Tịnh Thất và chữ tịnh trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Sau khi đọc Thánh ngôn hiệp tuyển, Pháp chánh truyền và Tân luật; TN có thấy trong các văn bản này thì Thầy và chư vị tiền bối có đặt vấn đề đến Tịnh Thất.
Thế nhưng sau thời gian dài, nơi Tổ đình vẫn chưa thấy (xin thứ lỗi nếu hồ đồ) Tịnh Thất nào được xây dựng từ khi Hội thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được lập đến giai đoạn hiệu nay - đầu thế kỷ 21.
Trong quá trình tìm hiểu nguyên do, TN mạo muội lập chủ đề có tên như trên, sau đó trích đăng Thánh ngôn của Thầy lẫn chư vị Tiền bối cùng các Đấng thiêng liêng nói đến Tịnh Thất.
Sau đó, TN tìm đăng Thánh ngôn có nhắc đến chữ tịnh theo giáo lý Cao Đài.
Kính.
 

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Chúng ta tìm hiểu sự tồn tại của Tịnh Thất theo Thánh ý của Thầy cùng các Đấng thiêng liêng trong Pháp chánh truyền - có chú giải của Đức Phạm Hộ pháp.
Nguồn: Pháp chánh truyền chú giải (bản tham khảo năm 2006- Internet).
--------------------------------------------------------------------
Thượng Phẩm là ai?
Thượng Phẩm là người thay mặt cho Hộ Pháp, phải tùng lịnh Hộ Pháp mà hành chánh. Hễ bước chơn vào cửa Ðạo, thì là có Thiên Phẩm, mà hễ có Thiên Phẩm rồi thì Thầy lại đem lên cho tới Thượng Phẩm mới trọn nghĩa Phổ Ðộ.
Các chơn linh dầu nguyên nhân hay là hóa nhân đều nhờ Thượng Phẩm gìn giữ binh vực cho ngồi đặng an ổn địa vị mình, giúp đỡ cho đức hạnh trổi thêm cao cho khỏi phạm luật lệ; xem sóc ngôi thứ chẳng cho giành giựt lẫn nhau, ắt giữ cho Cửu Trùng Ðài đặng hòa nhã êm đềm, khép cửa Thiên Môn, cấm đường không cho các chơn linh thối bước (hay). Phẩm trật nhờ người mà đặng thăng lên, hay là bị người mà phải hạ.
Người nắm luật Ðạo nơi tay mà binh vực cả chư Chức Sắc Thiên Phong và các Tín Ðồ, chẳng cho ai phạm luật, vừa lo cho người Ðạo hạnh lên cho tột phẩm vị mình.
Thượng Phẩm là chủ phòng cải luật, làm Trạng Sư của Tín Ðồ.
(còn tiếp)
 

dong tam

New member
Ở Tây ninh, đến dưỡng lão đường Quy Thiện sẽ thấy có "Tịnh thất". Dấu tích của một nhà tịnh do đức Hộ Pháp lập theo lệnh dạy của Thầy.

Ngày nay vẫn còn vài chức sắc hưu dưỡng (nam và nữ) nơi đây thực hành.

Vấn đề là tương lai, khi những vị này về chầu Thầy thì "bí pháp" không biết còn ai sẽ có quyền pháp truyền trao!

Một số Hội thánh khác cũng thế! Cho nên hiện nay chỉ "giữ tâm không" chứ không có pháp thực hành cụ thể từng cấp ra sao. Vì quý tiền bối đã mang theo về chầu Thầy rồi!

Do đó, nơi nào còn lưu được pháp thực hành cụ thể thì quý biết bao.

Đạo là âm dương, phổ độ và tâm pháp phải song hành thì mới có thể làm tròn sứ mạng đã nhận lãnh lúc xin Thầy vào trần lập công.
 

Thanh Phong

New member
Đợi lâu quá không thấy chủ Topic post tiếp nên đành mạn phép chen ngang :(
Thưa Huynh Trung ngôn và HTĐM !
Như Huynh dong tam đã post thì ở Tây Ninh, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã từng lập Tịnh Thất theo lệnh của Đức Chí Tôn. Như vậy, tại các Hội Thánh (HT) khác trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có tồn tại các "Tịnh Thất" hay không ?
Ví dụ: Các Nhà Tu thuộc HT Ban Chỉnh Đạo có phải là Tịnh Thất ?
Và pháp môn tu tịnh như chúng ta thường biết, là: Chiếu Minh Tam Thanh, pháp tu Châu của HT Truyền Giáo, pháp môn Vô Vi do Đức Đông Phương Chưởng Quản chỉ dạy tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, vậy còn có pháp môn tu tịnh nào nữa không ?
Kính !
 

