<P align=center><IMG src="uploads/hinhanh_09.2007//2008-03-03_120649_untitleds.JPG" border="0"></P>
<P align=center> </P>
<P =THAN1>- Lá phướn chiều dài 9 thước, bề ngang 1 thước 2 tấc, dưới thì nền vàng, trên mặt có 3 màu: vàng, xanh, đỏ. Đoạn trên có Thiên Nhãn kế đó Cổ Pháp Hiệp Thiên Đài rồi kế là sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Ngay chính giữa lá Phướn là giỏ hoa Lam, kế đến có 9 thẻ, hai bên bìa là 12 thẻ theo chiều dài. </P>
<P =THAN1><B>* Ý nghĩa nền vàng</B> là tượng trưng của Phái Phật, chính đức Phật Mẫu cầm quyền năng tạo đoan cả nhân loại nên trong bài kinh Phật Mẫu có câu:</P>
<P =THI><I>Tạo hoá thiên huyền vi Thiên Hậu.<BR>Chưởng kim bàn phật mẫu diêu trì</I></P>
<P =THAN1>- Nơi tầng trời thứ 9 gọi là mẹ sanh. Ngài Chưởng Quản Kim Bàn tức là nắm cả các đẳng cấp thiên liêng mà điều khiển các phẩm chơn hồn từ kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, nhơn hồn, thần hồn, thánh hồn, tiên hồn, phật hồn. Cả Bát Phẩm Chơn Hồn đó nếu họ đoạt được cơ siêu thoát thì cũng đều do tay Đức Phật Mẫu mà có. Phật Mẫu đem Phật Tánh lại cho các bậc Nguyên Nhân. Nguyên Nhân là các chơn hồn của Đức Chí Tôn sai xuống trần gian mà độ chúng sanh nhưng họ mê luyến hồng trần nên Đức Chí Tôn đem phật tánh phỗ hoá cho họ nhớ mà trở lại ngôi xưa, nhưng hai kỳ phổ hoá chỉ độ đặng có 8 ức, còn lại 92 ức vẫn còn đoạ lạc tại thế. Hôm nay, Phật Mẫu đến giáo hoá cho họ được thức tỉnh mà qui hồi cựu vị nên trong điện thờ phật mẫu có đôi liễn như dưới đây:</P>
<P =THI><I>Bát Phẩm Chơn Hồn tạo thế giới, hoá chúng sanh, vạn vật hữu hình tùng chử đạo<BR>Quái hào bát ái định càn khôn, phân đẳng pháp nhứt phân phi tướng trị Tam Kỳ</I></P>
<P =THAN1>- Trên nền vàng có 3 màu: Vàng, Xanh, Đỏ tượng trưng Tam Giáo. Vàng thuộc Thích Giáo, Xanh thuộc Tiên Giáo, Đỏ thuộc Nho Giáo tuy nhiên có 3 như vậy song cũng như một, huyền linh của Đức Lão Tữ hóa Tam Thanh trong lúc Phạt Trụ hưng Châu. </P>
<P =THAN1><B>* Thiên Nhãn</B> </P>
<P =THAN1>- Là tượng trưng của nền đạo mà cả tín đồ lấy đó để thờ phượng trong những tư gia hay là trong những Thánh Thất. Tại sao đạo Cao Đài lấy Thiên Nhãn làm tiêu biểu? Chính Đức Chí Tôn có dạy: <I>Nhãn thị chủ tâm, lưỡng quang chủ tể, quang thị thần, thần thị thiên, thiên giả ngã giã.</I></P>
<P =THAN1>- Con mắt ấy là chủ linh tâm, hai điễn quang của con mắt là chủ thể (thể trên trời là Nhật Nguyệt, thể nơi người là Lưỡng Mục). điễn quang ấy thuộc thần, thần thuộc trời, trời ấy là ta vậy. Mặt khác, Thiên Nhãn tượng trưng sự công bình, thiêng liêng và cũng tiêu biểu mầm móng cho sự đại đồng nhơn loại. Thánh nhơn có câu: <I>Thiên thị tự ngã dân thị, thiên thính tự ngã dân thính.</I></P>
