Đức Chí Tôn và đền thánh Lama

teogia

New member
Tôi đã đọc được trong lần thuyết đạo của Hộ Pháp về việc Đức Chí Tôn giáng phàm bằng thân hữu hình tại đền thánh Lama bên Tibet( Tây Tạng). Tôi thấy rất hứng thú về thông tin này nên muốn hỏi quý đạo hữu nào có biết các nguồn tin khác về thông tin này không? Quý đạo hữu có thịnh tình nếu có biết có thể chỉ dẫn thêm các tài liệu như bài viết hoặc các website bằng tiếng Anh hay tiếng Việt cũng được.<br>Được biết Tibet là một xứ thuần Phật giáo thì ở nơi đó Đức Chí Tôn có danh hiệu như thế nào? Trong cái nhìn của người Tibet thì đức Chí Tôn là vị ra sao nhỉ?<br>Tôi có đọc bài viết về cuộc trao đổi của đức Dalai Lama đương nhiệm với các sơ và linh mục bên Hoa Kỳ. Trong đó có câu hỏi đặt ra cho Đức Dalai Lama là nếu được gặp và hỏi Đức Jesus thì Ngài sẽ hỏi câu hỏi gì. Thì đức Dalai Lama đáp là Ngài sẽ hỏi đức Jesus giải thích rõ hơn về bản chất của Cha( đức Chí Tôn) vì đây là nguyên nhân gây mâu thuẫn về lý thuyết tôn giáo giữa người Thiên Chúa với Phật giáo. Thật tình tôi nghĩ đức Dalai Lama đã chứng ngộ tánh không rồi thì Ngài ắt phải rõ Đức Chí Tôn nhưng vì để dẫn dắt những người còn mê mờ nên không thể trộn lẫn lý thuyết được cho nên mới gợi ý về câu hỏi đó.<br>Rất mong được sự góp ý của quý đạo hữu!<br>
 

NAMMÔ

New member
 Em cũng tán thành như vậy,đức dalai đã chứng nhận được sự đồng tồng của các tôn giáo và ngày cho rằng là ĐỨC CHÍ TÔN sáng lập ra.Nhưng em không hiểu là ở bên PHẬT GIÁO người ta gọi Ông Trời là gì,chứ em thấy ở bên đây người ta vẫn gọi là Thượng Đế à
 

ThượngMinh

New member
<P>Điều này thì tiểu đệ vừa được đọc, nhưng tiểu đệ nghe nói rằng bên Đền Thánh Lama 50 năm chí tôn xuống 1 lần không biết điều này có đúng là sự thật hay không xin các huynh tỷ am tường chỉ dạy</P>
 

truongtam

Administrator
<blockquote>
<dl><div align="center"><center>
<dt><font color="#0000a0" face="Times New Roman"><big><big><big>Đức Đạt-lai La-ma, vị
sứ giả của hòa bình</big></big></big></font></dt>
</center></div><div align="center"><center>
<dt><font color="#800080" face="Times New Roman"><big><big>Thích Nguyên Tạng</big></big></font></dt>
</center></div><div align="center"><center>
<dt><font face="Times New Roman"><a href="file://e:%5c23-4%5cdia/ym/Compose?To=quangduc@eisa.net.au&YY=51513&order=down&sort=date&pos=0" target="_blank">quangduc@eisa.net.au</a></font></dt>
</center></div></dl>
<hr width="15%">
<p><font face="Times New Roman">Mới đây theo công trình  nghiên cứu cá
nhân của giáo sư Eric Sharp thuộc Đại học Sydney, Australia, trong số những
thánh nhân của thế kỷ thứ 20 này, có ba thánh nhân người châu Á, đó
là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (1861-1941), Thánh Mahatma Ghandi (1869
- 1948) và một vị hiện sống là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. </font></p>
<p align="left"><font face="Times New Roman">Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, tên thật
là Tenzin Gyatso, là một nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân
dân Tây Tạng. Ngài chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc  Tây Tạng
vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 (Ất Hợi) trong một gia đình nông dân. Ngài được
thừa nhận là Dalai Lama vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là
hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, cũng là hiện thân của Đức
Quán Thế Âm (Avalokitesvara), một vị Bồ tát của lòng từ. </font></p>
<p align="center"><font face="Times New Roman"><img src="http://www.buddhismtoday.com/viet/pgtg/nguoi/001-dalailam1.jpg" alt="imagepmm.jpg 18587 bytes" width="275" height="281" border="0"> <br>
<font color="#000099">Đức Dalai Lama đang giảng Pháp </font> </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Theo truyền thống của người Tây Tạng, Đức
Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân lòng từ của chư Phật và Bồ tát, người
chọn con đường tái sinh trở lại kiếp người để cứu giúp chúng sanh.