Trung ngôn

Active member
Thanh Phong nói:
Đợi lâu quá không thấy chủ Topic post tiếp nên đành mạn phép chen ngang
Thưa Huynh Trung ngôn và HTĐM !
Như Huynh dong tam đã post thì ở Tây Ninh, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã từng lập Tịnh Thất theo lệnh của Đức Chí Tôn. Như vậy, tại các Hội Thánh (HT) khác trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có tồn tại các "Tịnh Thất" hay không ?
Ví dụ: Các Nhà Tu thuộc HT Ban Chỉnh Đạo có phải là Tịnh Thất ?
Và pháp môn tu tịnh như chúng ta thường biết, là: Chiếu Minh Tam Thanh, pháp tu Châu của HT Truyền Giáo, pháp môn Vô Vi do Đức Đông Phương Chưởng Quản chỉ dạy tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, vậy còn có pháp môn tu tịnh nào nữa không ?
Kính !
Kính Huynh Thanh Phong,
Về Thánh ý lập Tịnh Thất đã có trong Thánh ngôn hiệp tuyển trong thời kỳ đầu Khai đạo, trong luật cơ bản là Pháp chánh truyền, trong Tân luật (theo ý vài người cho là phàm luật??? TN không hiểu vì lý do gì mà phân loại, sau khi phân loại thì mục đích có tốt hơn không nhỉ?), trong Thánh ngôn ở các Hội thánh, tổ chức Cao Đài theo Thánh ý của Thiêng liêng.
Chữ Tịnh thất thực tế có thể có tên gọi khác như Thánh tịnh, Nhà tu, v.v.. Tuy nhiên, đối với người làm toán 1+1= 2 thì người ta sẽ xem xét công năng của Tịnh thất có được xây dựng, hoạt động theo như Pháp chánh truyền, Tân luật không?
Nếu có khác thì khác như thế nào, có trọng yếu không ?
Có thể nơi đó tên gọi là Tịnh thất như từng tồn tại ở Tây Ninh nhưng ngày nay đã chuyển công năng thành nhà hưu dưỡng (dongtam, 10g26p ngày 18/6/2013).
Hay tại các nhà đàn thuộc Chiếu Minh thì không có tên là Tịnh thất (TN hiểu vậy) nhưng lại có công năng như một Tịnh thất (TN cũng hiểu vậy).
Riêng HTTG CĐ thì Tịnh thất có tên là Tịnh thất, có công năng như Pháp chánh truyền và Tân luật quy định.
Ví dụ: tại Đà Nẵng có Tịnh thất Thanh Đà, tại Quảng Nam có Tịnh thất Thanh An (Hội An, Quảng Nam), BRVT có Tịnh thất Thanh Châu.
TN biết đến đậy, trao đổi với Thanh Phong đến đây. Thanh Phong có biết gì về các Nhà tu Trung thừa hay Hạ thừa thì cho TN biết thêm đi!
Kính.
 

dong tam

New member
Nói lại cho rõ:

Trong Trí.... Cung, bên cạnh Dưỡng Lão đường Quy Thiện có một cơ sở trông cỗ xưa với bảng hiệu "TỊNH THẤT".

Nhà tu Trung Thừa của Ban Chỉnh chưa phải là Tịnh thất!

Xin cho đựơc hỏi để dễ tìm đọc: trong PCT, Tịnh Thất được nêu ở khoản nào?
 

Thanh Phong

New member
Kính Huynh Trung ngôn
Đệ có đọc một bài viết về VAI TRÒ CỦA NHÀ TU THƯỢNG THỪA

1. Lý thuyết - Nếu Nhà Tu Trung Thừa là hạ tầng cơ sở để thực hiện chân truyền Đại Đạo, thì Nhà Tu Thượng Thừa là thượng tầng kiến thiết, để thực hành Tân Pháp của nền Đạo. Muốn cất một toà nhà, công việc đắp nền là gốc, tức là Nhà Tu Trung Thừa. Tu hành chính chắn ở bậc Trung Thừa thể như xây nền nhà cho kiên cố, thi mới mong dựng cột, xây tường, gác kèo và lợp ngói vững chắc được. Phần kiến thiết bên trên là thượng tầng, tức là Nhà Tu Thượng Thừa. Bậc tu Thượng Thừa phải đi đến kết quả của sự tu thân trau giồi Đạo hạnh và đắc thành “Tân Pháp” (Đạo Pháp mới buổi Tam Kỳ Phổ Độ).

Một nền Đạo phải có Đạo Pháp, Đạo Pháp đó phải thực hiện được hữu hiệu qua cả hai mặt: độ rỗi kiếp hiện sinh và giải thoát phần tâm linh của con người. Và Đạo Pháp có được người tu đắc thành kết qủa tức là Đạo thành, thì mới gọi là một nền Đạo được. Trường hợp Thần Tú và Huệ Năng chứng minh cho chúng ta thấy Đạo Phật thành nơi Huệ Năng đắc thành Đạo Pháp, chớ không thành nơi thế lực bề ngoài, thinh âm sắc tướng của Thần Tú là người không ngộ đắc chơn truyền.

Phương chi Đạo Cao Đài là một nền Đạo có tổ chức, có luật pháp hành chánh Đạo, có một nội dung đạo đức, luân lý thích hợp cho sự tiến hoá của nhơn sanh, trong thời kỳ chuyển nguơn tái tạo này và có phương châm phổ độ toàn diện con người (phần thể xác và phần linh hồn). Nếu không có Nhà Tu Thượng Thừa làm tiêu chuẩn tu thân và đào luyện nên bậc tu có đủ khả năng đức hạnh, có căn bản Đạo Pháp, thì làm sao có được hàng thiên sứ cầm giềng mối Thiên Đạo độ đời trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ nầy. Nếu cơ quan hành chánh của nền Đạo là Hội Thánh, do Bàn Cửu Viện đảm nhiệm mà chức sắc lãnh đạo từ trung ương đến địa phương không do một trường rèn luyện nên bậc chân tu có đủ gương mẫu, tức là Nhà Tu Thượng Thừa, thì có thể nói phương châm phổ độ sẽ bị lệch lạc chân truyền, mọi việc lớn lao của Đạo cũng sẽ hỏng hết. Chánh thể và tổ chức hành chánh là cơ quan điều hành cơ phổ độ, sanh hoạt nội bộ căn bản theo Đạo Pháp của Đức Chí Tôn. Nếu không có những bậc chức sắc có khả năng và thoát khỏi ảnh hưởng lợi danh thường tình đảm đương nhiệm vụ từ dưới lên trên, thì Hội Thánh cũng phải vì đó mà lần lần hạ thấp những hiệu năng lãnh đạo và độ rỗi nhơn sanh.

Chánh thể và tổ chức hành chánh của Đạo, từ hình thể lưỡng đài, Bàn Cửu Viện đến các cấp Tỉnh Đạo, Họ Đạo dù có hoàn bị đến đâu đi nữa, mà chức sắc lãnh đạo không được đào tạo nơi Nhà Tu Thượng Thừa, thì nền chánh giáo sẽ lần lần biến ra phàm giáo. Nền móng cơ sở của Đạo là Nhà Tu Trung Thừa dù có đồ sộ rộng rãi đến đâu, dù cho hằng ngàn tu xá, hằng ngàn học đường, hằng ngàn cơ sở từ thiện và công nghệ, mà sự lãnh đạo và xây dựng được xuất phát từ bởi nơi Nhà Tu Thượng Thừa, thì các cơ sở của nền móng ấy lần lần cũng biến thành công cuộc xã hội quy mô mà thôi, không tiến đến cứu cánh là giải thoát toàn diện con người (thể xác và linh hồn). Nhận như thế, không phải chúng ta cần những hình thức Nhà Tu Thượng Thừa, do các mái ngói rêu phong cổ kính của ngôi nhà, mà giá trị tuyệt đối của bậc tu là nội dung quy củ của bậc Thượng Thừa vậy.

