II : Số Chi phái phân chia
Cơ Đạo đang thuận chiều phát triển nhanh chóng thì khoảng 1929- 1930 bắt đầu có sự rạn nứt. Không rõ nguyên nhân sâu xa, chỉ biết việc chia rẽ rõ rệt từ khi Ngài Đầu sư Thượng Trung Nhựt được ban chức Quyền Giáo Tông, nắm quyền Giáo Tông về phần hữu hình ( theo Đạo Nghị định 2, ban hành ngày 3.10 Canh Ngọ (1930) do Đức Lý Giáo Tông và Phạm Hộ Pháp ký).
Vì các chức sắc Đại Thiên Phong lãnh chức vụ mà không chịu về Tòa Thánh Tây Ninh hành Đạo, sau khi đã nhắc nhở nhiều lần, Đức Quyền Giáo Tông mở Tòa Tam Giáo để xử phạt, buộc các vị này phải về Tây ninh, nếu không sẽ bị ngưng quyền chức. Trong năm này, Giáo sư Thượng Kỳ Thanh ( Vương Quang Kỳ ), Đoàn Văn Bản, Phối Sư Thái Ca Thanh ( Nguyễn Văn Ca ) không tuân lệnh mà tách rời khỏi Toà Thánh Tây Ninh.
Về việc này, Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh ( Lê Bá Trang ) có ra Châu tri số 31 ngày 22-9-Tân Mùi (01-11-1931) như sau :
"Ngày nay, mối Đạo sắp phân chia vì có một phần chức sắc và tín đồ tự quyền lập Đạo riêng ra nhiều chỗ. Toà Thánh có khuyên lơn, Toà Tam giáo có phán đoán rồi, mà cũng không ai tuân mạng lệnh. Lại cách thi thố, cách hạnh Đạo của các chức sắc ấy, nhiều khi không tuân phép nước. Nên xin chư hiền hữu xem xét lại cho kỹ càng rồi biên tên họ những chức sắc nào không tùng mạng lịnh Toà Thánh, gởi về trước cho tôi trong kỳ hạn 10 ngày đặng cho Chính phủ biết rằng các đạo hữu ấy hết thuộc về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và tự hậu, Đạo không còn can dự chi tới việc hành động của mấy vị ấy nữa".
Sau đó, Chánh Phối sư Thượng Tương Thanh (tức Nguyễn Ngọc Tương) gởi một tâm thư cho ông Nguyễn Văn Ca, đề ngày 01-11-1932, với lời lẽ thống thiết, kêu gọi ông Ca mau trở về Toà Thánh Tây Ninh.
" Tôi có tiếp được xấp Thánh ngôn Hậu Giang của anh gởi và một cái thơ mời hội nơi Thánh Thất Mỹ Tho ngày 15-10 tới đây. Tôi có đọc kỹ và cũng có đọc lại các Thánh ngôn anh gởi mấy kỳ trước. Tôi thấy rõ một cuộc khảo, do nơi Tam Trấn để cho tà thần mượn tên cám dỗ. Trong ba cái bịnh lớn nhất của con người là THAM, SÂN, SI. Nếu bậc cầm đuốc dẫn đường mà không trừ hết, còn một hai cũng phải vướng.
" Anh đọc kỹ các Thánh ngôn của cơ bút Hậu Giang từ khi ban sơ tới bấy giờ, tôi chắc anh cũng thấy rõ cái hư thiệt ở trong, như tôi vậy. Có một ít của Thánh Thần còn bao nhiêu đều là mưu chước của tà thần cám dỗ.
"Nếu phăng lại gốc, thì tôi rõ biết, khi ban sơ lúc anh thay mặt cho tôi nơi Toà Thánh. Anh có bất bình về hành động, cử chỉ của mấy vị Đại Thiên phong nơi đây đối đãi với anh. Vì sự bất bình ấy mà anh dùng cơ bút Rạch Giá để cầu hỏi. "Bài chánh -tà yếu lý” ra đời, rất hạp với cái tư tưởng của anh lúc đó, mà làm cho anh vui lòng để trọn đức tin vào rồi nó dắt anh đi lần lần từ mấy thứ An thiên đại hội qua đến sự lập Toà Thánh nơi Tam Bình, Kiên Giang, Thất Sơn, đã nhiều phen tiên tri này nọ điều trôi hết nay lại đem anh trở về lập Toà Thánh trung ương Mỹ Tho là chỗ ở của anh, Tôi xét kỳ thiệt là công cuộc của cơ cám dỗ Hậu Giang do sự bất bình kia mà gây ra đó.
"Thầy đã dạy đạo khai tà khởi. Nó cũng dám lấy tên Thầy mà cám dỗ, lựa là tên Tiên, Phật. Nên Thầy đã căn dặn ngoài Thập Nhị Thời Quân của Thầy đã chọn đừng vội tin Thầy có giáng nơi nầy nơi nọ mà phải lầm mưu tà quái cám dỗ.
Vậy nên anh rất thong thả mà nghe hay không nghe, tin hay không tin tự nơi anh không có một mảy chi bó buộc anh hết, đặng ngày sau anh không sang sớt một mảy đặng cho ai hết. Thiên phong chức sắc nào ở Tây Ninh thiệt có tội thì bị phạt không khi nào chạy khỏi. Anh đã thấy tỏ rõ sự anh làm trong một năm rưởi nay đối với đạo đức thế nào, xa đạo đức bao nhiêu dặm. Tôi bảo kiết rằng: mấy anh em trên Toà Thánh Tây ninh đều sẽ vui lòng mà đưa tay tiếp rước mấy anh em Hậu Giang cùng nhau tới hiệp trùng phùng để những điều rắc rối đã xảy ra cho cơ khảo của tà thần sắp đặt. Sự hoà hiệp đó là một lễ hiến trang trọng hơn hết cho Thầy. Xin anh và mấy anh em theo anh mau mau về hiệp mà dâng lên Đại Từ Phụ, chung nhau trau dồi nền Đại Đạo, lại cho tỏ rạng mà phổ thông đến ngoại bang".
(Ban Đạo Sử : Tài liệu lưu trữ)
Trớ trêu thay, sau đó ( 11.6.1933), ông Nguyễn Ngọc Tương và ông Lê Bá Trang muốn triệu tập Thượng Hội chống lại việc ban chức vụ Quyền Giáo Tông cho Ngài Thượng Trung Nhựt ( Lê Văn Trung ) nhưng người cầm luật là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc không đồng ý. Hai vị này mới đưa đơn nơi Tòa bố Tây Ninh thưa Ngài Thượng Trung Nhựt ( Lê văn Trung ) về các tội biển thủ tiền bạc…Hai vị này lại tách rời Toà Thánh Tây Ninh lập Ban Chỉnh đạo, tiền thân của chi phái Bến Tre. Hội Thánh Tây Ninh ra Đạo Nghị định số 17 ngày 28-7-1933 không nhìn hai ông nầy nữa vì Ban này canh cải bầu chức sắc Hiệp Thiên Đài và lập ra Tân pháp. Châu tri số 6 ngày 12-6-Ất Hợi (12.7.1935) ghi:
“Bần Đạo chưa hề đặng lịnh cơ bút của Đại Từ Phụ hay là của Đức Lý định nhượng phẩm ấy cho người nào cả. Sự hành động mê hoặc tín đồ của đạo hữu Thượng Tương Thanh đều là giả dối, huống chi sự hám vọng của người đã nảy sanh ra từ khi Đức Quyền Giáo Tông còn tại thế, chỉ cố xô ngã Thượng Trung Nhựt đặng tìm phương tiếm vị. Bần đạo chỉnh nguyện cho Thượng Tương Thanh lấy thủ đoạn thâu phục nhơn tâm sao cho đặng toàn hết thiên hạ, rồi Bần đạo sẽ đem áo mão Giáo Tông ra quì trước cửa Tòa Thánh đặng dâng cho người, rồi nhìn nhận người, nâng đỡ người lên ngôi báu đặng làm chúa cả toàn sanh chúng…”
Rồi từ đó, sự phân chia ngày càng nhiều. Đến năm 1940, có những chi phái như dưới đây mà Toà Thánh Tây Ninh là nguồn cội và tổ đình của nền Đại Đạo.