Dalai Lama, nghĩa là "Người bảo vệ đức tin" (Defender of the Faith),
"Biển lớn của trí tuệ" (Ocean of Wisdom), "Vua của Chánh
Pháp" (King of Dharma),  Viên bảo châu như  ý (Wishfulfilling
Gem)..... </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Đức Đạt Lai Lạt Ma được tấn phong tước vị
Dalai Lama vào ngày 22 tháng 2 năm 1940 tại Lhasa, thủ đô của Tây Tạng,
chính thức là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người
Tây Tạng. </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">1. Quá trình tìm kiếm Đức Đạt
Lai Lạt Ma:</font> </font></p>
<p align="left"><font face="Times New Roman">Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 viên
tịch vào năm 1933, chính phủ Tây Tạng gặp khủng hoảng trong việc tìm kiếm
một người thừa kế. Năm 1935, vị nhiếp chính đi đến hồ thiêng Lhamo
Lhatso ở Chokhorgyal, khoảng 90 dặm từ thủ đô Lhasa. Theo truyền thống của
Tây Tạng, người ta có thể nhìn thấy mọi việc ở tương lai từ hồ thiêng
(Holy lake) này. Lúc bấy giờ vị nhiếp chính thấy ba chữ Tây Tạng Ah, Ka
và Ma hiện lên giữa mặt nước trong vắt của hồ thiêng, theo sau ba mẫu
tự này là bức tranh của một ngôi chùa ba tầng với mái ngói màu xanh lục
và một căn nhà có chiếc máng xối kỳ lạ. </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Năm 1937, chính phủ Tây Tạng đã gởi những
hình ảnh thiêng liêng ấy từ hồ thiêng đến các tỉnh thành của Tây Tạng
để tìm kiếm nơi tái sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Một phái đoàn tìm
kiếm tái sanh được thành lập và đi về hướng Đông Bắc Tây Tạng, vị
trưởng phái đoàn là Lạt ma Kewtsang Rinpoche, Tu viện trưởng Tu viện Sera.
Khi phái đoàn đến làng Amdo, họ thấy quang cảnh nơi này giống y như hình
ảnh đã thấy dưới hồ thiêng. Lobsang Tsewang cải trang thành người trưởng
đoàn, và Lạt ma Kewtsang cải trang thành người thị giả và họ vào thăm
một căn nhà với chiếc máng xối kỳ lạ. Bấy giờ Lạt ma Kewtsang có
mang một xâu chuỗi (rosary) của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 và chú bé
trong căn nhà ấy đã nhận ra nó và yêu cầu được cầm xem. Lạt Ma
Kewtsang hứa sẽ cho nếu chú  đoán được Ngài là ai. Và chú bé liền
trả lời ngay bằng một loại tiếng lóng của địa phương là "Sera
aga'', nghĩa là ''Lạt ma ở tu viện Sera". Tiếp đó, Ngài hỏi chú bé vị
trưởng đoàn là ai và chú bé đã trả lời đúng; chú cũng cho biết tên
chính xác tên của người thị giả. Theo sau đó là một loạt trắc nghiệm
khác để chú bé chọn lựa những đồ dùng thường ngày của Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ 13 và chú bé cũng nhận ra tất cả và nói: ''của tôi, của
tôi". Chú bé ấy chính là Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay.  </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Từ những kết quả của cuộc kiểm tra này
giúp họ đoán chắc rằng họ đã tìm ra hóa thân mới và niềm tin của họ
càng được vững mạnh thêm bởi những ý nghĩa từ ba mẫu tự Tây Tạng
đã từng thấy dưới hồ thiêng: Ah là hàm nghĩa cho tỉnh lỵ Amdo, nơi chú
bé chào đời,  Ka là chỉ cho Tu viện Kumbum, một ngôi Tu viện lớn nhất
với ba tầng gần nhà của chú bé và Ma là ám chỉ cho ngôi tu viện Karma
Rolpai Dorje ở trên ngọn núi của ngôi làng gần bên. Cuối cùng phái đoàn
quyết định chú bé ấy là hậu thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. 
</font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">2. Tu học tại Tây Tạng :</font>
</font></p>
<p><font face="Times New Roman">Đức Đạt Lai Lạt bắt đầu sự nghiệp học vấn
của mình vào năm 6 tuổi và hoàn tất học vị cao nhất của PG Tây Tạng
là Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ triết học Phật giáo
(Doctorate of Buddhist Philosophy) ở tuổi 25 vào năm 1959. Năm 24 tuổi, Ngài đã
tham dự kỳ thi đầu tiên tại các đại học Phật giáo Drepung, Sera và
Ganden. Kỳ thi cuối cùng được tổ chức tại  Jokhang, thủ đô Lhasa
trong thời gian lễ hội  Monlam, tháng giêng theo lịch Tây Tạng. </font></p>
<p><font face="Times New Roman"> Trước đó Ngài phải học tất cả các
môn học chính như  Luận lý (Logic) văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng
(Culture & Tibetan Art), Phạn ngữ (Sanskrit), Y học (Medicine), Triết học Phật
giáo (Buddhist philosophy). Riêng môn Phật học này là khó nhất, được chia
ra làm năm phần là Bát nhã (Prajnaparamita), Trung quán luận (Madhyamika), Giới
luật (Vinaya), Luận A Tỳ Đạt Ma (Abidharma) và Nhân minh luận (Pramana) . Và
các môn học phụ khác là: biện luận (dialetics), thơ ca (poetry), âm nhạc
(music) và kịch nghệ (drama), thiên văn (astrology), văn phạm (metre and
phraseing ). </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">3. Vai trò và trách nhiệm lãnh
đạo :</font> </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Vào ngày 17 tháng 11 năm 1950, Đức Đạt Lai Lạt
đã khoác lên mình một trọng trách là người lãnh đạo thế quyền của
người dân Tây Tạng (head of the State and Government) sau khi có khoảng 
