SỰ VĨ ĐẠI CỦA ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI

hoadao

New member
 
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%">
<T>
<TR>
<TD style="PADDING-RIGHT: 20px; PADDING-LEFT: 25px; PADDING-BOTTOM: 0px; PADDING-TOP: 0px" vAlign=center background=images/skin/b_.jpg height=30><STRONG style="FONT-SIZE: 20px; COLOR: red; PADDING-TOP: 5px; FONT-FAMILY: Times New Roman, Times, serif"><FONT size=5>Sự vĩ đại của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni</FONT></strong></SPAN></TD></TR>
<TR>
<TD =content style="PADDING-RIGHT: 20px; PADDING-LEFT: 25px; PADDING-BOTTOM: 0px; PADDING-TOP: 10px" vAlign=top background=images/skin/b_.jpg>
<DIV><FONT size=3><STRONG style="COLOR: #0066cc">"Nếu bạn muốn thấy người cao quý nhất của loài người, bạn hãy nhìn vị Hoàng đế trong y phục một người ăn xin. Chính là Phật đó. Siêu phàm thánh tính của Ngài thật vĩ đại giữa con người."</strong> </FONT>
<DIV style="FLOAT: right; WIDTH: 210px">
<DIV style="PADDING-RIGHT: 1px; PADDING-LEFT: 1px; FLOAT: right; PADDING-BOTTOM: 1px; WIDTH: 210px; PADDING-TOP: 1px"><FONT size=3><IMG title="Xem hình lớn" onclick="window.open'news_view.phpid=279&images=images/news/phatthichcanho5.gif','','width=30,height=30,toolbar=no,scrollbars=no,menubar=no';" hspace=10 src="http://chuahoangphap.com.vn/images/news/phatthichcanho5.gif" width=200 align=right vspace=2 border="0"> </FONT></DIV>
<DIV style="PADDING-RIGHT: 5px; PADDING-LEFT: 5px; FONT-SIZE: 10px; FLOAT: right; PADDING-BOTTOM: 2px; COLOR: #0066cc; PADDING-TOP: 1px; FONT-STYLE: italic"><FONT size=3>Đức Phật Thích Ca</FONT></DIV></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Đức Phật là một con người có nhân cách đặc biệt siêu phàm, có một không hai trong lịch sử của nhân loại. Một nhà văn hào Âu châu nhận định rằng:<BR>   "Không có nơi nào trong thế giới tôn giáo, sùng bái và tín ngưỡng mà chúng ta có thể tìm thấy một vị giáo chủ chói sáng như thế ! Trong hàng loạt các vì sao, Ngài là vì tinh tú khổng lồ, vĩ đại nhất. Một số các khoa học gia, triết gia, các nhà văn hóa đã tuyên bố về Ngài "Con người vĩ đại nhất chưa từng có." Ánh hào quang của vị Thầy vĩ đại nầy soi sáng cái thế giới đau khổ và tối tăm, giống như ngọn hải đăng hướng dẫn và soi sáng nhân loại." (Phật Giáo dưới Mắt các Nhà Trí Thức)</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   </FONT><FONT size=3><strong><FONT color=#0000cd>I. ĐỨC PHẬT LÀ AI?<BR></FONT></strong>   Đức Phật là ai? Một câu hỏi được đặt ra hơn 25 thế kỷ; những nhận định, phê phán đầy tính hoài nghi, rồi những phát biểu, tán dương đầy xác định tin tưởng ở nơi con người đối với Đức Phật, cho đến nay vẫn là nguồn cảm hứng vô tận. Bởi lẽ như Carl Jung, một nhà tâm lý học, phát biểu rằng: "Bao giờ cái nhìn của bạn cũng bị giới hạn bởi những gì bạn đang có và đang là." Vì vậy với các góc độ nhìn khác nhau, người ta sẽ có những cảm xúc, những cái nhìn khác nhau về Đức Phật.</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Giáo thuyết của Đức Phật xuất phát từ kinh nghiệm tu chứng tự thân Ngài, một loại kinh nghiệm khác với các kinh nghiệm thông thường phổ biến. Cho nên hiểu một cách chính xác về Đức Phật là điều bất khả, như trong kinh nói chỉ có Phật với Phật mới hiểu được nhau.</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Thời Đức Phật còn tại thế, những kẻ chống đối Ngài thường lên tiếng chỉ trích, vu khống Ngài với những lời lẽ tầm thường hay những luận điệu triết học, như nói Ngài còn ham muốn danh vọng, Ngài là người chủ trương phá hoại sự sống (Kinh Magandiya), chê Ngài không có khả năng đặc biệt của các bậc thánh (Kinh Sư tử hống) cho Ngài là một Sa-môn xử dụng huyễn thuật (Kinh Ưu-ba-li) v. v… Bên cạnh những chỉ trích thì những lời lẽ ca ngợi tán dương cũng rất phong phú. Những người trí thức của xã hội thường ca ngợi Ngài rằng: "Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối" (Trung Bộ Kinh). Dù Ngài bị chỉ trích hay được ca ngợi Ngài vẫn an nhiên tự tại, không giao động, không bất mãn, không hoan hỷ. Một người ngoại đạo ca ngợi Phật rằng:<BR>   "Thật kỳ diệu thay! Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay ! Tôn giả Gotama ! Dầu cho Tôn giả Gotama bị chống đối một cách mĩa mai, dầu cho bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán Chánh đẳng giác." (Đại kinh Saccaka)</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Ngài thường được mọi người gọi là bậc Đạo sư hay vị Lương y, vì Ngài chỉ cho mọi người con đường giải thoát và Ngài chữa trị bịnh khổ cho nhân loại.<BR>Một số bài kinh trong kinh tạng nguyên thủy có ghi lại một cách thú vị những lời tuyên bố của Đức Phật về chính Ngài. Dưới đây là vài dẫn chứng:<BR>Một hôm, trên đường đến vườn Lộc Uyển để vận chuyển bánh xe chánh pháp, Ngài gặp một vị Đạo sĩ tên là Upaka. Đạo sĩ hỏi: "Nầy hỡi Đạo hữu ! Ngũ quan của Đạo hữu thật vô cùng trong sáng. Nước da của Đạo hữu thật trong trẻo và tươi tắn. Hỡi nầy Đạo hữu, vì sao Đạo hữu từ bỏ đời sống gia đình? Thầy của Đạo hữu là ai? Đạo hữu truyền bá giáo lý của ai? Đức Phật trả lời:<BR>"Như Lai đã vượt qua tất cả,<BR>Như Lai đã thông suốt tất cả.<BR>Như Lai đã vượt bỏ mọi trói buộc<BR>Như Lai đã thoát ly tất cả<BR>Như Lai đã chú hết tâm lực tận diệt tham dục.<BR>Đã thấu triệt tất cả, Như Lai còn gọi ai là thầy?<BR>Không ai là thầy của Như Lai<BR>Không ai đứng ngang hàng với Như Lai.<BR>Trên thế gian nầy, kể cả chư thiên và Phạm thiên<BR>Không ai có thể sánh với Như Lai.<BR>Quả thật, Như Lai là một vị A-la-hán trên thế gian nầy.<BR>Như Lai là Tôn sư vô thượng;<BR>Chỉ một mình Như Lai là bậc tòan giác, vắng lặng và thanh tịnh.<BR>Như Lai đang đến thành Kàsi để vận chuyển bánh xe Pháp bảo giữa thế giới mù quáng.<BR>Như Lai sẽ gióng lên hồi trống vô sanh bất diệt."</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Upaka hỏi vặn: "Nầy đạo hữu, vậy phải chăng đạo hữu đã tự nhận là A-la-hán, là bậc siêu hùng quyền lực vô biên?" Đức Phật xác định:<BR>"Tất cả những bậc siêu hùng đã chinh phục mọi ô nhiễm của mình đều giống Như Lai. Như Lai đã chinh phục, tận diệt tất cả những gì xấu xa tội lỗi. Vậy, nầy Đạo sĩ Upaka, Như Lai là bậc siêu hùng" (Kinh Thánh cầu TBK).</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Đức Phật xác định rất rõ Ngài là người đã chinh phục mọi ô nhiễm, do vậy, Ngài là người cao thượng nhất trên đời. Đây là lời tuyên bố đầu tiên về giá trị cao thượng tuyệt đối của Phật đối với mọi loài chúng sanh, ma về蠳au lời tuyên bố nầy đã được khái quát hóa thành câu nói đặt trong bối cảnh biểu tượng Đản sanh: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" (Trên trời dưới trời chỉ có Như Lai là tối thượng). Cuộc đời hoằng hóa của Ngài đã chứng tỏ những gì mà Ngài đã tuyên bố như trên là sự thật. Một lần có giáo phái ngoại đạo muốn đến tham vấn về đạo lý với Đức Phật bởi họ nghe nói Phật là người đã vượt qua mọi ô nhiễm, đạt được sự thanh tịnh hoàn toàn. Họ đã bàn nhau và cử người giám sát Đức Phật liên tục trong bảy ngày để xem Phật có thật sự thanh tịnh như người ta đồn không. Cuối cùng người được cử đi giám sát trở về báo lại rằng: Quả thực Sa-môn Gotama là người hoàn thiện trong lúc ngủ cũng như lúc thức cho đến những cử động nhỏ bé nhất như khi Ngài bước qua một vũng nước hay Ngài vén chéo áo lên . . . đều đầy thánh thiện. (Trung Bộ Kinh)</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Lần khác khi bị chỉ trích về khả năng và mục đích của Phật, sau khi phân tích những sai lầm của họ, Đức Phật dạy rằng:</FONT></DIV>
