Hỏi về tòa thánh ngọc kinh và tòa thánh chơn lý

thienquang

New member
Kính thưa các Đạo Trưởng, các vị tiền bối, Đạo Huynh, Đạo Tỷ và các vị đồng đạo.
Tôi vừa mới đăng ký tham gia diễn đàn nhưng đã đưa ra nhiều câu hỏi thì quả thật là quá vô phép, nhưng do trí tò mò muốn tìm hiểu về Đạo Thầy nên đã gặp rất nhiều vướng mắc không thể giải đáp được. Cho nên, tôi đăng ký vào diễn đàn này để mong có thể có người giúp đỡ tôi những vấn đề khúc mắc ấy để có thể thuận lời hơn trong quá trình nghiên cứu đạo Cao Đài.
Như được biết thì hiện nay Đạo Cao Đài có rất nhiều nhánh khác nhau ở rãi rác trên đất nước Việt Nam, nhưng chủ yếu là ở Miền Nam là nhiều ( chỉ có một phái ở Đà Nẵng và một phái ở Bình Định mà thôi, còn lại đều ở trong nam này). Tôi đã cất công tìm kiếm nhiều về các nhánh Cao Đài để có được cái nhìn tổng quát về Đạo Cao Đài, nhưng theo các tài liệu thì hiện nay nước ta đã công nhân 10 Hội Thánh và các thánh sở, cơ quan Đạo độc lập, mới nhất là Thiên Tòa Huỳnh Đạo của Cao Đài Việt Nam...
và trên các tài liệu trên Internet cũng nói nhiều về các hội thánh như Tây Ninh, Ban Chỉnh Đạo, Tiên Thiên, Minh Chơn Đạo, Truyền Giáo, nhưng thấy rất khó khăn để nghiên cứu về Cao Đài Bạch Y ở Kiên Giang.
Tôi có 1 số thắc mắc rất mog quí vị Đạo Trưởng, quí anh quí chị có thể giúp tôi.
1 - Lịch sử hình thành hội thánh Cao Đài Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý
2- Kiến trúc bên trong và bên ngoài Tòa Thánh Ngọc Kinh (hai vấn đề này trên mạng nói rất nhiều đối với các Hội Thánh khác, nhưng Hội Thánh Bạch Y thì không thấy nhiều lắm).
3- Hội Thánh Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý và Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý có sự tương đồng nhau như thế nào (trong danh xưng có chung từ Chơn Lý và có nhiều từ ngữ về kiến trúc chung).
Tôi đã có khảo cứu nhiều tài liệu nhưng đến bây giờ vãn còn rất mơ hồ về những điều này, nên rất mong nhận được sự giúp đỡ của quí anh, quí chị, quí đạo trưởng và đồng đạo.
Thành Tâm kính nguyện Đại Đạo Hoằng Khai và toàn thể đồng đạo được bình an, thường lạc.
Xin chân thành cảm ơn.
 

Hồ_Dương

New member
Xin Chào thienquang!
Bạn có thể vào trang web chính thức của Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý - Toà Thánh Định Tường (số 193, đường Nguyễn Trung Trực, Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) theo đường dẫn này: http://www.caodaichonly.com
Về Đạo Sử, mình xin trân trọng giới thiệu bạn "Lịch sử Đạo Cao Đài" quyển số I (Khai Đạo) và số II (truyền Đạo), chủ trương: Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, biên soạn: Huệ Nhẫn, Nhà xuất bản: Tôn Giáo.
Mình cũng đang tìm hiểu về Kinh Sách của Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo, nếu bạn có, cho mình xin thỉnh quyển Kinh Nhật Thời!
Kính chào!
Hồ Dương
 
Sửa lần cuối:

Thanh Lâm

New member
Kính quý vị!
Theo thông tin như quý Hiền đăng phần trên thì hình như HT Bạch Y không hành Đạo giốnn như TL và PCT?

Tín đồ ăn chay 6 ngày, phẩm Lễ Sanh và Giáo Hữu ăn chay 10 ngày ??? Theo như Thánh Ngôn Thầy dạy thì bực Chức Sắc từ GH thì trường chay và chọn trong hàng Thượng Thừa? Ở hàng thánh mà mình còn dùng mặn thì phổ độ khó lắm đó ?

Ngày vía ĐCT là ngày mùng 1 tết ? Khác với các HT khác ?

Trải qua 76 năm từ ngày thành lập nhưng tín đồ chỉ có 4.000 thì kể cũng còn khiêm tốn lắm vậy!

Mong thay các HT cùng Nhứt Luật thi hành thì sẽ gần ngày thống nhứt !

Kính!
 

thienquang

New member
quí đạo trưởng trả lời thật kỹ lưỡng, nhưng vấn đề nữa là liệu có mối liên hệ nào giữa Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý và Cao Đài Chơn Lý ko? Hay đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên??? Rất mong chư vị giải đáp.
Em xin đa tạ
 

Thanh Lâm

New member
Kính!
Quý Hiền nếu có thể xn đăng giúp hình chụp Thiên Nhãn tại Bửu Điện và hình thờ hai bên?
Theo như Quý Hiền trình bày thì HT Bạc Y tách ra từ HT Cao Đài Chơn Lý? Vì cách điều hành và tổ chức HT có nhiều điểm giống nhau? Và cũng không tuân theo TL và PCT?

@
XIN HIỀN HUYNH CHO BIẾT LÀ NGƯỜI CỦA HT NÀO, Ở ĐÂU ĐỂ DỂ BỀ TRAO DỒI ĐẠO SỰ

Mình nhập môn tại TT Hậu Nghĩa, Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An, Thánh Thất trực thuộc Tòa Thánh Tây Ninh!
Kính!
 

thai

New member
Tân Luật - Pháp Chánh Truyền là nền tảng của nền Đại Đạo. Tự cải sửa chơn truyền nền Đạo thì nên xem xét lại.
 

thienquang

New member
ai cũng giữ khư khư mình đúng thì lấy đâu ra sự phải quấy, đúng sai. Có một vấn đề luôn gây canh cãi mà em đọc trên nhiều trang cao đài thấy nói đó là phải thờ thiên nhãn và tuân theo Tân Luật và Pháp Chánh Truyền thì mới được xem là Cao Đài chính thống, còn không phải thì được xem là biến tướng, phải vậy chăng???? Em vẫn muốn làm rõ vấn đề chổ Bạch Y và Chơn Lý, nêu nói như ngoaitondonghiep thì đấy chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên về từ ngữ thôi, đúng không??? Nễu như vậy thì chắc hẳn hai Hội Thánh này phải có đặc điểm chung nào đó, và nếu Bạch Y và Chơn Lý không liên quan j nhau, mà lại trùng hợp ngẫu nhiên như vậy thì chứng tỏ cơ bút có sự tương đồng, hoặc ngời giáng điển có sự tương quan tư tưởng??? Phải vậy chăng????:105::105:
 

thienquang

New member
Rất mong anh ngoaitondonghiep nhanh chóng post hình thiên nhãn ở Tòa Thánh Ngọc Kinh lên đây để có sự khảo cứu kỹ luưỡng hơn nữa.
 

hai12011

New member
Hình Thiên Bàn tại Tòa Thánh Ngọc Kinh


dsc088661879.jpg
 

Thanh Lâm

New member
Kính!
Ảnh chụp rất đẹp! Cám ơn Hiền Hai12011
Xin quý Hiền cho biết tấm hình thờ dưới tượng Đức Khương Thái Công vì hình này hơi mờ nhìn không rõ lắm!
Xin giải thích ý nghĩa hình phía dưới lư hương và hai bình trắng có chữ và nghĩa là gì vì cũng mờ không đọc được!
Cảm ơn rất nhiều!
Kính!
 

hai12011

New member
Xin lỗi! Tôi không phải là tín đồ của Bạch Y. Nên không giải thích được.
 

thienquang

New member
đâu có khác j đâu. vẫn là thiên nhãn mà. Hồi lâu em có đọc bài viết bên nhịp cầu giáo lý thấy nói là Hội Thánh Bạch Y còn thờ 12 ngọn đèn và hình Trái Tim, ở đây ko thấy.
 

thai

New member
Kính hiền hữu ngoaitondonghiep,

Hiền hữu nói :

LÀ ĐỂ PHÙ HỢP VỚI ĐIềU KIỆN VÀ PHONG TỤC CỦA NƠI KHAI PHÁI

Nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh vẫn gieo truyền hạt giống yêu thương của Chí Tôn xuống tỉnh Kiên Giang mà đâu cần phải cải sửa Tân Luật Pháp Chánh Truyền là nền tảng chơn truyền của nền Đại Đạo. Chẳng qua là do ý của phàm tâm mà thôi.
 