A. Những Chi phái buổi đầu :
1. Chiếu Minh Vô Vi (1926 )
2. Cầu Kho (1930)
3. Minh Chơn Lý (1931)
4. Tiên Thiên (1932)
5. Ban Chỉnh Ðạo Bến Tre (1934)
6. Minh Chơn Ðạo (1935)
1. CHIẾU MINH ( 1926 )
Ngài Ngô Minh Chiêu là đệ tử đầu tiên của Đức Chí Tôn, được chính Đức Chí Tôn dìu dắt và dạy dổ để sau này lãnh trách nhiệm làm Giáo Tông, phẩm tối cao của nền Đạo. Áo mão đã chuẩn bị sẵn sàng, Đức Chí Tôn dự định phong Ngài Chiêu vào phẩm Giáo Tông thì Quỉ Vương yêu cầu được thử thách đức tin Ngài Chiêu cho đúng lẽ công bằng. Theo nhật ký Sử Đạo của Ngài Đầu sư Thái Thơ Thanh ( Nguyễn Ngọc Thơ ), sau 5 ngày thử thách, Ngài Chiêu không vượt qua được. Nội dung cuộc thử thách không được tiết lộ. Các vị Trung, Cư, Tắc đều cầu xin Đức Chí Tôn nhưng không được chấp thuận.
Ngày 25-4-1926, Ngài Chiêu lặng lẽ về Cần Thơ ẩn tu với một nhóm đệ tử. Sau khi Ngài đăng Tiên, nhóm này thành dòng tu gọi là Chiếu Minh vô vi vì chủ trương tu đơn, việc học Pháp rất khổ hạnh nên ít người theo theo nỗi.
Ngày 18.4.1932, Ngài Ngô Minh Chiêu qui Thiên hưởng thọ 54 tuổi. Phẩm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đòi hỏi những điều kiện phi thường cho một tương lai phi thường của sanh chúng và địa cầu này. Do đó việc thử thách nằm ngoài tầm hiểu biết của con người. Nếu Ngài làm Giáo Tông Đạo Cao Đài, phiền não sẽ đến với Ngài nhiều hơn, bởi Ngài phải gánh vác thêm một khối nghiệp lực của chúng sanh trên vai. Nhưng, nếu Ngài hoàn thành được sứ mạng cao cả ấy, y như lời phú thác của Đức Chí Tôn thì công đức của Ngài sẽ vinh diệu hơn và Thượng Đế tính nơi Ngài sẽ tỏ rạng hơn.
Chú thích:
1. Cao Đài Chiếu Minh không chú trọng việc phổ thông giáo lý, mà tập trung vào việc tu luyện với những qui định rất chặt chẽ như trường trai, tuyệt dục, tịnh luyện 4 thời mỗi ngày… Đến 1953-1954, một số theo Cao Đài Cứu quốc lập Cao Đài Chiếu Minh Long Châu vừa tu tịnh, vừa tham gia kháng chiến cứu nước. Nhóm này được cấp pháp nhân ngày 27.7.1996 ( có độ 5.000 tín đồ, 88 chức sắc). Ngoài ra, có một nhánh nữa tên là Cao Đài Thượng Đế Giáo Hội hay Chiếu Minh Đàn.
2.Năm 1934, ông Nguyễn Háo Vĩnh thọ pháp theo Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh và sau đó lập Trước Tiết Tàng Thơ (tại Thủ Thiêm). Chính tại đây, vào năm 1936, bộ kinh Đại Thừa Chơn Giáo được nối tiếp để ra đời.
( Trích Nguyễn Háo Vĩnh- chiến sĩ phong trào Đông Du của Phan Lương Minh )
2. CẦU KHO ( 1930)
Phái Cầu Kho do Ngài Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh ( Vương Quan Kỳ ) đứng đầu, qui tụ các ông Ðoàn Văn Bản, ông Nguyễn Văn Tường, Trần Quang Mính, Nguyễn Văn Khai,...
Ngài Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh ( Vương Quan Kỳ ) là Ðốc phủ, được Ngài Ngô Minh Chiêu độ, sau được Ðức Chí Tôn phong phẩm Thượng Giáo Sư .
Nguyên năm 1930, số Chức sắc tại Thánh Thất Cầu Kho do ông Kỳ cầm đầu, không tuân lịnh Hội Thánh thi hành quyển "Nghi Tiết Ðại Ðàn Tiểu Ðàn" do Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu biên soạn. Quyển này đã được Hội Thánh xem xét đồng ý và Ðức Quyền Giáo Tông ban hành kể từ ngày 12-7-1930 để áp dụng thống nhứt trong toàn đạo. Quí Chức sắc ở Cầu Kho không chịu áp dụng các nghi tiết mới ban hành, đòi để nhóm người trí thức, thông minh xét lại nên quí Ngài tự tách ra lập thành Chi phái, lấy Thánh Thất Cầu Kho làm trụ sở.
Trước đó, năm 1925, Ngài Đoàn Văn Bản đã thờ Đức Cao Đài theo sự hướng dẫn của Ngài Ngô Minh Chiêu. Do vị trí ở tại Sài Gòn nên đây là nơi giao tiếp của quý vị trí thức trong và ngoài Đạo.
"Nguyên ban đầu, mấy ông Trung, Kỳ, Cư Tắc, Sang, Hậu, Đức, Bản, Giảng mỗi đêm đều tựu lại khi ở nhà ông Trung (rue Testard Cho Lon), khi ở nhà ông Cư (rue Bourdais Saigon), khi ở nhà ông Bản (Cầu Kho) để cầu Thượng Đế giáng cơ dạy Đạo. Mà hễ mỗi lần có chư nhu đến xin nhập môn, Thượng Đế lại dạy phải đến Đại đàn Cầu Kho. Vì vậy mà nhà ông Bản thành ra một cái đàn lệ, rồi gọi là tiểu Thánh thất. Nhóm này gồm quý vị: Vương Quan Kỳ, Lê Văn Giảng, Huỳnh Văn Mới, Đoàn Văn Bản, Nguyễn Văn Phùng, Lương Văn Bồi, Nguyễn Phan Long, Huỳnh Trung Tuất, Hồ Vinh Quy, Lê kim Tỵ… .