<P =THAN1>- Nghĩa là trời xem tức dân ta xem, trời nghe tức dân ta nghe. Hơn nữa thời xưa tam giáo các vị giáo chủ giáng trần lập đạo mang hình hài xác thịt, Âu thì lấy hình thể người Âu. Á thì lấy hình thể người Á... Nguơn hội này Đức Chí Tôn giáng cơ khai Tam Kỳ Phổ Độ dạy thờ Thiên Nhãn tất nhiên ngày muốn con cái của Ngài hoà ái hiệp tâm với nhau để đi đến chổ đại đồng thế giới.</P>
<P =THAN1><B>* Cổ Pháp</B> </P>
<P =THAN1>- Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Du. Chính Đức Hộ Pháp cùng các chức sắc Hiệp Thiên Đài hằng ngày trân trọng mang trên mảo.</P>
<P =THAN1><B>Bình Bát Du:</B> là Bửu Pháp của nhà Phật. Như đức Thích Ca tắm nơi sông Hằng Ngài cũng chưa biết rằng đã đoạt đạo. Ngài nguyện nếu quả Ngài đắc pháp đủ quyền năng tế độ chúng sanh, xin cho Bình Bát Du nổi và trôi ngược dòng nước. Sau khi thả Bình Bát Du xuống sông Hằng, sự thật được như ý nguyện. Do đó mà Đức Phật mượn Bình Bát Du mà đi phổ độ chúng sanh.</P>
<P =THAN1><B>Phất Chủ:</B> hay phất trần cũng thế. Chính Đức Lão Tử, Đức Thái Thượng cùng các bậc tiên gia điều dùng, tất nhiên cũng là bữu pháp của phái Tiên để vân du thế giới tế độ chúng sanh. Vì vậy mà đạo Cao Đài dùng đó để làm tiêu biểu của Đạo Tiên hầu có quét sạch bụi trần, trong kinh thế đạo có câu:</P>
<P =THI><I>Chổi tiên quét sạch nợ trần oan gia </I></P>
<P =THAN1><B>Xuân Thu:</B> tức là quyển sách do đức Khổng Phu Tử sáng tác, cũng là Bửu Pháp của Nho Giáo. Trong lúc Châu Lưu Lục Quốc Đức Khổng Phu Tử đã không thành công trong việc truyền giáo. Ngài mới trở về nước Lỗ lập hạnh đàn dạy được tam thiên đồ đệ, sau khi chỉ còn thất thập nhị hiền. Ngài thấy đời loạn lạc nào vua tôi, cha con, anh em, chồng vợ sát hại nhau, bỏ mất đạo làm người, quên cả luân thường đạo lý, nên Ngài soạn ra sách Xuân Thu, phân định quyền hành Quân Nhân, Thần Trung, Phụ Tử, Tử Hiếu. Nên có câu: <I>Khổng Tử tự vệ phản Lỗ, tác Xuân Thu dỉ chánh vương hoà</I></P>
<P =THAN1>Nghĩa là Khổng Phu Tử từ nước Lỗ làm sách Xuân Thu phân biệt đạo vua tôi chấn hưng phong hoá.</P>
<BLOCKQUOTE>
<UL>
<LI>
<P =THAN>Xuân: - Nhứt tự ngụ chi bao - một chử đễ khen. </P>
<LI>
<P =THAN>Thu: - Nhứt tự ngụ chi biếm - một chử để chê. </P></LI></UL></BLOCKQUOTE>
<P =THAN1><I>Nhứt tự chi bao vinh ư hoa cỗn, nhứt tự chi biếm nhục ư phủ diệt</I></P>
<P =THAN1>Nghĩa là: ai được một chử khen của Ngài vinh diệu như mặc được áo hoa cỗn, ai bị một chử chê của Ngài nhục không khác búa vớt. Cho nên đến đời Tam Quốc, Đức Quan Thánh Đế Quân hằng trân trọng bộ Xuân Thu.</P>