<DIV align=justify><FONT size=3>   "Nầy Sari putta, những ai muốn nói về ta một cách đúng đắn thì phải nói như thế nầy: (Đức Phật là) Một hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ỡ đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người" (Kinh Sư Tử Hống, Trung Bộ Kinh).</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Lời tuyên bố nầy nói lên phẩm chất của một vị Phật là Trí tuệ viên mãn (không bị si chi phối) và lòng thương yêu cứu giúp muôn loài vô tận.</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   </FONT><FONT size=3><FONT color=#0000cd><strong>II. SỰ CHỨNG NGỘ CỦA PHẬT<BR></strong></FONT>   Tất cả những năng lực của Đức Phật đều xuất sinh từ Tuệ giác của Ngài, nghĩa là từ nội dung chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác dưới cội Bồ đề. Có lần một Du sĩ ngoại đạo tên là Vacchagotta hỏi Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, con nghe người ta nói rằng Sa-môn Gotama là bậc nhất thiết trí, là bậc nhất thiết kiến, Ngài tự cho là mình có tri kiến hoàn toàn, khi đi, khi đứng, khi ngủ, khi thức tri kiến luôn luôn tồn tại và liên tục.</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Bạch Thế Tôn, những điều mà người ta nói như vậy có đúng với sự thực không, họ có vu khống Đức Thế Tôn không? Đức Phật đáp rằng, họ nói như vậy là không đúng với điều Ngài đã nói, là vu khống ta. Như vậy Đức Phật phủ nhận Ngài có một loại Trí tuệ lúc nào cũng hiện diện và thấy biết cùng khắp, trong lúc thức cũng như trong lúc ngủ. Vacchagotta hỏi: vậy phải nói như thế nào mới đúng? Đức Phật dạy rằng nếu muốn nói đúng thì phải nói Sa-môn Gotama là bậc có Ba minh.</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Khi nào ta muốn, ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời…cho đến nhiều đời sống qúa khứ cùng với các nét đại cương và chi tiết. Nầy Vacchagotta, nếu ta muốn thì với Thiên nhãn thuần tịnh, ta thấy được sự sống chết của chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẻ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh…đều do hành nghiệp của họ. Này Vacchagotta, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thượng trí giác ngộ, ta an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Nói như vậy là nói đúng về ta. (Kinh Ba minh Vacchagotta)</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Như vậy Tam Minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh là nội dung chứng ngộ của Phật. Đặc biệt chỉ có Phật mới có một cách đầy đủ Ba minh, mặc dù trên lộ trình tu tập Ba minh luôn được coi là những thành quả sau cùng của một hành giả đắc đạo. Đây có thể là một trong những điều khác biệt giữa Đức Phật và đệ tử. Tiến trình giác ngộ bắt đầu từ :<BR>   "Ly dục ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Diệt tầm và tứ chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tĩnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú thiền thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh."</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Đức Phật và các Thánh đệ tử đều đi qua Tứ thiền, trên cơ sở thiền thứ tư, tâm định tĩnh và nhu nhuyến, dễ xử dụng, hành giả có thể hướng tâm đến các đối tượng Sáu Thần thông hay Ba minh, chứng ngộ tối hậu. Đây là lộ trình thứ nhất. Lộ trình nầy được khuyến khích và trở nên rất phổ biến. Phần lớn các thầy đều theo hướng nầy. Lộ trình thứ hai là từ thiền thứ tư, đi qua Không vô biên xứ, là vượt qua sắc tưởng, chướng ngại tưởng. Hướng tâm đến hư không là vô biên chứng và trú Không vô biên xứ. Vượt qua tiếp tục chứng và trú thức vô biên xứ. Vượt qua thức vô biên chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vượt qua vô sở hữu xứ chứng và trú Phi tưởng Phi Phi tưởng xứ. Vượt qua Phi tưởng Phi Phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Từ định nầy chứng đắc Ba minh. Lộ trình nầy Đức Phật cũng đã đi qua. (Kinh Phân Biệt Sáu Xứ, Kinh Ví Dụ Con Chim Cáy)</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Trong kinh tạng Nguyên thủy không thấy ghi chép vị thánh đệ⠴ử nào tự tuyên bố là mình đã chứng được Ba minh. Thường thì các Ngài được giới thiệu đã chứng A-la-hán, chứng Diệt Thọ Tưởng định, và đoạn trừ các lậu hoặc (tương đương với Lậu tận minh). Trong kinh Sáu Thanh Tịnh (Trung Bộ Kinh) Đức Phật dạy về tiến trình tu tập của một vị Tỳ kheo khi chứng được thiền thứ tư xong thì:<BR>   "Với tâm định tĩnh, thuần tịnh không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến dễ xử dụng, vững chắc bình thản như vậy, tôi dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Tôi biết như thật: Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt. Biết như thật: Đây là những lậu hoặc, đây là Nguyên nhân của lậu hoặc, đây là lậu hoặc được diệt trừ, đây là con đường đưa đến các lậu hoặc được diệt trừ."