu chuyện rất hay và cảm động. Đệ cũng thấy như vậy. Nhưng đệ không biết đó có phải là một  câu chuyện có thật,hay chỉ là một mẫu chuyện không thôi?</P>
<P>Nếu đó là câu chuyện có thật ,thì đệ rất vui cho nhà Đạo chúng ta.Mà đệ cũng không  biết nó sẽ trường tồn mãi mãi không nữa hay là năm tháng sẽ dần dần làm phai nhòa đi nữa (hy vọng là không). </P>
<P>Chào Bác Ái !</P>
<P> </P>
<P> </P>
 

Xí muội

New member
<P>Thân chào quý anh chị em,</P>
<P>Trong kinh Cao Đài có câu "độ sanh độ tử cầm cân song bằng". Có lẽ anh chị em chúng ta đều thấy trong Đạo Cao Đài, việc độ tử rất mạnh mẽ, thể hiện qua việc quan hôn tang tế, nhập môn vô vi, cầu siêu,......</P>
 

Nhat Minh

New member
<P align=center> </P>
<P align=center>
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width=550 bgColor=#ffffe0>
<T>
<TR>
<TD align=middle height=54><IMG height=57 src="http://www.banthedao.net/cophap3.jpg" width=100 border="0">  <IMG src="http://www.banthedao.net/main1.gif" border="0"> </TD></TR></T></TABLE></P>
<P align=center><FONT size=4> <FONT color=#0000cd><strong><U>TẬN ĐỘ VONG LINH - </U></strong></FONT><strong><U><FONT color=#990000>Bí Pháp Đạo Cao Đài</FONT></U></strong></FONT></P>
<P align=center><strong><U><FONT color=#0000cd size=5></FONT></U></strong><FONT color=#0000cd><strong><U><BR></U></strong>    <EM> <B>Một trong những Hồng Ân lớn nhứt mà <FONT color=#ff0000>Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế</FONT> ban cho <FONT color=#ff0000>Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ </FONT>là <FONT color=#ff0000>Kinh Tận Độ</FONT></B>.</EM></P>
<P align=left>   <BR>     Sau đây là<B> lời kính cáo của Hội Thánh, được trích trong lời Tựa của quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo do Hội Thánh ấn hành: </B><BR>     <BR>     “Từ khi mở Đạo, CHÍ TÔN duy giáng Cơ truyền cho Phật Giáo, Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý dạy dâng Kinh cho Đại ĐạoTam Kỳ Phổ Độ, song kinh Tận Độ vong linh chưa hề giáng Cơ cho nơi nào tất cả.<BR>     Đức Quyền Giáo Tông (khi còn tại thế) và Đức Hộ Pháp, trót mười năm trường nghĩa là từ ngày mở Đạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ Phụ và các Đấng Thiêng Liêng đặng xin Kinh Tận Độ, nhưng mà CHÍ TÔN cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.<BR>     <BR>     <B>Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 Ất Hợi (Dl, 21 đến 31-8-1935) mới giáng cho Tân Kinh. </B>Ấy là một giọt nước Cam Lồ của Đức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng linh hồn của toàn Thế giới.<BR>     <BR>  <FONT color=#000066>  </FONT><EM><U><FONT face="Courier New, Courier, mono"><FONT size=3><FONT color=#000066> Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Đã trải qua mười năm CHÍ TÔN mới mở cơ tận độ. Cơ tận độ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân Kinh nầy mà thôi.<BR>     Thương thay cho những kẻ vô phần chịu phận thiệt thòi qui liễu trước ngày Tân Kinh chuyển Pháp. Ấy cũng là quả kiếp của Nhơn sanh do Thiên Thơ tiền định. Nếu chúng ta thương tưởng thì duy chỉ có một phương độ rỗi là trì tụng Di-Lạc Chơn Kinh hầu các đẳng linh hồn đặng siêu thăng Tịnh độ…”.</FONT><BR></FONT></FONT></U></EM>     <BR>     Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, gọi tắt là Đạo Cao Đài, được khai minh từ ngày Rằm tháng Mười năm Bính Dần (19-11-1926) mà mãi đến ngày 23 tháng 7 Ất Hợi (21-8-1935) Ơn Trên mới bắt đầu giáng Cơ cho Tân Kinh, điều nầy cũng làm cho chúng ta suy nghĩ. <BR>     <BR>     Kinh Tận Độ rất là quí báu cho toàn thể Nhơn sanh. Nhờ có Kinh Tận Độ mà người tín đồ Cao Đài có thể tu trong một kiếp sinh để được lên đến Bạch Ngọc Kinh bái lễ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, điều mà một người tốt bình thường phải mất cả trăm ngàn kiếp mới đạt được. <BR>     <BR>     Trong <B>Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển I trang 76, Đức Chí Tôn có dạy</B>: <strong><EM><U><FONT face="Times New Roman, Times, serif" color=#990000 size=3>“Thầy cho một quyền rộng rãi, cho cả nhơn loại Càn Khôn Thế Giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng…”. Nhưng, muốn hưởng được Kinh Tận Độ thì phải là tín đồ Cao Đài, và muốn được hưởng trọn vẹn Kinh Tận Độ thì phải giữ trai kỳ từ 10 ngày đổ lên mỗi tháng. <BR></FONT></U></EM></strong>     <BR>     Một người vừa từ trần, Chơn hồn khi mới xuất ra khỏi thể xác thì còn khờ khạo và hay sợ sệt, chưa định tỉnh sáng suốt, bởi còn nhuốm mùi trần không nhiều thì ít trong một thời gian khá lâu. Vì vậy mà phải nhờ có Kinh Tận Độ, Phép Xác và sự trợ giúp của các Đấng Thiêng Liêng để cho Chơn hồn lìa khỏi xác trần và đuợc đưa lên cõi Hư linh, đặc biệt là sự trợ giúp của Cửu Vị Tiên Nương Cung Diêu Trì (Cửu Vị Nữ Phật). Trong bài kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối, Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn cũng có nói về sự cứu rỗi của Lục Nương Diêu Trì Cung và của Đức Phật Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, như sau:<BR>     <BR>   <EM>  “Diêu Trì Cung sai nàng Tiên Nữ,<BR>     Phép Lục Nương gìn giữ chơn hồn.<BR>     Tây Phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,<BR>     Phướn Linh khai mở nẻo đường Lôi Âm.” <BR></EM><BR>     <BR>     Một người vừa từ trần, Chơn hồn khi mới xuất ra khỏi thể xác thì còn khờ khạo và hay sợ sệt, chưa định tỉnh sáng suốt, bởi còn nhuốm mùi trần không nhiều thì ít trong một thời gian khá lâu. Vì vậy mà phải nhờ có Kinh Tận Độ, Phép Xác và sự trợ giúp của các Đấng Thiêng Liêng để cho Chơn hồn lìa khỏi xác trần và đuợc đưa lên cõi Hư linh, <B>đặc biệt là sự trợ giúp của <FONT color=#ff0000>Cửu Vị Tiên Nương Cung Diêu Trì (Cửu Vị Nữ Phật)</FONT></B></FONT><FONT color=#ff0000>.   <BR></FONT><FONT color=#0000cd>    <BR>     Các bài kinh sau đây, dùng trong việc cử hành Lễ Tang, và trong các Lễ Cúng sau Đám Tang, đều thuộc về Kinh Tận Độ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và được chia ra thành các tiểu mục như sau:<BR>     <BR>     - Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối<BR>     - Kinh Khi Đã Chết Rồi<BR>     - Kinh Tẩn Liệm<BR>     - Kinh Cầu Siêu (Thỉnh bên Minh Lý)<BR>     - Kinh Đưa Linh Cửu<BR>     - Kinh Hạ Huyệt<BR>     - Vãng Sanh Thần Chú (Thỉnh bên Phật Giáo)<BR>     - Kinh Khai Cửu, Tiểu Tường và Đại Tường<BR>     - Chín Bài Kinh Làm Tuần Cửu<BR>     - Kinh Tiểu Tường<BR>     - Kinh Đại Tường<BR>     - Di Lạc Chơn Kinh.<BR>     <BR>     <I>Sau mỗi lần tụng Kinh Tuần Cửu hoặc Tiểu Tường hay Đại Tường đều có tụng Di-Lạc Chơn Kinh.</I><BR>     <BR>     <B>1.- <U>Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối.</U></B><BR>     Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối <B>do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho</B>, để tụng lúc vị tín đồ đang hấp hối, sắp chết, hay vừa mới dứt hơi.<BR>     <BR>     Khi một người tín đồ Cao Đài đang hấp hối, sắp lìa trần, nếu được Bàn Trị Sự địa phương đến tụng Kinh Cầu Hồn thì Lục Nương Diêu Trì Cung cầm cây phướn Truy Hồn đến gìn giữ Chơn hồn của người mới chết, và nơi cõi Cực Lạc Thế Giới Đức Phật Tiếp Dẫn Đạo Nhơn cầm cây phướn linh tiếp dẫn các Chơn hồn và khai mở đuờng đi lên Lôi Âm Tự.<BR>     <BR>     Chơn hồn được khuyên hãy nhớ lại lời Minh Thệ khi nhập môn vào Đạo để tự xét mình mà ăn năn sám hối tội tình, cầu khẩn Đức Chí Tôn tha thứ và cứu rỗi để được siêu thăng lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Hãy cố lánh xa cõi Địa ngục và sốt sắng lên đường thẳng tới Ngọc Hư Cung và Cực Lạc Thế Giới. Chơn hồn được cho biết rằng:<BR>     <BR>    <strong><FONT color=#000066 size=3><EM> Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo<BR>     Dầu oan gia tội báo buộc ràng,<BR>     Chí Tôn xá tội giải oan,<BR>     Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ vong.<BR></EM></FONT></strong>     <BR>     <B>*<U>GHI CHÚ</U>:</B> Trong những bài Kinh do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn ban cho, <I>Đức Ngài dùng từ ngữ Chơn hồn là để chỉ Chơn thần.</I><BR>     <BR>     <B>2.-<U> Kinh Khi Đã Chết Rồi.</U> </B><BR>     Kinh Khi Đã Chết Rồi <B>do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho, </B>dùng để tụng cho những tín đồ đã chết rồi, và tụng kèm theo sau bài Kinh Cầu Siêu.