Thế nào là người Chơn Tu

DangVo

New member
<font size="4"><span style="color: rgb(255, 0, 0); font-weight: bold;">Thế nào là người Chơn Tu ?<br><br></span>Người Chơn Tu là người Tu Thiệt chớ không tu giả
dối màu mè, tu cho có tiếng tăm, để được người đời khen tặng, chỉ tu cho mình.
Đúng theo ý nghĩa thuần túy của chữ Tu là sửa đổi, là trau giồi, sửa xấu ra tốt,
hư ra nên, sửa dữ ra hiền, dứt bỏ những thói hư tật xấu mà mình đã lầm lỗi
trước, phải biết ăn năn sám hối phục thiện để sửa mình, không còn biếng lười
tham lam bỏn xẻn, ích kỷ hại nhơn, biết mở rộng lòng thương người mến vật. Chúng
ta hãy xem định nghĩa chữ tu của Đức Hiệp Thiên Đại Đế :<br><br><span style="color: rgb(0, 0, 255);">“ TU là sửa đổi từ
dữ ra hiền, từ hư được nên, từ xấu thành tốt, từ phàm nhân thành Thánh Nhân. TU
cũng là tu bổ những chỗ hư hỏng còn thiếu sót để được hoàn mỹ chí thiện, chí
nhân vậy. Nếu không sửa đổi cải thiện, khiêm tốn học hỏi điều lành, phục thiện
để nhận những chỗ sai hầu sửa cải, thì dầu có tu trọn đời mãn kiếp, thì phàm
nhân cũng vẫn là phàm nhân, luân hồi chuyển kiếp, vẫn trong vòng chuyển kiếp
luân hồi”</span>.<br>(TGST 1970-1971)<br><br>Người Chơn Tu là người đã biết giác ngộ trước cuộc
đời giả tạm phù hoa nay đổi mai dời, không có chi là bền bỉ chỉ có linh hồn là
điểm linh quang của Thượng Đế ban cho xuống trần gian, tạm mượn thân xác này <span style="font-weight: bold;">một
thời gian hữu hạn để học hỏi trui rèn</span> hầu trở nên hàng Hiền nhân, Thánh triết mà
giúp đời, giúp Thượng Đế ổn định Càn Khôn Vũ Trụ, vì mỗi người là một đơn vị
đáng kể đứng trong hàng Tam Tài, có nhiệm vụ đóng góp chung với cơ tiến hóa của
Tạo Hóa.<br><br>Người Chơn Tu không nhứt thiết lìa bỏ gia đình, bỏ bê việc làm ăn
chánh đáng, lương thiện đang có. Bổn phận gia đình phải lo cho tròn Nhơn đạo, vì
Nhơn đạo tròn mới mong bước lên hàng Tiên Đạo. Cũng không ly gia cắt ái vào Chùa
Thất để ẩn tu, cũng không bắt buộc phải cạo râu cắt tóc, ăn mặc nâu sòng, trừ ra
những hàng đã quyết tâm xuất gia tu hạnh Bồ Tát để giác tha hay hàng Đại Thừa
hiến thân hành đạo. Trong Đại Thừa Chơn Giáo Đức Chí Tôn có dạy (trang 173)
:<br>“<span style="color: rgb(0, 0, 255);">……..</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Ở ăn như thể thường tình,</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Lo tu luyện đạo sửa mình tinh
ba.</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Tu không biểu mặc đồ dà,</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Cạo râu thí phát, bỏ nhà lìa con !</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Ông bà
cha mẹ đương còn,</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Phải lo báo đáp cho tròn hiếu trung.</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Vợ chồng trọn nghĩa
thỉ chung,</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Giữ như sen mọc dưới bùn không dơ…</span>.”<br><br>Người Chơn Tu, ai tu như
vậy cũng được, không tự bắt buộc mình, không tự gò bó thể xác mình, tu sao cho