Năm 1936, ông Đoàn Văn Bản hưu trí, về quê ở Tân Uyên (Sông Bé), giao Thánh thất lại. Sau này, ông Phan Thanh xây dựng lại thành Thánh Thất Nam Thành, nay ở đường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh. Nơi đây trở thành một Thánh Thất độc lập nên thường được các nhóm mượn làm trụ sở.
3. MINH CHƠN LÝ ( 1930 )
“ Cuối năm 1930, theo Đạo Nghị định thứ ba của của Đức Lý Giáo Tông, qui định các Chức sắc từ phẩm Phối Sư trở lên phải ở hẳn tại Tòa Thánh để hành Đạo. Phối sư Thái Ca Thanh ( Nguyễn văn Ca) lâu nay vẫn ở nhà tại Cầu Vỹ, Mỹ Tho, đi lên Tây Ninh khi có đạo sự cần thiết. Vì thế, ông Ca yêu cầu Ngài Thượng Trung Nhựt cho phép ông trở về gia đình trong 15 ngày để thu xếp việc nhà một lần cho tất cả, để rồi có thể tiếp tục trở lại Tòa Thánh và ở hoàn toàn cố định nơi đó. Ông Ca ở lại Cầu Kho trong vài tuần, nơi đó ông bị thay đổi hoàn toàn. Không nghi ngờ gì nữa, ông Ca được cố vấn sái quấy bởi những người bất phục tùng tại Cầu Kho, nhứt là bởi Cựu Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang, ông nầy tổ chức chống lại Ngài Thượng Trung Nhựt. Phần khác, ông Ca có nhiều sự buồn phiền trong gia đình (vợ và các con của ông không chịu theo Đạo Cao Đài, làm cho ông rất khổ sở), ông Ca sau đó không trở về Tòa Thánh nữa.”
( Trích từ chương “Nối tiếp niềm đau”, quyển Lịch sử Đạo Cao Đài của Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gobron )
Ngài Ðốc phủ Nguyễn Văn Ca nhập môn vào Ðạo Cao Ðài năm 1926, được Ðức Chí Tôn phong phẩm Phối Sư Thái Ca Thanh. Ông Ca đóng góp nhiều công sức trong việc xây dựng tờ báo La Revue Caodaïste, bằng Pháp văn để truyền bá Ðạo Cao Ðài cho người ngoại quốc. Sau ông Ca theo Cơ bút của ông Trương Kế An (hiệu là Tuyết Vân Mặc Khách) nên ông Ca ở luôn tại Cầu Vỹ, Mỹ Tho, không về Tòa Thánh Tây Ninh, và không tuân mạng lịnh của Hội Thánh nữa, lập Cao Đài Minh Chơn Lý vào năm 1931. Một số Chức sắc hiệp tác với ông buổi đầu như: Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang, ông Cao Triều Phát, ông Nguyễn Ngọc Thiệu, ông Lê kim Tỵ. Cơ bút do ông Trương Kế An cầu, phong ông Ca làm Ðầu Sư Thái Ca Nhựt. Cũng trong năm nầy, cơ bút lại dẫn ông đi xa hơn nữa, qua các kỳ An Thiên Ðại Hội, gọi ông là Ðức Cửu Trùng Ðài. Từ đây, chưởng quản Hiệp Thiên Đài là Thiên Sư Nguyễn Văn Phùng cầu cơ sửa đổi hết cách thờ phượng và nghi lễ, thay Thiên Nhãn bằng Trái Tim và Thập ngũ Linh Ðăng, rồi giải thích Thánh Ngôn một cách lệch lạc, khiến cho không còn gì là chơn truyền của Ðạo Cao Ðài nữa. Phái Minh Chơn Lý ra kinh sách như kinh Tu chơn thiệp quyết, Chánh giáo thánh truyền, Chánh tà yếu lý, Giác mê khải ngộ. Các bài kinh nhật tụng bằng quốc ngữ: kinh xưng tụng Thầy, Mẹ, Tam giáo. Ông Ca lập cơ bút riêng, cơ bút này phong ông lên Đầu Sư. Cơ bút do các đồng tử Chơn tâm, Tường Khánh, Hòai Viên, Hạnh Ngọc chấp cơ lập Kinh cúng và canh cải nhiều điều.
Năm 1931, tại Mỹ Tho, đàn cơ phong Thánh rầm rộ, phong cho ông Ca làm Thái Đầu sư, phong Thánh cho tất cả quí vị đạo tâm, trí thức. Đây là chi phái đầu tiên tách khỏi Tòa thánh Tây Ninh nhưng sự canh cải ngày càng xa Pháp Chánh Truyền. Nguyễn văn Phùng nắm Hiệp Thiên Đài của chi phái này là một phù thủy, biết nhâm độn, có nhiều tham vọng nên các bậc trí thức bỏ đi.. Không còn thờ Thiên Nhãn mà thờ hình Trái tim và Thập ngũ Linh Đăng, nghi thức lễ bái, lễ phục đều khác hẳn nên có thể nói không còn gì là giống Đạo Cao Đài nữa. Ông Ca mất năm 1956. Sau 1975, Chi phái Minh Chơn Lý được cấp Pháp nhân ngày 14/3/2000 ( có độ 6.500 tín đồ, 1780 chức sắc ) .
4. TIÊN THIÊN ( 1932 )
Phái nầy do ông Nguyễn Văn Chính lập ra ở Sóc Sãi, Bến Tre. Nguyên ông Chính thọ phong Giáo Hữu Ngọc Chính Thanh tại Tòa Thánh Tây Ninh, nhưng ông không hành đạo, mà lo vẽ bùa chú và lập cơ bút riêng. Ông bị Hội Thánh cảnh cáo nhiều lần, và cuối cùng thì ông bị trục xuất vào năm 1930. Chi phái Tiên Thiên cũng có hai đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng nhưng lãnh đạo lại do Thất Thánh, có Thất Hiền phụ tá.
Thất Thánh gồm 7 ông: Phan Văn Tòng, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Thế Hiển, Lê Kim Tỵ, Trần Lợi, Nguyễn Bửu Tài, Trần Lợi, Nguyễn Tấn Hoài.
Thất Hiền gồm 7 ông: Lê Thành Thân, Nguyễn Phú Thứ, Lâm Quang Tỷ, Ðoàn Văn Chiêu, Phan Lương Hiền, Trương Như Mầu, Phan Bá Phước. Dự khuyết: Phan Thanh.
Ông Trần Văn Quế thì hiệp với đồng tử Liên Hoa (Ðàm Thi) lập nhiều Thánh Tịnh khác như: Trước Lý Minh Ðài ở Gia Ðịnh, Ngọc Minh Ðài ở Gò Vấp, Ngọc Tuyển Thánh Tịnh ở Long Thành, Biên Hòa. Phái này in nhiều kinh sách như Tiếng trống giác mê, Minh giáo thánh truyền, Thi văn diệu lý, Ngọc minh kinh, Diệu minh kinh, Bát bộ chơn kinh, Thánh đức chơn kinh.