</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Như vậy điều cần thiết cho các đệ tử là phải thoát khỏi "dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu" để đạt được "sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái nầy nữa." Từ đó chúng ta có thể thấy rỏ rằng khả năng Thần thông của các đệ tử đều có giới hạn, và vấn đề tu chứng không gắn liền với khả năng thần thông, vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Ngài Mục-kiền-liên được cho là đệ tử Thần thông số một trong các Thánh đệ tử. Đức Phật không khuyến khích các đệ tử đi vào các thần thông như Thần túc, Thiên nhãn, Tha tâm, Túc mạng, và Thiên nhãn; Ngài chú trọng và khích lệ các đệ tử hướng tâm vào Lậu tận Minh để thành tựu mục đích tối hậu, giải thoát sinh tử. Các khả năng thần thông không giúp ích gì cho một người chưa đoạn trừ các ô nhiễm của tâm thức.<BR>Quá trình chứng đạo của Phật là một chuổi đột phá, vượt qua mọi thử thách bằng thực nghiệm. Tất cả các pháp có tính giao động đều vượt qua, thành tựu an trú các bất động pháp. Đặc biệt trong các trạng thái của Tứ thiền đều phát sinh một cảm giác hạnh phúc (lạc thọ), ngay cả trong Ba minh cũng có cảm giác hạnh phúc, nhưng những cảm giác ấy tồn tại mà không chi phối tâm Ngài (Kinh Saccaka).</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Đối với các Thần thông Ngài đã tuần tự chứng đắc Thần túc thông, Thiên nhỉ thông, Tha tâm thông trước khi Ngài thành Phật. Trong đêm thành đạo Ngài mới chứng tiếp 3 Thần thông sau cùng theo thứ tự Túc mạng thông, Thiên nhãn thông và Lậu tận thông. Phật dạy:<BR>   "Khi ta chưa chứng Chánh Đẳng Giác ta đã nổ lực tu tập 5 pháp: Ta đã tu tập Thần túc với Dục định tinh cần hành, Tinh tấn định tinh cần hành, Tâm định tinh cần hành, Tư duy định tinh cần hành và Tăng thượng tinh tấn, tùy theo ta hướng tâm đến pháp nào, ta có thể chứng đạt pháp ấy" (Tăng Chi II).</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Không có pháp nào làm chướng ngại đức Phật, không có pháp nào mà Đức Phật không thấy rõ, biết rõ, vì vậy đệ tử thường gọi Ngài là Đấng Pháp Vương.</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3><strong><FONT color=#0000cd>    III. KẾT LUẬN</FONT></strong><BR>   Nhân ngày kỷ niệm Đức Phật Thành Đạo Phật lịch 2545, đôi lời nói về sự vĩ đại, sựthanh tịnh, sự chứng ngộ của Đức Phật chỉ để bày tỏ lòng kính ngưỡng của người con Phật và để tri ân Người đã khai sinh ra con đường giải thoát cho nhân loại. Với những ngôn từ hữu hạn giữa cuộc đời đầy ô nhiễm, con người không thể ca ngợi hết được sự vĩ đại của Đức Phật. Ngài A-nan-da cũng đã từng nói về sự vĩ đại của Phật rằng:<BR>   "Này Bà-la-môn, Đấng Thế Tôn ấy là bậc làm cho khởi dậy con đường trước đây chưa từng được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo."</FONT></DIV>
<DIV align=justify><BR><FONT size=3>   Để kết thúc, xin mượn lời của một thi nhân Hồi giáo, Abdul Atahiya ca ngợi Đức Phật:<BR>   "Nếu bạn muốn thấy người cao quý nhất của loài người, bạn hãy nhìn vị Hoàng đế trong y phục một người ăn xin. Chính là Phật đó. Siêu phàm thánh tính của Ngài thật vĩ đại giữa con người." <EM>(Đức Phật dưới mắt các nhà tri thức)</EM></FONT></DIV></DIV></TD></TR></T></TABLE>
 

NAMMÔ

New member
<P> Những hình anh</P>
<P><IMG src="uploads/hinhanh_09.2007//2008-04-11_180522_vBean_7b1701f.jpg" border="0"></P>
<P>cuộc đời đức phật</P>
<P>   </P>
<DIV>