80.000 quân lính của Trung Quốc tấn công vào Tây Tạng.  </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Năm 1954, Ngài đã đến Bắc kinh để thương
thuyết hòa bình với chủ tịch Mao Trạch Đông (Mao Tse-tung) và những nhà
lãnh đạo Trung Hoa khác, gồm Chu Ân Lai (Chou En-lai) và Đặng Tiểu Bình
(Deng Xiaoping). Tuy nhiên, các cuộc đàm phán trong chuyến đi này không mang lại
kết quả, cuối cùng Ngài đã quyết định muốn cứu vãn cho Tây Tạng
Ngài phải ra nước ngoài. </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">4. Đào thoát khỏi Tây Tạng :</font>
</font></p>
<p><font face="Times New Roman">Với nỗ lực mang lại một giải pháp hòa bình
của Ngài cho người dân Tây Tạng đã bị cản trở bởi một chính sách
tàn bạo của nhà cầm quyền Bắc Kinh, trong khi đó  ở miền Đông
Tây Tạng dân chúng đã đứng lên kháng cự mạnh mẽ  đối với sự
đàn áp của Trung Hoa. Sự kháng cự này đã lan ra trên nhiều tỉnh thành của
Tây Tạng. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, một cuộc biểu tình lớn nhất
trong lịch sử của Tây Tạng tại thủ đô Lhasa để kêu gọi binh lính
Trung Quốc phải rút khỏi Tây Tạng và tái xác định rằng Tây Tạng là một
quốc gia độc lập. Cuộc biểu tình ôn hòa này đã bị bẻ gãy một cách
tàn nhẫn của quân đội điên cuồng của Hoa Lục. Kết quả của cuộc
xâm lăng này đã giết chết hàng triệu người Tây Tạng vô tội và phá hủy
6 triệu chùa chiền tại đất nước này. Để tìm con đường giải phóng
nỗi khổ đau ấy, 80.000 người dân Tây Tạng cùng với Đức Đạt Lai Lạt
Ma vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn để đến tị nạn tại miền bắc Ấn Độ
vào năm 1959. </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">5. Chính phủ lưu vong tại
Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ :</font> </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Ngày nay, với hơn 120.000 người Tây Tạng lưu trú
tại vùng đất Dharamsala, Ấn Độ, được biết như là một ''Lhasa nhỏ",
lập thành một chính quyền lưu vong Tây Tạng với một Hội Đồng Dân Cử
Tây Tạng (Commission of Tibetan People's Deputies) vào năm 1960. </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Trong những năm đầu lưu vong,  Đức Đạt
Lai Lạt Ma đã kêu gọi Hoa Kỳ lên tiếng về vấn đề của Tây Tạng, kết
quả ba quyết nghị đã được thông qua tại Hội Đồng lập Pháp của Hoa
Kỳ vào năm 1959, 1961 và năm 1965, kêu gọi nhà cầm quyền Bắc Kinh phải
tôn trọng nhân quyền của người Tây Tạng và ước muốn tự trị của họ.
Với việc thành lập một chính phủ lưu vong Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt
Ma thấy rằng công việc khẩn cấp phải làm là cứu nguy dân tị nạn và
nền văn hóa của Tây Tạng.  Các lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, văn
hóa, giáo dục đã dần được tái hoạt động tại Ấn Độ. Trẻ em Tây
Tạng được đi học và một Trường đại học Tây Tạng được thành lập
tại Ấn Độ. Có khoảng 200 tu viện Tây Tạng được xây dựng tại Ấn
để Tăng chúng tu học, duy trì và bảo vệ văn hóa và tôn giáo của Tây Tạng.
</font></p>
<p><font face="Times New Roman">Năm 1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ban hành một
hiến pháp dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên giới luật của
nhà Phật và bản hiến chương nhân quyền của LHQ để biên soạn và chuẩn
bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai. </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Năm 1965, Ngài đến tham dự đại lễ Phật Đản
Phật lịch 2500 tại Ấn Độ, đã gặp được Thủ tướng Ấn  ông
Nehru và ông Chu Ân Lai , đàm phán về vấn đề của Tây Tạng.  </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Ngày nay, thành viên của quốc hội Tây Tạng sẽ
được bầu cử bởi dân chúng. Hội đồng nội các được bầu cử bởi
quốc hội. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh rằng nhiệm vụ chính của
chính quyền Tây Tạng là chăm lo cho đời sống người dân và Ngài cũng nói
thêm, khi Tây Tạng giành lại nền độc lập, Ngài sẽ không còn ngồi ở
văn phòng chính phủ  nữa. </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Năm 1987, Đức Đạt Lai Lạt Ma tham dự một hội
nghị nhân quyền tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ. Ngài đề xuất một
Chương Trình Hòa Bình Năm Điểm (A Five-Point Peace Plan)  bao gồm, 1) Biến
Tây Tạng thành một khu vực hòa bình; 2) Chấm dứt việc di dân Trung Hoa
đang de dọa sự tồn tại của dân tộc Tây Tạng; 3) Tôn trọng các quyền
dân chủ, tự do và quyền làm người của dân Tây Tạng; 4) Phục hồi và
bảo vệ môi sinh của Tây Tạng và chấm dứt việc sử dụng đất Tây Tạng
để sản xuất vũ khí nguyên tử và bỏ đồ phế thải nguyên tử; và 5)
Khởi sự thương thảo ngay về quy chế tương lai của Tây Tạng và bang
giao giữa Tây Tạng với Trung Hoa. </font></p>
<p align="left"><font face="Times New Roman">Ngày 15 tháng 6 năm 1988, tại
Strasbourg, Pháp quốc Ngài nhắc lại Chương Trình Hòa Bình Năm Điểm và
yêu cầu nhà cầm quyền Bắc kinh trao trả lại nền độc lập cho Tây Tạng.