Với sự giúp đỡ của ông Lê Văn Lịch, phái này thu hút các nhóm cơ bút của Minh sư, có 12 cặp đồng tử chính thức và những cặp phò loan phụ tá. Cơ bút phái Tiên Thiên phong cho ông Chính làm Ngọc Chưởng Pháp, ông Lê Kim Tỵ làm Thượng Chưởng Pháp, Phan Văn Tòng làm Thái Chưởng Pháp và Nguyễn Bửu Tài làm Thượng Đầu Sư, Nguyễn Tấn Hoài làm Ngọc Đầu sư…
Lúc ban đầu, trụ sở đặt tại Thánh tịnh Thiên Thai, Cái Bè, Mỹ Tho; sau lập Tòa Thánh Trung ương tại Châu Minh, Sóc sãi, Bến Tre nên còn gọi là Tòa Thánh Châu Minh. Phái Tiên Thiên giới hạn 72 Thánh Tịnh (không gọi Thánh Thất).
Đến 1939, ông Phan văn Tòng làm Giáo Tông. Từ 1945 đến 1954, Chi phái Tiên thiên tham gia kháng chiến trong Mặt trận Việt Minh và sau đó (1957- 1963) bầu ông Nguyễn Bửu Tài làm Giáo Tông thứ hai, ông Nguyễn văn Nguyên giữ chức Hộ Pháp. Phái này chỉ phục sức toàn trắng, dây sắc lệnh thường có 4 chữ Nho” Phụng thừa Thiên Mạng”. Có rất nhiều phẩm Đạo mới như sau Thất Thánh, Thất Hiền còn có Tam Hùng, Ngũ Hổ, Lục Long, Thất Mãnh… không hiểu ý nghĩa gì? Tất cả chức sắc đều luyện Châu, luyện Điển, luyện Pháp, luyện phù… Chi phái này tự nhận dưới cờ “Cao Đài cứu thế”, thiên về quốc sự.
Sau 1975, chi phái Tiên Thiên là chi phái đầu tiên được Nhà Nước công nhận tư cách pháp nhân, ngày 29/7/1995 ( có độ 80. 000 tín đồ, 147 thánh tịnh).
Chú thích:
1. Ngài Lê Văn Lịch sinh ngày 1.9. Canh Dần ( 14.10.1890) tại Long An, Cần Giuộc. Ngài tu theo Minh Đường. Đến ngày 26.4.1926, Đức Chí tôn phong cho Ngài làm Đầu sư, Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt. Từ tháng 1/1944 đến tháng 8/1945, Ngài bị Pháp lưu đày tại Côn Đảo. Sau đó, Ngài trở về quê nhà, lập các thánh sở tại Gò Công. Ngài mất mùng 2 tháng 9 Đinh Hợi ( dl 3.10.1947), di hài được an táng tại Vĩnh Nguyên Tự.
2.Ông Lê Kim Tỵ là một nhà thầu khoán có tài, người có danh vọng lúc bấy giờ, tính tình cương nghị. Khi ban sơ mới mở Ðạo tại Sài Gòn, ông Tỵ có đến hầu đàn, ông Nguyễn Trung Hậu phò loan. Ðức Chí Tôn cho ông 4 câu thi rồi viết tiếp: Tỵ họa bất như tỉnh phi. (nghĩa là: Tránh họa không bằng xét lại lỗi lầm của mình). Lui. (tức là Ðức Chí Tôn không thâu nhận ông Tỵ làm môn đệ). Sau, ông vào Đạo Cao Đài qua đàn cơ ở Long Thành. Ông về Mỹ tho cùng với ông Ca lập phái Minh Chơn Lý. Thời gian theo phái Tiên Thiên, ông được phong Thượng Chưởng Pháp. Ông mất năm 1948.
3.Ông Phan Văn Tòng, còn có tên Nguyễn Văn Dương ( 1881- 1945). Ông là một trong những người tài trợ cho phong trào Đông Du ở miền Nam. Sau, ông bị Pháp bắt và bị đưa đi biệt giam tại Quãng Châu- Trung Quốc. Tại đây, ông gia nhập vào Đảng Cộng sản Đông Dương, và hy sinh tại Vĩnh Long.
4.Ông Nguyễn Thế Hiển làm Hội đồng Quản hạt tỉnh Bến Tre, ủng hộ mạnh mẽ phong trào Đông Du. Sau khi phong trào này tan rã, ông cùng ông Tòng thành lập hệ phái Tiên Thiên. Ông mất năm 1945, tại Sóc Sãi, Bến Tre.
5. Ông Nguyễn Bửu Tài ( 1882- 1958) sinh tại Ba Tri, Bến Tre. Ông chuyên về tu đơn, sau có họat động trong phong trào Đông Du. Ông dựng một Thánh tịnh gọi là Tây Tông Vô Cực Cung ( coi Cao Đài Giáo ở Sàigòn là phía Đông xứ Nam kỳ )
( Trích từ “ Nhân vật hoạt động Đông Du ở Bến Tre” của Thông Thanh Khánh )
5. BAN CHỈNH ĐẠO BẾN TRE ( 1934 )
Vì tranh quyền đoạt vị, hai ông Quyền Đầu sư Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang rời Tòa Thánh Tây Ninh về Bến Tre xây dựng chương trình “Chỉnh Đạo”.
Đại hội thành lập Ban Chỉnh Đạo được tổ chức ngày 14-10 Giáp Tuất (20-11-1934) tại Thánh thất An Hội (tỉnh Bến Tre) do Ngài Quyền Thượng Đầu Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG và Ngài Quyền Ngọc Đầu Sư LÊ BÁ TRANG. Ngày 18-11 Giáp Tuất (24-12-1934), nhóm đại hội thành lập Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo, bầu Ngài Quyền Đầu Sư Ngọc Trang Thanh làm Thượng Chưởng Pháp, bầu ba vị Chánh Phối Sư Ngọc Kinh Thanh, Thượng Lai Thanh và Thái Minh Thanh phụ trách hành chánh đạo.
Đại hội Vạn Linh từ 8 đến 11-01 Ất Hợi (11 đến 14-2-1935) lập Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo, bầu Ngài Nguyễn Ngọc Tương lên ngôi Giáo Tông. Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo đổi tên là Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ? (trên bảng hiệu các thánh thất hoặc trên giấy tờ thường dùng danh xưng là Hội Thánh dưới quyền ủng hộ của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương). Cũng trong ngày lễ nầy, ông Nguyễn Ngọc Tương phong chức cho Thập Nhị Thời Quân?
Lần cuối ông Nguyễn Ngọc Tương nhập đại tịnh 9 năm 81 ngày – suốt từ ngày 21 rạng 22-02 Nhâm Tuất (giờ tý ngày 07 rạng 08-4-1942) đến giờ tý 14 rạng 15-5 Tân Mão (17 rạng 18-6-1951). Từ việc góp tiền, chi tiền mua đất, vẽ hoạ đồ Tổ Đình, cứu trợ, v.v… lại thêm ảnh hưởng của cuộc chiến tranh chống Mỹ, làm rạn nứt Chi phái Ban Chỉnh Đạo Bến Tre nên sau năm 1968 phân hóa thành hai nhóm: Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo Bến Tre và Giáo Hội Cao Đài Ban Chỉnh Đạo Đô Thành.