2. Vị trí của Nhà Tu Thượng Thừa – Muốn đi sâu vào nội dung Nhà Tu Thượng Thừa, thì trước hết chúng ta mô phỏng một đồ biểu để thấy rõ vị trí của Nhà Tu Thượng Thừa.


Thành phần Hội Thánh xuất thân bởi Nhà Tu Thượng Thừa.

Thành phần lãnh đạo Nhà Tu Trung Thừa và bậc Thượng Thừa được Hội Thánh bổ nhậm.

Người tu lên bậc Thượng Thừa là do sự đào tạo bởi Nhà Tu Trung Thừa

Nhà Tu Trung Thừa cũng là nơi để cho bậc Thượng Thừa lập công quả (hướng dẫn giáo dục bậc Trung và Hạ thừa). Nhà Tu Trung Thừa có bổn phận phục vụ cho cuộc sống hạnh phúc và đạo đức luân lý của con người; nhưng luôn luôn hướng thượng để vào bậc Thượng Thừa. Trái lại, Nhà Tu Thượng Thừa đào tạo người tu phải dứt bỏ nghiệp trần. Nhưng tâm chí luôn luôn hướng hạ, nhằm độ dẫn nhơn sanh thoát vòng bể khổ.

3. Nhiệm vụ của Nhà Tu Thượng Thừa – Phương châm của Đạo Cao Đài à giải lần các nghiệp chướng về nhân sự. Tức là giải khổ ở hai phần: Nhơn Đạo và Thần Đạo để lần vào Thánh Đạo (nơi Nhà Tu Trung Thừa) và cởi mở các nghiệp lực của bản thân để rồi đạt đến giải khổ toàn diện con người lên hàng Tiên và Phật Đạo do nơi Nhà Tu Thượng Thừa.

Vậy hành đạo nơi Nhà Tu Trung Thừa là tạo điều kiện căn bản, là công quả âm chất, để đi đến cứu cánh là thành Đạo nơi bậc Thượng Thừa. Hay nói cách khác, những nỗ lực phục vụ cuộc sống của con người: làm nhà cửa, tạo cơm áo, cung ứng mọi tiện nghi, giáo dục, văn hoá, đạo đức, lễ nghi xây dựng một giềng mối luân lý rộng rãi trong tình yên nhơn loại để an bài một cuộc sống công bằng và bình đẳng là chủ đích của bậc tu Trung Thừa. Lập công và học tập trong tổ chức Hội Thánh và Nhà Tu Trung Thừa, tức là dùng phương tiện đó để đi đến chỗ đắc ngộ Pháp thân mà thành Đạo, là hướng thực nghiệp của bậc tu Thượng Thừa, cũng gọi là tiêu cực tích cực hoá hợp.

Nhận như thế, có người sẽ nghĩ rằng: “Nếu thế thì có ai xứng mình trong hàng Thượng Thừa? Và như vậy thì nền Đạo sẽ ra sao?”

Thưa không. Phàm một phát minh khoa học nào của con người, khi đem ra thí nghiệm có kết quả, như làm một chiếc tàu thuỷ thành công thì đó là phát minh ấy đã thành công trong cuộc thí nghiệm đầu tiên. Lấy sự thành công đó cho người sau tin tưởng và kế tiếp làm theo.

Ngày nay, “Tân Pháp và Chân Truyền” của ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ đã có Anh Cả [2]NGUYỄN NGỌC TƯƠNG là người đầu tiên thực hành đắc quả tức là Tân Pháp Chân Truyền của Đạo Cao Đài đã được thực nghiệm thành công, nghĩa là đã có bậc Thượng Thừa thành Đạo. Từ đây về sau nhơn sanh đang noi theo ấn chứng ấy mà tiến bước thực hành.


Các cơ sở và các bậc tu thuộc Nhà Tu Thượng Thừa – Để đủ phương tiện thực hiện nhiệm vụ mình, Nhà Tu Thượng Thừa có những cơ sở:

1. Nhà Tu Thượng Thừa nơi Hội Thánh.

2. Các Nhà Tu Thượng Thừa chi nhánh (khi có những Nhà Tu Trung Thừa hàng tỉnh (thành phố) đủ điều kiện tiến lên lập thành)

3. Tịnh xá.

4. Những Đại Đạo Học Đường của bậc Thượng Thừa để nghiên cứu và đào luyện trên ba phương diện:

a) Chân truyền: Đạo lý căn bản, phương pháp tu thân, phương châm hành đạo.

b) Tân Pháp thực hành

c) Nghiên cứu lịch sử Đạo Cao Đài và văn hoá nhơn loại.

5. Những cơ sở tự túc trong cơ quan Thượng Thừa.

Nhà tu Thượng Thừa tiếp nhận những tu sĩ bậc Trung Thừa do nhà tu này giới thiệu lên. Và sau mỗi ba năm sẽ có một lần tuyển chọn từ bậc Thính Thiện lần lên Hành Thiện, Chí Thiện,Giáo Thiện, Hiền Nhơn, Đạo Nhơn, Chơn Nhơn, Thánh Nhơn, Tiên Tử, Phật Tử. Việc tuyển chọn nầy lấy công đức phổ độ và hạnh đức bản thân làm căn bản cho các bậc trên. Hội Thánh cũng dựa trên căn bản đó mà lập công hạnh công cử các bậc Thượng Thừa để đưa vào hàng Hội Thánh, đảm nhiệm phận sự hành chánh Đạo. Nên mỗi tu sĩ bậc Thượng Thừa có một tập hồ sơ thật chu đáo về lý lịch, khả năng đạo đức và hạnh tu của mình. Hồ sơ nầy là điều kiện căn bản cho các cuộc tuyển chọn lên các bậc tu Thượng Thừa.