<BR>     <BR>     Qua bài kinh nầy, Chơn hồn người chết được cho biết đoạn đường sẽ phải trải qua trong quá trình sắp tới. Hãy từ bỏ cõi trần vì đó là cõi đọa để trở lại quê xưa là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Phía dưới chín từng Trời có hoa sen mầu nhiệm đưa Chơn hồn bay lên vượt qua các từng Trời, vào Bát Quái Đài rồi mới đến Ngọc Hư Cung. <BR>     Chơn hồn đắc đạo sẽ bay đến cửa vào Tây Phương Cực Lạc (tức Cõi Cực Lạc Thế Giới ở hướng Tây), xong vượt qua Tam Thập Lục Thiên (36 từng Trời, 36 cõi Thiên Tào) để vào Bạch Ngọc Kinh chầu lạy ĐỨC CHÍ TÔN. <BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu:</I><BR>     <BR>     Ba mươi sáu cõi Thiên Tào,<BR>     Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc Hư.<BR>     … …<BR>     Dưới chín lớp liên Thần đưa bước,<BR>     Trên hồng quan phủ phước tiêu diêu.<BR>     … …<BR>     Cửa Tây Phương khá bay đến chốn,<BR>     Diệt trần tình vui hưởng tiêu diêu.<BR>     Tiên phong Phật cốt mỹ miều,<BR>     Vào Kinh Bạch Ngọc lễ triều CHÍ LINH.<BR>     <BR>     <B>3.- <U>Kinh Tẩn Liệm</U></B>.<BR>     Kinh Tẩn Liệm <B>do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho </B>để đồng nhi tụng trước khi liệm thi hài người chết vào trong áo quan.<BR>     Qua bài kinh nầy, Chơn hồn người chết được cho biết đoạn đường sẽ phải trải qua trong quá trình sắp tới: Bảy dây oan nghiệt sẽ được cắt đứt, Chơn hồn rời khỏi xác trần, nương vào phép huyền diệu thiêng liêng để giũ sạch Thất tình, xong mới lên đường đi vào Càn Khôn Vũ Trụ. <BR>     Chơn hồn cởi bỏ xác phàm, xuất ra lấy theo hình ảnh của xác phàm như “khuôn in rập”, đó chính là hình ảnh của Đức Chí Tôn.<BR>     Khi đó, thể xác không có linh hồn ngự trị nên gọi là chết, thể xác do Đất biến hóa ra thì khi chết thể xác trở về nguồn cội là Đất. <BR>     <BR>     <B>Chơn hồn được khuyên: </B>Đừng vì tình cảm thân ái hay là cái nghĩa nhân mà bịn rịn không chịu ra đi. Hãy thoát ra khỏi nơi đau khổ nầy và lần lần đi xa cõi trần.<BR>     Linh hồn do Trời hóa sanh ra thì phải trở về cõi Trời, và thể xác do Đất tạo nên thì nay được lịnh trở về Đất.<BR>     <B>Chơn hồn lại được khuyên: </B>Hãy thong thả đi lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống mà an vui sung sướng, xa lánh cõi trần nhiều trược khí mà bay vượt lên cao để hưởng cảnh siêu thăng. <BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu:</I><BR>     Dây oan nghiệt dứt rời trái chủ,<BR>     Nương huyền linh sạch giũ thất tình.<BR>     … …<BR>     Khối vật chất vô hồn viết tử,<BR>     Đất biến hình tự thử qui căn.<BR>     … …<BR>     Hồn Trời hóa trở về Thiên cảnh,<BR>     Xác Đất sanh đến lịnh phục hồi.<BR>     Từ từ Cực Lạc an vui,<BR>     Lánh nơi trược khí hưởng mùi siêu thăng.<BR>     <BR>     <B>4.-<U> Kinh Cầu Siêu</U>. </B><BR>     Kinh Cầu Siêu <B>do Đức Chuẩn Đề Bồ Tát giáng cơ ban cho Minh Lý Đạo (Tam Tông Miếu) </B>. Thuở mới khai Đạo, theo lời dạy của Đức Chí Tôn, Hội Thánh cử phái đoàn đến Tam Tông Miếu thỉnh bài kinh nầy về làm Kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Bên Minh Lý gọi bài kinh nầy là Sám Cầu Siêu.<BR>     <BR>     <I>Kinh Cầu Siêu là bài kinh tụng cầu nguyện với Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng Thần Thánh Tiên Phật ân xá tội tình và cứu vớt vong hồn cho được siêu thăng, </I>đưa lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, thoát được cảnh đọa đày và luân hồi tái kiếp.<BR>     <BR>     <I>Sau đây là một số câu kinh tiêu biểu:</I><BR>     Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,<BR>     A-Di-Đà Phật độ chúng sanh.<BR>     Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,<BR>     Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc.<BR>     Xin Trời Phật chứng lòng sở nguyện,<BR>     Hộ thương sanh u hiển khương ninh.<BR>     <BR>     <B>5.-<U> Kinh Đưa Linh Cửu</U>.</B><BR>     Kinh Đưa Linh Cửu <B>do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho </B>để đồng nhi tụng trong suốt thời gian đưa linh cửu từ nơi động quan đến nơi hạ huyệt.