Ngày 28-5-1970, nghị định số 378/BNV cho phép Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ – Giáo Hội Bến Tre được sinh hoạt hành đạo theo bản điều lệ.
Ngày 11-11 Nhâm Tý (1972) Giáo Hội Bến Tre – Hội Thánh Đô Thành ký kết thỏa ước liên giao hành đạo giữa các Hội Thánh tại thánh thất Tây Thành (Cần Thơ) quy tụ 18/20 chi phái đạo Cao Đài, bên trong có sự ngầm giúp của Mặt Trận Giải Phóng Khu Tây Nam Bộ để thành lập tổ chức liên giao 18 Hội Thánh Cao Đài. Sau ngày 30-4-1975, tại TP.HCM, Giáo Hội Bến Tre – Hội Thánh Đô Thành được tiếp tục hoạt động bình thường,
Những năm 1983-1984, Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo – Giáo Hội Bến Tre ở Đô Thành thực hiện việc công khai hóa huân chương kháng chiến hạng nhì do Nhà Nước thưởng cho Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo vào năm 1954.
Ngày 08-8-1997, Ban Tôn Giáo của Chính Phủ ký quyết định số 26/QĐ/TGCP công nhận tư cách pháp nhân của chi phái Cao Đài Ban Chỉnh Đạo. Tòa Thánh Bến Tre dùng thánh thất An Hội Bến Tre xây cất lại năm 1935 làm Tòa Thánh.
( theo Hà Văn Phủ & Nguyễn Văn Tài )
Theo ông Nguyễn Thanh Xuân, Ban Tôn giáo chính phủ, Chi Phái Ban Chỉnh Đạo Bến Tre có độ 788.590 tín đồ và 2.970 chức sắc, 299 thánh thất.
Chú thích:
1.Ông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG ( 1881-1951) quê ở Bến Tre, học ở trường Chasseloup Laubat. Ông làm Tri huyện Châu Thành, rồi chủ quận Cần Giuộc. Năm 1925, ông nhập môn vào Đạo Cao Đài. Sau đó, ông làm Chủ quận Xuyên Mộc, Bà Rịa; tới 1931, ông phế đời về Tòa thánh Tây Ninh. Đến 1934, ông về Bến Tre lập Ban Chỉnh Đạo.
2. Ông LÊ BÁ TRANG ( 1878- 1936) quê ở Sađec, lên Saigòn hoc trường Chasseloup Laubat. Ra trường, ông làm thư ký tại dinh Tòan quyền, sau đó làm Chủ quận Thủ Đức, Gia Định rồi Chủ quận Châu Thành ( Chợ Lớn ), Chủ quận Vũng tàu và thăng lên Đốc Phủ Sứ. Ông nhập môn vào Đạo Cao Đài năm 1926, được Thiên phong Phối sư phái Ngọc. Năm 1929, ông xin nghỉ việc về Tòa thánh Tây Ninh. Ông được thăng lên Quyền Chánh Phối sư, rồi lên Quyền Ngọc Đầu Sư vào năm 1930. Ông mất ngày 30.5 Bính Tý ( 1936 ) tại Bến Tre.
Ông Tương và ông Trang có thế lực rất mạnh, lại được chánh quyền Pháp ủng hộ, nên hai ông tổ chức thuê bao gần chục chiếc xe đò đưa rất đông tín đồ của hai ông về Tây Ninh dự định sẽ dùng sức mạnh chiếm Nội Ô Tòa Thánh. Hai ông báo cho Ðức Quyền Giáo Tông biết ngày 20-1-Giáp Tuất (1934) hai ông về Tòa Thánh, vì nghĩ rằng phần thắng nắm chắc trong tay. Ðức Hộ Pháp tức cấp huy động tất cả người của Phạm Môn chia nhau giữ chặt các cửa vào Nội Ô Toà Thánh. Với sức kháng cự quyết liệt mạnh mẽ của công quả Phạm Môn, lực lượng của hai ông Tương và Trang phải chịu rút lui về Sài Gòn. Phạm Môn là tổ chức của những người tu chơn, không mang phẩm tước Chức sắc, tự làm ăn sinh sống để tu hành chớ không thâu nhận của thập phương. Phạm là Phật, không phải họ Phạm. Phạm Môn là Cửa Phật. Nhưng ông Nguyễn Ngọc Tương lại xuyên tạc là mang họ Phạm của Đức Hộ Pháp. 500 tu sĩ Phạm Môn giữ gìn chặt chẽ Tòa Thánh Tây Ninh, không cho nhóm của ông Tương Bến Tre chiếm Tòa Thánh, nên ông Tương rất oán hận Phạm Môn và Đức Hộ Pháp. Do đó mà có những lời vu cáo rất nặng nề. Qua cơn biến cố trong cửa Đạo, người làm đầu một Chi Phái ( xin miễn chỉ danh vì cũng là bậc Thiên-Phong có đại-công buổi đầu tiên khai Đạo ), lại mượn tay chính-quyền để trả thù trận thất bại vừa rồi. Nên sau vụ sóng gió trong cửa Đạo hôm ngày 20 tháng Giêng năm Giáp-Tuất (1934) lối 10 ngày, thì một số đông Anh Em Phạm-Môn bị bắt giam tại khám đường Tây-Ninh. (
Lược-
sử Phạm-
Môn )
6. MINH CHƠN ĐẠO ( 1934 )
Ngài Trần Đạo Quang, tên thật Trần Văn Quang, người quê Cai lậy, Tiền Giang, trước tu theo chi Minh Sư, chức Thái Lão Sư. Chi Minh Sư gốc ở Thiền tông, ảnh hưởng Tam giáo và phép tu có luyện đơn nấu thuốc. Ông được Đức Chí Tôn kêu qui hiệp về Đạo Cao Đài và phong chức Ngọc Chưởng Pháp. Đến 1929, vì bất đồng ý kiến nên ông trở về Linh Quang Tự và hoạt động với nhóm ông Ca ở Mỹ Tho.
Thấy Thiên sư Nguyễn Văn Phùng lộng hành nên ông về Rạch Giá xây dựng Thánh Thất Ngọc Sắc. Cùng bất đồng với Ông Ca, các ông Phan văn Thiệu, Cao Triều Phát về Bạc Liêu. Ông Trần Đạo Quang cùng Ông Cao Triều Phát lập phái Minh Chơn Đạo, ra đời với danh nghĩa “phản tiền vi hậu”, thay Hội Thánh Tây Ninh làm sáng tỏ Đạo Trời ? ( Cuồng Ngôn Loạn Ngữ.