Sinh hoạt nội bộ Nhà Tu Thượng Thừa – Mỗi người chỉ có tình huynh đệ chớ không phân biệt bởi thứ bậc tước phẩm chức sắc nơi phần Hội Thánh. Thứ bậc mười phẩm Thượng Thừa (từ Thính Thiện đến bậc Phật Tử) chỉ là thứ bậc của người anh dìu dắt dạy dỗ cho người em mà thôi. Nơi đây phẩm vị Giáo Tông cũng chỉ là người Anh Cả, và một em nhỏ tuổi nhứt cũg chỉ là người em và mọi người đều bình đẳng trong bậc người tu Thượng Thừa. Đức độ của bậc Thượng Thừa lúc nào cũng an nhiên thơ thới, luôn luôn thể hiện nơi bản thân đức tính: ôn, lương, cung, kiệm, nhượng. Lo tròn về phần Thiên Đạo, mà cởi mở phần Nhơn Đạo, lần đến dứt bỏ hết các oan nghiệt buộc ràng bởi danh lợi ở thế gian. Có như thế mới hoà hợp được cá thể của mình vào Đại Thánh Thể của Thầy, xem nhơn sanh là bình đẳng, là chủ đích phục vụ độ rỗi, đi đến cứu cánh là tự giải thoát và giải thoát toàn diện con người. Tất cả mọi tư tưởng, lời nói, hành động, xử sự chỉ hướng vào chủ đích và cứu cánh trên. Nên mọi người muốn tu bậc Thượng Thừa cũng phải từ bỏ mọi danh lợi ở đời, trước khi bước vào Bửu Điện đặt mình trước Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng, phát tâm thệ nguyện để trọn tâm chú trọng vào một sự vinh hiển, là thực hiện chân lý Đạo Trời ở thế này mà thôi.

4. Đạo đức luân lý và giáo pháp căn bản của bậc Thượng Thừa – Người tu bậc Thượng Thừa đặt mình vào một đạo đức luân lý thoát ngoài ranh giới nhỏ hẹp của phần Thế đạo: gia đình, họ hàng, dân tộc, quốc gia, chủ nghĩa, đảng phái, mà phải đặt mình trọn phần Thiên Đạo, trong bổn phận là con của Thượng Đế, xem mọi người cùng là con người, là anh em với nhau, không chia quốc giới màu da, chỉ biết “thương yêu” mà không biết “ghét thù”, luôn luôn tranh thủ với mọi “tội ác” làm khổ lụy sa đoạ con người và đặt trách nhiệm mình phải phục vụ cho sự hàn gắn mọi khổ đau ở thế gian.

Người có bổn phận trong địa vị nào phải tận tụy lo tròn, mà lòng luôn luôn trống không, vô tư và thanh tịnh, đó là giáo pháp căn bản của bậc Thượng Thừa.

Địa vị càng cao, nhiệm vụ càng trọng đại, thì bổn phận càng tha thiết chu toàn, tâm chí càng về với hư vô: “Bổn lai vô nhứt vật” hay: “Lòng còn một điểm có, đừng mong thấy lẽ chơn”

Cũng là: Sự vật hết vương nghiệp,

Danh sắc hoá hư không,

Chơn tâm thấy xuất hiện,

Phật tính sẵn nơi lòng.

Tóm lại: Giáo pháp của bậc tu Thượng Thừa là: tích cực vị nhơn sanh, hết lòng phục vụ và tiêu cực giải thoát toàn diện bản thân với phương pháp thực hành Đạo Pháp, thường xuyên tịnh định (phần này thuộc về bí truyền) để hiện bày cái chơn ngã con người.

5. Để kết phần vai trò của Nhà Tu Thượng Thừa trong loạt bài tìm hiểu “Tân Pháp và Chân Truyền” của ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ. Chúng tôi trọn lòng tin nhận nơi việc hành đạo của Anh Cả NGUYỄN NGỌC TƯƠNG lấy phương châm tuần tự nhi tiến, lấy phương pháp Tiêu cực Tích cực hoá hợp làm nội dung, lấy phẩm vị chức sắc làm phương tiện cho con đường tu thân hành đạo, và đã đem lại chứng minh đắc quả cho nền Đạo…

Bước đường hành đạo của Nguời, tích cực trong đoạn đời xử thế, Nhơn và Thần Đạo ở bậc Trung Thừa để bước lên Thánh Đạo ở bậc Thượng Thừa, tịnh luyện hành Đạo Pháp và lập công phổ độ, lập thành cơ Đạo nơi các nhiệm vụ chức sắc Hội Thánh, lên tới phẩm vị Giáo Tông, để có đủ công quả âm chất của bậc tối Thượng Thừa, rồi cuối cùng là phần vô vi của phương châm hành đạo, đắc thành “Tân Pháp Chân Truyền”.

Do đó, nền ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ từ ấy đã có chứng minh Đạo thành, để cho hạng người có căn duyên lần lượt vào Nhà Tu Thượng Thừa làm tròn sứ mạng thiêng liêng của mình.