<BR>     <BR>     Kinh Đưa Linh Cửu là bài kinh tụng lên để cầu nguyện chư Đấng Liêng giúp lịnh gìn giữ Chơn hồn không cho xác phàm kéo níu, ban ơn cho cởi mở hết các oan trái và được nương thuyền Bát Nhã thoát qua bể khổ trầm luân trở về cùng với Đức Chí Tôn. Sau cùng là cầu nguyện Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mở cơ tận độ cho Vong hồn được nhẹ nhàng siêu thăng. <BR>     <BR>     <I>Sau đây là một số câu kinh tiêu biểu:</I><BR>     Cầu các Trấn Thần linh trợ lịnh,<BR>     Giữ Chơn hồn xa lánh xác trần.<BR>     Nam mô Địa Tạng thi ân,<BR>     Đưa đường Thiên cảnh lánh gần Phong đô.<BR>     … …<BR>     Nam mô Thượng Đế Ngọc Hoàng,<BR>     Mở cơ tận độ nhẹ nhàng chơn linh.<BR>     <BR>     Sau cùng Chơn hồn được cho biết:<BR>     Cửa Cực lạc thinh thinh rộng mở,<BR>     Rước Vong hồn lui trở ngôi xưa.<BR>     Tòa sen báu vật xin đưa,<BR>     Chơn linh an ngự cho vừa quả duyên.<BR>     <BR>     <B>6.-<U> Kinh Hạ Huyệt</U>. </B><BR>     Kinh Hạ Huyệt <B>do Đức Quan Âm Bồ Tát giáng cơ ban cho. </B><BR>     Khi ra tới huyệt, vị Chứng đàn và đồng nhi đứng trước đầu huyệt, tụng Kinh Hạ Huyệt 3 hiệp, xong mỗi hiệp cúi đầu, mãn 3 hiệp liền tụng 3 biến Vãng Sanh Thần Chú. Khi dứt, niệm Câu Chú của Thầy 3 lần. Xong, bắt đầu hạ quan tài xuống huyệt đã đào sẳn dưới đất để chôn.<BR>     <BR>     Đời là một giấc mộng. Khi cuộc đời chấm đứt thì con người cũng tỉnh giấc mộng và lúc bấy giờ mới bắt đầu cuộc sống vĩnh cửu. <BR>     Khi tỉnh thức lại rồi, thấy cuộc đời là môỉt giấc mộng huỳnh lương. Cái âm vang của trường náo nhiệt đua chen danh lợi cũng hết thoảng bên tai. Cởi bỏ được cái thi hài ở cõi trần tục, Chơn linh trong sạch mới được nhẹ nhàng mà bay ra ngoài Càn Khôn Vũ Trụ. <BR>     <I>Đó là ý nghĩa của 4 câu mở đầu bài kinh:</I><BR>     <BR>     Thức giấc mộng huỳnh lương vừa mãn,<BR>     Tiếng phồn ba hết thoáng bên tai.<BR>     Giải thi lánh chốn đọa đày,<BR>     Chơn linh trong sạch ra ngoài Càn Khôn.<BR>     <BR>     <I>Sau đây là một số câu kinh tiêu biểu khác:</I><BR>     Phép giải oan độ hồn khỏi tội,<BR>     Phướn tiêu diêu nắm mối trường sanh.<BR>     … …<BR>     Nhờ Hậu Thổ xương tàn gìn giữ,<BR>     Nghĩa Chí Tôn tha thứ tiền khiên.<BR>     … …<BR>     Rõ ràng Phật cốt tiền duyên,<BR>     Nước Cam Lồ rửa sạch thuyền độ nhân.<BR>     <BR>     <B>*<U>GHI CHÚ</U>:</B> Có tài liệu ghi là: <B>Rỡ ràng </B>Phật cốt Tiên duyên,<BR>     <BR>     <B>7.-<U> Vãng Sanh Thần Chú</U>.</B><BR>     <I>Vãng Sanh Thần Chú là câu niệm đặc biệt thỉnh bên Phật Giáo để cầu nguyện cho Linh hồn người chết được sanh về cõi Cực Lạc Thế Giới,</I> nội dung như sau:<BR>     <BR>     </FONT><FONT color=#0000cd><B>“Nam mô A Di Đà Bà Dạ,<BR>     Đa Tha Dà Đa Dạ, Đa Điệt Dạ Tha,<BR>     A Di Rị Đô Bà Tì, A Di Rị Đa Tất Đam Bà Tì,<BR>     A Di Rị Đa, Tì Ca Lan Đế,<BR>     A Di Rị Đa, Tì Ca Lan Đa,<BR>     Dà Di Nị, Dà Dà Na, Chỉ Đa Ca Lệ, Ta Bà Ha” </B><BR>     (3 lần).<BR>     <BR>     <B>8.-<U> Kinh Khai Cửu và Chín Bài Cửu</U>.</B><BR>     Tuần Cửu là khoảng thời gian 9 ngày và cứ lập đi lập lại đủ 9 lần như thế.<BR>     Đối với người mới chết, Phật Giáo cho làm Tuần Thất, còn Đạo Cao Đài thì cho làm Tuần Cửu. Một tín đồ Cao Đài (giữ trai kỳ đủ 10 ngày mỗi tháng), sau khi chết, đuợc làm Tuần Cửu tại Thánh Thất sở tại với nghi thức đặc biệt, ấn định trong Nghi lễ của Đạo Cao Đài.<BR>     <BR>     Sau khi chết (ngày chết đuợc đếm là 1), đếm đến ngày thứ 9, thân nhân đem Linh vị người chết đến Thánh Thất sở tại vào đúng thời Ngọ (12 giờ trưa), ở nước ngoài thì tùy hoàn cảnh, để làm Tuần Cửu thứ nhứt. <BR>     <BR>     Sau mỗi lần làm Tuần Cửu, Chơn hồn sẽ được lần lượt đưa lên các từng Trời với sự trợ giúp của các Đấng Thiêng Liêng, đặc biệt là của Cửu Vị Tiên Nương Diêu Trì Cung (Cửu Vị Nữ Phật), để cuối cùng được đưa đến Cung Diêu Trì (Cửu thứ Chín) ở từng trời Tạo Hóa Thiên. Nơi đây, Chơn hồn được hưởng:<BR>     <BR>     Hội Bàn Đào, Diêu Trì Cung<BR>     Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban.<BR>     <BR>     Sau đó, Chơn hồn được đưa vào Cung Bắc Đẩu xem căn quả để biết số phận của mình, rồi được học nghi lễ để vào Linh Tiêu Điện bái lễ Đức Chí Tôn. Sau đó, Đức Chí Tôn ra sắc lịnh gọi Chơn hồn vào Ngọc Hư Cung để cho biết được thưởng thăng lên hay bị trừng trị đọa xuống:<BR>     <BR>     Cung Bắc Đẩu xem căn quả số,<BR>     Học triều nghi vào ở Linh Tiêu.<BR>     Ngọc Hư Cung, sắc lịnh kêu<BR>     Thưởng phong, trừng trị phân điều đọa thăng. <BR>     <BR>     Chơn hồn đắc đạo được đưa đến Bạch Ngọc Kinh để bái lễ Đức Chí Tôn.<BR>     <BR>     <B>*<U>GHI CHÚ</U>: </B>Từ Chơn hồn dùng ở đây đồng nghĩa với Chơn thần. Trong những bài Kinh Tận Độ của Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, Đức Ngài dùng từ Chơn hồn.<BR>     <BR>     Từ Nhứt Cửu tới Cửu Cửu, kỳ nào cũng phải cúng Thầy trước, có dâng Tam Bửu và Thượng Sớ. Cúng Thầy xong, tụng bài Kinh Khai Cửu một lần, rồi tụng 3 lần bài Kinh Nhứt Cửu, Nhị Cửu hay Tam Cửu,… <BR>     <BR>     <B>*Kinh Khai Cửu Đại Tường và Tiểu Tường. </B><BR>     <BR>     Kinh Khai Cửu Đại Tường và Tiểu Tường <B>do Đức Quan Âm Bồ Tát giáng cơ ban cho</B> để đồng nhi tụng mở đầu trước khi tụng Kinh làm Tuần Cửu, làm Tiểu Tường hay Đại Tường.<BR>     <BR>     Nội dung của bài Kinh Khai Cửu Đại Tường và Tiểu Tường là để nhắc cho Chơn hồn nhớ lại quê xưa, cảnh cũ ở cõi Thiêng Liêng, đồng thời kêu gọi Chơn hồn phải tỉnh trí, phải anh linh, đừng lưu luyến hồng trần. <BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu :</I><BR>     <BR>     Đã quá chin tầng Trời đến vị,<BR>     Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.<BR>     Tầng Trời gắng bước lên thang,<BR>     Trông mây nhì lại cảnh nhàn buổi xưa.<BR>     … …<BR>     Ngó chi khổ hải sóng xao,<BR>     Đoạn tình yểm dục đặng vào cõi Thiên.<BR>     … …<BR>     Nắm cây huệ kiếm gươm thần,<BR>     Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Nhứt Cửu</B><BR>     Kinh Đệ Nhứt Cửu <B>do Nhứt Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. </B><BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu </I>:<BR>     Vườn Ngạn Uyển sanh hoa đã héo,<BR>     Khối hình hài đã chịu rã tan.<BR>     Bảy dây oan nghiệt hết ràng,<BR>     Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.<BR>     … …<BR>     Quản bao thập ác lục hình,<BR>     Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn.<BR>     <BR>     <B>*<U>GHI CHÚ</U>: </B>Có tài liệu ghi là đoạt căn <BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Nhị Cửu. </B><BR>     Kinh Đệ Nhị Cửu <B>do Nhị Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. </B><BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu :</I><BR>     <BR>     Tây Vương Mẫu vườn Đào ướm chín,<BR>     Chén trường sanh có lịnh ngự ban.<BR>     Tiệc hồng đã dọn sẳn sàng,<BR>     Chơn thần khá đến hội hàng chư linh.<BR>     … …<BR>     Đẩu Tinh chiếu thấu Nguyên Tiêu,<BR>     Kim Quang kiệu đở đến triều Ngọc Hư.<BR>     … …<BR>     Xa chừng thế giái Địa hoàn,<BR>     Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ nhàng cao thăng,<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Tam Cửu</B><BR>     Kinh Đệ Tam Cửu <B>do Tam Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. </B>Tam Nương có nhiệm vụ dẫn dắt các Chơn hồn đến cõi Thanh Thiên, là từng Trời nơi đó ánh sáng đều có màu xanh, và do Bảy Vị Lão Tiên và Đức Thái Thượng Lão Quân chưởng quản.<BR>     <BR>     Nơi cõi Thanh Thiên đi lên gặp đảo Bồng Lai, có 7 vị Lão Tiên ở Động Thiên Thai ra đón tiếp. Nơi đây, Chơn hồn được nước “Cam Lồ rưới giọt nhành dương” làm tiêu tan hết Lục dục Thất tình. Đó là ý nghĩa của 4 câu mở đầu bài kinh :<BR>     Cõi Thanh Thiên lên miền Bồng Đảo,<BR>     Động Thiên Thai bảy Lão đón đường.<BR>     Cam Lồ rưới giọt nhành dương,<BR>     Thất tình Lục dục như dường tiêu tan.<BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu khác </I>:<BR>     Cung Đẩu Tốt nhặt khoan tiếng nhạc,<BR>     Đệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.<BR>     … …<BR>     Cung Như Ý Lão Quân tiếp Khách,<BR>     Hội Thánh Minh giao sách Trường xuân.<BR>     Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,<BR>     Chơn hồn khoái lạc lên đàng vọng Thiên.