được phóng khoáng tinh thần mà do lòng giác ngộ tự nguyện cải tạo từ bản thân,
bản tánh mình, từ tư tưởng lời nói và hành động hàng ngày cho được càng ngày
càng thanh cao, Thánh thiện để xứng đáng con người là hàng tối linh hơn vạn vật,
là những hàng sẽ thành Thần Thánh Tiên Phật, vì chính đức Phật Thích Ca đã dạy:
“<span style="color: rgb(255, 0, 0);">Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành</span>”, chỉ vì trước hay sau, chậm
hay mau, con người cũng phải tiến hóa lên bằng những hàng siêu nhân đó.<br><br>Người
Chơn Tu một khi đã giác ngộ rồi, xem thường vật chất như lông hồng, coi đó là
những phương tiện để đưa đến cứu cánh, đem lại hạnh phúc chơn thật và thanh cao
cho con người, chớ không bám víu ôm chầm giữ lấy mà thụ hưởng riêng tư. Người
Chơn Tu không để cho tửu, sắc, tài, khí điều khiển mình để bị sa vào tội lỗi mà
phải chịu đọa lạc trầm luân.<br><br>Người Chơn Tu hằng lo canh chừng, đừng để cho
giác quan ngũ tặc và thất tình lừa dối và xúi giục mình làm cho linh tâm phải bị
mờ ám, và phải lo giữ lòng chơn thật, thanh cao mở rộng lòng Bác Ái, vị tha,
khoan dung tha thứ giúp đỡ mọi người. <br><br>Nói tóm lại, người chơn tu là người đã
giác ngộ trước giả cảnh của cuộc đời, biết nhận chân sứ mạng con người đến thế
gian là để trau giồi rèn luyện bản linh chơn tánh của mình trở nên hàng Thánh
triết siêu nhân trong cơ tiến hóa của Tạo đoan. Hằng lo trau giồi, tác phong đạo
hạnh của mình cho nên con người đạo đức thuần thành, lời nói, cử chỉ, hành động
phải thể hiện con người khả ái, điềm đạm thanh cao. Đi đứng nằm ngồi phải đoan
trang thuần hậu, vui cười buồn giận không để bộc lộ quá mức, Thánh giáo Đức Chí
Tôn có dạy :<br><br>“<span style="color: rgb(0, 0, 255);"> Nên trò <span style="font-weight: bold;">đạo đức</span> dễ gì đâu,</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Vui chẳng dám vui, sầu chẳng dám
sầu.</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Cái khổ của đời mình ước vọng,</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Cái chê của chúng lại nài cầu</span>”.<br><br><span style="color: rgb(255, 0, 0);">Tại
sao người chân tu đạo đức không dám vui ?</span> <br>Vì thấy chung quanh mình biết bao
nhiêu người đau khổ đói rét vì bệnh tật, vì Thiên tai chiến họa hạn hán, bão
lụt, hỏa hoạn, làm cho nhà cửa sự nghiệp điều tiêu tan, không nơi nương tựa,
thân thể xác xơ tan tác, thiếu lương thực, thiếu quần áo, thuốc men, nên họ
không đành lòng để vui cười.<br><br><span style="color: rgb(255, 0, 0);">Tại sao người đạo đức không dám sầu ?</span> <br>Vì cái sầu
lộ diện phát tiết ra ngoài những tiếng thở than phiền não, sẽ làm cho những
người chung quanh phải bị cảm lây mà buồn thảm, rầu rĩ như mình tạo nên không
khí buồn thảm gây ảnh hưởng bi quan chán nản không tốt làm mất hạnh phúc của xã
hội quanh mình.<br><br><span style="color: rgb(255, 0, 0);">Tại sao người chơn tu lại ước vọng cái khổ của đời ?</span><br>Vì
người chơn tu lòng từ huệ đã mở hay động lòng trắc ẩn thương xót trước cái đau