THANH PHONG
Nguồn đánh máy: Anh Sơn - Họ Đạo Bình Hòa - Tp HCM

Nguồn: Link
Qua bài viết trên chúng ta có thể nhận thấy:
1- Nhà Tu Trung Thừa là "hạ tầng cơ sở" để thực hiện "chân truyền Đại Đạo"

2- Nhà Tu Thượng Thừa là "thượng tầng kiến thiết" để thực hành "Tân Pháp" của nền Đạo và "cởi mở các nghiệp lực của bản thân để rồi đoạt đến giải khổ toàn diện con người lên hàng Tiên và Phật Đạo"

3- Và cơ sở của Nhà Tu Thượng Thừa gồm có "Tịnh Xá"

Như vậy, nếu bài viết trên là chính xác theo đường lối của HT Ban Chỉnh Đạo thì Nhà Tu Thượng Thừa gồm có cả Tịnh Xá trong đó, và có một "Pháp môn" để dành cho cấp Trung Thừa và Thượng Thừa

Rất mong các HTĐM thuộc HT Ban Chỉnh Đạo vào chia sẻ thêm :)

Chỉ trong Tân Luật mới có khoảng đề cập về Tịnh Thất !
Kính
 
Sửa lần cuối:

Trung ngôn

Active member
Thanh Phong nói:
Qua bài viết trên chúng ta có thể nhận thấy:
1- Nhà Tu Trung Thừa là "hạ tầng cơ sở" để thực hiện "chân truyền Đại Đạo"

2- Nhà Tu Thượng Thừa là "thượng tầng kiến thiết" để thực hành "Tân Pháp" của nền Đạo và "cởi mở các nghiệp lực của bản thân để rồi đoạt đến giải khổ toàn diện con người lên hàng Tiên và Phật Đạo"

3- Và cơ sở của Nhà Tu Thượng Thừa gồm có "Tịnh Xá"

Như vậy, nếu bài viết trên là chính xác theo đường lối của HT Ban Chỉnh Đạo thì Nhà Tu Thượng Thừa gồm có cả Tịnh Xá trong đó, và có một "Pháp môn" để dành cho cấp Trung Thừa và Thượng Thừa

Rất mong các HTĐM thuộc HT Ban Chỉnh Đạo vào chia sẻ thêm

Chỉ trong Tân Luật mới có khoảng đề cập về Tịnh Thất !
Kính
Kính hiền Thanh Phong,
Theo tác giả bài viết, dường như nội dung chưa thấy làm nổi bật khái niệm “tu” như người Cao Đài thông thường hiểu – TN hiểu vậy.
Thuật ngữ “Tịnh xá” cho thấy có gì đó chưa làm rõ ý có liên quan đến Tịnh thất như đã quy định tại Pháp chánh truyền chú giải, Tân luật.
Và cuối cùng là “pháp môn” – theo lời của Thanh Phong – thì có lẽ ẩn vi quá, tín đồ Cao Đài như TN muốn thọ lãnh thì không biết phải làm sao, trong khi Thầy đã nói đại ý là bửu pháp đã bày ra.
Huynh có bài viết nào của tác giả khác hoặc của chính Hội thánh nói rõ hơn về Nhà tu Trung thừa và Thượng thừa không, cho TN và mọi người xem qua.
Kính.
 

Trung ngôn

Active member
(tiếp theo)
PHÁP CHÁNH TRUYỀN: Thượng Phẩm thì quyền về Ðạo, dưới quyền:
Tiếp Ðạo
Khai Ðạo
Hiến Ðạo
Bảo Ðạo
Lo về phần Tịnh Thất, mấy Thánh Thất đều xem sóc chư Môn Ðệ Thầy, binh vực chẳng cho ai phạm luật đến khổ khắc cho đặng.
CHÚ GIẢI: Các Tịnh Thất đều về quyền của Thượng Phẩm cai quản. Cả Tín Ðồ thì về phần người binh vực, chẳng cho ai phạm luật đến khổ khắc cho đặng, các Chức Sắc trấn nhậm mấy Thánh Thất phải do nơi quyền người thuyên bổ, liệu lượng tài sức mỗi người, mà chỉ định phận sự (công bình vậy).
Thượng Phẩm là cây cờ của Ðạo. Hễ Ðạo nơi nào thì Thượng Phẩm nơi ấy.
Thượng Phẩm đối quyền với Chưởng Pháp bên Cửu Trùng Ðài.
Hiệp Thiên Ðài là luật lệ mà Thượng Phẩm lại là Chánh Trị, ấy vậy Thượng Phẩm là người của Cửu Trùng Ðài nơi Hiệp Thiên Ðài.
Bốn vị Thời Quân của chi Ðạo, đồng quyền cùng Thượng Phẩm khi người ban quyền hành chánh, song mỗi vị có phận sự riêng, quyền hành riêng là:
Tiếp Ðạo là người tiếp cáo trạng án tiết thì phải quan sát trước coi có oan khúc chi chăng, đáng ra binh vực thì phải dâng lại cho Khai Ðạo.
Khai Ðạo khi đặng tờ kêu nài cầu rỗi, thì liệu như đáng rỗi, phải nhứt diện tư tờ qua cho Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Ðài xin đình án bao lâu tùy ý, song chẳng đặng phép quá 15 ngày, nhứt diện dâng sớ cho Hộ Pháp cầu nhóm Ðại Hội Hiệp Thiên Ðại đặng định liệu, như phải đáng bào chữa thì Khai Ðạo phân giải giữa hội cho ra lẽ oan ưng, Hiệp Thiên Ðài cho lịnh thì mới dâng nội vụ lên cho Hiến Ðạo.
Hiến Ðạo khi đặng tờ chi của Khai Ðạo dâng lên, tức cấp phải tìm biết căn nguyên cho rõ ràng, cấm không cho Hiến Ðạo thông đồng cùng Hiến Pháp và Hiến Thế.
Sự chi đã vào tay Hiến Ðạo rồi thì đã ra bí mật, dầu cho Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài cũng không đặng biết tới nữa.
Hiến Ðạo phải dâng nội vụ lên cho Bảo Ðạo.
Bảo Ðạo phải gìn giữ bí mật ấy cho kín nhiệm, làm tờ lý đoán binh vực chiếu y luật Ðạo rồi dâng lên cho Thượng Phẩm, đặng người lo phương bào chữa.
Bảo Ðạo là người làm Ðầu Phòng Văn của Thượng Phẩm.
Thượng Phẩm và tứ vị Thời Quân của chi Ðạo, phải thề giữ dạ vô tư mà hành chánh.
 

Trung ngôn

Active member
Tiếp theo, chúng ta thấy Tịnh Thất được Tân Luật quy định tại chương II về Người giữ đạo, phần Đạo Pháp có ghi:

Ðiều Thứ Mười Ba:
• Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên, được thọ truyền bửu pháp, vào tịnh thất có người chỉ luyện Ðạo.
 