Thánh thất đặt tại Giồng Bốm, quận Phước Long (Bạc Liêu), có Tòa Thánh Ngọc Minh và Hội Thánh gồm ông Trần Đạo Quang, Chưởng quản Cửu Trùng Đài; Ông Cao Triều Phát, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài; Ông Nguyễn văn Thiệu làm Đầu sư. Phái này là hạt nhân của Cao Đài cứu quốc. Ông Trần Đạo Quang mất năm 1962. Sau năm 1975, phái này được công nhận pháp nhân sớm thứ hai, ngày 2.8.1996 .( có độ 30.000 tín đồ, 600 chức sắc, 47 thánh thất )
Chú thích:
Ông Cao Triều Phát (1889 - 1956), người Bạc Liêu và vào đạo do đàn cơ Minh Thiện của nhóm bác sĩ Trương Kế An ( 1930). Ông thành lập Đông Dương Lao động Đảng (1926), Ngoài Minh Chơn Đạo, ông còn thành lập Cao đài Đại Đạo Liên Đoàn (1936),Trung Hòa học phái, Thanh Niên Ðạo Ðức Ðoàn, Cao Đài Hiệp Nhứt (1945), Cao Đài cứu quốc (1948)… Các tổ chức này có thái độ chính trị rõ ràng, đứng hẳn về phía Việt Minh. Năm 1948, ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc và tự xưng Giáo Tông của Hội Thánh Cao Đài Duy Nhất miền Bắc. Ông là ủy viên thường trực của Quốc hội (khóa I), và ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ra Bắc hơn 1 năm thì ông mất. Ông và phái Minh Chơn đạo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, Huân chương Giải phóng.
B. Những Chi phái lúc sau:
7. CƠ QUAN TRUYỀN GIÁO TRUNG VIỆT ( 1933)
Là biến thể của phái Tiên Thiên, do ông Lê Kim Tỵ, dùng cơ bút và đồng tử phò loan riêng, tin rằng Đức Lý Giáo Tông giao phó sứ mạng “ phổ thông chơn Đạo” tại vùng miền Trung. Thánh Tịnh Đại Thanh buổi đầu là một trong số 72 Thánh Tịnh của phái Tiên Thiên, làm nơi tập luyện đồng tử và phát xuất truyền giáo, đa số là người Quãng Nam như Lê văn Liêm, Lê trí Hiển, Trần Công Bang, Thanh long Lương Vĩnh Thuật, Bạch hổ Trần Quang Châu… Nhóm này liên kết với nhóm Linh Quang Tự của ông Trần Đạo Quang, Minh Chơn Đạo của ông Cao Triều Phát, Vĩnh Nguyên Tự của ông Lê văn Lịch, Liên hòa Tổng Hội của ông Nguyễn Phan Long. Nhóm này lập Trung Hưng Bửu Tòa ( 1937), Trung Thành Thánh Thất tại Đà Nẳng (1938 ), phát triển ở các tỉnh miền Trung.
Sau Hiệp định Gènève (1954), chư tín hữu các nơi họp lại quyết định đưa cơ quan Truyền giáo lên hàng Hội Thánh, xây cất Trung Hưng Bửu Toà tại Đà Nẳng (1956) và lập cửu viện. Năm 1973, Chi phái này có hai vị đứng đầu là: Chánh Phối Sư Ngọc Quế Thanh (Trần Văn Quế) Chủ trưởng Hội Thánh, và Thanh Long Lương Vĩnh Thuật, Thanh tra quyền pháp, đại diện Hiệp Thiên Ðài. Ở miền Bắc, sau 1954, Chi phái Ban Chỉnh Đạo Bến Tre liên kết với nhóm này thành lập Cơ quan Truyền giáo Cao Đài Trung Bắc do ông Trần Văn Thới làm chủ tịch, Nguyễn Quang Châu làm phó chủ tịch.
Chi Phái Cao Đài Truyền giáo được cấp pháp nhân ngày 24.9.1996 ( có độ 10.500 tín đồ và 550 chức sắc, 61 thánh thất ).
Chú thích:
- Ông Trần Văn Quế, đạo hiệu Huệ Lương, giảng viên trường Đại học Văn khoa Sàigòn và đại học Vạn Hạnh, Trước đây ông nhập môn tại Thánh thất Phú hội, làng Phước long, Biên Hòa. Năm 1930, ông hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh và được phong Giáo Hữu. Được Đức Phạm Hộ Pháp cử làm Khâm Sai Bắc Tông Đạo. Trong thời gian dạy học ở trường Pétrus Ký ( 1928- 1944), ông kết giao với ông Đoàn văn Bản và thường hành đạo ở Thánh thất Cầu kho. Đến 1932, ông hợp tác với phái Minh Chơn Lý ở Mỹ Tho. 1937 ông tham gia Hội Thánh Tiên Thiên. Năm 1943, ông bị thực dân Pháp lưu đày Côn đảo vì tham gia Liên Đoàn Ái quốc hội. Đến 1945, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chánh tỉnh Biên Hòa.
Ông là người lãnh đạo cả 3 nơi:
- Ngọc Chánh Phối sư, chủ trưởng của Hội thánh Truyền giáo Cao Đài Đà Nẵng.
- Vĩnh Tịnh sư của Minh lý Thánh Hội.
- Tổng lý Minh Đạo của Cơ quan phổ thông giáo lý.
Điều này cho thấy có mối liên kết chặt chẻ giữa 3 Hội thánh: Minh Lý, Tiên Thiên, Truyền giáo và Cơ quan phổ thông giáo lý.
8. TAM QUAN CẦU KHO (Phái Chơn lý Cầu Kho):
Gọi đầy đủ là Hội Thánh Trung Ương Trung Việt, trụ sở đặt tại Tam Quan, quận Hoài Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Nguyên đầu năm 1927, hai ông Nguyễn Hữu Phương và Nguyễn Hữu Hào, ở Bình Ðịnh vào Sài Gòn nhập môn theo Ðạo Cao Ðài tại Thánh Thất Cầu Kho, rồi trở về Bình Ðịnh âm thầm truyền bá Ðạo Cao Ðài tại đây. Số người theo Ðạo càng lúc càng đông nhưng bị nhà nước khủng bố vì vua Bảo Ðại cấm Ðạo Cao Ðài. Trải qua nhiều cuộc khủng bố, hết lớp nầy tới lớp khác, Ðạo Cao Ðài nơi đây cũng phát triển, năm 1937 chính thức ra đời Cao Đài Cầu Kho_ Hội Thánh Trung Việt Tam Quan. Đến năm 1956 mua được một mẫu đất tại Tam Quan, khởi xây dựng Thánh Thất, giấy phép ký ngày 21-9-1956, và làm lễ khánh thành gọi là Ðại Hội An Thiên Khánh Thành Hội Thánh ngày 15-3-Canh Tý (1960). Chi phái này được cấp pháp nhân ngày 28-4-2000. ( có độ 9.000 tín đồ và 230 chức sắc, 33 thánh sở )
9. BẠCH Y CHƠN LÝ &. BẠCH Y LIÊN ĐOÀN CHƠN LÝ ( 1936)
Buổi đầu, nhóm này từ Chi phái Minh Chơn Lý tách ra và kết hợp với các vị ở phái Tiên Thiên. Trụ sở đặt tại Thánh thất Mông thọ, Rạch giá, Kiên Giang. Các ông Tô Bửu Tài, Trương Minh Tòng lập Hội Thánh Bạch y và chủ trương mặc áo trắng, bịt khăn đóng trắng. Sau 1975, nhiều chức sắc và tín đồ được trao tặng huân chương, huy chương. Pháp nhân công nhận ngày 8-7-1998 ( có độ 4.000 tín đồ, 88 chức sắc, 14 thánh sở ).