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Tứ Cửu. </B><BR>     Kinh Đệ Tứ Cửu <B>do Tứ Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. </B>Tứ Nương có nhiệm vụ dẫn dắt các Chơn hồn đến từng Trời Huỳnh Thiên, là từng Trời nơi đó ánh sáng đều có màu vàng, và do Đức Huyền Thiên Quân chưởng quản.<BR>     <BR>     Nơi từng Trời Huỳnh Thiên, Chơn hồn được chiếc thuyền có 5 con rồng đỡ đầu đưa vào Cung Tuyệt Khổ bái kiến Đức Huyền Thiên Quân. Các Vị Thần Sấm Sét dùng “roi thần chớp nhoáng” để tẩy trừ chất khí ô trược và độc hại. Tiếp theo, Chơn hồn chun ngang qua cửa Bát Quái Đài để các Đấng dùng lửa Tam Muội đốt cháy hết các oan nghiệt. Bấy giờ Chơn hồn đã có thần thông, nên chơn đạp lên núi Tháí Sơn nhảy qua tới Cung Đẩu Suất, đến chờ sẳn tại cửa Thiên Môn. <BR>     <BR>     Hai câu kinh chót cho biết: Chơn thần đã đắc đạo nhập vào Càn Khôn Vũ Trụ nên có quyền trở lại thế gian để cứu giúp người đời và bảo tồn chúng sanh. <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu:</I><BR>     <BR>     Sắc huỳnh chiếu roi vàng đường hạc,<BR>     Cõi Huỳnh Thiên nhẹ thoát chơn Tiên.<BR>     … …<BR>     Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng,<BR>     Bộ Lôi Công giải tán trược quang.<BR>     Cửa lầu Bát Quái chun ngang,<BR>     Hỏa Tinh Tam Muội thiêu tàn oan gia.<BR>     … … <BR>     Chơn thần đã nhập Càn Khôn,<BR>     Thâu quyền độ thế bảo tồn chúng sanh.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Ngũ Cửu. </B><BR>     Kinh Đệ Ngũ Cửu<B> do Ngũ Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. </B>Ngũ Nương có nhiệm vụ dẫn dắt các Chơn hồn đến từng Trời Xích Thiên, là từng Trời nơi đó ánh sáng đều có màu hồng, và do Đức Thái Thượng Lão Quân chưởng quản.<BR>     Chơn hồn đã qua được cửa Thiên Môn để vào cõi Xích Thiên.<BR>     <BR>     Nơi cõi Xích Thiên, Chơn hồn được cả miền đất thánh “nhộn nhàng tiếp nghinh”. Nơi đây, Chơn hồn được đưa vào Đài Chiếu Giám để xem lại một cách rõ ràng bao nhiêu tội phước do Chơn hồn gây ra trong suốt kiếp sanh nơi cõi trần. <BR>     <BR>     Kế đó, Chơn hồn được đưa vào Cung Ngọc Diệt Hình, có đặt quyển Kinh Vô Tự. Chơn hồn mở quyển kinh ra xem thì chữ mới hiện ra kể rõ tất cả việc làm của Chơn hồn trong suốt kiếp sống nơi cõi trần. Chơn hồn được giao sách, học trong đó thì thông suốt được các lẽ huyền vi và mầu nhiệm của Trời Đất, biết được các phép huyền công biến hóa. Sau cùng, Chơn hồn được đưa đến ra mắt Đức Thái Thượng Lão Quân, và được Tiên Xa gọi là xe Như Ý đưa bay lên, có các vị Thần oai vệ tiễn đưa. <BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu</I>:<BR>     <BR>     Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,<BR>     Cõi xích Thiên vội mở ải quan.<BR>     … …<BR>     Đài Chiếu Giám cảnh minh nhẹ bước,<BR>     Xem rõ ràng tội phước căn sinh.<BR>     Lần vào Cung Ngọc Diệt Hình,<BR>     Khai Kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên.<BR>     … …<BR>     Kỵ kim quang kiến Lão Quân,<BR>     Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Lục Cửu</B>.<BR>     Kinh Đệ Lục Cửu do Lục Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. Lục Nương có nhiệm vụ dẫn dắt các Chơn hồn đến từng Trời Kim Thiên, là từng Trời do các hàng phẩm Như Lai chưởng quản.<BR>     <BR>     Đến cõi Kim Thiên, Chơn hồn xuống xe Như Ý vào Cung Vạn Pháp xem qua cho biết sự nghiệp cũ của mình đã tạo ra trong nhiều kiếp trước, được ghi lại trong mấy tòa thiên nhiên của cung ấy. Tại Cung Lập Khuyết, Chơn hồn tìm thấy ngôi vị cũ của mình, định ngồi lên nhưng chưa được. Chơn hồn lãnh hột Kim Sa đặng đi gặp Phật. Kế đến, Chơn hồn được Khổng Tước đưa đến Đài Huệ Hương để được xông hương cho thơm lên và tẩy trừ hết các mùi ô uế bám lẫn vào trong khí sinh quang. Và từ đây khúc nhạc Thiên Thiều trổi lên đưa Chơn linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi.<BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu: </I><BR>     <BR>     Bạch Y Quan mở đàng rước khách,<BR>     Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.