Trung ngôn

Active member
thai nói:
Kính hiền hữu ngoaitondonghiep,
Hiền hữu nói :Nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh vẫn gieo truyền hạt giống yêu thương của Chí Tôn xuống tỉnh Kiên Giang mà đâu cần phải cải sửa Tân Luật Pháp Chánh Truyền là nền tảng chơn truyền của nền Đại Đạo. Chẳng qua là do ý của phàm tâm mà thôi.[1]
Kính HTDm,
TN muốn cùng trao đổi với Huynh thai về vài vấn đề khi Huynh dẫn Tân Luật, Pháp chánh truyền.
1. Cho TN biết thêm về "Nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh". Mong nhận được lời giải.
2. Một số nơi gọi là chi phái bởi lẽ đã không thực hiện đúng Tân Luật, Pháp chánh truyền; TN nghĩ vậy.
Vậy cho hỏi thăm về Hội thánh đóng ở Tây Ninh có phải chi phái không ?
3. Nếu trả lời cầu hỏi thứ 2. xong rồi thì xin trả lời câu hỏi thứ 3: Huynh thai dẫn cho mọi người thấy Hội thánh mà trụ sở tại Tây Ninh có lập Tịnh thất như đã ghi ở Tân luật? Xin liệt kê để mọi người biết thêm.
Nếu không làm đúng Tân luật thì có bị xem là chi phái như Huynh đã dẫn ở [1] không?
4. Nếu trả lời câu hỏi số 3. xong rồi thì thì xin Huynh cho mọi người biết Hội thánh vào những năm 20 của thế kỷ trước có còn sót lại gì ở Hội thánh ngày nay đang trú đóng tại vùng đất Tây Ninh ??
Nếu trả lời được thì hoan hô, còn không cũng không sao.
Xin đừng trả lời lòng vòng như một số người cũng đã từng được đặt câu hỏi tương tự, song lại trả lời lòng vòng.
Kính hỏi để biết thêm.
-----------
Tự thán:
Xem ra "chanh chua thì khế cũng chua" chứ khác gì??
Chỉ có Thầy thì đau đớn nhìn đám con đang lặn ngụp trong chốn ta bà. Âu cũng là cộng nghiệp.
Kính.
 

thai

New member
Kính hiền hữu Trung ngôn,

1. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh còn mang danh xưng là Đạo Cao Đài, một tôn giáo phát xuất từ tâm linh, sự sáng lập Đạo Cao Đài có nguồn gốc ở Thần linh học. Giáo lý và sự thờ phượng Thượng Đế đã được các bậc tiền khai Đại Đạo đón nhận và truyền đạt lại cho tín đồ bằng cơ bút, qua dụng cụ thông công với các đấng tối cao là cây Ngọc cơ. Những bài cơ bút này được lưu ghi trong bộ "Thánh ngôn hiệp tuyển" (quyển số 1 và 2) gồm những thánh giáo chỉ dạy đến từ Đấng Thượng Đế tối cao, cũng chính là Đấng Cao Đài, hoặc từ các Đấng chơn linh thượng đẳng như Đức Lý Thái Bạch, thi hào của nước Trung hoa thời nhà Đường, trở thành Giáo Tông thiêng liêng hiện nay của Đạo Cao Đài. Những chơn linh của các vĩ nhân ở Âu châu, trong đó có Victor Hugo tức là Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn thường giáng cơ viết bằng thi văn các giáo huấn về tôn giáo.

Đạo Cao Đài là một hỗn hợp, một tổng hợp của các tôn giáo hiện hữu : Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, v.v... Đạo Cao Đài không hủy bỏ sự thờ cúng linh hồn người chết, sự Thánh hóa các vị anh hùng thời cổ đại của Trung Hoa và Việt Nam.
Cao Đài là danh từ tượng trưng Đấng Chí Tôn mà trong kỳ ba nầy, Đấng ấy sẽ hiển thị ở phương Đông.
Ý tưởng của các tín đồ Cao Đài về đức tin mới là Đấng Thượng Đế, sự giáo huấn của Ngài tùy theo mức tiến hóa của tinh thần nhơn loại; tinh anh hơn thuở xưa. Lần nầy, Đấng Thượng Đế đến với nhơn loại trực tiếp bằng đường lối thông công qua các đồng tử. Hình thức mới mẻ về sự biểu thị của Đấng Chí Tôn ở kỳ ba, khác với những lần trước đây, Ngài sẽ không đặt để đạo Cao Đài phải chịu dưới quyền lực của một phàm nhân sáng lập như các tôn giáo khác. Bới là người cõi phàm, sẽ không thích hợp tánh cách đại đồng; vì những vị giáo chủ lãnh đạo tôn giáo, do chủ quan thường có khuynh hướng đối chọi với những giáo lý được truyền bá bởi các tôn giáo khác.
"Tại sao gọi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ?"
Theo giáo lý Cao Đài thì từ thời tạo thiên lập địa tới nay có 3 lần Thượng đế phân thân giáng trần hay giáng linh để lập Đạo:
- Thời kỳ thứ nhứt :
Nhứt kỳ Phổ Độ: Thời kỳ này nhân loại còn thuần phát thiên lương, nhưng nếp sống còn lạc hậu, các Đấng Giáo chủ giáng trần cốt khai hóa dân trí:
  • Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ tương ứng thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Tàu.
  • Đức Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung Hoa.
  • Vua Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung Hoa.
  • Thánh Moise mở Do Thái giáo ở nước Do Thái.
- Thời kỳ thứ hai :
Nhị kỳ Phổ Độ : Thời kỳ nầy nhân loại tuy đã được khai hóa, nhưng vẫn sinh hoạt nội tư phương của mình, nhưng để sinh tồn và tiến hóa nhân loại phải đấu tranh, càng đấu tranh lại càng thù nghịch lẫn nhau, xa rời những lời giáo huấn của các Vị Giáo chủ, nên tôn giáo thất chơn truyền, đạo đức suy đồi. Vì thế nhân loại đã gây ra cảnh mạnh được yếu thua, khôn còn dại mất... Nên Thượng Đế cho các Vị Giáo chủ giáng trần để chấn hưng Tam giáo cứu độ chúng sanh lần thứ hai, lần nầy có:
  • Đức Phật Thích Ca giáng sinh ở Ấn Độ, chấn hưng Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Độ, thời kỳ này đã mở ra Thích giáo với một giáo lý rất phong phú, thiết thực để giải khổ nhân sinh.
  • Đức Thái Thượng Đạo Tổ giáng sinh ở Trung Hoa là Lão Tử, mở ra Lão giáo hay Đạo giáo để chấn hưng Tiên giáo.
  • Đức Khổng Tử giáng sinh ở Trung Hoa, mở ra Khổng giáo để chấn hưng Nho giáo.
  • Đức Chúa Jesus Christ giáng sinh ở nước Do Thái, mở ra Thiên Chúa giáo để chấn hưng Thánh Giáo và Đức Mohammet giáng sinh ở Trung Đông mở ra Đạo Hồi Giáo.
- Thời kỳ thứ ba :
Tam Kỳ Phổ Độ: Thời kỳ này nhân loại đã đạt được sự văn minh tiến bộ về phương diện vật chất, nhưng về tinh thần đạo đức lại suy đồi, lại nữa loài người trên thế giới đã tiếp cận với nhau như trong một làng mạc nhỏ bé... Các nền tôn giáo cũng truyền bá đồng hành khắp mọi nơi, nhưng vì những khác biệt trong giáo lý, giáo luật và nghi lễ, mà nhân loại đã nghịch lẫn nhau, tạo ra những cuộc chiến tranh đẩm máu về tôn giáo. Nên thời kỳ này Đức Chí Tôn không giao chánh giáo cho tay phàm nữa, mà chính mình Thượng Đế giáng linh lập đạo, bằng huyền cơ diệu bút.




Theo lời giải thích của Đức Hộ Pháp thì ngày nay trong Tam kỳ Phổ độ Đức Chí Tôn còn chọn ba vị Phật, Thánh, Tiên cầm quyền Tam trấn thay mặt cho Tam Giáo giáng cơ lập đạo đó là:
  • Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (thay mặt Thích giáo).
  • Đức Lý Thái Bạch (thay mặt Đạo giáo, đồng thời kiêm phẩm Giáo Tông vô hình).
  • Đức Quan Thánh Đế Quân (thay mặt Nho giáo).
Vì ba vị này lúc sinh tiền có đức hạnh vẹn toàn, đủ tư cách độ đời, đáng làm gương cho hậu thế. Ngày nay ba vị thọ mạng Chí Tôn chấp chưởng cơ quan mầu nhiệm, trấn nhậm Quyền hành, lập Luật pháp, Đạo Nghị định cho hiệp với Thiên thơ tiền định. Vì vậy nên bổn đạo phải để tâm thành kỉnh phụng thờ Tam Trấn Oai nghiêm.
Giáo lý Đạo Cao Đài là gì ?
Căn bản của giáo lý Cao Đài là thực hành điều thiện và đức hạnh. Làm thế nào biết được bằng cách khác trong một tôn giáo hỗn hợp ba hệ thống lớn của Đông phương : Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo, để chỉ giữ lại những giáo huấn cao siêu nhứt và loại bỏ những giáo huấn lạc hậu xem như là những yếu tố mê tín và dốt nát ?
  • Đức Phật từ bi giảng dạy lòng tín ngưỡng và từ thiện.
  • Giáo lý của Đức Lão Tử qui định sự tôn thờ chơn lý và khuôn khổ đức tánh.
  • Đức Thánh Khổng Tử vạch ra con đường Trung Dung.
Giáo lý của Đạo Cao Đài không chỉ nhằm mục đích hoà hợp các tín ngưỡng tôn giáo, mà còn thích nghi với tất cả mức độ tiến hóa của tâm linh.
1. Về phương diện đạo đức : Giáo lý Đạo Cao Đài nhắc nhở con người có bổn phận đối với chính mình, đối với gia đình, đối với xã hội, ấy là một gia đình mở rộng, kế đó đối với nhơn loại, gia đình thế giới;

2. Về phương diện Triết học : Giáo lý Đạo Cao Đài truyền dạy sự khinh thường danh vọng, sự giàu có, sự xa hoa, tắt một lời là sự giải thoát khỏi những nô lệ vật chất, để tìm tòi trong tâm linh sự yên tĩnh của tâm hồn;

3. Về phương diện văn hóa : Giáo lý Đạo Cao Đài khuyên nhủ sùng bái Thượng Đế, Đại Từ Phụ của tất cả chúng ta, tôn thờ các Đấng chơn linh thượng đẳng vốn tạo nên hệ thống trật tự oai nghiêm trong thế giới huyền bí. Chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên theo truyền thống dân tộc, bài trừ việc cúng bằng các thứ thịt thú vật, cũng như tục đốt giấy giấy vàng mã;