khổ của đời, xem cái khổ của tha nhân như là cái khổ của chính mình, biết thấm
thía mà chia sớt và tìm cách giúp đỡ an ủi, chở che đùm bọc.<br>Cũng vì thế mà
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát từ vô lượng kiếp hóa thân để độ đời, không chịu an hưởng
chốn Bồng Lai Cực Lạc, để giáng trần mà tầm thinh, tìm kiếm tiếng thở than của
người đời, mà ra tay dìu dẫn cứu vớt nhơn loại trong bể khổ trần gian.<br><br><span style="color: rgb(255, 0, 0);">Tại
sao cái chê của chúng lại nài cầu ?</span> <br>Thường thì người đời ham thụ hưởng vinh hoa
phú quí cho sung sướng và họ chê cực khổ, chê ăn uống không ngon, ngủ nghỉ không
đủ tiện nghi, êm ấm, mà người chơn tu đạo đức lại nài cầu, thế mới nghịch đời
làm sao ? Là vì họ xem thường những tiện nghi vật chất, có cũng được không có
cũng chẳng sao, không kén nệm bông hay chiếu cỏ, miễn vừa đủ no, vừa đủ ấm,
không đòi hỏi thèm muốn để khỏi dấn thân chạy đua buông bắt, để không khỏi khổ
tâm tiêu tứ, lo lắng mất ngày giờ, hao tán sức khỏe dành để lo công ích cho xã
hội.<br><br> <span style="color: rgb(255, 0, 0);">Cầu những cái mà người đời chê để trui rèn, thử thách coi mình dễ bị cám dỗ
không ?</span><br>Có đủ sức kiên trì chiến thắng được nhục dục đòi hỏi níu trì mình
không ! Thánh xưa thực bất cầu bảo, cư bất cầu an (ăn không cần no, ở không cần
an). Người quân tử thà cam chịu cực chớ không để cho phải lụy thân vì danh lợi
sắc tài cám dỗ mê hoặc.<br><br>Thực ra người chơn tu phải tự khắc khổ bản thân rất
nhiều, muốn thành bực chơn tu đạo đức không phải dễ dàng, huống hồ là muốn thành
Thánh Tiên Phật. Con đường còn xa xăm dịu vợi thiên nan vạn nan, người đời đừng
dục vọng tưởng lầm, với chút công quả, công phu mà đắc đạo một sớm một chiều.
Chính vị Bồ Tát Như Ý Đạo Thoàn tả chơn dung người chơn tu như thế này :<br><br>“<span style="color: rgb(0, 0, 255);">
Hỡi chư hiền đệ hiền muội ! việc thành Đạo trong giới tu hành cũng như việc
thành công trên đường đời đều tương tự như nhau.</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Thử kiểm điểm những vị Chơn
Tu đắc Đạo có phải dễ dàng như món đồ từ trong túi lấy ra đâu ? Những vị ấy đã
trải qua bao phen khắc kỷ để làm chủ bản linh chơn tánh, điều khiển mọi hoàn
cảnh sự vật chung quanh, kiên tâm can đảm khắc phục mọi nỗi khó khăn, từ y phục,
ẩm thực, cư trú, danh vị sự nghiệp, tình cảm chật hẹp đến mọi nỗi lạc thú ở
đời.Tuy thấy bên ngoài những vị ấy nét mặt trầm ngâm, thân hình đơn giản, một
mảnh bô vải che thân xem qua thật là giản dị, sự thật nào ai biết được bên
trong, nội tâm những vị đó hoạt động rất nhiều, tranh đấu rất gay go với mọi tư
tưởng bên ngoài đưa đến, mọi sự khảo thí chung quanh rào đón, khó có một điều là
tâm vững trơ trơ như đá, như trồng… sự vật là sự vật, nội tâm là nội tâm, không
vì sự vật mà làm lay chuyển nội tâm, đó là một điều bí yếu thành công trong thời
kỳ tạo Tiên tác Phật.</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Còn như ở trường đời khi được thành công một phương