Ngoài ra sau này còn có những nhóm, chớ không hội đủ điều kiện thành một chi phái vì một chi phái phải có chức sắc, Thánh Thất, hành đạo và truyền đạo.
** LIÊN HÒA TỔNG HỘI ( 1936 )
Cao Đài Đại Đạo Liên Hòa Tổng Hội, gọi tắt là Liên Hòa Tổng Hội, một tổ chức kết hợp các tổ chức khác như Hội Trung Hòa, Đại Đạo Liên Đoàn, Liên Hòa Hội, Tam Kỳ Phổ độ Liên Đoàn… Một đàn cơ tại Thánh tịnh Trước Lý Minh Đài ở Phú Thọ, Chợ Lớn do ông Nguyễn Phát Trước, tức Tư Mắt làm chủ, do đồng tử Liên Hoa chấp cơ dạy ông Nguyễn văn Kiên ở Minh Chơn Lý, ông Đoàn văn Bản cùng ông Trần văn Quế lập Cao Ðài Ðại Ðạo Liên Ðoàn, nhằm mục đích qui nhứt các chi phái của đạo Cao Ðài, đặt trụ sở tại Thánh Thất Cầu Kho. Hoạt động chẳng bao lâu, một đàn cơ khác, cũng tại Trước Lý Minh Đài dạy chấm dứt nhiệm vụ của Liên đoàn, giao sứ mạng mới cho ông Nguyễn Phan Long, ông Đoàn văn Bản, ông Trần văn Quế thành lập Liên Hoà Tổng Hội. Cộng tác có bác sĩ Trương Kế An, ông Phan Trường Mạnh, ông Vương Quang Kỳ, ông Lê văn Lịch, ông Lê kim Tỵ, ông Nguyễn Bửu Tài, ông Cao Triều Phát…Tổ chức này không phải chi phái, không lập Hội Thánh, chương trình hoạt động của Liên Hòa Tổng Hội chia làm 2 thời kỳ:
- Ra đời để làm trung gian cho các chi phái hàn gắn gây lại tình hòa ái.
- Khi các chi phái thực lòng hòa hiệp rồi thì Tổng Hội sẽ giải tán.
Tổ chức này qui định sau 12 kỳ đại hội, gọi là đại hội Long Vân, nếu chưa thống nhất được các Giáo hội sẽ tự giải tán. Long Vân đệ nhứt tổ chức tại Trước Lý Minh Đài năm 1935 và Long Vân đệ thập nhị tổ chức tại Minh Kiến Đài (Hạnh Thông Tây, Gia Định) năm 1940.
Ngày 7/8/1938 trong ngày đại hội của Cao Ðài Tổng Hội, có một bài thánh giáo xác nhận Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài. Tập san "CAO ÐÀI GIÁO LÝ" do Thánh Thất Cầu Kho phát hành số 8 nơi trang 339 có viết như sau:" Cuộc hội hợp của 12 chi hội Long Vân do Nguyễn Phan Long triệu tập có tánh cách và chủ đích quá khích. Sự chống đối Tòa Thánh Tây Ninh khiến cho nhà đương quyền chú ý theo dỏi và nghi ngờ sẽ có rối loạn. Vì lẽ ấy cơ sở Ðạo, Thánh Thất và Tòa Thánh bị chánh quyền ra lịnh đóng cửa và tịch thâu tất cả sổ sách văn khố đạo và chánh quyền bắt tín đồ điều tra.
Chú thích:
Ông Nguyễn Phan Long (1889- 1960), học tại trường Albert Sarraut Hà Nội, sau đó du học Pháp. Năm 1919, ông cùng với Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo và một số trí thức người Việt quốc tịch Pháp thành lập ra Đảng Lập hiến Đông Dương. Đồng thời, ông còn giữ chức Nghị viên Hội đồng quản hạt Nam Kỳ. Tuy có thời gian mở trường dạy học, nhưng hầu hết cuộc đời ông gắn liền với nghề báo. Ông từng làm chủ nhiệm các báo: La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương), L'Echo du Việt Nam (Tiếng vọng Việt Nam), Đuốc Nhà Nam. Tháng 7 năm 1949, ông tham gia nội các Bảo Đại. Tháng 1 năm 1950, ông được chỉ định làm Thủ tướng .
Theo quyển hồi ký của ông Lương Vĩnh Thuật, ông Quế và ông Long được phong Giáo sư tại Hội Thánh Minh Chơn Lý, Định Tường.
** THÔNG THIÊN ĐÀI ( 1934 )
Do các ông: Bác Sĩ Nguyễn Văn Nhã, Lê Quang Hộ, Quách Văn Nghĩa, Cẩm Đình, Quãng Vân và Huệ Chương ( ông Thân ), Ngươn Ngọc (ông Đức) là hai con của Ngài Bảo Văn Pháp Quân lập nên. Thánh Thất phái này đặt tại Đông Sơn, tổng Hoà đồng thượng ( Gò Công).
** TUYỆT CỐC ( 1934):
Do hai ông Nhuận và Điền trước làm công quả tại Toà Thánh, kéo thêm một số người xuống tóc, mặc áo dài, không ăn ngũ cốc chỉ ăn rau. Họ tự phong chức phẩm và lên ngồi bảy cái ngai đã được Chí Tôn trấn Thần dành riêng cho Giáo Tông, Chưởng Pháp và Ðầu Sư. Khi bị bắt xuống khỏi bảy ngai, họ điên loạn miệng sùi bọt ú ớ kêu Trời Phật tha tội. Họ còn đến dinh Thống soái Nam kỳ đòi trả nước Nam lại, bị Tây bắt bỏ nhà thương điên.
** TAM KỲ NGUYÊN NGUYÊN BẢN BẢN ( 1935 )
Trụ sở đặt tại Tân An, Long An lập nên do 5 vị Thiên sư của phái Minh Chơn Lý tách ra do nhóm quí ông Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Văn Phấn và nhiều vị nữa. Phái này đã đi đến chỗ siêu hình siêu tướng về cách thờ phượng, trên Thiên bàn không có hình tượng dấu hiệu gì cả.
** TRUNG HÒA HỌC PHÁI
Do các ông Cao Triều Phát, Phan lương Hiền, Phan Trường Mạnh chủ trương, với mục đích qui tụ các thanh niên, hành đạo theo thuyết Trung, Thứ của Nho giáo.
** NỮ CHUNG HÒA - NỮ ĐẠO HÒA MINH - NỮ PHÁI LIÊN ĐOÀN
Nhóm Nữ Chung Hòa, do bà Ngọc Nhiên Hương và bà Lê Ngọc Trinh thành lập, nhóm nầy từ chi Minh Tân đi ra để qui tụ nữ phái, cầu cơ học đạo.
Nhóm Nữ Đạo Hòa Minh do phái Tiên Thiên lập. Nữ phái Liên đoàn do Cơ quan truyền giáo Trung việt lập.
** CAO THƯỢNG BỬU TÒA
Được xây cất tại Bạc Liêu, còn gọi là Tòa Thánh Hậu giang, do ông Trần văn Tìa, đạo danh Chơn Sắc chủ trương.