4. Về phương diện tâm linh : Giáo lý Đạo Cao Đài xác nhận và đồng ý với các tôn giáo khác về các hệ thống triết học tâm linh và tâm lý, sự hiện hữu của linh hồn và sự tồn sinh của nó nơi thể xác. Sự tiến hóa của linh hồn bởi sự luân hồi chuyển kiếp liên tiếp, và các hành vi của con người lúc sanh tiền sẽ được định bởi luật Nhân quả sau khi chết;

5. Về phương diện truyền giáo : Đạo Cao Đài truyền đạo cho các tín đồ xứng đáng những giáo huấn mặc khải mà nó cho phép các tín đồ, bởi quá trình tiến hóa tâm linh, đạt đến sự hưởng thụ toàn phúc.
VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ ĐẠO CAO ĐÀI

Cách đây non một thế kỷ, vào khoảng những năm 1920 đến 1925, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế đã hạ phàm dùng huyền diệu Tiên gia giáng cơ giáo đạo, quy tụ các lương sanh tiền bối lập thành Hội Thánh để độ dẫn quần sanh. Danh từ "Cao Đài" theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao". Theo nghĩa bóng, được hiểu là nơi cao nhất (Đầu thượng viết Cao Đài) nơi đó Thượng Đế Chí Tôn ngự trị. Đấng có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát". Người đệ tử đầu tiên là Ngài Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu, sinh ngày 28/2/1878 tại Chợ Lớn. Sau đó, có thêm những vị như quý Ngài Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang.

Trong thời gian tiền khai gầy dựng nền móng gần 5 năm. Đến ngày 01 tháng 09 Bính dần (1926), 28 vị đại diện cho 247 tín đồ đầu tiên, đồng ký tên vào tờ Khai đạo do Ngài Lê văn Trung viết bằng Pháp ngữ, gởi lên Thống đốc Nam kỳ lúc đó là ông Le Fol. Đây không phải là một đơn xin phép, mà là một Bản Tuyên ngôn sáng lập một tôn giáo lấy tên là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Tờ Khai Đạo nầy đã được ông Le Fol vui vẻ tiếp nhận. Sau đó Hội Thánh cũng đã gởi tuyên cáo đến các vị Hoàng đế, Tổng thống, Nguyên thủ quốc gia, các Hiệp hội của các nước trên thế giới, cùng các cơ quan truyền thông báo chí thông báo sự khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trên đất nước Việt Nam.

Để đặt cơ sở ban đầu cho nền Đạo, các vị tiền bối đã mượn chùa Từ Lâm tự tại Gò kén Tây Ninh, là một ngôi chùa Phật thuộc giáo phái Thiền tông, mới xây cất còn dở dang. Khi mượn chùa nầy, Hội Thánh Cao Đài phải kiến tạo thêm cho hoàn chỉnh. Nên vào ngày 15 tháng 10 nhằm ngày rằm Hạ nguơn năm Bính dần (18-11-1926), Lễ Khai đạo đã được tổ chức tại chùa Từ Lâm tự, tuy trước đó đã có 5 năm chuẩn bị, nhưng mãi đến năm Bính dần, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mới chính thức khai sáng tại nước Việt nam, và cũng chính thức ra mắt với nhân loại trên toàn thế giới.

Khi đặt cơ sở đầu tiên tại chùa Từ Lâm tự một thời gian ngắn, thì Ơn Trên đã giáng cơ chỉ dẫn Hội Thánh đến mua một khu rừng 96 mẫu của một Pháp kiều tại làng Long Thành, Tây Ninh, nay là huyện Hòa Thành tỉnh Tây Ninh, để làm cơ sở ban đầu cho nền Đạo, đến nay nơi nầy đã trở thành Thánh địa trung ương của Cao Đài Giáo.

TỔ CHỨC GIÁO HỘI CAO ĐÀI

Về tổ chức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có 3 đài: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài.
- Bát Quái Đài :
Bát Quái Đài là nơi Đức Chí Tôn ngự trị chưởng quản càn khôn vũ trụ, Thiên triều của Ngài gồm có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là các Đấng trọn lành phụ sự.

Bát Quái Đài là linh hồn của Đạo, mọi giáo pháp của Đại Đạo do nơi Bát Quái Đài xuất phát. Vì Chí Tôn là Đấng tự hữu và hằng hữu đã tạo lập ra càn khôn vũ trụ và vạn hữu chúng sanh. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là những chúng sanh đã đắc Đạo, trở lại phụng sự Thượng Đế, giáo nghĩa nhơn loại xây dựng xã hội bác ái, công bằng.
- Hiệp Thiên Đài :
Hiệp Thiên Đài là Đài bán hữu hình, do Hộ Pháp chưởng quản. Hiệp Thiên Đài có 2 sở dụng: sở dụng Thiêng liêng nơi làm trung gian hội hiệp giữa con người (hữu hình) với Đức Chí Tôn hay Thần, Thánh, Tiên, Phật (vô hình) qua cơ bút, và sở dụng Phàm trần là giữ nhiệm vụ lập pháp và tư pháp trong tôn giáo.




Về ý nghĩa Hiệp Thiên Đài, phần Pháp Chánh Truyền chú giải có ghi rõ:
  • Hiệp Thiên Đài là nơi Thầy ngự cầm quyền thiêng liêng mối Đạo. (Phẩm Giáo Tông của Cửu Trùng Đài muốn cầu Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng phải đến Hiệp Thiên Đài).
  • Hiệp Thiên Đài là chơn thần của Đạo. (là trung gian của Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài).
  • Hiệp Thiên Đài là tay vén màn bí mật cho sự hữu hình và vô vi hiệp làm một..
  • Hiệp Thiên Đài là luật lệ. (đối với Cửu Trùng Đài là chánh trị). Hiệp Thiên Đài là cơ quan bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đạo.
Tổ chức nhân sự của Hiệp Thiên Đài :
Chư Chức sắc Đại Thiên phong Hiệp Thiên Đài đều do Đức Chí Tôn tấn phong qua cơ bút. Chia làm ba chi: Chi Pháp, Chi Đạo và Chi Thế. Nhân sự của Hiệp Thiên Đài tùy nhu cầu và sở năng mà phân bổ vào ba chi như sau:
  • Chi Pháp : Hộ Pháp chưởng quản tồn Đài kiêm Chi Pháp. Chi Pháp có 4 vị Thời quân: Tiếp Pháp, Khai Pháp, Hiến Pháp, Bảo Pháp.
  • Chi Đạo : Thượng Phẩm coi Chi Đạo. Chi Đạo có 4 vị thời quân: Tiếp Đạo, Khai Đạo, Hiến Đạo, Bảo Đạo.
  • Chi Thế : Thượng Sanh coi chi Thế. Chi Thế có 04 vị thời quân: Tiếp Thế, Khai Thế, Hiến Thế, Bảo Thế.
Về sau Hiệp Thiên Đài có thêm Thập Nhị Bảo Quân là Chức sắc Hàn lâm viện do Đức Chí Tôn tấn phong qua cơ bút, và Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn lập thêm các chức sắc cấp dưới từ Tiếp dẫn Đạo nhơn xuống đến Sĩ Tải. Đức Hộ Pháp lập thêm phẩm Luật Sự, do khoa mục tuyển chọn. Sự cầu phong cầu thăng của những chức sắc nầy căn cứ trên công nghiệp và thâm niên công vụ, hoặc do cơ bút định vị. Sự điều hành Hội Thánh Hiệp thiên Đài, do hiến pháp Hiệp Thiên Đài quy định.
Cửu Trùng Đài
Cửu Trùng Đài là phần hữu hình tức là phần xác của Đạo, nhân sự do tín đồ công cử hoặc Đức Chí Tôn ban thưởng. Về phần hữu hình, Cửu Trùng Đài có 2 nhiệm vụ là hành pháp, và lo về hành chánh quản trị của Đạo.

Nhân sự Cửu Trùng Đài phân theo Nam và Nữ (theo giới tính).
Cửu Trùng Đài nam phái :
Nam Phái chia làm 3 phái: Phái Thái (sắc phục màu vàng), Phái Thượng (sắc phục màu xanh da trời), Phái Ngọc (sắc phục màu đỏ).

Các bậc phẩm bao gồm: Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Đầu Sư, Chưởng Pháp, Giáo Tông với số lượng như sau:

- Lễ Sanh: Không định số.
- Giáo Hữu: 3.000 vị. (Mỗi phái một ngàn).
- Giáo Sư: 72 vị (Mỗi phái 24 vị).
- Phối Sư: 36 vị (Mỗi phái 12 vị, trong đó có 3 vị Chánh Phối Sư).
- Đầu Sư: 3 vị (Mỗi phái một vị).
- Chưởng Pháp: 3 vị (Mỗi phái một vị).
- Giáo Tông: 1 vị (là anh cả của toàn thể tín đồ).
Cửu Trùng Đài nữ phái :
Nữ phái không chia phái và mang Đạo phục toàn màu trắng. Quyền hành chức sắc Cửu Trùng Đài Nữ Phái y như Nam Phái, song chỉ trông coi phái Nữ mà thôi. Các bậc phẩm của Nữ phái cũng bao gồm: Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Đầu Sư (không có phẩm Chưởng Pháp và Giáo Tông), số lượng như sau:

- Đầu Sư phái Nữ: 1 vị.
- Chánh Phối Sư phái Nữ: 1 vị.
- Các bậc phẩm từ Phối Sư xuống đến Lễ Sanh: Không giới hạn.
- Đầu Sư nữ phái phải tùng quyền Chưởng Pháp cùng Giáo Tông.
Cửu Viện :
Cửu Trùng Đài có 9 viện phụ trách điều hành trong lãnh vực hành chánh đạo, cũng như lo vấn đề dân sanh, dân trí, dân đức trong đời sống của tín đồ, đó là: Học Viện, Y Viện, Nông Viện, Hộ Viện, Lương Viện, Công Viện, Hòa Viện, Lại Viện, Lễ Viện.

