<P> Chúng ta có thể uống ruợu như ông Lý Bạch,Tế Công thì hã dùng vì Thầy dạy</P>
<P>"Rựơu hoá kim đơn thuốc lạ kì</P>
<P>Thầy bang con trẻ,trẻ say đi</P>
<P>say men rựou hãy hoà men đạo</P>
<P>để đổi cảnh đời hết loạn ly"</P>
<P>Như vậy chúng ta vẫn có thế uống rựou</P>
<P>Còn uống rựou mà gây cho ngừoi ta cái phiền thì đừng nên uống !</P>
<P>Lời Thuyết minh của Phó Tổng Quản Lý</P>
<P>Giới Tửu.
<P>Thầy có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, trang 173; về phần hồn của chúng ta như sau:
<P>"Thầy nói cái Chơn Thần là Nhị Xác Thân, các con là khí chất (le spreme) nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy, nơi trung tim của nó là óc, nơi cửa xuất nhập của nó là mõ ác, gọi tiếng chữ là Vi Hộ, nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ Chơn Linh các con. Khi luyện thành Đạo đặng hiệp một với Khí, rồi mới đưa thấu đến Chơn Thần hiệp một mà siêu phàm nhập Thánh
<P>Vậy thì óc là nguồn cội của Khí, mà óc cũng bị huyết vận động vô chừng, làm cho đến đổi loạn tán đi, thì chơn thần thế nào đặng an định điều khiển, thân thể phải ra ngây dại, trở lại chất thú hình, mất phẩm nhơn loại rồi, còn mong chi đặng phẩm Thần Thánh Tiên Phật. Lại nữa buổi loạn thần ấy để cửa trống cho tà mị xung đột vào, giục các con làm việc tội tình mà phải chịu phận luân hồi muôn kiếp.
<P>Vậy Thầy cấm các con uống rượu, nghe à !.
<P><strong>Chúng ta lưu ý, cũng theo Thầy dạy (TNHT,tr.173) nếu uống rượu nhiều, thì rượu chạy vào ngũ tạng lục phủ, trái tim bị thâm nhập vào làm cho nó họat động quá chừng đổi thiên nhiên đã định, thối thúc huyết mạch phải vận động một cách vô chừng...</strong>
<P>Người tham thiền luyện Đạo cốt phải an thần đừng cho nó vọng động đảo điên mà ảnh hưởng của rượu rất tai hại nó thâm nhập vào trái tim đập mạnh, trái tim làm cho thần không an, náo động bất thường, không ổn định điều hòa được, thần không có an thì khí không định được. mà nguyên tắc luyện Đạo là để cho "thần an khí định" vận chuyển điều hòa khí tức (hơi thở), thần có an mới làm chủ được hơi thở mà thần dẫn dắt nó nhịp nhàng theo tiết điệu thiên nhiên. Uống rượu nhiều vào cũng không khác nào ta nổi nóng lên làm cho chơn thần mất bình tỉnh, không làm chủ được khí thì luyện Đạo sao thành công được.
<P>Trên Thiên Bàn chúng ta cúng tam bửu tượng trưng cho Tinh Khí Thần: hoa thuộc tinh,trà thuộc thần, rượu thuộc khí, cúng rượu là nhắc chúng ta phải giữ tâm đừng nổi sân làm cho tim hừng lên đập mạnh mà khí huyết vận chuyển không được điều hòa, thần khó dẫn khí lưu thông cho đúng nhịp độ thiên nhiên.
<P>Có suy nghiệm mới thấy ơn Trên buộc người luyện Đạo phải giữ Ngũ Giới Cấm là điều rất cần thiết,nhứt là hai giới cấm tà dâm, hoang phí chơn linh và giới cấm tửu nhục làm cho thần kinh tán loạn.
<P>Nếu chúng ta tiếp tục nghiên cứu kinh Đại Thừa Chơn Giáo do Đức Chí Tôn Thượng Đế giáng cơ dạy về Đạo Pháp tiếp theo quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, mà ngay buổi đầu mới khai Đạo năm Bính Dần (1926) Thầy cũng đã ban ơn truyền bửu pháp cho những ai thọ trai được 10 ngày đổ lên, còn muốn luyện Đạo, Thầy buộc phải trường trai tuyệt dục giữ giới cho nghiêm túc, Thầy thố lộ bí pháp luyện Đạo của Tiên gia là hiệp Tinh Khí Thần (tam bửu) đã có sẵn trong nhơn thân, để tạo Nhị xác thân thiêng liêng mới về hiệp nhất được với Thầy nơi cõi Hư Vô tinh khiết.
<P>Thầy dạy trong Đại Thừa Chơn Giáo,trang 189, in năm 1950:
<P>"Tại sao Thầy buộc các con luyện Đạo đều phải giữ tròn Ngũ Giới Cấm ?. Tại phép luyện đơn là không phải dễ. Nếu các con phạm qui điều, không giữ giới, thì không bao giờ các con tu đắc quả đặng.
<P>Sự ăn chay là bổ Tiên Thiên, còn ăn mặn là bổ Hậu Thiên. Các con nếu ăn mặn mà luyện Đạo thì chơn Thần bị khí hậu Thiên làm nhơ bẩn nặng nề mà khó xuất ra khỏi vùng trung giới được.
<P>Còn sự sự dâm dục là một điều quan hệ nhứt cho người tu, Thầy đã nói nếu một nhểu tinh dịch của các con tức là một khối tinh thần. Nên nếu các con để nó chảy lọt ra ngoài chừng trong một nhểu, thì cũng đủ cho các con phải hư hại đến hình hài thể phách rồi,huống chi mấy nhểu tinh rớt lọt ra đó là mấy điểm "Tiểu linh quang". Sau các con chết, chúng nó sẽ kéo đến "Nghiệt Đài" mà bắt thường Thiêng mạng, cười....Các con phải biết "Thiên mạng" chớ không phải là "nhơn mạng" đâu nghe !
<P>Theo đó chúng ta bình tâm nhận xét thấy rõ vì thương nhơn sanh còn đọa lạc Thầy phải tiếp tục dạy luyện Đạo là cứu cánh giải thoát con người trong cơ tận độ ân xá kỳ ba của Thầy. Nên quyển kinh Đại Thừa Chơn Giáo ra đời sau 10 năm cơ Phổ Độ đã hoàn thành (1926-1936) từ năm Bính Dần đến năm Bính Tý).
<P>Chí-Tín </P>