Sửa lần cuối:

Trung ngôn

Active member
Tiếp theo:
Trong Tân Luật có nguyên một chương TỊNH THẤT, theo đó có 8 điều quy định chi tiết:
• Ðiều Thứ Nhứ: Ðiều kiện để được vào Tịnh Thất - Nhơn Ðạo, trai giới.
• Ðiều Thứ Hai: Ðiều kiện để được vào Tịnh Thất - Người tiến dẫn.
• Ðiều Thứ Ba: Nội qui Tịnh Thất - Cấm thư tín vãng lai.
• Ðiều Thứ Tư: Nội qui Tịnh Thất - Cấm thăm viếng.
• Ðiều Thứ Năm: Nội qui Tịnh Thất - Cấm chuyện vãn.
• Ðiều Thứ Sáu: Nội qui Tịnh Thất - Cấm hút thuốc ăn trầu.
• Ðiều Thứ Bảy: Nội qui Tịnh Thất - Giữ chơn thần an tịnh.
• Ðiều Thứ Tám: Nội qui Tịnh Thất - Tùng mạng lịnh Tịnh Chủ.
 

Trung ngôn

Active member
Tiếp theo:
Có hai điều chỉ rõ điều kiện của tín đồ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khi nhập[ vào Tịnh Thất:

Ðiều Thứ Nhứt:
• Trong hàng tín đồ, ai đã xử tròn nhơn đạo và giữ trai giái từ sáu tháng sắp lên thì được xin vào Tịnh Thất mà nhập định.
Ðiều Thứ Hai:
• Phải có một người đạo đức hơn mình tiến dẫn và một người đạo hữu bảo hộ.
 

Trung ngôn

Active member

Kính HTDM,
Từ điều thứ 3 trở đi, chương Tịnh thất có 6 điều quy định về Nội quy hay nói cách khác là giới luật về việc được và hoặc không được làm khi "nhập định" trong Tịnh thất:
Ðiều Thứ Ba:
· Cấm không đặng thơ tín vãng lai với người ngoài, trừ ra thân nhân, song phải có người "Tịnh Chủ" xem trước.
Ðiều Thứ Tư:
· Cấm người ngoài không được vào nhà Tịnh, chẳng luận là viên quan chức sắc cùng thân tộc tín đồ.
Ðiều Thứ Năm:
· Cấm không được chuyện vãn với người ngoài, trừ ra cha mẹ và con cháu đến thăm song cũng phải có phép người "Tịnh Chủ" cho.
Ðiều Thứ Sáu:
· Nhập Tịnh Thất rồi phải tuyệt trầu thuốc và không được ăn vật chi ngoài mấy bữa cơm.
Ðiều Thứ Bảy:
· Phải giữ cho chơn thần an tịnh, đừng xao xuyến lương tâm. Phải thuận hòa không được tiếng lớn, phải siêng năng giúp ích cho nhau và dìu dắt nhau trong đường đạo.
Ðiều Thứ Tám:
· Phải tuân mạng lịnh của một "Tịnh Chủ" phải y theo giờ khắc sẽ định mà hành công tu luyện.
 

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Theo Pháp chánh truyền và Tân luật quy định thì Tịnh thất sẽ được xây dựng khắp nơi, nhân sự quản lý và điều hành hoạt động của Tịnh thất do Hiệp thiên đài quản lý.
Không biết Hội thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ngày trước có kịp xây dựng Tịnh Thất như Thầy đã định và nhân sanh xin không nhỉ?
Ngày nay, Hội thánh nơi Tổ đình trú đóng có xây dựng Tịnh thất như ý định của Đức Hộ pháp mong muốn không nhỉ ?? (thể hiện qua phần chú giải của Đức Hộ pháp tại Pháp chánh truyền chú giải và Tân luật).
Nếu có thì xin cho Trung ngôn biết để mừng.
Hy vọng nơi này sẽ xây dựng cho kịp cơ Tận độ của Thầy - do gần 100 năm rồi mà hệ thống tổ chức Giáo hội vẫn chưa hoàn chỉnh.
Kính.
 

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Chữ TỊNH trong Thánh ngôn thời kỳ Tam Kỳ Phổ Độ xuất hiện rất nhiều, trong những bài biết sau, TN xin được lược trích các chữ Tịnh dùng cho con người, phần chữ tịnh sử dụng cho cơ sở vật chất sẽ được trích sau.
Nguồn là Thánh ngôn hiệp tuyển – phần này dành cho tất cả mọi người trong đó có một nhóm ít người đang còn trong suy nghĩ cho rằng phần còn lại của thế giới là “bàng môn tả đạo” (mặc dù không đưa ra được khái niệm bàng môn tả đạo là gì mới hay); nguồn thánh ngôn còn lại mà Thượng đế cùng các đấng thiêng liêng dạy dỗ nhân sanh khắp nơi trên địa cầu này.
Kính.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ngày 3-1-1926 (âl 19-11-Ất Sửu). Bài 2
Thủ cơ - Chấp bút
Thủ cơ hay là Chấp bút phải để cho thần, tâm tịnh mới xuất Chơn thần ra khỏi phách đặng hầu Thầy nghe dạy.
Khi chấp thủ thì tay tuân theo Chơn thần nói lại mà viết ra, mường tượng như con đặt để, con hiểu đặng vậy.
Chơn thần là gì ?
Là nhị xác thân (périsprit), là xác thân thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu.
Cái Chơn thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.
Như chấp cơ mà mê thì Chơn thần ra trọn vẹn khỏi xác. Thầy mới dạy nó viết chữ chi đó, nó đồ theo, Thầy nói tên chữ, xác nó cầm cơ viết ra, người đọc trật chữ, nó nghe đặng, không chịu, Thầy buộc viết lại và rầy kẻ đọc trật ấy.
Còn chấp bút, khi Thầy đến thì làm cho thần con bất định một lát, cho thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết. Ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn khôn, tinh thông vạn vật đặng.
Trước khi thủ cơ hay là chấp bút, thì phải thay y phục cho sạch sẽ, trang hoàng, tắm gội cho tinh khiết, rồi mới đặng đến trước bửu điện mà hành sự, chớ nên thiếu sót mà thất lễ. Nếu chấp cơ thì phải để ý thanh bạch, không đặng tưởng đến việc phàm. Tay chấp cơ cũng phải xông hương khử trược, tịnh tâm một lát, rồi phải để tinh thần tinh tấn mà xuất ngoại xác, đến hầu dạy việc.
Phải có một Chơn linh tinh tấn mới mầu nhiệm, huyền diệu, phải trường trai mới đặng linh hồn tinh tấn, phải tập tành chí Thánh, Tiên, Phật, mới phò cơ dạy đạo cả chúng sanh. Kẻ phò cơ, chấp bút cũng như tướng soái của Thầy để truyền đạo cho thiên hạ.
Các con đừng tưởng việc bút cơ là việc tầm thường. Còn việc truyền thần lấy điển quang thì ai ai cũng có điển trong mình, nó tiếp điển ngoài rồi thần của nó viết ra, có khi trúng, có khi trật.
Vậy khi nào chấp cơ thì phải đợi lịnh Thầy rồi sẽ thi hành.
 