diện nào đó cũng không phải dễ.</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Ngày nay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã có nhiều
phương tiện cho người tín hữu tu hành dễ đắc quả, nhiều lối quanh đường tắt,
nhiều kinh điển, Thánh giáo, Thánh ngôn mà ít ai chịu khó tìm hiểu nghĩa lý sâu
xa và những khía cạnh siêu thoát của nó, chỉ thích tìm hiểu những gì thích hợp
với thành kiến sẵn có, thỏa mãn những dục vọng tầm thường, rồi tự cho là
đủ.</span><br style="color: rgb(0, 0, 255);"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">Bởi vậy, cho nên đã hơn bốn mươi năm Trời giáo Đạo mà chưa được mấy người
tìm hiểu và làm đúng sự mầu nhiệm của Lý Đạo. Chí đến ngày nay, trước cảnh tang
thương bi đát của đời, Thượng Đế không thể kéo dài thời gian, dễ dãi nuông chiều
với những đứa con còn lười biếng chậm chạp, tự ái, ích kỷ, nên đã truyền lệnh
các bậc Chơn Tiên đem Pháp Môn thiết thực để dạy cho những ai chịu khó gia công
học hỏi và hành để tu nhứt kiếp ngộ nhứt thời. Còn ai chẳng được làm theo, thì
cũng tùy theo duyên phước mà thọ hưởng ít nhiều, hoặc bị rơi ra ngoài vòng tiến
hóa của Vũ Trụ trong buổi Hạ Nguơn Mạt Kiếp điêu tàn, để lập lại đời Thượng
Ngươn Thánh Đức</span>” (TCST,11/1/67)<br><br><span style="color: rgb(255, 0, 0);">Thế nhân làm sao nhận định được sự tu chứng
hay đắc đạo của các hàng chơn tu?</span><br>Chúng ta có thể nhận định được qua chơn
dung của người chơn tu mà chúng tôi vừa mô tả ở trên.<br>Ta nhìn thấy tác phong
đạo hạnh thuần thành của họ thể hiện ra bên ngoài với việc đi đứng nằm ngồi cử
chỉ đoan trang, khoan thai, đầm thấm không tỏ vẻ bôn chôn hấp tấp, bực bội phiền
muộn áo não, lúc nào cũng thấy họ mặt mày vui tươi cởi mở mà không lố lăng, cợt
nhả hời hợt, lời nói dịu dàng êm ái dễ cảm. Họ không vào tửu điếm trà đình,
không vào nơi hí trường ca nhạc như thường tình thế sự…Lúc nào cũng tỏ ra ung
dung tiêu sái không bận bả, khoan dung tha thứ, không phiền trách, không trước ý
chấp nê, không bươi móc việc người, không khoe khoang tỏ vẻ thạo đời, dạy đời,
không tỏ vẻ khinh bạc người nghèo khó, không dua nịnh, bưng bợ kẻ giàu sang,
quyền thế, vì họ có cần gì đâu, họ có ham muốn gì đâu ! Cơm chỉ đủ no, áo vừa
che thân, nhà cũng là nơi tạm nghỉ, không cần nhà sang cửa rộng đẹp đẻ. Khi được
nằm nệm ấm gối êm, không buồn bực, cau có khi phải nằm trên chiếc chiếu rơm đạm
bạc vì họ không chịu nô lệ, chìu chuộng xác thân đòi hỏi sự thụ hưởng mọi sự
sung sướng vật chất thường tình.<br><br>Ngần chi tiết ấy cũng tạm đủ cho người thế
gian nhận định được hàng chơn tu đắc đạo tại tiền, còn về phẩm vị thiêng liêng
Thần Thánh Tiên của người đó là ngoài phạm vi của người đời, chỉ có Trời Phật
điểm hóa ân phong cho họ sau khi linh hồn họ lìa bỏ xác phàm mà thôi.<br><br>CT
</font><br>
 
D

DGH

Guest