Ngày 9 tháng 10 năm 1991, trong khi phát biểu tại đại học Yale, Hoa Kỳ, Ngài
bày tỏ ý định muốn trở về thăm Tây Tạng để đích thân đánh giá
tình hình chính trị nơi ấy. Ngài nói: ''Tôi thật sự lo lắng vì tình cảnh
bạo động có lẽ sẽ bùng nỗ. Tôi muốn làm cái gì đó để chận đứng
lại... chuyến viếng thăm của tôi sẽ là một cơ hội mới để làm tăng
thêm sự cảm thông và tạo ra một nền tảng để giải quyết''. </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">6. Các giải thưởng :</font> </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Từ chuyến viếng thăm phương Tây đầu tiên của
Ngài vào năm1973, một số trường đại học và viện nghiên cứu đã trao
tặng Ngài những Giải thưởng về Hòa bình (Peace Award) và Bằng Tiến sĩ
danh dự (honorary Doctorate Degree) để tuyên dương những tác phẩm xuất sắc
của Ngài viết về triết học Phật giáo, giải pháp cho những xung đột của
quốc tế, vấn đề nhân quyền và môi sinh toàn cầu. Trong lần trao giải
thưởng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Ủy Hội Nhân quyền Raoul Wallenberg,
dân biểu Mỹ ông Tom Lantos đã nói: "sự đấu tranh dũng cảm của Đức
Đạt Lai Lạt Ma đã tạo ra một sự chú ý đặc biệt về nhân quyền và
hòa bình thế giới. Sự kiên trì đấu tranh của Ngài để chấm dứt khổ
đau cho dân tộc Tây Tạng qua những cuộc đàm phán hòa bình và hòa giải".
</font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">7. Giải thưởng Nobel Hòa Bình
năm 1989 :</font> </font></p>
<p align="left"><font face="Times New Roman">Ủy ban Hòa Bình Na Uy quyết định
trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa Bình (Peace  Prize) cho Ngài vào năm 1989
sau khi được cả thế giới tán dương và tán thành, ngoại trừ Trung Hoa.
Trong quyết định ấy có đoạn viết: "Ủy ban muốn nhấn mạnh rằng
Đức Đạt Lai Lạt Ma với sự đấu tranh cho tự do cho Tây Tạng vẫn kiên
quyết không sử dụng bạo lực. Ngài đã ủng hộ giải pháp hòa bình dựa
trên tinh thần khoan dung và tôn trọng lẫn nhau để bảo vệ lịch sử và
tài sản văn hóa của con người''. </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Vào ngày 10 tháng 12 năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt
Ma đã tiếp nhận giải thưởng hòa bình trên tinh thần nhân danh những người
bị đàn áp ở khắp mọi nơi, tất cả những ai đấu tranh cho tự do và
hòa bình thế giới và đặc biệt là nhân dân Tây Tạng. Trong lời phát biểu
tại buổi lễ nhận giải, Ngài đã nói: ''Giải thưởng đã tái xác nhận
một lần nữa lòng quyết tâm của chúng tôi rằng chân lý, lòng dũng cảm
và quyết tâm của chúng tôi như là những vũ khí, Tây Tạng sẽ được tự
do. Cuộc đấu tranh của chúng tôi vẫn phải theo đuổi đường hướng bất
bạo động và loại bỏ hận thù'' ("The prize reaffirms our conviction that
with truth, courage and determination  as our weapons, Tibet will be liberated. Our
struggle must remain nonviolent and free of hatred"). </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">8. Tiếp xúc với Đông &
Tây :</font> </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Từ năm 1967, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khởi
hàng loạt chuyến viếng thăm, đến nay đã được 46 quốc gia. Vào mùa thu
năm 1991, Ngài đến thăm vùng Baltic khi nhận được lời mời của Tổng thống
Lithuania, ông Vytautas Landsbergis, và Ngài đã trở thành vị khách ngoại quốc
đầu tiên đọc diễn văn tại quốc hội của Lithuania. Ngài đã gặp đức
Giáo Hoàng Paul đệ lục  tại Vatican vào năm 1973 và đức Giáo Hoàng
John Paul đệ nhị vào năm 1980 tại Rome và các năm khác là 1980, 1982, 1986,
1988 và 1990. </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Sau đây là bản liệt kê danh
sách các quốc gia mà Đức Đạt Lai Lạt đã viếng thăm:</font>Argentina
1992, 1999 ; Úc Đại Lợi: 1982, 1992, 1996;  Áo quốc: 1973, 1983, 1986, 1989,
1991,1992, 1993, 1995, 1998 ;  Bỉ:  1973, 1990, 1991, 1994, 1999; Bulgaria
1991; Buryat Autonomous 1991, 1993; Brazil, 1992, 1999 ; Canada 1980, 1990,1993 ; 