<P =THAN1>- Cổ Pháp Hiệp Thiên Đài là tiêu biểu của ba Đạo: Nho,Thích, Đạo mà ta nhìn thấy dính liền với nhau còn có nghĩa là sự Qui Nguyên Tam Giáo. Nghĩa là Đạo chỉ có một mà thôi. </P>
<P =THAN1><B>Đại Đạo</B> vì chổ Qui Nguyên Tam Giáo, Hiệp Nhất Ngủ Chi (là Nhơn đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo) mà đạo Cao Đài đang lo chấn hưng để phổ hoá toàn nhơn loại. Nên Chí Tôn gọi là Đại Đạo.</P>
<P =THAN1><B>Tam Kỳ Phổ Độ</B></P>
<P =THAN1>- Tam Kỳ: là kỳ thứ ba</P>
<P =THAN1>- Nhứt kỳ :</P>
<UL>
<UL =disc>
<LI>
<P =THAN>Phật Đạo: Là do Đức Nhiên Đăng khai sáng tại nước Trung Hoa trong thời kỳ thượng cổ. </P>
<LI>
<P =THAN>Tiên Đạo: Đức Thái Thượng khai sáng cũng tại Trung Hoa. </P>
<LI>
<P =THAN>Nho Đạo: Đức Văn Tuyên Khổng Thánh cũng khai sáng ở Trung Hoa, </P></LI></UL></UL>
<P =THAN1>- Nhị Kỳ :</P>
<UL>
<UL =disc>
<LI>
<P =THAN>Đức Thích Ca Mâu Ni chấn hưng Phật Giáo tai Ấn Độ </P>
<LI>
<P =THAN>Tiên Đạo: Đức Lão Tử khai sáng tại Trung Hoa đời Nhà Thương. </P>
<LI>
<P =THAN>Nho Đạo: Đức Khổng Tử khai sáng tại Trung Hoa đời Nhà Châu. </P></LI></UL></UL>
<P =THAN1>Phổ Độ:</P>
<P =THAN1>- Phổ hóa chúng sanh thuyết pháp độ đời, cải tà qui chánh, cải ác tùng lương. Đạo Cao Đài không phải mới lạ chi, thật ra là tam giáo chấn hưng trong thời kỳ hạ ngươn nầy đặng độ rỗi 92 Ức Nguyên Nhân còn đoạ lạc nơi trần thế, nên gọi là Tam Kỳ Phổ Độ.</P>
<P =THAN1><B>* Giỏ Hoa Lam</B></P>
<P =THAN1>- Của một tiên nữ (Hà Tiên Cô ) dùng để đi hái hoa luyện thuốc cứu đời. Hiên nay, Cao Đài dùng Giỏ Hoa Lam trước đền thờ Chí Tôn tất nhiên để khuyến khích tinh thần nữ phái noi gương sáng ấy để mở rộng lòng thương với vạn loại chẳng ngại khó khăn.</P>
<P =THAN1><B>* 12 Thẻ</B></P>
<P =THAN1>- Là số riêng của Đức Chí Tôn, tộc về Thập Nhị Khai Thiên. 9 thẻ ở dưới thuộc về cửu thiên khai hoá. Tượng trưng âm dương hiệp nhất, thiên địa cao thới, pháp luân thường chuyển.</P>
<P =THAN1>- Tóm lại: trong bài kinh xưng tụng Đức Diêu Trì Kim Mẫu có câu</P>
<P =THI><I>Lục Nương phất phướn truy hồn<BR>Tang thương nay lúc bảo tồn chúng sanh</I></P>
<P =THAN1>- Đang buổi thế giới cạnh tranh, tang thương biến cuộc, Phật Mẫu dùng Phướn từ bi để thức tỉnh sanh linh nương theo mà trở về cửa đạo, nhìn nhau đồng chủ nghĩa, chẳng phân biệt màu da sắc tóc nòi giống, thật hành đạo đức thương yêu nhau mà đem Tôn Chỉ Đại Đồng rải khắp càn khôn thế giới cho được cộng hưởng thái bình âu ca lạc nghiệp. Được như vậy, sau khi thoát xác rồi bà Lục Nương sẽ dùng phướn từ bi ấy mà dìu dẫn chơn hồn qui hồi cựu vị mà hội hiệp cùng Phật Mẫu nơi cỏi thiêng liêng hằng sống. <strong>(kỳ tới : ông thiện - ông ác)</strong></P>