 học trò hoan nghinh những gì mà hiền đạo nói ở đây , nhưng học trò nói thêm cho hiền đạo hiểu để được tinh thông về cơ mầu đạo và con đường tu đạo , NHƠN ĐẠO  chỉ đơn thuần là người học đạo chứ không giải thích vì thêm cả nhưng cái sâu xa ở nhơn đạo là phải biết nhơn đạo ấy có thực hay không và nhơn đạo đó có cho ta kính trọng hay không còn phụ thuộc vào con người ta cả , lối đi của ta có phải là lối đi đúng hay là sai lầm , con đường ta đi có phải là con đường giải thoát hay lại là bế tắc trong hạnh tu , thân ta không tu đạo thì thân ta an nhàn không lo nghĩ nhưng thân ta hiểu đạo và biết được cái đúng cái sai của đạo mà sữa đổi và tự thân ta học theo cái hay của lối đúng đó vậy mới là người tu đạo mới được gọi là người nhơn đạo được, , ta nói tu là bõ tấc cã để theo con đường đúng nói như vậy củng đúng nhưng cái bỏ ở đây là bỏ những diều sai lầm của mình , bõ ở đây lả bõ những gì ta mê mụi và học theo điều đúng lẽ hay chứ không phãi tụng niệm hay hành lễ gì cả , trao dồi nhân đức học tập diều lành mới là người học đạo ( ĐỨC GIÁO HỒ )
 

Nhat Minh

New member
 
<CENTER><B><FONT face=arial color=teal size=3><FONT color=darkorange size=3><FONT color=red size=4><U>QUAN NIỆM TU CHƠN</U></FONT><BR>TRONG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ</FONT><BR><BR><B>(TÒA THÁNH TÂY NINH CHỦ TRƯƠNG THẾ NÀO VỀ KHOA TỊNH LUYỆN ?)</B><BR></CENTER><BR>
<CENTER><FONT color=mediumblue size=2>* Trích Biên Khảo "Nhìn Lại 50 Năm Lịch Sử Đạo Cao Đài" (Năm 1974)<BR>*<U>Tác giả</U>: HT. Nguyễn Long Thành</FONT> <BR><BR>* * *<BR></B></FONT></CENTER>
<P><BR><FONT color=mediumblue size=2><FONT face=arial size=2>Ngay từ những ngày đầu thành lập Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khi ban hành Bộ Tân Luật vào năm 1927, Tòa Thánh Tây Ninh đã dành một Chương trong Bộ Luật Đạo để nói về những sinh hoạt Tịnh Luyện trong Chương trình phổ độ của Hội Thánh. <BR>Chương này gồm 08 điều khoản qui định một cách tổng quát nhà Tịnh phải có một Tịnh chủ điều khiển giờ giấc công phu, chế độ ăn uống của ngừơi tu tập, điều kiện nhập Tịnh và sự quan hệ với ngừơi ngoài.v.v... <BR><BR>Pháp Chánh Truyền qui định các Tịnh Thất đặt dưới sự trông coi của vị Thượng Phẩm Hiệp Thiên Đài. <BR>Như vậy <B>trong Chánh thể của Đại Đạo Tam Kỳ Độ các sinh hoạt về khoa Tịnh luyện, Thiền định nằm ở Hiệp Thiên Đài </B>nghĩa là vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài. <BR>Hộ Pháp chịu trách nhiệm tối cao về việc truyền Bí pháp hướng dẫn những sinh hoạt công phu, Tịnh luyện, Thiền định của người tu tập. Vị Chức sắc phải chịu trách nhiệm trực tiếp là Thượng Phẩm.
<P>Ngài Thái Thơ Thanh vị chức sắc Cửu Trùng Đài người đã có công đầu tiên đi tìm mua miếng đất xây cất Tòa Thánh và Khuôn viên Nội Ô Tòa Thánh hiện nay cũng đã theo đuổi công phu tu tập Tịnh Luyện và đã được Đức Hộ Pháp trợ Thần, điều chỉnh kịp thời một bước sai lầm trong một chuyến xuất Thần của Ngài. <BR>Nhờ sự can thiệp giúp đỡ đúng lúc của Đức Hộ Pháp ở cấp độ Chơn thần đầy linh hiển, Ngài Thái Thơ Thanh trở thành một người bạn Đạo trọn lòng tín nhiệm nơi Đức Hộ Pháp và Ngài đã hủy bỏ sơ đồ Nội Ô Tòa Thánh mà Ngài đã phác họa và chấp nhận tuân theo sự sắp đặt của Đức Hộ Pháp mà thôi.