<DIV align=center><FONT color=red><FONT size=4><B>Tranh Minh Họa<BR>Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca<BR><BR><I>Life Of the Buddha</I><BR></B></FONT></FONT><BR><BR><BR>1 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-01.gif" border="0"> 2 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-02.gif" border="0"> 3 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-03.gif" border="0"></DIV><BR><BR><BR><B>1.</B> Từ cung trời Ðâu-suất, Bồ-tát được Phạm thiên và Tứ Thiên vương thỉnh mời tái sinh xuống thế.<BR><BR><I>The Bodhisatta (Buddha-to-be) was invited by Brahma and Four Celestial Kings to be born in the world from Tusita Heaven.</I><BR><BR><BR><B>2.</B> Khi Hoàng hậu Maha Ma-da, mẹ của Ðức Phật, thụ thai, bà nằm mộng thấy một voi trắng từ một ngọn núi vàng bạc mang một đóa hoa sen đến dâng cho bà.<BR><BR><I>In the day Sirimahamaya, the Buddha's mother, conceived a child, she had dreamt that there was a white elephant descended from the silver and golden mountains and brought her a lotus.</I><BR><BR><BR><B>3. Ðản Sanh:</B> Vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch, Ðức Phật ra đời tại vườn Lâm-tì-ni. Sau khi sinh ra, Ngài bước bảy bước, mỗi bước có hiện ra một hoa sen nâng đở chân Ngài. Ngài tuyên bố là Ngài là người đáng tôn thờ nhất.<BR><BR><I><B>Birth:</B> On the Full Moon Day of Vesak month, 625 B.C.E., the Buddha was born in Lumbini Park. Immediately after being born, he walked for seven steps, and there was a lotus holding him up at every step. He said he was the most exalted one in the world.</I><BR></DIV><!-- / edit note --><!-- / controls -->
<DIV></DIV>
<P>4 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-04.gif" border="0"> 5 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-05.gif" border="0"> 6 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-06.gif" border="0"><BR><BR><BR><B>4.</B> Khi ẩn sĩ Kaladevila đến thăm hoàng nhi, vị hoàng tử trẻ lập tức hiện ra trên đầu vị ẩn sĩ. Vua Tịnh-phạn, cha của Ngài, và dòng họ Thích-ca, đãnh lễ với Ngài.<BR><BR><I>When a hermit named Kaladevila visited the child, the prince mystically appeared on the head of the hermit. King Suddhodanama, his father, and all the Sakyans bowed before the prince.</I><BR><BR><BR><B>5.</B> Trong buổi lễ Hạ điền, Hoàng tử Sĩ-đạt-ta ngồi dưới một cụm cây to bóng mát và hành thiền. Mặc dù các bóng cây khác dần dần ngã dài ra theo thời gian trong ngày, bóng cây nơi Ngài ngồi thiền vẫn giữ yên như cũ. Vua cha rất vui mừng, và một lẫn nữa cúi đầu lễ Ngài.<BR><BR><I>During ploughing ceremony, Prince Siddhattha sat down in the shade of a tree and was soon lost in meditation. Though the shadows of all the trees had lengthened, the shadow of the tree under which the prince was seated had not moved. His father was overjoyed and bowed before him again.</I><BR><BR><BR><B>6.</B> Thái tử Hoàng tử Sĩ-đạt-ta có tài thiện xảo bắn cung, và đã nâng cánh cung rất nặng mà từ trước đến nay có rất ít người nâng và dùng nó. Việc hiển thị sức mạnh phi thường nầy chứng tỏ Ngài sẽ là Ðế Vương Vũ trụ.<BR><BR><I>Prince Siddhatha showed his skill in archery by lifting a bow which no one within memory of man had ever been able to draw or lift it. It was known from his marvellous strength that he would become Universal Monarch.</I></P>
<P>7 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-07.gif" border="0"> 8 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-08.gif" border="0"> 9 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-09.gif" border="0"><BR><BR><BR><B>7. Lễ Thành hôn:</B> Các vị trời đến rải nước chúc phúc từ vỏ sò khi Thái tử Sĩ-đạt-đa kết hôn với Công chúc Da-du-đà-la. Thái tử sống hạnh phúc trong ba cung điện trong mọi ngày và đêm.<BR><BR><I><B>Wedding Ceremony:</B> The gods gave the holy water from the conch when Prince Siddhatha married Princess Yasodhara. The prince was very happy in his three palaces all days and nights.</I><BR><BR><BR><B>8.</B> Ngày nọ, Thái tử Sĩ-đạt-ta dạo chơi trong thành và thấy bốn dấu hiệu của một ông già, một người bệnh hoạn, một tử thi, và một ẩn sĩ. Ngài trân quý dấu hiệu sau cùng.<BR><BR><I>One day Prince Siddhattha went into the city and saw the four signs of and old man, a man afflicted with a loathsome, a corpse, and an ascetic. He appreciated the last one.