Trung ngôn

Active member
Bài 09 / Q.1

22 et 23-4-1926
11 và 12-3-Bính Dần
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ VIẾT CAO ÐÀI
GIÁO ÐẠO NAM PHƯƠNG

Ba con nghe dạy cuộc sắp Thiên Phong.
Các con vui không?
Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Thầy nôn nóng nhưng mà Thiên Cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở, vậy thì ba con (Trung, Cư, Tắc) cứ sắp đặt thế nầy:
Trung nghe: Con dời bài vị của Lý Bạch để dưới tượng Thầy, con dọn dẹp trong hết, để một cái ghế kế một bên trang thờ, rồi để lên trên một cái ghế lớn, đặng làm ngôi Giáo Tông; ba cái nữa để sắp hàng theo ở dưới đặng làm ngôi cho ba vị Ðầu Sư. Con phải bao bốn cái ghế ấy cho tinh khiết. Con đem Thiên Phục Giáo Tông mà để nơi ghế ở trên. Còn bộ Thượng Thanh thì để giữa, bộ Ngọc Thanh bên hữu, còn ghế bên tả, con phải viết một miếng giấy để chữ "THÁI" cho lớn mà dán lên chỗ dựa.
Ngay chỗ bàn ngự của Thầy, phải để một cái ghế trước ngôi ba vị Ðầu Sư, vọng một bài vị, biểu Lịch viết như vầy:
"CỬU THIÊN CẢM ỨNG LÔI THINH PHỔ HÓA THIÊN TÔN", lại vẽ thêm một lá bùa "KIM QUANG TIÊN", để thòng ngay giữa, ai ai ngó vào cũng đều thấy đặng.
Bàn Thầy giáng cơ thì để trước bàn vọng Ngũ Lôi, khi giáng cơ rồi, thì dời đi cho trống chỗ, đặng nhị Ðầu Sư quì mà thề.
Con lại để thêm một cái bàn giữa bên cửa sổ, đằng trước ngó vô.
Cư, nghe dặn: Con biểu Tắc tắm rửa sạch sẽ (xông hương cho nó) biểu nó lựa một bộ quần áo tây cho sạch sẽ, ăn mặc như thường, đội nón...
Cười ...
Ðáng lẽ nó phải sắm khôi, giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu.
Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt ngay vô ngôi Giáo Tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt nó lại.
Lịch, con viết một lá phù (Giáng Ma Xử) đưa cho nó cầm.
Các con, phải cho thanh tịnh kể từ ngày nay, diệt tận phàm tâm chớ nhơ một điểm, thì ngày ấy thề mới đặng.
Cư, khi đem ba bộ Thiên Phục đến vọng trên ba cái ngai thì con phải chấp bút bằng nhang như mọi lần, đặng Thầy trấn Thần trong ba bộ Thiên Phục, và ba ngai ấy, rồi mới kêu hai vị Ðầu Sư đến quì trước Bửu Ngai của nó, đặng Thầy vẽ phù vào mình. Khi hai vị Ðầu Sư vái rồi, phải đến trước Bửu Ðiện Thầy mà làm lễ (mười hai lạy), và trước ngôi Giáo Tông (chín lạy), rồi biểu Giảng xướng lên: "Phục vị", thì hai người leo lên ngồi.
Cả thảy môn đệ phân làm ba ban, đều quì xuống, biểu Tắc leo lên bàn, con chấp bút bằng nhang, đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy triệu nó đến, rồi mới tới trước mặt Tắc, đặng Thầy trục xuất Chơn Thần nó ra, nhớ biểu Hậu, Ðức xông hương tay của chúng nó, như em có giựt mình té thì đỡ.
Rồi biểu hai vị Ðầu Sư xuống ngai, quì đến trước mặt Ngũ Lôi, hai tay chấp trên đầu, quì ngay bùa Kim Quang Tiên mà thề như vầy:
" Tôi là Lê Văn Trung tự Thiên Ân là Thượng Trung Nhựt và Lê Văn Lịch tự Thiên Ân là Ngọc Lịch Nguyệt, thề Hoàng Thiên, Hậu Thổ, trước Bửu Pháp Ngũ Lôi rằng làm trọn Thiên Ðạo mà dìu dắt cả mấy em chúng tôi đều là môn đệ của Cao Ðài Ngọc Ðế; nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định chẳng dám chuyên quyền mà lập thành tả đạo; như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt."
Ðến bàn Vi Hộ Pháp cũng quì xuống, vái y vậy, điều câu sau thì như vầy:
"Như ngày sau phạm Thiên Ðiều thề có Hộ Pháp đọa Tam Ðồ bất năng thoát tục."
Rồi mới biểu Giảng xướng lại nữa "Phục vị", thì nhị Ðầu Sư trở lại ngồi trên ngai. Chư môn đệ đều đến lạy mỗi người hai lạy.
Tới phiên các môn đệ, từ người đến bàn Ngũ Lôi mà thề rằng:
" Tên gì?... Họ gì?... Thề rằng: Từ đây biết một Ðạo Cao Ðài Ngọc Ðế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Ðài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Ðịa lục."
Tới trước bàn Hộ Pháp cũng thề như vậy, rồi mới đến lạy nhị Ðầu Sư.
 

thanhphong12011

New member
Hiện nay Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh có 3 tịnh thất tại vùng Thánh Địa Tây Ninh.