Chile 1992, 1999 ; Costa Rica 1989 ; Czechkoslvakia 1990 ; Đan Mạch: 1973, 1991, 1996;
Estonia 1991; Phần Lan: 1988, 1996, 1998; Pháp:  1982, 1986, 1988, 1989, 1990,
1991, 1992, 1993, 1994, 1998; Đức: 1973, 1982, 1983, 1984, 1986, 1987, 1988, 1989,
1990, 1991,1992,1994, 1995, 1996, 1998, 1999; Greece 1979;  Hungary 1982, 1989, 1992,
1993. 1996 ; Indonesia 1982; Israel 1994, 1999 ; Italy 1982, 1986, 1988, 1989, 1991, 1994,
1996, 1999; Nhật Bản: 1967, 1978, 1980, 1984,1994, 1995,
1998;        Latvia 1991; Liechtenstein 1991; Lithunia
1991; Mã Lai: 1982; Mexico 1989 ; Mông Cổ: 1979, 1982, 1991, 1994; Nepal 1981; Tân
Tây Lan: 1992, 1996; Na Uy: 1973, 1989, 1991, 1996 ; Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa:
1954; Hòa Lan: 1993; Cộng Hòa Ấn Độ: 1956, 1959 (cũng là nơi Ngài trú ngụ
hiện nay); Cộng Hòa Ái Nhĩ Lan: 1973, 1991; Singapore: 1982 ; Tây Ban Nha: 1982,
1994 ; Nam Phi: 1996; Thụy Điển: 1973, 1988, 1990, 1991, 1996; Thụy Sĩ: 
1973, 1974, 1974, 1983, 1985, 1987, 1988, 1990, 1991,1994, 1995, 1996, 1998; Thái Lan:
1967, 1972, 1993; Hà Lan 1973, 1986, 1990,1994; Tòa thánh Vatican: 1973, 1981, 1984,
1988, 1990, 1991, 1996 ; Thổ Nhĩ Kỳ: 1983; Anh quốc: 1973, 1981, 1984, 1988,
1991,1993, 1994, 1996, 1999 ; Liên Xô cũ: 1991,1994; Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ:
1979, 1980, 1981, 1984, 1987, 1990, 1991,  1992, 1993, 1994, 1995, 1996, 1998, 1999. </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">9. Những nhà lãnh đạo mà Đức
Đạt Lai Lạt Ma tiếp xúc:</font> </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1999 :</font> <br>
Ngày 16 tháng 6: ông Josckha Fischer, Bộ trưởng ngoại giao Đức <br>
Ngày 12 tháng 5: ông  Robin Cook, Bộ trưởng ngoại giao Anh <br>
Ngày 13tháng 5: ông Tony Blair, Thủ tướng Anh <br>
Ngày 4 tháng 5: ông Jean Luc DEHAENE, Thủ tướng Bỉ <br>
Ngày 14 tháng 4: ông Edwardo Frei, Tổng thống cộng hòa Chile <br>
Ngày 7 tháng 4: ông Fernando Henrique Cardoso, Tổng thống Brazil </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm  1998: </font> <br>
Ngày  8 tháng 12: ông Jacques Chirac, Tổng Thống Pháp <br>
Ngày  8 tháng 12: ông Lionel Jospin, Thủ tướng Pháp <br>
Ngày  8 tháng 12: ông Kofi Annan, Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc <br>
Ngày 10 tháng 12: ông William J. Clinton, Tổng thống Mỹ <br>
Ngày 10 tháng 12: ông Albert Gore, Phó Tổng thống Mỹ <br>
Ngày 10 tháng 12: bà Madeleine Alright,  Ngoại trưởng Mỹ <br>
Ngày 20 tháng 12: ông Claes Anderson, Bộ Trưởng Văn Hóa, Phần Lan <br>
Ngày 16 tháng 12: bà Elisabeth Guigou, Bộ Trưởng Tư Pháp, Pháp quốc <br>
Ngày 9 tháng 12: ông Wolfgang Schuessel, Bộ Trưởng Ngoại giao, Áo  </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm  1997</font> <br>
Ngày 23 tháng 4: bà Madeleine Albright, Ngoại trưởng Mỹ  <br>
Ngày 23 tháng 4: ông William J. Clinton, Tổng thống Mỹ <br>
Ngày 23 tháng 4: ông Albert Gore, Phó Tổng thống Mỹ <br>
Ngày 24 tháng 3: ông Lin Feng-cheng, Bộ Trưởng Nội Vu, Đài Loan  <br>
Ngày 26 tháng 3: ông Lien Chan, Phó Tổng Thống Đài Loan <br>
Ngày 27 tháng 3: ông Lee Teng-hui, Tổng Thống Đài Loan </font></p>
<p align="left"><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm  1996</font> <br>
Ngày 23 tháng 10: ông Van Mierlo, Ngoại Trưởng Phần Lan <br>
Ngày 23 tháng 10: Tiến sĩ Klaus Hansch, Chủ tịch Nghị Viện Châu Âu <br>
Ngày 23 tháng 10: ông Jacques Santer, Chủ tịch Liên Minh Châu Âu <br>
Ngày 29 tháng 10: ông Jacues Toubon, Bộ Trưởng Tư Pháp, Pháp quốc <br>
Ngày 26 tháng 9: ông John Howard, Thủ tướng Úc  <br>
Ngày 14 tháng 9: ông Alexander Downer, Ngọai trưởng Úc <br>
Ngày 11 tháng 9: ông Jim Bolger, Thủ tướng Tân Tây Lan <br>
Ngày 11 tháng 9: ông Don McKinnon, Phó Thủ tướng Tân Tây Lan <br>
Ngày 22 tháng 6: ông Nelson Mandela, Tổng thống Nam Phi  <br>