</I><BR><BR><BR><B>9. Ðại Xuất Gia:</B> Khi hoàng nam La-hầu-la chào đời, Thái tử Sĩ-đạt-ta quyết định lìa bỏ đời sống thế tục. Ngài đến thăm Da-du-đà-la lần cuối. Và Ngài thấy các cung phi nằm ngủ mê mệt, như những xác chết xấu xí trong nghĩa địa.<BR><BR><I><B>Great Renunciation:</B> In the day Rahula, his son, was born, Prince Siddhattha decided to renounce the world. He saw a last sight to Yasodhara. And he happened to see his ladies in waiting who were sleeping, showing him their various kinds of ugly manners like cemetery.</I><BR><BR>10 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-10.gif" border="0"> 11 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-11.gif" border="0"> 12 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-12.gif" border="0"><BR><BR><BR><B>10.</B> Thái tử Tất-đạt-ta xuất gia, rời bỏ gia đình. Ngài cùng người thị giả, Xa-nặc, cởi ngựa đến bờ sông Anoma.<BR><BR><I>Prince Siddhattha renounced the world. He accompanied by his confidant, Channa, rode to the bank of Anoma River.</I><BR><BR><BR><B>11.</B> Thái tử Sĩ-đạt-ta cắt tóc với một nhát gươm.<BR><BR><I>Prince Siddhattha took a sword and cut off his hair with one blow.</I><BR><BR><BR><B>12. Tự hành hạ thể xác:</B> Thái tử Sĩ-đạt-ta, vị Phật sắp thành, hành pháp ép xác trong 6 năm đến khi Ngài trở nên rất gầy yếu. Xương trong thân lộ ra ngoài. Nhưng sự hành hạ xác thân không đưa đến giải thoát. Khi Ngài nghe một bài hát do Phạm thiên Indra đánh đàn, Ngài liên tưởng đến loại đàn với dây không căng không chùng, và từ đó Ngài khám phá con đường trung dung, Trung Ðạo.<BR><BR><B><I>Self-mortification:</I></B><I> Prince Siddhattha, the Buddha-to-be, practised self-mortification for six years until he became very thin. His bones showed prominently. But his austerities did not lead him to deliverance. When he listened to a song played by Indra, he thought of a stringed instrument and discovered the Middle Way.</I><BR><BR>13 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-13.gif" border="0"> 14 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-14.gif" border="0"> 15 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-15.gif" border="0"><BR><BR><B>13.</B> Nàng Sujata cúng dường vị Bồ-tát một bát cháo sữa với mật ong. Sujata tưởng Ngài là một vị trời. Sau khi thọ thực, Ngài ném cái bát ấy vào dòng nước (và bát ấy từ từ trôi ngược dòng).<BR><BR><I>Sujata offered the Buddha-to-be a gold bowl full of milk mixed with rice flour and honey. Sujata thought he was a god. After taking that meal, the Buddha-to-be threw the bowl into the water.</I><BR><BR><BR><B>14.</B> Bồ-tát chiến thắng Ma vương Vasavatti và đoàn tùy tùng khuấy nhiễu Ngài tại cội cây Bồ-đề. Một vị nữ thần từ lòng đất hiện ra để giúp Ngài đánh bại Ma vương. Sau đó, Ma vương chịu khuất phục, và ca tụng Ngài.<BR><BR><I>The Buddha-to-be defeated Vasavatti Mara, King of Evil, and his companies who attacked him at the Bodhi tree. A goddess of great beauty emerged from the earth and helped the hero defeat Mara. Then the King Mara payed him his homage.</I><BR><BR><BR><B>15. Giác Ngộ:</B> vào buổi sớm mai vào ngày trăng tròn tháng tư (tháng Vesak), năm 588 trước Tây lịch, Ðức Phật thực chứng Tứ Diệu Ðế: Khổ, Nguyên Nhân của Khổ, sự Diệt Khổ, và Con Ðường Diệt Khổ.<BR><BR><I><B>Enlightenment:</B> At dawn on the Full Moon Day of Vesak month, 588 B.C., the Buddha enlightened the Four Noble Truths, i.e., Suffering, the Cause of Suffering, the Cessation of Suffering, and the Way leading to the Cessation of Suffering.</I><BR>16 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-16.gif" border="0"> 17 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-17.gif" border="0"> 18 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-18.gif" border="0"><BR><BR><BR><B>16.</B> Ba người con gái của Ma vương tìm mọi cách để quyến rủ Ngài. Nhưng họ đều thất bại.