<P><B>Năm 1928 Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn, một đường lối tu hành vượt qua hình tướng áo mão, quyền hành chuyên chú nhiều về phương diện Tam Lập </B>(Lập Đức, lập Công, lập Ngôn) và Phương Luyện Kỷ để đạt tới tình trạng Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, Thần hườn Hư mà đoạt Cơ giải thoát. <BR>Ngài đã tuyển lựa một số người ở Phạm Môn có đủ điều kiện để nhập tịnh và Ngài đã truyền Bí pháp công phu tịnh luyện, Thiền định cho từng người. Các sinh hoạt loại nầy không được phổ biến rộng rãi vì rất khó thành công và rất ít người có điều kiện theo đuổi. <BR><BR>Trong suốt thời gian còn sanh tiền <strong>Đức Hộ Pháp</strong> cũng đã thường xuyên theo dõi tình trạng Chơn Thần của một số Chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng, Phước Thiện có điều kiện phát triển về Khoa luyện kỷ nầy để kịp thời điều chỉnh những sai lệch và nâng đỡ bước đường công phu cho được tinh tấn. <BR>Ấy là phận sự đặc biệt của Đức Hộ Pháp y như lời dạy của Đức Chí Tôn nhân khi đề cập tới cái hại của rượu về phần hồn con người như sau:
<P>" Thầy dạy về hại của phần hồn các con Thầy nói cái Chơn Thần là nhị Xác thân các con, là khí chất nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy nơi trung tâm của nó là óc nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác gọi tiếng chữ là Vi Hộ, nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ Chơn linh các con khi luyện thành Đạo đặng hiệp một với Khí rồi Khí mới thấu đến Chơn Thần hiệp một mà Siêu phàm nhập Thánh ".
<P><B>Ngày 14-4-Tân Mão (1956),</B> Đức Hộ Pháp còn tuyên bố rõ ràng công việc trợ lực của một vị <strong>Hộ Pháp</strong> còn mang xác phàm đối với người xin nhập Tịnh vào Trí Huệ Cung một cách cụ thể như sau:
<P><EM><FONT face="Courier New, Courier, mono" size=3><strong>"Ấy vậy khi muốn bước vô Trí Huệ Cung phải có đủ Tam Lập là tu thân, nhưng làm sao biết họ đã <FONT color=#ff0000>Lập công, Lập ngôn, Lập đức </FONT>của họ rồi, dầu giao cho Bộ Pháp Chánh cũng chưa chắc điều tra được bởi nó thuộc về nửa Bí pháp nửa Thể pháp… <BR>Bây giờ Bần Đạo có một điều. Những người nào xin đến</strong> <strong><FONT color=#ff0000>Trí Huệ Cung</FONT>, Bần Đạo coi màng màng được thì Bần Đạo trục Chơn Thần của họ cho hội diện cùng quyền năng</strong> <strong><FONT color=#ff0000>Thiêng Liêng</FONT>. Nếu có đủ Tam lập thì vô không đủ thì ra…".</strong> </FONT></EM>
<P>Về phương diện hình tướng Đức Hộ Pháp đã hoàn tất được hai Trung Tâm Tịnh Luyện là Trí Huệ Cung và Trí Giác Cung, còn lại Trung Tâm thứ ba là Vạn Pháp Cung chỉ mới phác họa, kế đến Ngài qui Thiên nên chưa hoàn thành được. <BR><BR><B>Điều quan trọng hơn hết mà người nghiên cứu về Đạo Cao Đài không thể quên được là Chương Trình Phổ độ của Tòa Thánh Tây Ninh gồm hai phần tương liên mật thiết với nhau là Thể Pháp và Bí Pháp.</B> <BR>Thể Pháp là hình tướng của Đạo,tức nhiên là hình trạng của Hội Thánh. Bí Pháp là quyền năng của điển lực để giải thoát. <BR>Phận sự đặc biệt của Hộ Pháp trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là cầm Bí pháp để giúp đỡ Chúng sanh tự giải thoát lấy mình. <BR><B><FONT color=teal>Việc Phổ độ bắt đầu bằng hình tướng đưa người vào cửa Đạo để nương theo các tổ chức, sinh hoạt Đạo giáo mà Lập công, Lập đức, Lập ngôn tiêu trừ nghiệp chướng tiền khiên tân tạo của mỗi người và kết thúc bằng Pháp Giới độ tận chúng sanh. </B></FONT>
<P>Hai phần nầy nằm trong Chánh thể Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh có nhiệm vụ thực hành trọn vẹn cả hai. <FONT color=teal><B>Tuyệt nhiên trong Chơn truyền của Đức Chí Tôn không hề có sự phân chia làm hai phần: Phổ độ gọi là Ngoại Giáo Công Truyền do Tòa Thánh Tây Ninh đảm trách, còn phần Công phu Tịnh luyện, Thiền định gọi là Nội Giáo Bí Truyền do một Hội Thánh đảm trách. </B></FONT>
<P>Cơ siêu phàm nhập Thánh là quyền năng của điển lực Chơn Thần con người, nó không chịu thúc phược bởi bất cứ thế lực Chính trị hữu hình của tổ chức Đạo giáo nào. Hễ tinh thần cá nhân của mỗi người tu có đủ tính Thánh thiện thì đương nhiên Siêu phàm nhập Thánh hiển linh tại thế, thoát xác rồi Chơn Thần bất tiêu, bất diệt. Ngược lại, tinh thần còn vương vấn những nét phàm tục thì cửa Luân Hồi vay vay, trả trả chưa hề qua khỏi.