Chú thích: Các vị đứng đầu 5 chi phái: Minh Chơn Đạo, Tiên Thiên,Chiếu Minh Long Châu, Bạch y Liên đoàn chơn lý và Cao thượng Bửu Tòa họp lại thành lập tổ chức Liên Giao I để lãnh đạo tín đồ trong đấu tranh ( 1955 ). Đến 1972, các chi phái tổ chức Liên Giao II thông qua qui ước 7 điểm:
- Đoàn kết bảo vệ tự do tín ngưỡng, chống khủng bố các Thánh Thất, Thánh tịnh
- Bảo vệ các tu sĩ, không được bắt đi lính.
- Giúp đỡ lẫn nhau, chống khủng bố, bắt bớ.
- Không tham gia chính trị hay quân sự chống lại tổ quốc, dân tộc.
- Vận động đồng đạo, đồng bào vùng lên, phá thế kềm kẹp, cứu Đạo, cứu mình.
- Phát động phong trào cầu nguyện hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh
- Không thể thống nhứt với Tòa Thánh Tây Ninh, vì Tây Ninh đi ngược lại với tôn chỉ, mục đích cứu khổ nhơn sanh của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (???) (
CAO THƯỢNG BỬU TÒA một chi phái Phá Đạo, lời Tác giả )
( Trích từ” Người Nam bộ và tôn giáo bản địa” của Phạm Bích Hợp )
** TÂY TÔNG VÔ CỰC
Do ông Nguyễn Bửu Tài lập nên trụ sở đặt tại Thánh Tịnh Tây Tông Vô Cực Cung ở làng Chẹt Sây (Kiến Hoà). Phái này cũng như phái Tiên Thiên gồm những người trường trai, tuyệt dục, ly gia, cắt ái, chuyên luyện kim đơn theo lối xưa.
** TÒA THÁNH NHỊ GIANG
Đặt tại Châu đốc ( An Giang)
** TÒA THÁNH TIỀN GIANG
Đặt tại Thánh Tịnh Minh Kiến Đài thuộc làng Hạnh Thông Tây quận Gò Vấp (Gia Định).
** CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ
Theo ông Đỗ Vạn Lý, nhóm này được thành lập sau hết, với mục đích phổ thông và phổ biến một giáo lý Cao Đài thuần nhứt và thống nhứt các chi phái một cách gián tiếp, coi đó như là kết quả đương nhiên của chương trình phổ thông một giáo lý thuần nhứt mà tất cả toàn Đạo phải chấp nhận (???..) Ban thường vụ một Tổng lý, một Hiệp Lý, một Tham Lý làm chánh sách và vạch đường lối, còn Tổng thư ký là người chấp hành. Cơ quan có nhiệm vụ trong 20 năm kể từ 1965.
Theo ông Đinh Văn Đệ, vào năm 1962, Ơn Trên dạy thành lập Ban Phổ thông Giáo lý trong tổ chức Cơ quan Cao Đài Thống nhứt. Lúc ban sơ, trụ sở đặt tại chùa Minh tân, Vĩnh Hội, Sàigòn; lấy tên là Cơ quan Liên giao hành Đạo. Nội bộ Cơ quan Cao Đài Thống Nhứt bất đồng quan điểm về việc chuyển hướng này. Sang năm 1963, thành phần thuận tùng thánh ý tách về đãi lịnh tại Thiên lý đàn, và sau đó được Thiêng liêng ban ơn thành lập và khai mạc Văn phòng Phổ thông Giáo lý tại 165, đường Cống Quỳnh, Sàigòn vào ngày 14-01 Ất tỵ (15-02-1965).Cơ quan này còn thành lập tổ chức Nữ chung hòa, Thanh Thiếu niên Đại Đạo.
Về mặt sứ mạng, cơ quan Phổ thông Giáo lý không thuộc chi phái, không thuộc Hội thánh, cũng chẳng phục vụ riêng tôn giáo nào, mà phục vụ cho “cuộc quy hợp cuối cùng của tam nguơn hạ thế, không riêng cho nội bộ Cao Đài, mà phải toàn cả vạn giáo đồng quy nhất lý.”??? (Đức Lý Giáo tông, 09-5 Canh Tuất, 08-10-1970)
Cũng theo đàn cơ của Cơ quan này, Đức Diêu Trì Kim Mẫu dạy Nữ chung hòa có trách nhiệm với “toàn thể nữ giới đó đây, bất luận lưỡng đài, trong và ngoài Đạo”(???). (15-4 Mậu Thân, 11-5-1968)
Cơ quan lập thêm danh hiệu Thanh thiếu niên Phổ thông Giáo lý (15-7 Bính Ngọ, 30-8-1966), đặt dưới quyền lãnh đạo vô vi của Cao Triều Phát. Cơ quan này được nhận Pháp nhân ngày 2.8.2000.
( theo Thiên Vương Tinh Đinh văn Đệ )
Chú thích:
Ông Đinh Văn Đệ sinh năm 1924, là Điệp viên U4 của Đảng Cộng Sản Việt Nam cài vào Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp trường Võ bị Đà lạt. Sau 1963, ông lần lượt giữ chức thị trưởng Đà lạt, tỉnh trưởng Tuyên Đức, tỉnh trưởng Bình Thuận, chủ tịch ủy ban quốc phòng của Hạ viện Việt Nam Công Hòa. Sau 1975, ông được thưởng Huân chương chiến công hạng nhất ( 1997).
( báo Xưa và Nay 2008 )
** THIÊN LÝ BỬU TÒA
Do bà Bạch-Diệu-Hoa Chưởng Quản , người lãnh đạo tinh thần của Thiên-Lý Bửu-Tòa, có tên thật là Nguyễn Thị Minh Châu. Khi còn ở Việt-Nam, bà bắt đầu tu tịnh từ năm 31 tuổi, sau thọ thêm pháp của phái Chiếu-Minh ở Thánh-Ðức Tổ-Ðình Cần-Thơ... Thiên-Lý Diệu-Ðàn đã được phôi thai trong thời gian đầu tiên (1975, 1976), vị này tự thông công tiếp điển qua Cơ bút. Việc điều hành đạo sự và hành chánh do một Hội Ðồng Quản Trị (nhiệm kỳ 4 năm) đảm nhiệm gồm Chánh hội trưởng, hai Phó hội trưởng, Thủ bổn, Tổng thư ký và các ban. Ðến ngày Rằm tháng 10 năm Kỷ Mùi (4-12-1979) chính thức đổi danh Thiên lý Bửu Tòa.
Danh xưng ở trên chữ Thiên-Lý Bửu-Tòa trong các văn kiện trước đây là "Ðệ-Nhị Thiên-Khai", sau đổi thành "Huỳnh-Ðạo Thiên-Khai" Nhóm này chủ trương “ Đại đồng và Hiệp nhứt”.
Chú Thích : ??? là dấu của tác giả bài viết này để đánh dấu những phần do chi phái tự bịa đặt ra, không xác thục.
<!-- / message --><!--Chi hien chu ky 1 lan duy nhat trong 1 topic--><!-- sig -->