- Phái Thái chịu trách nhiệm Hộ Viện, Lương Viện, Công Viện.
- Phái Thượng chịu trách nhiệm Học Viện, Y Viện, Nông Viện.
- Phái Ngọc chịu trách nhiệm Hòa Viện, Lại Viện, Lễ Viện.

Công cử nhân sự Cửu Trùng Đài: Chức Sắc Cửu Trùng Đài bắt đầu từ phẩm Lễ Sanh (lựa chọn trong hàng tín đồ và chức việc, là những người có Đạo Hạnh tốt). Chức Sắc Cửu Trùng Đài mỗi khi cầu phong hay cầu thăng đều phải qua 3 giai đoạn sau đây :

- Quyền Vạn Linh là Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh và Thượng hội chấp nhận.
- Quyền Chí Tôn tại thế (Giáo Tông và Hộ Pháp) chấp nhận.
- Cơ bút chấm Phái và nhìn nhận tại Cung Đạo.

Về sau Hội Thánh có mở thêm một số phẩm trật cho những người phục vụ theo ngành như Bộ phận Kiến trúc (công thợ), Ban Nhạc, Ban Thế đạo... các phẩm vị nầy cũng tương ứng với phẩm trật bên Cửu Trùng Đài. Còn Đầu Phòng Văn, Lễ Sĩ, Giáo Nhi…nếu đủ công nghiệp thì được cầu phong phẩm Lễ Sanh. Đặc biệt là phẩm Hiền Tài (thuộc Ban Thế Đạo) nếu có công nghiệp hành Đạo được cầu thăng sang phẩm Giáo Hữu.




NGŨ GIỚI CẤM ĐỐI VỚI NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI :
  1. Không giết hại các sinh vật (vì chúng đều có Sanh hồn do Thượng Đế ban cho);
  2. Không gian tham (để tránh khỏi sa đọa vào vật chất vì nhu cầu sở hữu và thống trị). Chính sự tiến bộ của xã hội hiện nay mà tất cả dường như khêu gợi lòng kiêu ngạo và thèm khát giàu có;
  3. Không dùng cao lương mỹ vị :
    • Không ăn thịt thú vật (phải ăn chay).
    • Không uống rượu (vì nó làm hại thể xác và chơn thần).
  4. Không tà dâm (việc nầy đưa chúng ta vào nghiệp ác).
  5. Không phạm tội bằng lời nói.
2. Hội Thánh có trụ sở trung ương đóng ở Tây Ninh được gọi là Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Tòa Thánh Tây Ninh) tức đạo Cao Đài không phải là chi phái.

3. Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Tòa Thánh Tây Ninh) có lập 3 tịnh thất tại vùng Thánh địa Tây Ninh đó là :


  1. Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Động dùng làm tịnh thất cho Nữ phái, tọa lạc tại ấp Trường Xuân, xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách Tòa Thánh Tây Ninh khoảng 7km về hướng Đông Nam.
  2. Trí Giác Cung Địa Linh Động dùng làm tịnh thất cho cả Nam và Nữ phái, tọa lạc tại ấp Trường Thiên, xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách Tòa Thánh Tây Ninh khoảng 3km về hướng Động Nam.
  3. Vạn Pháp Cung Nhơn Hòa Động dùng làm tịnh thất cho Nam phái, tọa lạc tại phía Nam chân núi bà Đen, nhưng do chiến tranh trước đây nên phải dời về đặt tạm tại xã Ninh Thạnh, Thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, phía bắc Tòa Thánh.
Còn câu hỏi thứ 4 xin hiền hữu hỏi rõ ràng hơn tôi sẽ trả lời.


Kính hiền hữu.
 

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Cám ơn Huynh thai đã có các câu trả lời.
1. Về vấn đề nêu ở câu 1.; hình như là nguyên văn được in đâu đó hay của có trên NET thì phải.
Tuy nhiên, ý TN hỏi là cụm từ trên có gắn thêm địa danh Tây Ninh thôi thì có ý gì hay hơn không thôi.
Dù sao cũng cám ơn Huynh thai.

2. Cám ơn Huynh thai một lần nữa xác định là Hội Thánh đang trú đóng tại Tây Ninh không là chi phái.
Xem lại thì TN nhận thấy có một nơi nhìn nhận là "phái" đó là Chiếu Minh thể hiện rõ ở trong cuốn Đại thừa Chơn giáo - phần lời tựa, các Hội thánh còn lại có ai nhận mình là phái đâu!!! Cười.
- Xem ra, Hội Thánh đang trú đóng tại thánh địa Tây Ninh không là Hội Thánh trước đây (vào những năm 20 của thế kỷ trước) thì phải. Xem lại tên gọi của Hội Thánh này trong hiến chương gần đây nhất sẽ rõ.
Phần phản ảnh rõ nhất là tổ chức của Hội Thánh này.
Xem kỹ câu cuối của Hiến chương của Hội Thánh này có cụm từ "bãi bỏ" - cụm từ này đã vô tình hay cố ý gì đó đã bãi bỏ cả Tân Luật, Pháp chánh truyền rồi thì phải??? (đã có trao đổi vấn đề này rồi).
Câu 2. này để trả lời giúp câu 4. mà Huynh thai chưa trả lời như đã thấy.
TN dẫn ra để dễ thấy hơn.

3. Như vậy đã yên tâm hơn về cơ sở vật chất của Tịnh thất thuộc Tòa Thánh Tây Ninh. Hy vọng sau này, mỗi Thánh thất của Hội thánh này có một Tịnh thất thì tuyệt vời (thật lòng mới nghĩ như vậy); có như vậy, sau này tín đồ Cao Đài sau khi tròn Nhơn đạo thì có nơi để lo Thiên đạo; mặc dù vẫn chưa thể hiện rõ nét Thiên đạo thì phải làm gì trong Hiến chương của HT đã nêu.
- Xin được hỏi thêm: Tổ chức hoạt động của 3 tịnh thất như đã nêu như thế nào ?? Có xây dựng như đã quy định của Tân luật về Tam thừa cửu phẩm không ??
TN đã có lần đến các điểm trên nhưng không thể biết thêm gì từ những người đang ở tại đó.
Rất mong nhận được câu trả lời trên tinh thần học hỏi và xây dựng.
Kính lời.
 

thai

New member
Kính hiền hữu Trung ngôn,

Tên gọi đúng là Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nhưng do có nhiều chi phái phản đạo (gọi theo như trong Đạo luật Mậu dần đã ghi) cũng mượn danh xưng Cao Đài. Cho nên, phải thêm cụm từ Tòa Thánh Tây Ninh kế bên là để cho biết Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Tây Ninh, vì ai cũng biết đạo Cao Đài có trung ương đặt tại đây. Và cũng để phân biệt với các chi phái cũng mượn danh Cao Đài dễ làm người ngoại đạo hiểu lầm là Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Tòa Thánh Tây Ninh) cũng là chi phái.

Nội bộ của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hiện nay có nhiều điều khó nói. Cho nên vấn đề các cụm từ trong Hiến Chương xin miễn bàn luận.

Không cần phải xây dựng ở mỗi Thánh Thất đều có một Tịnh thất, vì 3 Tịnh thất này vẫn còn dư rất nhiều chỗ. Vì như hiền hữu Trung ngôn đã biết, số tín đồ Cao Đài nay lên đến 6 con số. Nhưng có rất ít người làm tròn Nhơn đạo lắm.

Kính hiền ngoaitondonghiep,

Mục sư Olliver chỉ là người ngoại đạo nên ông ta có cái nhìn một cách phiến diện mà không nhìn thấy được bao quát hiện tình nền đạo. Tòa Thánh Tây Ninh vẫn luôn dang tay đón chào các chi phái những đứa con lạc loài của Chí Tôn trở về. Nhưng các chi phái chỉ muốn tranh quyền đoạt vị mà không thực sự muốn trở về.
 

thai

New member
Kính hiền hữu ngoaitondonghiep, tôi cũng có một bài tham luận về chi phái xin được gửi đến hiền hữu.

I. Nguyên nhân phân chia Chi phái​


Tiêu chuẩn lập pháp của Đạo Cao Đài là qui nguyên Tam Giáo, phục nhứt Ngũ Chi, giúp cho tư tưởng nhân loại hiệp đồng thì tại sao trong hình thức tổ chức, Đạo Cao Đài lại có sự chia rẽ thành nhiều chi phái đến thế? Tôn chỉ, triết lý và Luật Pháp của Đạo đều thể hiện tinh thần qui nguyên phục nhứt và qui định rõ về phẩm vị, trách nhiệm, thế tại sao các vị chức sắc Thiên phong không đi trọn con đường đoàn kết anh trước em sau dắt nhau đến nơi bồng đảo y như lời dạy của Đức Chí Tôn? Không có nhiều Thượng Đế khác nhau, dạy truyền nhiều Thánh giáo đối nghịch, sáng tạo ra nhiều biến tướng, nhiều phe phái để cộng chung các biến tướng ấy lại mới gọi là chánh pháp Cao Đài ?

*Cũng không thể vịn vào câu “ Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời” vì đây là Tâm nổi loạn. Đó chỉ là những lý lẽ của người đời để bênh vực cho phàm ngã khi phải trả lời trước tòa án Thiêng liêng mà thôi.