<P><B>Quyền pháp này không phải riêng có trong Cao Đài Giáo mà nó vẫn có từ ngàn xưa trong tất cả các Đạo giáo bất di bất dịch với thời gian.</B> Hình tướng Đạo giáo chỉ là cái vỏ bề ngoài còn sự Giải thoát là nội dung chứa đựng bên trong không thể có tình trạng vỏ một nơi ruột một nẻo. <BR><BR>Thể pháp và Bí pháp tương liên cùng nhau như bóng với hình, hễ có hình thì có bóng, có bóng thì có hình. Tỉ như lời Kinh tiếng Kệ tụng niệm hằng bữa là cái hình thể mà người tu đang cố gắng gom Thần định Trí vào một tư tưởng thanh cao là Trời Phật. Còn cái bóng của Kệ, Kinh tức nhiên là kết quả của sự tụng niệm, là trạng thái sống của tinh thần người ấy đạt được, hoặc là tình trạng vắng bặt tà tâm, tư ý, vọng niệm, hoặc chú định được vào cái âm ba trầm bỗng hoặc dường như quên hẳn âm ba hòa nhập được vào dòng Thần lực của Trời Phật tuôn chảy qua hồn phách mình tỏa ra một vùng không gian lân cận, một sức sống tâm linh mãnh liệt bàng bạc nhiệm mầu làm thức tỉnh Chơn Thần sanh chúng.
<P>Âm ba Kinh kệ là hình sức sống; tâm linh là bóng; hình với bóng không thể xa nhau. <BR>Ấy là luận một việc nhỏ, còn việc lớn hơn Thiên Thơ của Đức Chí Tôn mở Cơ Tận độ khi Ngài lập Pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ban quyền cho Hội Thánh độ rỗi con cái của Ngài đến chỗ giải thoát, Ngài ban cho Hội Thánh đủ quyền cả về Thể pháp lẫn Bí pháp.
<P>Đây là lời dạy của Phật Mẫu đối với Đức Hộ Pháp:
<P align=center><FONT size=3><EM><strong>" Hễ làm Mẹ quyền hành dạy trẻ, <BR>Con đừng lo mạng thế thi phàm. <BR>Huyền linh Mẹ chịu phần cam, <BR>Ban cho con trẻ vẹn toàn Pháp môn." <BR></strong>(Thánh giáo <strong>ĐHP</strong> cầu tại <FONT color=#ff0000><strong>Trí Huệ Cung</strong></FONT>) </EM></FONT></P>
<P>Vậy thì <FONT color=teal><B>yếu tố quyết định sự thành bại trên đường Tu là Công nghiệp phụng sự vạn linh </FONT></B>để tiêu trừ nghiệp chướng tiền khiên, <B>trau dồi đức hạnh để nâng cao chất Thánh cho Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, Thần hườn Hư </B>được mà không mang theo một chút ô trược trong Chơn Thần mới nhập vào Cõi Hằng Sống được.