<BR>     Vào Cung Vạn Pháp xem qua,<BR>     Cho tường cựu nghiệp mấy tòa Thiên nhiên.<BR>     … …<BR>     Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan,<BR>     Đưa linh thẳng tới Niết Bàn mới thôi.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Thất Cửu. </B><BR>     Kinh Đệ Thất Cửu <B>do Thất Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. </B>Thất Nương có nhiệm vụ dẫn dắt các Chơn hồn đến từng Trời Hạo Nhiên Thiên, là từng Trời do Đức Chuẩn Đề Bồ Tát và Đức Phổ Hiền Bồ Tát chưởng quản.<BR>     <BR>     Đến từng Hạo Nhiên Thiên, Chơn hồn được thấy cảnh vật nơi đây xinh đẹp lạ thường, rừng núi chập chùng, ánh hào quang rực rỡ chói lọi mở đường bay lên Trời. Chơn hồn vào Cung Chưởng Pháp diện kiến Đức Chuẩn Đề Bồ Tát, rồi đến Động Phổ Hiền nơi Đức Phổ Hiền Bồ Tát hội hiệp với chư vị Thần, Tiên. Nơi đây đã vọng thấy cõi Niết Bàn hoàn toàn im lặng, và nghe được của tiếng trống của Lôi Âm Tự thúc giục chơn hồn bay lên Trời.<BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu: </I><BR>     Nhẹ phơ phới dồi dào không khí,<BR>     Hạo Nhiên Thiên đã chí môn quan.<BR>     Đẹp xin cảnh vật đòi ngàn,<BR>     Hào quang chiếu diệu khai đàng thăng Thiên.<BR>     … …<BR>     Im lìm kìa cõi Niết Bàn,<BR>     Lôi Âm trống thúc lên đàng thượng Thiên.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Bát Cửu</B><BR>     Kinh Đệ Bát Cửu <B>do Bát Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. </B>Bát Nương có nhiệm vụ dẫn dắt các Chơn hồn đến từng Trời Phi Tưởng Thiên, là từng Trời do Đức Từ Hàn Bồ Tát chưởng quản.<BR>     <BR>     Đến từng Phi Tưởng Thiên, nơi đây đã xa mùi trần thế, Chơn hồn cảm thấy say sưa trong bầu không khí nực nồng thơm ngọt với mùi Tiên tửu. Chơn hồn được đưa đến Cung Tận Thức để xem các phép Thần thông biến hóa, rồi đến Phổ Đà Sơn để được Đức Từ Hàn Bồ tác giải trừ hết các quả kiếp nơi cõi trần. Kế đó, Chơn hồn cỡi lên con Kim Mao hẩu để đến Tịch San, rồi nương theo phép đẩu vân đi trên mây đến cõi Niết Bàn. Cuối cùng, Chơn hồn được đưa đến Cung Diệt Bửu, nơi đây một lần nữa Chơn hồn được thấy sự nghiệp hữu hình nơi cõi trần hiện tượng ra đủ hết nơi cõi Thiêng Liêng.<BR>     <BR>     Trước khi được đưa lên tầng Tạo Hoá Thiên, Chơn hồn được nước Cam Lồ rót ra từ bầu rượu Tiên rửa sạch cái kiếp sống buồn thảm của con người nơi cõi trần. <BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu</I>:<BR>     <BR>     Hơi Tiên tửu nực nồng thơm ngọt,<BR>     Phi Tưởng Thiên để gót đến nơi.<BR>     Mùi trần khi đã xa khơi,<BR>     Say xưa bầu khí bồi hồi chung phong.<BR>     … …<BR>     Hồ Tiên vội rót tức thì,<BR>     Nước Cam Lồ rửa ai bi kiếp người.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đệ Cửu Cửu</B><BR>     Kinh Đệ Cửu Cửu <B>do Cửu Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho 8 câu đầu, Đức Phật Mẫu giáng cơ cho tiếp 4 câu còn lại. </B>Cửu Nương có nhiệm vụ dẫn dắt các Chơn hồn đến từng Trời Tạo Hóa Thiên, là từng Trời do Đức Phật Mẫu chưởng quản.<BR>     <BR>     Đến từng Tạo Hóa Thiên, là từng Trời mà nơi đó Đức Phật Mẫu vận chuyển Bát Phẩm Chơn Hồn trong vùng Thoại khí để biến hóa sanh ra vạn vật trong Càn Khôn Vũ Trụ, Chơn hồn được Phật Mẫu ban thưởng cho dự Hội Bàn Đào và được ban cho Tiên tử:<BR>     <BR>     Vùng thoại khí bát hồn vận chuyển,<BR>     Tạo Hóa Thiên sanh biến vô cùng.<BR>     Hội Bàn Đào Diêu Trì Cung,<BR>     Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban.<BR>     <BR>     Sau đó, Chơn hồn được đưa vào Cung Bắc Đẩu xem căn quả để biết số phận của mình, rồi được học nghi lễ để vào Linh Tiêu Điện bái lễ Đức Chí Tôn. Sau đó, Đức Chí Tôn ra sắc lịnh gọi Chơn hồn vào Ngọc Hư Cung để cho biết được thưởng thăng lên hay bị trừng trị đọa xuống.<BR>     <BR>     Cung Bắc Đẩu xem căn quả số,<BR>     Học triều nghi vào ở Linh Tiêu.<BR>     Ngọc Hư Cung, sắc lịnh kêu<BR>     Thưởng, phong, trừng trị phân điều đọa thăng. <BR>     <BR>     Bài kinh chấm dứt bằng 4 câu do Đức Phật Mẫu ban cho:<BR>     Nơi Kim Bồ vàn vàn nguơn chất,<BR>     Tạo hình hài các bậc Nguyên nhân.