- Trí Huệ Cung, trong Thiên Hỷ Động, lập tại ấp Trường Xuân, xã Trường Hòa, Châu Thành Thánh Địa Tây Ninh, cách TTTN khoảng 7 cây số về hướng Đông Nam.

- Trí Giác Cung, trong Địa Linh Động, lập tại ấp Trường Thiện, xã Trường Hòa, Châu Thành Thánh Địa Tây Ninh, cách TTTN khoảng 3 cây số về hướng Đông Nam.

- Vạn Pháp Cung, trong Nhơn Hòa Động, lập tại chơn núi ở phía nam núi Bà Đen, nhưng vì chiến tranh xảy ra trước đây nên phải dời cơ sở về tạm đặt tại xã Ninh Thạnh, hướng Bắc Tòa Thánh Tây Ninh. Hiện nay đã tái lập trở lại cơ sở dưới chân núi bà Đen

Vạn Pháp Cung dùng làm Tịnh Thất riêng cho nam phái.
Trí Huệ Cung dùng làm Tịnh Thất riêng cho nữ phái.
Trí Giác Cung dùng làm Tịnh Thất cho cả nam và nữ.
 

Trung ngôn

Active member
Hiện nay Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh có 3 tịnh thất tại vùng Thánh Địa Tây Ninh.<br /><br />- Trí Huệ Cung, trong Thiên Hỷ Động, lập tại ấp Trường Xuân, xã Trường Hòa, Châu Thành Thánh Địa Tây Ninh, cách TTTN khoảng 7 cây số về hướng Đông Nam.<br /><br />- Trí Giác Cung, trong Địa Linh Động, lập tại ấp Trường Thiện, xã Trường Hòa, Châu Thành Thánh Địa Tây Ninh, cách TTTN khoảng 3 cây số về hướng Đông Nam.<br /><br />- Vạn Pháp Cung, trong Nhơn Hòa Động, lập tại chơn núi ở phía nam núi Bà Đen, nhưng vì chiến tranh xảy ra trước đây nên phải dời cơ sở về tạm đặt tại xã Ninh Thạnh, hướng Bắc Tòa Thánh Tây Ninh. Hiện nay đã tái lập trở lại cơ sở dưới chân núi bà Đen<br /><br />Vạn Pháp Cung dùng làm Tịnh Thất riêng cho nam phái.<br />Trí Huệ Cung dùng làm Tịnh Thất riêng cho nữ phái.<br />Trí Giác Cung dùng làm Tịnh Thất cho cả nam và nữ.
Kính HTDM,
Cám ơn Huynh thanhphong12011 khi cho biết về các Tịnh thất có tên ở trên.
Huynh có thể cho biết thêm về các Tịnh thất nêu trên:
1. Các tịnh thất trên được Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh (Hội thánh hiện tại) thành lập ?
Sẽ có các câu hỏi tiếp sau khi có câu trả lời của câu hỏi số 1.
Kính,
 

thanhphong12011

New member
Hội Thánh xưa nay chỉ có một chứ chẳng có Hội Thánh xưa, Hội Thánh hiện tại. Có chăng là các vị Chức sắc tiếp nối nhau mà lãnh đạo Hội Thánh.

Tam Cung này do Đức Hộ Pháp tạo lập nên trong lúc Đức Ngài nắm quyền Chưởng quản Nhị hữu hình đài (lãnh đạo Hội Thánh).
 

Trung ngôn

Active member
thanhphong12011 nói:
Hội Thánh xưa nay chỉ có một chứ chẳng có Hội Thánh xưa, Hội Thánh hiện tại. Có chăng là các vị Chức sắc tiếp nối nhau mà lãnh đạo Hội Thánh.

Tam Cung này do Đức Hộ Pháp tạo lập nên trong lúc Đức Ngài nắm quyền Chưởng quản Nhị hữu hình đài (lãnh đạo Hội Thánh).
Cám ơn Hiền hữu đã trả lời ngắn gọn, dứt khoát. TN rất thích trao đổi với Huynh vì tố chất này.
Ba tịnh thất này (theo cách nói của thanhphong12011 là “Tam cung”) do Đức Hộ pháp thành lập, xin hỏi thêm một phần nhỏ trước khi sang câu hỏi thứ 2: Ba tịnh thất này có bảng hiệu tịnh thất như quy định tại Thánh ngôn, Pháp chánh truyền và Tân luật không?
Nếu được xin cho xem qua hình ảnh để biết.
Câu hỏi thứ 2: Tịnh thất do Đức Hộ pháp lập có được Hội thánh lúc bấy giờ ra quyết định thành lập hay không – tức là Thượng hội lập và giao cho Thượng phẩm quản lý? Xin cho xem văn bản này.
Nếu được TN đề nghị trả lời ngắn gọn để dành phần trả lời các câu hỏi khác. Ví dụ có thì trả lời có, ngược lại trả lời: không có.
Xin đừng trả lời các câu thừa khi câu hỏi không đề cập.
Chuẩn bị cho câu hỏi thứ 3 hoặc 3.1, 3.2, v.v. về nhân sự quản lý.
Sẽ trở lại câu hỏi thứ 1 khi hỏi về sự tồn tại hay không Hội thánh xưa – cách đây khoảng 88 năm – về mặt hữu hình. Căn cứ xem xem quyền lực của Hội thánh này qua con dấu sử dụng (chưa cần xem xét người ký và đóng dấu trên chữ ký).
 

Facebook Comment

Top