<P>Tiến trình ấy liên tục và từng giai đoạn thăng tiến đều có sự hướng dẫn đúng lúc; <FONT color=#cc0000 size=3><strong><EM>chẳng hề có sự phân chia Phái Phổ độ dạy tu tề trị bình, Phái Vô vi lo siêu phàm nhập Thánh ; hoặc người muốn được siêu thoát phải rời khỏi phái Phổ độ, nhập môn vào phái Vô vi, nhận khẩu khuyết Tâm Truyền luyện Tam Bửu Ngũ Hành công phu Thiền định mới đắc Đạo. </EM></strong></FONT>
<P><B>Ngày nay Đức Hộ Pháp đã về Thiêng Liêng vị. Quyền năng chuyển Pháp của Chơn Thần càng dễ dàng ứng biến với những lời cầu nguyện chân thành của người tầm Đạo </B>dầu ở phương trời góc biển nào, khi người Tín đồ đủ công đức xứng đáng để được khai mở năng khiếu tâm linh thành tâm cầu nguyện sự trợ lực của Ngài. <BR>Ngài sẽ diệu dụng quyền năng điển lực của <FONT color=#ff0000><FONT size=3><strong><EM>Bửu Pháp Kim Quang Tiên</EM></strong> </FONT></FONT>và <FONT color=#ff0000 size=3><strong><EM>Long Tu Phiến </EM></strong></FONT>để trợ thần cho người hành công phu tu luyện cho Tinh hoá Khí, Khí hóa Thần, Thần hườn Hư mà siêu phàm nhập Thánh. <BR><BR>Ấy là công việc của Đức Hộ Pháp nơi cõi Hư linh còn phần Pháp giới bán hữu hình tức nhiên là những công việc huyền linh cần có xác phàm mới gần gũi đặng Chơn Thần và thể phách của chúng sanh, <B>luôn luôn trong cửa Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy vẫn có những bậc cao Tăng ẩn dạng, đủ quyền năng tinh thần để thi hành trọn vẹn sứ mạng ấy.</B> <BR>Họ làm việc theo Thánh ý Đức Chí Tôn thể hiện sự Công Bình Thiêng Liêng nơi mặt thế hữu hình nầy. Cửa Bát Quái Đài vẫn luôn luôn mở để đón rước Chơn thần sanh chúng đủ công đức xứng đáng đối diện cùng quyền năng của Đức Chí Tôn và các Đấng trọn lành. <BR><BR>Cho nên dù Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã về Thiêng liêng vị, phần Bí Pháp trong Đạo Cao Đài vẫn thực hiện được. <BR><FONT color=teal><B>"Do Công đức mà đặng đắc Đạo cùng chẳng đặng" </B></FONT><BR>Ấy là lời phán quyết tối cao của Đại Từ Phụ vậy.
<P>Lập Đạo Cao Đài Đức Chí Tôn mở Cơ Tận độ, ngay từ buổi sơ khai Đức Chí Tôn đã dạy: <BR>" Chiêu, Kỳ, Trung độ dẫn Hoài Sanh ". <BR>Ngài gọi đích danh Ngài Ngô Văn Chiêu trước nhứt dạy phải "độ dẫn hoài sanh " nghĩa là dầu trẻ con trong bụng mẹ cũng phải lo độ rỗi cho đến khi cuối cuộc đời chết đi lỡ có thất thệ hay bị tội lỗi chi mà sa đọa vào cõi âm quang thì trong cảnh giới này cũng còn có Thất Nương Diêu Trì Cung theo độ hồn ăn năn sám hối hay là chuyển kiếp đầu thai. <BR>Chữ Phổ Độ nghĩa lý bao la như vậy. <BR><BR>Đức Chí Tôn lập một Đạo Cao Đài với <B>Tôn Chỉ Tam Giáo Qui Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt và cứu cánh của đời Tu là giải thoát.</B> Người hành Đạo không thực hiện trọn vẹn Thánh ý của Đức Chí Tôn mới nảy sinh ra bất hòa, chia rẽ thành ra nhiều Chi, nhiều Phái mặc dù họ vẫn nhân danh Thượng Đế mà hành sự. <BR>Hiện tượng Hội Thánh là một biến tướng trên dòng Lịch sử của tổ chức Đạo giáo, nó ở ngoài Chơn pháp của Đức Chí Tôn, một dấu hiệu qui Phàm của tâm thức người hành đạo nói chung. Quyền Tự do tín ngưỡng là quyền của mỗi cá nhân con người nhưng Chân lý vẫn có một và sự diễn tả Chân lý thì muôn vàn hình thức khác nhau tùy theo tâm thức của mỗi người đạt được đến mức độ nào trên con đường tấn hóa vô tận.
<P><B><U>HT. Nguyễn Long Thành</U> </B><BR><BR>
<P>___________________<BR><BR>
<P>
<P align=center></FONT><BR> </P></FONT>
 

Facebook Comment

Top