<BR><BR><I>The three daughters of King of Evil (Mara) tried to solace and fascinate the Buddha. But their endeavour was in vain.</I><BR><BR><BR><B>17.</B> Hai thương gia, tên là Tapussa và Bhalika, đến dâng cơm. Tứ Thiên Vương dâng Ngài bốn bình bát. Ngài biến chúng thành một bát duy nhất.<BR><BR><I>Two merchants named Tapussa and Bhalika gave the Buddha his barley meal. The Kings of four directions offered the Buddha four bowls. He made them to be one bowl.</I><BR><BR><BR><B>18.</B> Phạm Thiên thỉnh mời Ðức Phật giảng dạy Giáo Pháp vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại.<BR><BR><I>The Buddha was invited by Brahma to go and preach for the welfare of the peoples of the world.</I><BR>19 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-19.gif" border="0"> 20 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-20.gif" border="0"> 21 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-21.gif" border="0"> <BR><BR><BR><B>19.</B> Ðức Phật giảng bài Pháp đầu tiên (Chuyển Pháp Luân) cho năm ẩn sĩ tại vườn Nai, Sarnath.<BR><BR><I>The Buddha preached the First Sermon to the five ascetics in the Deer Park, Sarnath.</I><BR><BR><BR><B>20.</B> Ðức Phật giảng pháp cho Da-xá. Sau đó, Ngài truyền giới cho Da-xá và 54 người bạn (cùng với 5 anh em Kiều Trần Như, đây là 60 vị đệ tử A-la-hán đầu tiên). Vợ và cha mẹ của Da-xá là những Phật tử đầu tiên qui y Tam Bảo.<BR><BR><I>The Buddha gave a sermon to Yasa. Later he gave Yasa and his fifty-four friends ordination. Yasa's parents and wife were the first people who accepted the Triple Gem as their refuge.</I><BR><BR><BR><B>21.</B> Ðức Phật giảng bài Kinh Lửa Cháy cho anh em Ca-diếp Uruvela, Nadi, Gaya, cùng với 1000 đệ tử của họ, sau đó họ trở thành đệ tử của Ðức Phật và đắc quả A-la-hán.<BR><BR><I>The Buddha gave a sermon on fire to Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa, Gaya Kassapa, as well as their 1000 disciples, and made them all attain Arahatship.</I><BR>22 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-22.gif" border="0"> 23 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-23.gif" border="0"> 24 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-24.gif" border="0"><BR><BR><B>22.</B> Vào ngày Magha, Ðức Phật truyền Ðại Giới Bổn cho 1250 vị Tỳ kheo, và tóm tắt: "Không làm các điều ác; Gắng làm các điều lành; Luôn tu tâm tịnh ý; Chư Phật đều dạy thế."<BR><BR><I>On Magha Day, the Buddha gave Ovadapatimokkha to 1250 monks, and summarized: "Not to do bad; to do good; purify one's mind; these are the teaching of the Buddhas".</I><BR><BR><BR><B>23.</B> Vào ngày Hoàng tử Nanda, em cùng cha khác mẹ, sửa soạn lễ kết hôn, Ðức Phật giao bát cho Nanda. Nanda miễn cưởng mang bát đi theo Ðức Phật về tinh xá. Sau đó, Ðức Phật truyền giới xuất gia cho Nanda, và đem chàng đi xem các cung trời. Về sau, Nanda đắc quả A-la-hán.<BR><BR><I>In the day Prince Nanda, his younger brother, entering wedding ceremony, the Buddha gave his bowl to Nanda. Nanda unwillingly carried it following the Buddha to his residence. The Buddha gave him ordination and took him to see the fairies. Later he became an Arahat.</I><BR><BR><BR><B>24.</B> Vua Tịnh-phạn và Công chúa Da-du-đà-la khuyên La-hầu-la đến đòi Ðức Phật phần gia tài di sản. Ðức Phật cho phép cậu xuất gia Sa-di. Vua Tịnh-phạn rất buồn phiền về việc này. Sau đó, nhà vua đề nghị Ðức Phật không làm lể xuất gia cho những ai chưa có sự đồng ý của cha mẹ. Ðức Phật chấp nhận đề nghị đó.<BR><BR>King Suddhodana and Princess Yasodhara suggested Rahula to ask to the Buddha for his heritage. The Buddha gave him ordination as a novice. Suddhodana was very sorry. He then asked the Buddha not to give ordination to any one who is not granted by his parents. The Buddha accepted his proposal.<BR>25 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-25.gif" border="0"> 26 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-26.gif" border="0"> 27 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-27.gif" border="0"> <BR><BR><B>25.