<BR>     Cung Trí Giác, trụ tinh thần,<BR>     Huờn hư mầu nhiệm thoát trần đăng Tiên.<BR>     <BR>     <B>Nói chung: </B>Sau mỗi lần làm Tuần Cửu, Chơn hồn sẽ được lần lượt đưa lên các từng Trời với sự trợ giúp của các Đấng Thiêng Liêng, đặc biệt là của Cửu Vị Tiên Nương Diêu Trì Cung. Ở mỗi từng Trời, Chơn hồn được đưa đi bái kiến các Đấng Thiêng Liêng Thần Thánh Tiên Phật, quan sát các cảnh Thiêng Liêng tuyệt đẹp và sự mầu nhiệm ở mỗi từng Trời.<BR>     <BR>     Nên nhớ rằng <B>chỉ những vị Đạo hữu giữ trai kỳ từ 10 ngày đổ lên mới đuợc làm Tuần Cửu, và được hưởng các ân huệ như trên. </B>Những vị Đạo hữu giữ trai kỳ dưới 10 ngày mỗi tháng thì không đuợc làm Tuần Cửu và do đó không được hưởng những ân huệ như trên.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Tiểu Tường</B><BR>     Kinh Tiểu Tường <B>do Đức Phật Mẫu giáng cơ ban cho, </B>gồm có 12 câu theo thể thơ song thất lục bát.<BR>     Kể từ ngày làm Tuần Chung Cửu, tức Cửu Cửu, đến ngày làm Lễ Tiểu Tường là đúng 200 ngày, nên trong Kinh có câu “Thiều quang nhị bá Thiên Kiều để chơn”.<BR>     Tiểu Tường cũng làm tại Thánh Thất sở tại. Trước hết phải Cúng Thầy, dâng Tam Bửu, có Thượng Sớ. Xong, tụng bài Kinh Khai Cửu Đại Tường và Tiểu Tường (l lần), rồi mới tụng bài Kinh Tiểu Tường (3 lần). Sau cùng tụng Di-Lạc Chơn Kinh.<BR>     <BR>     Sau Tuần Chung Cửu 200 ngày là đến Lễ Tiểu Tường, Chơn hồn được đến từng Trời Hư Vô Thiên để nghe những điều Phật dạy. Cũng nơi từng Trời Hư Vô Thiên nầy, Đức Chí Tôn đến Ngọc Hư Cung để họp Đại Hội Thiên Triều. Đó là nội dung của 4 vâu kinh mở đầu:<BR>     <BR>     Tịnh niệm phép Nhiên Đăng tưởng tín,<BR>     Hư Vô Thiên đến thính Phật điều.<BR>     Ngọc Hư Đại Hội ngự triều,<BR>     Thiều quang nhị bá Thiên Kiều để chơn.<BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu: </I><BR>     <BR>     Bồ Đề Dạ dẫn hồn thượng tấn,<BR>     Cực Lạc Quan đẹp phận Tây Qui.<BR>     Vào Lôi Âm kiến A-Di,<BR>     Bộ Công Di-Lạc Tam Kỳ độ sanh.<BR>     Ao Thất Bửu gội mình sạch tục,<BR>     Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam.<BR>     <BR>     <B>*Kinh Đại Tường</B><BR>     Kinh Đại Tường <B>do Đức Phật Thích Ca giáng cơ ban cho</B>, gồm có 12 câu theo thể thơ song thất lục bát.<BR>     <I>Kể từ ngày làm Lễ Tiểu Tường đến ngày làm Lễ Đại Tường là đúng 300 ngày, tức là đúng 581 ngày kể từ ngày chết. </I><BR>     <BR>     Đại Tường cũng làm tại Thánh Thất sở tại. Trước hết phải Cúng Thầy, dâng Tam Bửu, có Thượng Sớ. Xong, tụng bài Kinh Khai Cửu Đại Tường và Tiểu Tường (l lần), rồi mới tụng bài Kinh Đại Tường (3 lần). Sau cùng tụng Di-Lạc Chơn Kinh.<BR>     <BR>     Nội dung bài Kinh: Đức Phật Thích Ca cho biết rằng Đức Phật Di-Lạc hiện nay đang chưởng quản từng Trời Hỗn Nguơn Thiên, và <B>Đức Phật Di-Lạc cũng là Giáo Chủ Hội Long Hoa trong thời Tam Kỳ Phổ Độ. </B>Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là lập ra một trường thi Công quả cho chúng sanh đắc đạo, rồi giao cho Đức Phật Di-Lạc làm Chánh chủ khảo để chấm thi đậu rớt. Do đó, Đức Phật Di-Lạc sẽ giáng sanh xuống cõi trần một lần nữa để sửa đổi cho đúng chơn truyền tất cả những giáo lý đã bị người đời canh cải làm sai lạc quá nhiều, Đức Ngài mở ra cơ quan tận độ chúng sanh và tiêu diệt bỏ cõi địa ngục. <BR>     <BR>     Đức Ngài thay mặt Đức Chí Tôn thực hiện tôn chỉ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là “Qui Nguyên Tam Giáo và hiệp nhất Ngũ Chi”, để lập ra một Xã hội Đại đồng cho toàn nhơn loại với cùng chung một tín ngưỡng. <BR>     <BR>     <I>Sau đây là vài câu kinh tiêu biểu</I>:<BR>     <BR>     Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo chủ<BR>     Di-Lạc đương thâu thủ phổ duyên.<BR>     Tái sanh sửa đổi Chơn truyền,<BR>     Khai cơ Tận độ Cửu tuyền diệt vong.<BR>     Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị,<BR>     Cõi tây Phương đuổi quỉ trừ ma.<BR>     … …<BR>     Thâu các Đạo hữu hình làm một,<BR>     Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.<BR>     Tạo đời cải dữ ra hiền,<BR>     Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.</FONT><BR></P>
 

Facebook Comment

Top