*Có ba nguyên nhân chính gây nên tình trạng biến tướng nầy:

- Nguyên nhân ở đức tin thần quyền.

- Nguyên nhân do chính trị xã hội.

- Nguyên nhân từ phàm ngã cá nhân người hành đạo.

1.Nguyên nhân từ đức tin Thần quyền

Phàm ngã cá nhân dù có tối tăm mê muội đến đâu cũng có ngày trở nên thức tỉnh sáng suốt, bởi lẽ mỗi người chúng ta ai cũng có lương tâm vi chủ để dạy dỗ xác phàm sống nên chí thánh. Thế nhưng đức tin ở thần quyền, một khi đã đặt vào một hướng nào rồi rất khó thay đổi. Bàn về những nguyên nhân ở đức tin thần quyền đưa tới tình trạng chia chi phái, thì phải xét đến tận gốc nguyên lý của phép thông công. Khi một đồng tử thực hiện cuộc thông công với thế giới vô hình, để truyền đạt Thánh giáo cho người tham dự hay chỉ để hiểu biết cho riêng mình, nguồn gốc cung ứng tư tưởng cho chơn thần đồng tử có thể đến từ những xuất phát sau đây :

- Từ quyền năng của Đức Chí Tôn và các chơn linh Thần, Thánh, Tiên, Phật thật sự.

- Từ các vong linh xấu mạo nhận danh nghĩa Thượng Đế và Thần, Thánh, Tiên, Phật.

- Từ nội tâm của chính đồng tử tự kỷ ám thị.

- Từ Tâm và Thần của những người hầu đàn đang có mặt tham dự cuộc thông công.

- Từ những tư duy, tín ngưỡng lâu đời của khối quần chúng đã thải ra trong không gian những dòng tư tưởng bàng bạc.

Mở ra một cuộc thông công là chấp nhận một chơn bốn giả, tỉ lệ xác suất về nguồn gốc chơn thật là một trên năm. Đức Chí Tôn đã xác nhận.

" Thầy nói cho các con hiểu trước rằng cả mộn đệ Thầy đã lựa chọn, lọc lừa còn lối nửa phần, vì Thầy cho yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ” .(TNHT.Tr.7-8/ 1926)

Dù cho có loại trừ được bốn nguyên nhân xuất phát không chơn thật kia và đang giao cảm với Thần, Thánh thật sự, Thánh ý của các Đấng ấy vẫn phải được đồng tử diễn tả lại bằng ngôn từ hay chữ viết, tức nhiên ít nhiều cũng phải mang tính người trộn lẫn vào trong đó. Các yếu tố này dự vào trong cơ bút đã làm sai lạc Thánh ý của Đức Chí Tôn dẫn dắt đức tin của nhơn sanh rẽ lối, làm biến tướng hình thể Đạo Cao Đài. Chơn pháp của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã bị nhơn sanh hiểu sai lạc ở nhiều điểm do cơ bút (với những yếu tố kể trên ) tác động vào trong lãnh vực đức tin nầy.

Không ai có quyền bắt buộc kẻ khác phải tin theo mình. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng chân lý đi từ thấp đến cao, lý lẽ để con người giác ngộ chân lý không đồng đẳng cấp thì tất nhiên hành động phải sai biệt. Người chủ trương chia chi phái đã làm biến tướng nền Đạo Cao Đài theo chiều hướng phân hóa, vẫn sống một cách chân thành ung dung với niềm tin rằng làm như thế là đúng với chân lý. Vẫn ăn chay làm lành, thờ phượng Thượng Đế có gì sai đâu? Dù có chia ra một ngàn phái vẫn tu kia mà! Khi Galiléo bảo quả đất tròn và quay xung quanh mặt trời, có những người ở đầu thế kỷ 17 vẫn tin rằng mặt trời mọc ở phương đông; di chuyển và lặn ở phương tây còn mặt đất thì đứng yên. Đối với họ, Galiléo sai, họ đúng! Và đó cũng là chân lý, chân lý của giác quan mà nhân loại đã sống với đức tin như vậy qua nhiều thế kỷ, cho đến khi nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh thuyết của Galiléo trái ngược lại nhưng chính xác hơn. Chân lý đi từ thấp đến cao là vậy. Phạm vi tín ngưỡng cũng tương tự. Con đường học đạo do huyền linh cơ bút hướng dẫn, cũng có trình tự tấn hóa từ thấp đến cao theo thời gian tùy mức độ mở rộng của tâm thức người cầu đạo.Yếu tố đức tin của con người đối với thần quyền cơ bút hết sức hệ trọng. Cơ bút giúp gầy dựng nên hình thể Đạo Cao Đài, đồng thời có thể tạo nên sự phân chia phe phái như các Đấng đã dạy ngừa trước mà vẫn không tránh khỏi. Đức Chí Tôn có dạy rằng:

“ Người phò loan là tướng soái của Thầy để truyền Đạo cho nhơn sanh. Bực Chơn Thánh, phải đọa trần đi nữa mà nếu không đủ thánh chất để dìu dẫn nhơn sanh, không phải Thiên Thơ tiền định thì không xứng đáng cầm bút cho Thầy truyền Đạo”.

Mấy cặp phò loan cho Thầy giáng dạy đã có định trước chư không phải ai muốn tập chấp bút phò loan rồi cầu Thầy giáng mà được:

“ Ngoài Thập nhị Thời Quân của Thầy đã phong để phò loan cho Thầy dạy Đạo thì đừng có vội tin rằng Thầy có giáng nơi này nơi nọ mà phải mắc kế của tà quyền, trộm danh Thầy mà dắt ra xa đường chánh.”

Đức Chí Tôn còn dặn: Chúa Quỉ cũng dám xưng tên Thầy và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật mà cám dỗ; giáng cơ cũng huyền diệu, cho thơ cũng hay, nói việc quá khứ vị lai cũng giỏi, dạy việc tu hành cũng có chánh lý, song đến khi làm cho mình tin được rồi, lần lần mới xen lộn những chước tà mưu quỉ để dẩn dắt nhơn sanh vào đường tà vạy.

2.Nguyên nhân do chính trị - xã hội

1._Sự hiện diện của các phần tử tiến bộ trong tân giáo hội là mối lo âu của chánh quyền

Tại sao có bao nhiêu nỗi lo âu có thể phát sanh tại nơi gốc của phong trào nầy? Trước hết, số đông đảo tín đồ là một trong những nguyên nhân chánh làm lay động chánh phủ kể từ lúc khởi đầu phát triển Đạo Cao Đài. Kế đó là sự hiện diện của các phần tử tiến bộ trong tân giáo hội là mối lo âu của chánh quyền. . Đạo Cao Đài thành hình năm 1926 khi chế độ thực dân Pháp còn cai trị Việt Nam. Dĩ nhiên chính quyền Pháp buổi ấy không bao giờ muốn thấy bất cứ một phong trào quần chúng hay một thế lực chính trị nào của người Việt Nam vươn lên vì họ rất sợ bị lật đổ. Ngay từ đầu, người Pháp vẫn luôn luôn nghi ngờ Đạo Cao Đài là một tổ chức chính trị trá hình để chống Pháp.

2. Sự chống đối giữa tinh thần Âu châu với những quan niệm tôn giáo của Á châu thường bùng nổ luôn

Triết lý của tôn giáo mới nầy là tổng hợp Ngũ Chi gồm Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo có tiềm năng thu hút quần chúng. Trong phần hình nhi hạ thuộc về chi Nhơn đạo và Thần đạo chủ trương Nho Tông chuyển thế, lấy tinh thần tu thân, tề gia, trị quốc bình thiên hạ của Nho giáo để giáo dân vi thiện thì đề tài lòng yêu nước thương dân vẫn có một sức thu hút tâm lý mạnh mẽ đối với mọi tầng lớp nhơn sanh. Đó là duyên cớ để con mắt của nhà cai trị thực dân Pháp vốn đã nghi ngờ lại càng nghi ngờ thêm.

Biện pháp đối phó đầu tiên của nhà cầm quyền Pháp là ngăn cấm sự phát triển của nó, dùng kế ly gián để phân hoá khối quần chúng mới qui tụ nầy thành nhiều phe nhóm, để mong làm suy giảm thế lực và sau cùng thẳng tay đàn áp để diệt Đạo, giam cầm chức sắc, đóng cửa Tòa Thánh và các Thánh Thất.

3. Sự lợi dụng, mượn danh nghĩa Đạo:

Đạo Cao Đài chính thức làm lễ khai Đạo năm 1926 và đây cũng là năm Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ra đời. An Nam Cộng sản Đảng được thành lập năm 1929 và Đảng Cộng sản Việt nam ra đời chỉ một năm sau đó (1930). Đạo Cao Đài ở thời điểm 1930 – 1935 đang phát triển mạnh, tín đồ đông đảo hàng triệu người, đa số là nông dân. Thực chất các phong trào của Đảng CS lúc bấy giờ là hình thức vận động quần chúng giác ngộ cách mạng trong các tầng lớp bình dân… trong khi chưa tiện thành lập những tổ chức công khai. Vì thế, dù muốn hay không, số lượng đông đảo tín đồ Cao Đài đã trở thành tầm ngắm trong việc phát triển của Đảng Cộng Sản ở Nam bộ. Vì thế, Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh phải chịu đựng gọng kềm từ hai phía: thực dân Pháp và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

3.Nguyên nhân từ phàm ngã cá nhân-Giữa các Chức sắc có sự ganh tị & thù hận

A. SỰ TIẾN HÓA & NGHIỆP QUẢ KHÁC NHAU ĐƯA ĐẾN TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC KHÁC NHAU

Nhân loại tiến hóa hằng triệu năm nay từ vật chất đến thảo mộc, thú cầm, rồi mới thành người. Trong sự tiến hóa này có sự nhanh, chậm khác nhau, đồng thời tạo nên rất nhiều sự khác biệt về tánh tình, sở thích, khuynh hướng nghề nghiệp... .