</B> Ðề-bà-đạt-ta đã tìm đủ cách hại Ðức Phật trong nhiều tiền kiếp. Ông ta gây chia rẻ Tăng đoàn, và tạo thương tích nơi chân Ðức Phật. Quả đất không chịu nổi ông ta. Vì thế, mặt đất nứt ra. Những ngọn lửa cực mạnh bùng cháy ra. Ðề-bà-đạt-ta rơi vào trong đám lửa ấy và tan biến.<BR><BR><I>Devadatta tried against the Buddha by all means for many thousands of births. He made schism in the Order and hurted the Buddha till the Buddha's foot was bruised. The earth could not uphold him. The ground opened. The fierce flames burst forth. Devadatta sank amidst the flames and disappeared.</I><BR><BR><BR><B>26.</B> Bà Kiều-đàm-di (Ba-xa-ba-đề), di mẫu của Ðức Phật, dâng cúng Ngài bộ y do chính bà tự tay dệt ra. Tuy nhiên, Ðức Phật khuyên bà nên dâng bộ y đó cho cả Tăng đoàn, như thế bà sẽ được phước báo nhiều hơn.<BR><BR><I>Prajapati, his step-mother, offered the Buddha a pair of her own hand-made robes. But the Buddha told her to offer them to the Order, since she would get more merits.</I><BR><BR><BR><B>27.</B> Ðức Phật châm lửa thiêu xác vua cha Tịnh-phạn trong buổi lễ Trà Tỳ, và dạy tứ chúng về lòng hiếu thảo.<BR><BR><I>The Buddha gave flame to the remains of King Suddhodana at the Cremation Ceremony, and taught the four Buddhist companies on filial piety.</I><BR><BR>28 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-28.gif" border="0"> 29 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-29.gif" border="0"> 30 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-30.gif" border="0"><BR><BR><BR><B>28.</B> Ðức Phật đến cung trời Ðao-lợi để giảng Thắng Pháp (Vi Diệu Pháp) cho thân mẫu là Hoàng hậu Ma-ha Ma-da.<BR><BR><I>The Buddha ascended to Tavatimsa heaven and preached to Abhidhamma to his mother, Mahamaya.</I><BR><BR><BR><B>29.</B> Vào ngày Ðức Phật từ cung trời Ðao-lợi trở về, chư thiên và loài người tề tụ nghênh đón. Ðức Phật dùng thần thông cho họ thấy được toàn thể mọi thế giới.<BR><BR><I>In the day the Buddha was descending from Tavatimsa heaven, both men and gods were crowded. The Buddha mystically showed all worlds to the crowd.</I><BR><BR><BR><B>30.</B> Angulimala, tên cướp sát nhân, định giết mẹ của hắn. Khi gặp Ðức Phật đang đi trì bình, hắn đổi ý và muốn sát hại Ðức Phật. Hắn chạy theo Ðức Phật và gọi Ngài hãy đứng lại. Ngài trả lời là Ngài đã dừng lại từ lâu, có nghĩa là Ngài đã ngưng mọi hành động sát hại. Angulimala tỉnh ngộ, quăng bỏ khí giới, và xin thọ giới. Về sau, ông ta đắc quả A-la-hán.<BR><BR><I>Angulimala, the bandit, tried to kill his mother. When he saw the Buddha walking for alms round, he changed his mind and wanted to kill the Budha and ordered Him to stop. The Buddha said He had already stopped, He meant He had stopped from killing. Angulimala suddently understood, dropped his weapon, and asked to be ordained. He later became an Arahat.</I><BR><BR>31 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-31.gif" border="0"> 32 <IMG alt="" src="http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/tsPhat/thai-lifbud-32.gif" border="0"><BR><BR><BR><B>31.</B> Ðức Phật nhập Bát-Niết-bàn trong rừng Sala, gần thành Kusinara, năm 543 trước Tây lịch, sau 45 năm hoằng pháp độ sinh.<BR><BR><I>The Buddha entered into Pari-Nibbana at the Sal grove in Kusinara city, 543 B.C.E., after preaching for the welfare of the peoples for forty-five years.</I><BR><BR><BR><B>32. Phân chia Xá-lợi của Ðức Phật:</B> Một vị bà-la-môn tên là Tona khuyên các vua đến từ bảy vương quốc không nên tranh nhau về Xá-lợi của Phật, mà hãy nghiêm túc thực hành theo Giáo Pháp. Sau đó, vị nầy phân chia đồng đều các phần Xá-Lợi cho các vị vua đó.<BR><BR><I><B>Division of the Buddha's relics:</B> A brahmin named Tona told the kings of seven countries to stop fighting for the Buddha's relics and better to practise the Dharma. He divided the relics to those kings proportionally</I></P>
<P><EM> HẾÁ</EM><BR><BR></P><!-- / message --><!-- edit note -->
 

Facebook Comment

Top