Ngày 17 tháng 7: ông Malcom Rifkind, Ngoại trưởng Anh <br>
 Ngày 28 tháng 5: ông Bj</font>貮 <font face="Times New Roman">Tore Godal, Ngoại
trưởng Na Uy <br>
Ngày 27 tháng 5: ông Pekka Haavisto, Bộ Trưởng Môi Sinh, Phần Lan <br>
Ngày 23 tháng 5: bà Lena Hjelm-Walln, Ngoại Trưởng Thụy Điển <br>
Ngày 20 tháng 5: Giáo hoàng Pope John Paul II  <br>
Ngày 15 tháng 5: ông Niels Petersen, Ngoại Trưởng Đan Mạch <br>
Ngày 30 tháng 4: Hoàng tử Albert, xứ Monaco  <br>
Ngày 13 tháng 9: ông William J. Clinton, Tổng Thống Mỹ <br>
Ngày 13 tháng 9: ông Albert Gore, Phó Tổng Thống Mỹ <br>
Ngày 4 tháng 5: Tiến sĩ Klaus Kinkel, Ngoại trưởng Đức <br>
Ngày 23 tháng 6: ông Flavio Cotti, Ngoại Trưởng Thụy Sĩ </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1994</font> <br>
Ngày 8 tháng 10: bà Gro Harlem Brundtland, Thủ Tướng Na Uy <br>
Ngày 3 tháng 7: bàVioleta Chamorro, Tổng Thống Nicaragua <br>
Ngày 17 tháng 6: ông Silvio Berlusconi, Thủ Tướng Italy <br>
Ngày 16 tháng 6: ông Oscar Luigi Scalfaro, Tổng Thống Italy <br>
Ngày 9 ttháng 6: ông Marin Gonzalez, Phó Chủ Tịch Liên Minh Châu Âu <br>
Ngày 7 tháng 6: ông Jean Luc Dehene, Thủ Tướng Bỉ  <br>
Ngày 6 tháng 6: ông Pleter Kooilmans, Ngoại Trưởng Hà Lan <br>
Ngày 5 tháng 6: ông Wim Kok, Tổng Trưởng Tài chính Hà Lan <br>
Ngày 29 tháng 4: Giáo sư Karl-Hans Laermann, Tổng Trưởng Giáo Dục Đức <br>
Ngày 28 tháng 4: ông William J. Clinton, Tổng Thống Mỹ <br>
Ngày 28 tháng 4: ông Albert Gore, Phó Tổng Thống Mỹ <br>
Ngày 21 tháng 3: ông Yossi Sarid, Bộ Trưởng Môi Sinh Israel </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1993</font> <br>
Ngày 16 tháng 11: ông Francois Mitterrand, Tổng Thống Pháp <br>
Ngày 16 tháng 11: ông Alain Juppe, Bộ Trưởng Ngoại giao Pháp <br>
Ngày 14 tháng 11: ông Philippe Douste Blazy, Bộ Trưởng Y Tế Pháp <br>
Ngày 30 tháng 10: ông Alain Carignon, Tổng Trưởng Thông Tin Pháp <br>
Ngày 28 tháng 10: ông Michel Barnier, Bộ Trưởng Môi Sinh Pháp  <br>
Ngày 14 tháng 6: Tiến sĩ Thomas Klestil, Tổng Thống Áo  <br>
Ngày 14 tháng 6: Tiến sĩ Alois Mock, Bộ Trưởng Ngoại giao Áo <br>
Ngày 14 tháng 6: Tiến sĩ Nikolaus Michalek, Bộ Trưởng Tư Pháp Áo <br>
Ngày 15 tháng 6: ông Franz Vranitzky, Thủ Tướng Áo <br>
Ngày 15 tháng 6: Tiến sĩ Erhard Buiek, Phó Thủ Tướng Áo <br>
Ngày 29 tháng 6: bà Barbara McDougal, Bộ Trưởng Nội Vụ Canada <br>
Ngày 12 tháng 5: ông Douglas Hurd, Bộ Trưởng Ngoại giao Anh <br>
Ngày 27 tháng 4: ông William J. Clinton, Tổng Thống Mỹ <br>
Ngày 27 tháng 4: ông Albert Gore, Phó Tổng Thống Mỹ <br>
Ngày 26 tháng 4: ông Warren Christopher, Bộ Trưởng Ngoại giao Mỹ </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1992</font> <br>
Ngày 6 tháng 4: ông Gareth Evan, Bộ Trưởng Ngoại giao Úc <br>
Ngày 8 tháng 4: ông Paul Keating, Thủ Tướng Úc <br>
Ngày 14 tháng 4: ông Don McKinnon, Bộ Trưởng Ngoại giao Tân Tây Lan <br>
Ngày 11 tháng 4: ông Carlos Menem, Tổng Thống Argentina <br>
Ngày 17 tháng 5: ông Patiricio Aylwin, Tổng Thống Chile <br>
Ngày 16 tháng 7: Tiến sĩ Thomas Klestil, Tổng Thống Áo  <br>
Ngày 26 tháng 7: ông Franz Vranitzky, Thủ Tướng Áo </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1991</font> <br>
Ngày 22 tháng 3: bà Mary Rohinson, Tổng Thống Ái Nhĩ Lan <br>
Ngày 16 tháng 4: ông George Bush, Tổng Thống Mỹ <br>
Ngày 16 tháng 8: His Highness Hans Adam, Prince of Lichtenstein <br>
Ngày 19 tháng 8: ông Rene Felber, Bộ Trưởng Ngoại giao Thụy Sĩ <br>
Ngày 16 tháng 8: ông Ronald Dumas, Bộ Trưởng Ngoại giao Pháp <br>
Ngày 2 tháng 9: ông Kurt Waldheim, Tổng Thống Áo <br>
Ngày 2 tháng 9: ông Alois Mock, Bộ Trưởng Ngoại giao Áo <br>
Ngày 3 tháng 9: ông Franz Vranitzky, Thủ Tướng Áo <br>
Ngày 29 tháng 9: ông Vytautas Landsbergis, Tổng Thống Lithaunia <br>
Ngày 30 tháng 9: ông Gediminas Vagnorius, Thủ Tướng Lithaunia <br>
Ngày 1 tháng 10: ông Kazimieras Motieka, Phó Tổng Thống Lithaunia <br>