Thực vậy, đã là con người ai cũng có những nét phàm tục trong tinh thần của mình. Những bậc tiền bối khai Đạo, dù chơn linh cao trọng đến đâu vẫn phải mang xác phàm với đầy đủ cấu tạo của lục dục thất tình, nên tuy được Đức Chí Tôn ban quyền hành thánh thể nơi mình, khi thi thố Thiên trách ấy vẫn phải chịu lẫn lộn một phần phàm tính cá nhân. Sự xung khắc phàm tính cá nhân là nguyên nhân thúc đẩy những rối loạn Đạo quyền. Điều ấy do lòng từ bi của Đức Chí Tôn phong Thánh cho những người Thánh ít phàm nhiều, vì hi vọng các vị lấy công đức tu hành phổ độ chúng sanh chuyển hóa cho trở thành Thánh nhiều phàm ít.

Trong cùng một tôn giáo, khi tín đồ hiểu và giải thích khác nhau theo ý cá nhân sẽ dễ phát sinh Chi Phái. Trong khi hành Đạo, các Chức sắc khó thống nhất với nhau tất cả vì mỗi người sẽ có quan điểm, cái nhìn, hoàn cảnh khác nhau. Ngay cả đời sống Đạo, có sự khác biệt giữa các ảnh hưởng tôn giáo mà chư vị đã theo trước khi đến với Đại đạo Tam Kỳ Phổ độ: Đaọ Giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Năm Chi Đạo họ Minh. Những bất đồng này khó được giải quyết vì Luật và Pháp của Đạo đã có, tất cả phải tuân theo Tân luật và Pháp Chánh Truyền, không thể vì nể nang nhau để giải quyết mối bất hoà mà thành Loạn Pháp. Không thể “ Vị Ngã” trước sự sống còn của nền Đạo, tất cả buộc phải tuân theo và làm theo lời dạy của Đức Chí Tôn mới là Chánh Lý. Nếu không, sự cám dỗ sẽ biến từ bất mãn thành nổi loạn…

“ Thầy nói cho các con hiểu trước rằng cả môn đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa còn lối nửa phần vì Thầy cho yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ. Đi bao nhiêu đều mất bấy nhiêu, các con chớ buồn vì Thiên cơ phải vậy. Thi nhiều đậu ít là lẽ hằng. Các con liệu phương thế mà nâng đỡ đức tin của môn đệ cao lên hằng ngày ấy là công quả đầu hết ”.( TNHT)

Sự va chạm của phần phàm ngã cá nhân trong hàng chức sắc đưa tới những tranh chấp nội bộ là một nguyên nhân lớn dẫn đến tình trạng chia phe phân phái. Ai cũng mang xác phàm như nhau, người làm Giáo Tông, Hộ Pháp, Chưởng Pháp, Đầu Sư, Thời Quân được thì ta cũng làm được. Người thông công với Thượng Đế được thì ta cũng thông công được, ai cũng có linh hồn từ Thượng Đế cả. Tư tưởng nầy thúc giục sự tranh đấu để thăng tiến, điều ấy không có gì đáng trách vì là luật tấn hóa của các đẳng cấp chơn linh xuống trần riêng trong lãnh vực hình tướng.

Nhưng, cơn loạn Đạo không phải ở chỗ ý thức thăng tiến trong cơ cấu Đạo quyền và phẩm tước mà ở chỗ phương pháp dùng để thăng tiến của người chức sắc như thế nào mới là điều đáng nói. Những xảo thuật của đời được đem vào cửa từ bi là mối họa của Đạo ẩn trong chiếc áo thầy tu, khi có dịp sẽ hiện hình ra thành những rối loạn. Trong bất kỳ tổ chức tôn giáo nào cũng vậy, nếu thành phần tu sĩ được tuyển lựa, Thánh chất quá ít thì theo thời gian nắm giữ Đạo quyền lên cao dần, cơn loạn Đạo sẽ khó tránh khỏi vì nó nằm ngay trong lòng của những tu sĩ kém đức nầy biến ra thành hành động. Cái “ phàm tâm” quá lớn đưa đến bất chấp luật lệ, kỷ cương, tôn ti, trật tự mà Đức Đại Từ Phụ đã đặt ra, đã buộc phải tuân theo.

B.TRANH CHẤP NỘI BỘ

1. Nguyễn văn Ca & Trần Đạo Quang:

Các Thần linh tinh quái ban cho Thánh Thất của Thái Ca Thanh cái tên là Tòa Thánh Trung Ương. Bởi cơ bút của những đồng tử ấy, cựu Chưởng Pháp Trần Đạo Quang được cất nhắc lên làm đại diện của Đức Giáo Tông vô vi Lý Thái Bạch, phẩm tước thuần túy là danh dự hàm, nhưng thực tế thì Ngài Trần Đạo Quang chỉ làm bù nhìn cho ông Ca, ông Ca mới là lãnh chúa, người chủ duy nhứt. Lúc ấy, Mỹ Tho rõ ràng là được nâng đỡ bởi những đồng minh cao cấp trong chánh quyền thực dân, mưu toan phá hủy Tây Ninh đúng vào lúc có những cơn biến động của cộng sản…

Trong một đàn cơ, THẦY (Đức Chí Tôn) biết được ông Trần Đạo Quang còn ham danh lợi và muốn lập một nhóm gồm nhiều người phe mình để dự bị việc phân chi lập phái, nên THẦY nói với ông bằng các câu nầy:“ Đạo Quang, hãy biết rõ rằng, THẦY xem người nào tìm cách gây chia rẽ là kẻ thù của THẦY.”

Đó là một lời cảnh cáo! Để làm cho tất cả con cái của Đức Chí Tôn thấy rõ rằng, đạo đức không ở trong một thân hình đẹp hay trong bộ râu rậm, hay trên một dáng ngoài đáng kính, THẦY ra lịnh làm bảy cái ngai cho các chức vụ Giáo Tông, Chưởng Pháp và Đầu Sư để đặt trong Tòa Thánh Tây Ninh, ngay sau chánh điện và hướng mặt ra các Chức sắc và tín đồ. Vào một ngày nhứt định cho lễ khánh thành, Ngài Trần Đạo Quang và các vị Chưởng Pháp và Đầu Sư khác lên ngồi trên những cái ngai nầy để tham dự một đại lễ. Những Chức sắc và tín đồ phía trước đều quì xuống hướng mặt lên các ngai nầy. Những vị Chưởng Pháp và Đầu Sư khác lên ngồi trên ngai một cách yên ổn, về phần Ngài Trần Đạo Quang thì khó nhọc lắm mới ngồi được trên ngai của ông, thì một lực vô hình đẩy ông té xuống đất: ông không xứng đáng với phẩm vị của ông. Lúc ấy, những người dự lễ xét đoán được cái giá trị đạo đức thực sự của Ngài Chưởng Pháp Trần Đạo Quang. Không thể tạo ra một phương kế nào nơi Tòa Thánh, nơi mà ông phải cư trú luôn cho đến khi thoát xác và là nơi mà sự tu luyện Yoga không được chấp nhận, Ngài Trần Đạo Quang liền bỏ đi. Trước tiên, ông liên kết với Thánh Thất Cầu Kho (1928) và sau đó (1930) ông đến với ông Ca, để sang năm sau ông đến Giồng Bướm (Rạch Giá) xây dựng một Thánh Thất mà ông là chủ từ. (*)

2. Nguyễn Ngọc Tương & Lê Bá Trang:

Vào ngày 1.4.1933, Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp ra châu tri số 1 chánh thức thông báo cùng toàn Đạo, việc thăng chức chánh thức cho 3 vị Chánh Phối sư lên quyền Đầu Sư, ba vị Bảo Pháp, Bảo thế, Hiến Đạo cầm quyền Chưởng Pháp thì nửa tháng sau, các vị này họp yêu cầu Đức Quyền Giáo Tông cần rút lui khỏi hành chánh đạo về an dưỡng vì không còn xứng đáng? Tiếp theo những cuộc vận động của những Juda mới, Tỉnh trưởng Tây Ninh đã ra lịnh chánh thức cho các thân hào nhân sĩ trong làng Long Thành (nơi đặt Tòa Thánh) hoàn toàn từ chối giúp đỡ những vị điều khiển Tòa Thánh khi họ yêu cầu và chỉ can thiệp khi có đổ máu, để rồi có thể nghiêm trị những người điều khiển Tòa Thánh và đóng cửa Đền thờ.

Từ Tòa Thánh đi ra vài trăm thước là một nơi gọi là Thái Bình Thánh Địa, với diện tích 80 mẫu rừng, được khai khẩn bởi sự chăm sóc của Hội Thánh. Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt tạo lập một ngôi làng kiểu mẫu, nơi đây chỉ chấp nhận những gia đình tín đồ Cao Đài mà tất cả người trong gia đình đều ăn chay trường hoàn toàn, có đời sống lương thiện và tập quán tốt, và nhứt là những tín đồ đức hạnh, biết phục tùng luật pháp của giáo hội. Đó là một thị trấn với hơn 500 nhà có hơn 2000 người (nam và nữ) cư trú, không kể trẻ con, trong đó xây dựng một cái chợ chỉ bán toàn thực phẩm chay, không một miếng thịt, không một miếng cá, cũng không cả nước mắm. Những người trong ngôi làng nầy là một hiện hữu chơn thật, thực sự hòa bình và hạnh phúc, không biết kẻ thù, cũng không biết kẻ đối nghịch, luôn luôn đi cúng và dùng thời giờ nhàn rỗi để trau luyện đức tánh.

