<strong><FONT color=#0000ff>Ăn chay mỗi tháng 10 ngày gọi là Chuẩn Ðề Thập trai:</FONT></strong>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Có lẽ do Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát đặt ra cho Phật giáo.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Mười ngày ăn chay nầy qui định theo âm lịch là: Mùng 1, mùng 8, ngày 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30. </strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Tháng nào thiếu (không có ngày 30) thì ăn chay ngày 27 thế vào cho đủ số 10 ngày chay.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Theo Phật giáo, mỗi ngày chay trong tháng đều có một vị Phật hay Bồ Tát vân du đến cõi Ta bà nầy để kết duyên lành với chúng sanh. Nếu những ngày nầy, người ăn chay lễ bái cầu nguyện với vị Phật ấy thì sẽ được ban ơn lành và sức hộ trì.</strong></FONT></P>
<UL>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Mùng 1: Nhiên Ðăng Cổ Phật. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Mùng 8: Dược Sư Lưu Ly Quang Phật. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Ngày 14: Phổ Hiền Bồ Tát. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Ngày 15: A-Di-Ðà Phật. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Ngày18: Quan Thế Âm Bồ Tát. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Ngày 23: Ðại Thế Chí Bồ Tát. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Ngày 24: Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Ngày 28: Ðại Nhựt Phật. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Ngày 29: Dược Vương Bồ Tát. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=4><strong>Ngày 30: Thích Ca Mâu Ni Phật. </strong></FONT></P></LI></UL>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Ngoài những ngày ăn chay kỳ kể trên, tín đồ Cao Ðài được phép ăn mặn, nhưng phải tránh trực tiếp giết hại con vật để lấy thịt (Cấm sát sanh), chỉ nên ra chợ mua các loại thịt cá đã làm sẵn, đem về nấu ăn mà thôi. Các thứ thịt mua ở chợ đó, Phật giáo gọi là thịt trong sạch (thanh tịnh nhục).</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Theo Phật giáo Tiểu Thừa, có 5 thứ thịt thanh tịnh được phép ăn, gọi là Ngũ Tịnh nhục, kể ra: </strong></FONT></P>
<OL>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Thịt ăn mà không thấy người giết con vật. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Thịt ăn mà không nghe tiếng kêu la của con vật. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Thịt ăn mà không nghi người ta giết cho mình ăn thịt. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Thịt con thú tự chết. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Thịt con thú khác ăn còn dư. </strong></FONT></P></LI>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#ff0000 size=5><strong><U> Ăn chay đối với tín đồ Cao Ðài.</U></strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Về việc ăn chay, Ðức Chí Tôn giáng dạy như sau:</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>TNHT: <I>“Chư môn đệ phải trai giới, vì tại sao?</I></strong></FONT></P>
<P =THAN1><I><FONT size=4><strong>Chẳng phải Thầy buộc các con theo Cựu luật, song luật ấy rất nên quí báu, không giữ chẳng hề thành Tiên,Phật đặng."</strong></FONT></I></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Do đó, tín đồ mới nhập môn vào Ðạo Cao Ðài chưa quen ăn chay, thì Tân Luật chỉ buộc ăn chay mỗi tháng 6 ngày.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Ăn mỗi tháng 6 ngày như vậy, trải qua 6 tháng thì quen rồi, người tín đồ cần phải tiến lên một nấc cao hơn là ăn chay mỗi tháng 10 ngày. </strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Tân Luật của Ðạo Cao Ðài qui định như sau:</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>- Ðiều thứ 12: Nhập môn rồi gọi là tín đồ.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Trong hàng tín đồ có hai bực:</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong><FONT color=#ff0000>1.</FONT> Một bực còn ở thế, có vợ có chồng, làm ăn như người thường, song buộc phải giữ Trai kỳ, hoặc 6 hoặc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giới Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Ðại Ðạo truyền bá. Bực nầy được gọi là người giữ Ðạo mà thôi, vào phẩm Hạ Thừa.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong><FONT color=#ff0000>2.</FONT> Một bực đã giữ Trường trai, Giới sát, và Tứ Ðại Ðiều Qui, gọi là vào phẩm Thượng Thừa.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>- Ðiều thứ 13: Trong hàng Hạ Thừa, ai giữ Trai kỳ từ 10 ngày sắp lên, được thọ truyền Bửu pháp, vào Tịnh Thất có người chỉ luyện đạo.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Khi người tín đồ giữ được 10 ngày chay quen rồi, nên tiến lên một nấc nữa là ăn chay suốt trong 3 tháng âm lịch đặc biệt: Tháng giêng (Thượng nguơn), Tháng bảy (Trung nguơn), Tháng mười (Hạ nguơn). Ăn chay được như vậy thì tính ra trong một năm, ăn chay được 180 ngày, tức là ăn chay được nửa năm.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Sau đó cần tiến lên bực Thượng Thừa, ăn chay trường luôn thì rất tốt.</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Do đó trong nghi thức tang lễ của các tín đồ ăn chay 6 ngày và ăn chay 10 ngày có khác nhau nhiều điểm:</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Theo sách Quan Hôn Tang Lễ do Hội Thánh ban hành năm 1976:</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>a) Tang lễ của Chức việc, Ðạo hữu giữ thập trai trở lên:</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Các Chức việc và Ðạo hữu, nếu giữ được 10 ngày chay trở lên hoặc trường chay thì được thọ truyền bửu pháp nên được:</strong></FONT></P>
<UL>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Làm Phép Xác và Phép Ðoạn căn. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Làm lễ Tế điện theo nghi cúng vong thường. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Làm Tuần cửu, Tiểu Tường và Ðại Tường, bài thài theo hàng vong thường. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Dộng chuông tại Ðền Thánh hoặc Thánh Thất: người chết là Nam thì dôïng 7 tiếng, Nữ thì dộng 9 tiếng. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Cầu Siêu: Tụng bài Kinh Cầu Siêu (Ðầu vọng bái), tụng xen bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi), tụng 3 lần, xong niệm Câu Chú của Thầy 3 lần. Kế tiếp tụng Di Lạc Chơn Kinh. </strong></FONT></P></LI></UL>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>b) Tang lễ của chư Ðạo hữu Nam Nữ giữ lục trai:</strong></FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=4><strong>Những vị nầy không được thọ truyền bửu pháp, nên:</strong></FONT></P>
<UL>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Không được làm Phép Xác và Phép Ðoạn căn. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Không được làm Tuần cửu, Tiểu Tường và Ðại Tường. Khi tới ngày nầy, thân nhân của người qui liễu đến Thánh Thất sở tại xin hành lễ cầu siêu. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Không được dộng chuông cảnh cáo tại Ðền Thánh hay tại Thánh Thất. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Cầu Siêu: Chỉ tụng bài Kinh Cầu Siêu (Ðầu vọng bái) và tụng Kinh Di Lạc thôi. Không được tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi). Tụng Kinh Cầu Siêu 3 lần, dứt niệm Câu Chú của Thầy 3 lần. </strong></FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT size=4><strong>Ðược làm lễ Tế điện theo nghi cúng vong thường</strong></FONT>. </P></LI></UL></LI></OL>