Ngày 2 tháng 10: ông Anatolijs Gorbunvos, Tổng Thống Lavtia <br>
Ngày 3 tháng 10: ông Andregs Krastins, Phó Tổng Thống Lavtia <br>
Ngày 4tháng 10: ông Bronius Kuzmickas, Phó Tổng Thống Estonia <br>
Ngày 5tháng 10: ông Zhelyn Zhelev, Tổng Thống Bulgaria <br>
Ngày 2 tháng 12: ông John Major, Thủ Tướng Anh <br>
Ngày 4 tháng 12: bà Margaretha af Ugglas, Tổng Thống Thụy Điển <br>
Ngày 5 tháng 12: ông Uffe Ellemann-Jensen, Bộ Trưởng Ngoại giao Đan Mạch <br>
Ngày 8 tháng 12: ông Torvald Stoltenberg, Bộ Trưởng Ngoại giao Na Uy </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1990</font> <br>
Ngày 2 tháng 2: ông Vaclav Havel, Tổng Thống Czechoslovakia <br>
Ngày 24 tháng 24: Hon Lizin, Bộ Trưởng thương Mại và Hợp Tác Pháp <br>
Ngày 1 tháng 6: Đức Giáo hoàng John Paul II  <br>
Ngày 2 tháng 9: ông Gerry Weiner, Ngoại Trưởng Canada <br>
Ngày 10 tháng 9: ông H. van den Broek, Bộ Trưởng Ngoại giao Hà Lan <br>
Ngày 7 tháng 10: ông Richard von Weizsacher, Tổng Thống Đức </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1989</font> <br>
Ngày 27 tháng 6: Tiến sĩ Oscar Arias, Tổng Thống Costa Rica <br>
Ngày 3 than1g 7: ông Carlos Salinas de Gortari, Tổng Thống Mexico <br>
Ngày 6 tháng 12: ông Jurgen Wohlrabe, Tổng Thống Tây Đức <br>
Ngày 9 tháng 12: ông Kjell Magne Bondevik, Bộ Trưởng Ngoại giao  Na Uy <br>
Ngày 10 tháng 12: Vua Olav, Na Uy <br>
Ngày 11 tháng 12: ông Jan P. Syse, Thủ Tướng Na Uy </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1986</font> <br>
Ngày 13 tháng 5: Tiến sĩ Rudolf Kirchschlaeger, Tổng Thống Áo <br>
Ngày 27 tháng 5: ông Jacques Chirac, Thủ Tướng Pháp </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1982</font> <br>
Ngày 27 tháng 7: ông Tunku Abdul Rahman, Bộ Trưởng Ngoại giao Mã Lai <br>
Ngày 26 tháng 7: ông A. Ratu Perwiranegasa, Tổng Trưởng Tôn giáo Mã Lai <br>
Ngày 2 tháng 8: Ông Adam Malik, Phó Tổng Thống Nam Dương </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1980 </font> <br>
Ông Suzuki Zenko, Thủ Tướng Nhật Bản </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1978</font> <br>
Bà J.R. Jayewardene, Phu nhân Tổng Thống Sri Lanka </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1973</font> <br>
Ngày 1 tháng 9: Đức Giáo Hòang Pual V <br>
Ngày 10 tháng 10: ông Erskine Chidlers, Tổng Thống Ái Nhĩ Lan <br>
Ngày 10 tháng 10 ông Lien Cosgrade, Thủ Tướng Ái Nhĩ Lan <br>
Ngày 10 tháng 10: ông Frank Aiken, Bộ Trưởng Ngoại giao Ái Nhĩ Lan </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1967</font> <br>
Ngày 13 tháng 11:  ông Field Marshal T. Kittikachorn, Thủ Tướng Thái
Lan  <br>
Ngày 14 tháng 11: Vua  Bhumibol Adulyadej, Thái Lan </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1956</font> <br>
Tất cả các vị Thủ Tướng, Tổng Thống, Phó Tổng Thống Ấn Độ </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#000099">Năm 1954 </font> <br>
Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình  </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">10. Một Tu sĩ Phật Giáo bình
thường</font> </font></p>
<p><font face="Times New Roman">Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nói rằng: ''Tôi
chỉ là một tu sĩ Phật giáo bình thường, không hơn, không kém'' (I am just
a simple Buddhist monk - no more, no less). Sống trong một tịnh thất nhỏ ở
Dharamsala, Ngài thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, ngồi thiền, rồi tiếp tục
làm việc theo thời khóa biểu của văn phòng chính phủ, tiếp khách và diễn
giảng giáo lý cho các khóa tu hoặc chứng minh các đại lễ.  </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">11. Tác phẩm của Ngài :</font>
</font></p>
<p><font face="Times New Roman">Mặc dù bận rộn với nhiều công tác của
chính phủ và hoằng Pháp, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng dành những thời
gian nhất định để viết những tác phẩm Phật học, lịch sử, tự truyện...