Ông Thượng Tương Thanh, lúc ấy đại diện Đạo Cao Đài bên cạnh chánh quyền, bắt buộc phá hoại cái chợ nầy. Tỉnh Tây Ninh liền cất một cái chợ công cộng trên một mảnh đất công cách nơi ấy chừng vài trăm thước, nơi đây, các thực phẩm ăn mặn được bày bán đầy đủ.Với sự giúp đỡ của chánh quyền, Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh thúc giục những cư dân trong làng kiểu mẫu nổi lên chống lại quyền hành của Giáo Tông. Lợi dụng việc đứng tên làm chủ miếng đất cất chợ, Thượng Tương Thanh cất lên tại miếng đất ấy, với sự tán thành của chánh quyền, một cái nhà liên hiệp dành cho những người nổi loạn đến nơi đó để tạo ra những rối loạn khác, chửi mắng Đức Quyền Giáo Tông và những Chức sắc khác, tìm cách làm hại tất cả những người nào còn mến mộ Ngài Thượng Trung Nhựt. Người ta đi đến Tòa Thánh để giục loạn nơi đó. Kể từ lúc đó, ngôi làng kiểu mẫu trở thành một nơi tiêu khiển phàm tục, những sòng bạc được lập ra và hoạt động thường xuyên bởi đủ các hạng người. Tòa Thánh không thể kiểm soát được và có rất nhiều người ăn chay thuở trước trở thành người ăn mặn một cách đau khổ! Những người chơn thật phải rời bỏ làng nầy và đi đến ở trên những mảnh đất khác chung quanh Tòa Thánh hay trở về xứ sở của họ. Chẳng bao lâu sau, những kẻ chống đối bị lôi cuốn vào cuộc sống phóng đãng, trụy lạc, sự vô đạo còn đi xa hơn nữa, xa khỏi đất Thánh. Một số người trong bọn họ từ bỏ tôn giáo hay tập hợp vào một chi phái chống đối khác...Như thế, ngôi làng kiểu mẫu đã bị tàn phá mà Cố Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đã lắm nhọc nhằn tạo lập ra và làm cho nó phồn thịnh.

Ngài Thượng Trung Nhựt lập ra ở Tòa Thánh những tiểu thủ công nghiệp để dạy nghề các tu sĩ và con cái của họ, nhứt là các trẻ mồ côi, có một cái nghề để cho chúng mưu sinh một cách lương thiện. Thượng Tương Thanh đã nhận lãnh sứ mạng phá tan tất cả công trình của Thượng Trung Nhựt và tìm kiếm các lý do cho cái hiệu quả đó. Ông Tương giảng đạo cho những người mới đến rằng, muốn đạt đến cuộc sống của một tu sĩ thật sự, chỉ cần tụng kinh từ sáng đến chiều mà không cần làm việc như người thế tục và người ta có thể nên bắt chước các nhà sư khất thực của Cao Miên hoặc Thái Lan. Có nhiều tu sĩ công quả làm nghề trồng rau trong khu vực Thánh địa. Dưới cái cớ là hiệu quả thấp, không lợi nhiều, tiền nhân công mắc hơn các sản phẩm thu hoạch, nên ông Thượng Tương Thanh cho ngưng lại tất cả các nghề nầy và gởi trả tất cả tu sĩ làm vườn về gia đình của họ. Sự bãi bỏ các nghề thủ công và ngưng lại các nghề trồng trọt có hai mục đích :

- Vâng theo lịnh của chánh quyền.

- Làm nản lòng tất cả tín đồ Cao Đài ở tại Tòa Thánh để cho họ trở về nhà của họ, bởi vì phần lớn những người nầy đều tiếp tục ái mộ Ngài Thượng Trung Nhựt và tôn sùng Ngài, mặc cho tất cả những xác tín, những áp lực và đe dọa.

Vài tín đồ ở chung quanh Tòa Thánh không thể trả tiền thuế kịp thời, họ bị bắt và bị kiện trước tòa án vi cảnh. Tòa kết án họ bị phạt tù và phạt tiền và người chịu trách nhiệm dân sự về tiền phạt vạ là Ngài Thượng Trung Nhựt, thay vì là Ngài Thượng Tương Thanh, đại diện tôn giáo lúc ấy bên cạnh chánh quyền. Để phản kháng bản án bất công, Ngài Thượng Trung Nhựt không trả các món tiền phạt ấy và Ngài để cho họ bắt bỏ tù Ngài với tấm huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh của Ngài! Những mưu toan làm ra là để chiếm đoạt ngôi vị Giáo Tông của Tòa Thánh Tây Ninh vì lợi ích cho chi phái Bến Tre, làm hiện ra những sự thỏa mãn khá đau khổ với những kẻ đồng mưu.

Sau đây là kết luận của Hiền Huynh Lê Văn Bảy :

“Từ năm 1938, ông Tương tự giam mình trong căn phòng ở lầu một của Thánh Thất Bến Tre, chỉ ăn một bữa cơm mỗi ngày vào giờ Ngọ (ăn Ngọ), tu luyện Yoga và đắm mình vào Thần linh học: năng lực thông công bởi sự hiệp nhập. Đáng thương hại thay! Ông tưởng rằng chơn linh Đức Lý Thái Bạch hiệp nhập vào ông để làm những điều kỳ diệu! Ông Tương có những sự nghi ngờ về khả năng thông công của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, nhưng từ năm 1935, ông tin tưởng hoàn toàn vào vào khả năng thông công của một mục đồng trẻ tuổi có tên là “CHO”, đồng tử ứng khẩu. Sự trừng phạt chính xác: người ta bị trừng phạt bởi những gì mà người ta phạm tội. Ông Tương muốn giam hãm cố Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, và bây giờ tới phiên ông bị giam hãm: Công lý hằng cửu !

Từ bi kịch đến hài kịch như người ta thấy… Nhưng, mối lo âu cho sự thật buộc chúng ta nói thêm rằng, vài Chức sắc đã trải qua việc bất phục tùng Hội Thánh, cứ theo hành vi xét đoán thì đó là những lời thề giả dối. Họ đã phản bội lời thề và những lời hứa khác, đã được họ thừa nhận một cách tự do giữa họ. (Trích Lịch sử Đạo Cao Đài của Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Hiệp Thiên Đài Gabriel Gobron) .

Chú thích : Hiền huynh Lê Văn Bảy tức Ngài Giáo Sư Thượng Bảy Thanh vị Chủ trưởng đầu tiên của Hội Thánh Ngoại Giáo.<!-- / message --><!--Chi hien chu ky 1 lan duy nhat trong 1 topic--><!-- sig -->
 

thai

New member
II : Số Chi phái phân chia

Cơ Đạo đang thuận chiều phát triển nhanh chóng thì khoảng 1929- 1930 bắt đầu có sự rạn nứt. Không rõ nguyên nhân sâu xa, chỉ biết việc chia rẽ rõ rệt từ khi Ngài Đầu sư Thượng Trung Nhựt được ban chức Quyền Giáo Tông, nắm quyền Giáo Tông về phần hữu hình ( theo Đạo Nghị định 2, ban hành ngày 3.10 Canh Ngọ (1930) do Đức Lý Giáo Tông và Phạm Hộ Pháp ký).

Vì các chức sắc Đại Thiên Phong lãnh chức vụ mà không chịu về Tòa Thánh Tây Ninh hành Đạo, sau khi đã nhắc nhở nhiều lần, Đức Quyền Giáo Tông mở Tòa Tam Giáo để xử phạt, buộc các vị này phải về Tây ninh, nếu không sẽ bị ngưng quyền chức. Trong năm này, Giáo sư Thượng Kỳ Thanh ( Vương Quang Kỳ ), Đoàn Văn Bản, Phối Sư Thái Ca Thanh ( Nguyễn Văn Ca ) không tuân lệnh mà tách rời khỏi Toà Thánh Tây Ninh.

Về việc này, Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh ( Lê Bá Trang ) có ra Châu tri số 31 ngày 22-9-Tân Mùi (01-11-1931) như sau :

"Ngày nay, mối Đạo sắp phân chia vì có một phần chức sắc và tín đồ tự quyền lập Đạo riêng ra nhiều chỗ. Toà Thánh có khuyên lơn, Toà Tam giáo có phán đoán rồi, mà cũng không ai tuân mạng lệnh. Lại cách thi thố, cách hạnh Đạo của các chức sắc ấy, nhiều khi không tuân phép nước. Nên xin chư hiền hữu xem xét lại cho kỹ càng rồi biên tên họ những chức sắc nào không tùng mạng lịnh Toà Thánh, gởi về trước cho tôi trong kỳ hạn 10 ngày đặng cho Chính phủ biết rằng các đạo hữu ấy hết thuộc về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và tự hậu, Đạo không còn can dự chi tới việc hành động của mấy vị ấy nữa".

Sau đó, Chánh Phối sư Thượng Tương Thanh (tức Nguyễn Ngọc Tương) gởi một tâm thư cho ông Nguyễn Văn Ca, đề ngày 01-11-1932, với lời lẽ thống thiết, kêu gọi ông Ca mau trở về Toà Thánh Tây Ninh.

" Tôi có tiếp được xấp Thánh ngôn Hậu Giang của anh gởi và một cái thơ mời hội nơi Thánh Thất Mỹ Tho ngày 15-10 tới đây. Tôi có đọc kỹ và cũng có đọc lại các Thánh ngôn anh gởi mấy kỳ trước. Tôi thấy rõ một cuộc khảo, do nơi Tam Trấn để cho tà thần mượn tên cám dỗ. Trong ba cái bịnh lớn nhất của con người là THAM, SÂN, SI. Nếu bậc cầm đuốc dẫn đường mà không trừ hết, còn một hai cũng phải vướng.