để phổ biến những tinh túy trong giáo lý của Phật Đà. Khởi viết cuốn
''Đất nước và Con người của Tôi'' (My Land and My People) vào năm 1964 sau
khi Ngài đến tị nạn tại Ấn Độ, tính đến nay đã có trên dưới 50 tác
phẩm các loại, do chính Ngài tự tay viết hoặc do đệ tử ghi chép những
bài giảng của Ngài hoặc họ viết về Ngài. Đáng chú ý trong số tác phẩm
này là : "Khai mở con mắt trí tuệ" (The opening of the Wisdom eye, xuất
bản năm 1972; "Phật giáo của Tây Tạng'' (The Buddhism of Tibet, xb năm
1975); "Dalai Lama: chính sách của Lòng Từ" (The Dalai Lama: A Policy of
Kindness, xb năm 1990); "Tự do nơi lưu đầy'' (Free in Exile, xb năm 1991);
"Ý nghĩa của cuộc sống'' (The meaning of Life, xb năm 1992) "Tia sáng
trong bóng đêm" (Flash of Lightning in the Dark of Night, xb năm 1994); ''Cuộc
đối thoại về trách nhiệm chung và giáo dục ''(Dialogues on Universal
Responsibility and Education, xb năm 1995); "Sức mạnh của lòng từ'' (The
power of compassion, xb năm 1995); "Con đường giải thoát'' (The path of
Enlightenment, xb năm 1995); "Bạo lực và Lòng từ bi/ sức mạnh của Phật
giáo" (Violence and Compassion/ Power of Buddhism, xb năm 1995); "Bốn Chân
Lý Mầu Nhiệm" (The Four Noble Truths, xb năm 1998); "Nghệ thuật hạnh
phúc" (The art of Happiness, xb năm 1998).v.v... (địa chỉ liên lạc để thỉnh
sách của Ngài là: Snow Lion, PO Box 6483. Thaca, NY 14851, USA. Tel:
001-607-273-8519.  Fax: 001-607-273-8508. e-mail: Snow Lion.
http://www.snowlionpub.com. Wisdom Publication, 361 Newbury Street, Boston, Ma. 02115,
USA. Tel: 001-617-536-3358, Fax: 001-617-536-1897.    
http://www.snowlionpub.com; Dharma Publishing, 2910 San Pablo Ave, Berkeley, CA 94702,
USA. Tel: 001-510-548-5407.  Fax: 001-510-548-2230. Wisdom Books, 402 Hoe Street,
London E17 9AA, UK. Tel: 0044-181-520-5588.  Fax: 0044-181-520-0932.
http://www.demon.co.uk/wisdom . Địa chỉ liên lạc với tác giả: His Holiness
the Dalai-Lama's Religious and Cultural Society. Gangchen Kyishong, Dharamsala
176215,  District Kangra, Himachal Pradesh INDIA. <br>
  <br>
  </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#ff0000">12. Kết luận:</font> <br>
Như sự mô tả của giáo sư Eric Sharpe thánh nhân là người suốt đời chú
trọng đến việc mang lại an lạc cho con người và cuộc đời. Trong khi
theo đuổi lý tưởng ấy, họ thường phải hứng chịu những trở ngại,
đau đớn hoặc nguy hiểm đến sinh mạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã
hiện thân cho những gì đã được mô tả ấy. Tuy nhiên, theo các nhà phân
tích, sự xuất hiện của Ngài  như là một định mệnh, đã thừa kế
tước vị Dalai Lama ở trong một giai đoạn bấp bênh nhất trong toàn bộ lịch
sử cao quý này. Hiện nay, vẫn trong thân phận người tị nạn lưu vong,
tuy nhiên, Ngài rất lạc quan và hy vọng cho tương lai độc lập và tự do
cho thế giới và xứ sở của Ngài như lời Ngài đã nhắc tới trong bức
Thông Điệp 2000: "Thế kỷ 20 đầy xung đột và chiến tranh. Từng bước,
chúng ta bảo đảm thế kỷ tới sẽ có đặc tính bất bạo động và đối
thoại, là điều kiện tiên quyết để cùng hiện hữu bên nhau trong hòa
bình". "Xã hội nào cũng có những khác biệt và xung đột. Tuy vậy,
chúng ta cần phát triển niềm tin tưởng rằng: đối thoại và tình bạn
là một đường lối chính chắn để tránh bạo động. Trước thiên kỷ mới,
điều mọi người cần thực hiện là tăng cường tinh thần trách nhiệm
đối với quốc tế". /. </font></p>
<p><font face="Times New Roman"><font color="#cc33cc">Tổng hợp theo các tài liệu:</font>
<br>
<font color="#000040">- Mary craig (1997) Kundun, A biography of the Family of the Dalai
Lama, Harper Collins Publishers, London <br>
- Roger Hicks & Ngakpa Chogyam (1984) Great Ocean, An Authories Biography of the
Buddhist Monk Tenzin Gyatso His Holiness The 14th Dalai Lama, Element Books, Great
Britain. <br>
- Tenzin Gyatso Dalai Lama (1998), Freedom in Exile, Snow Lion Publications, New York. </font></font></p>
<p align="center"><a href="http://www.buddhismtoday.com/viet/pgtg/nguoi/001-dalailam.htm" target="_blank"> http://www.buddhismtoday.com/viet/pgtg/nguoi/001-dalailam.ht m</a></p>
</blockquote>
 
 

Facebook Comment

Top