" Anh đọc kỹ các Thánh ngôn của cơ bút Hậu Giang từ khi ban sơ tới bấy giờ, tôi chắc anh cũng thấy rõ cái hư thiệt ở trong, như tôi vậy. Có một ít của Thánh Thần còn bao nhiêu đều là mưu chước của tà thần cám dỗ.

"Nếu phăng lại gốc, thì tôi rõ biết, khi ban sơ lúc anh thay mặt cho tôi nơi Toà Thánh. Anh có bất bình về hành động, cử chỉ của mấy vị Đại Thiên phong nơi đây đối đãi với anh. Vì sự bất bình ấy mà anh dùng cơ bút Rạch Giá để cầu hỏi. "Bài chánh -tà yếu lý” ra đời, rất hạp với cái tư tưởng của anh lúc đó, mà làm cho anh vui lòng để trọn đức tin vào rồi nó dắt anh đi lần lần từ mấy thứ An thiên đại hội qua đến sự lập Toà Thánh nơi Tam Bình, Kiên Giang, Thất Sơn, đã nhiều phen tiên tri này nọ điều trôi hết nay lại đem anh trở về lập Toà Thánh trung ương Mỹ Tho là chỗ ở của anh, Tôi xét kỳ thiệt là công cuộc của cơ cám dỗ Hậu Giang do sự bất bình kia mà gây ra đó.

"Thầy đã dạy đạo khai tà khởi. Nó cũng dám lấy tên Thầy mà cám dỗ, lựa là tên Tiên, Phật. Nên Thầy đã căn dặn ngoài Thập Nhị Thời Quân của Thầy đã chọn đừng vội tin Thầy có giáng nơi nầy nơi nọ mà phải lầm mưu tà quái cám dỗ.

Vậy nên anh rất thong thả mà nghe hay không nghe, tin hay không tin tự nơi anh không có một mảy chi bó buộc anh hết, đặng ngày sau anh không sang sớt một mảy đặng cho ai hết. Thiên phong chức sắc nào ở Tây Ninh thiệt có tội thì bị phạt không khi nào chạy khỏi. Anh đã thấy tỏ rõ sự anh làm trong một năm rưởi nay đối với đạo đức thế nào, xa đạo đức bao nhiêu dặm. Tôi bảo kiết rằng: mấy anh em trên Toà Thánh Tây ninh đều sẽ vui lòng mà đưa tay tiếp rước mấy anh em Hậu Giang cùng nhau tới hiệp trùng phùng để những điều rắc rối đã xảy ra cho cơ khảo của tà thần sắp đặt. Sự hoà hiệp đó là một lễ hiến trang trọng hơn hết cho Thầy. Xin anh và mấy anh em theo anh mau mau về hiệp mà dâng lên Đại Từ Phụ, chung nhau trau dồi nền Đại Đạo, lại cho tỏ rạng mà phổ thông đến ngoại bang".
(Ban Đạo Sử : Tài liệu lưu trữ)​

Trớ trêu thay, sau đó ( 11.6.1933), ông Nguyễn Ngọc Tương và ông Lê Bá Trang muốn triệu tập Thượng Hội chống lại việc ban chức vụ Quyền Giáo Tông cho Ngài Thượng Trung Nhựt ( Lê Văn Trung ) nhưng người cầm luật là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc không đồng ý. Hai vị này mới đưa đơn nơi Tòa bố Tây Ninh thưa Ngài Thượng Trung Nhựt ( Lê văn Trung ) về các tội biển thủ tiền bạc…Hai vị này lại tách rời Toà Thánh Tây Ninh lập Ban Chỉnh đạo, tiền thân của chi phái Bến Tre. Hội Thánh Tây Ninh ra Đạo Nghị định số 17 ngày 28-7-1933 không nhìn hai ông nầy nữa vì Ban này canh cải bầu chức sắc Hiệp Thiên Đài và lập ra Tân pháp. Châu tri số 6 ngày 12-6-Ất Hợi (12.7.1935) ghi:

“Bần Đạo chưa hề đặng lịnh cơ bút của Đại Từ Phụ hay là của Đức Lý định nhượng phẩm ấy cho người nào cả. Sự hành động mê hoặc tín đồ của đạo hữu Thượng Tương Thanh đều là giả dối, huống chi sự hám vọng của người đã nảy sanh ra từ khi Đức Quyền Giáo Tông còn tại thế, chỉ cố xô ngã Thượng Trung Nhựt đặng tìm phương tiếm vị. Bần đạo chỉnh nguyện cho Thượng Tương Thanh lấy thủ đoạn thâu phục nhơn tâm sao cho đặng toàn hết thiên hạ, rồi Bần đạo sẽ đem áo mão Giáo Tông ra quì trước cửa Tòa Thánh đặng dâng cho người, rồi nhìn nhận người, nâng đỡ người lên ngôi báu đặng làm chúa cả toàn sanh chúng…”

Rồi từ đó, sự phân chia ngày càng nhiều. Đến năm 1940, có những chi phái như dưới đây mà Toà Thánh Tây Ninh là nguồn cội và tổ đình của nền Đại Đạo.

A. Những Chi phái buổi đầu :

1. Chiếu Minh Vô Vi (1926 )

2. Cầu Kho (1930)

3. Minh Chơn Lý (1931)

4. Tiên Thiên (1932)

5. Ban Chỉnh Ðạo Bến Tre (1934)

6. Minh Chơn Ðạo (1935)


1. CHIẾU MINH ( 1926 )

Ngài Ngô Minh Chiêu là đệ tử đầu tiên của Đức Chí Tôn, được chính Đức Chí Tôn dìu dắt và dạy dổ để sau này lãnh trách nhiệm làm Giáo Tông, phẩm tối cao của nền Đạo. Áo mão đã chuẩn bị sẵn sàng, Đức Chí Tôn dự định phong Ngài Chiêu vào phẩm Giáo Tông thì Quỉ Vương yêu cầu được thử thách đức tin Ngài Chiêu cho đúng lẽ công bằng. Theo nhật ký Sử Đạo của Ngài Đầu sư Thái Thơ Thanh ( Nguyễn Ngọc Thơ ), sau 5 ngày thử thách, Ngài Chiêu không vượt qua được. Nội dung cuộc thử thách không được tiết lộ. Các vị Trung, Cư, Tắc đều cầu xin Đức Chí Tôn nhưng không được chấp thuận.

Ngày 25-4-1926, Ngài Chiêu lặng lẽ về Cần Thơ ẩn tu với một nhóm đệ tử. Sau khi Ngài đăng Tiên, nhóm này thành dòng tu gọi là Chiếu Minh vô vi vì chủ trương tu đơn, việc học Pháp rất khổ hạnh nên ít người theo theo nỗi.

Ngày 18.4.1932, Ngài Ngô Minh Chiêu qui Thiên hưởng thọ 54 tuổi. Phẩm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đòi hỏi những điều kiện phi thường cho một tương lai phi thường của sanh chúng và địa cầu này. Do đó việc thử thách nằm ngoài tầm hiểu biết của con người. Nếu Ngài làm Giáo Tông Đạo Cao Đài, phiền não sẽ đến với Ngài nhiều hơn, bởi Ngài phải gánh vác thêm một khối nghiệp lực của chúng sanh trên vai. Nhưng, nếu Ngài hoàn thành được sứ mạng cao cả ấy, y như lời phú thác của Đức Chí Tôn thì công đức của Ngài sẽ vinh diệu hơn và Thượng Đế tính nơi Ngài sẽ tỏ rạng hơn.

Chú thích:

1. Cao Đài Chiếu Minh không chú trọng việc phổ thông giáo lý, mà tập trung vào việc tu luyện với những qui định rất chặt chẽ như trường trai, tuyệt dục, tịnh luyện 4 thời mỗi ngày… Đến 1953-1954, một số theo Cao Đài Cứu quốc lập Cao Đài Chiếu Minh Long Châu vừa tu tịnh, vừa tham gia kháng chiến cứu nước. Nhóm này được cấp pháp nhân ngày 27.7.1996 ( có độ 5.000 tín đồ, 88 chức sắc). Ngoài ra, có một nhánh nữa tên là Cao Đài Thượng Đế Giáo Hội hay Chiếu Minh Đàn.

2.Năm 1934, ông Nguyễn Háo Vĩnh thọ pháp theo Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh và sau đó lập Trước Tiết Tàng Thơ (tại Thủ Thiêm). Chính tại đây, vào năm 1936, bộ kinh Đại Thừa Chơn Giáo được nối tiếp để ra đời.
( Trích Nguyễn Háo Vĩnh- chiến sĩ phong trào Đông Du của Phan Lương Minh )​

2. CẦU KHO ( 1930)

Phái Cầu Kho do Ngài Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh ( Vương Quan Kỳ ) đứng đầu, qui tụ các ông Ðoàn Văn Bản, ông Nguyễn Văn Tường, Trần Quang Mính, Nguyễn Văn Khai,...

Ngài Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh ( Vương Quan Kỳ ) là Ðốc phủ, được Ngài Ngô Minh Chiêu độ, sau được Ðức Chí Tôn phong phẩm Thượng Giáo Sư .

Nguyên năm 1930, số Chức sắc tại Thánh Thất Cầu Kho do ông Kỳ cầm đầu, không tuân lịnh Hội Thánh thi hành quyển "Nghi Tiết Ðại Ðàn Tiểu Ðàn" do Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu biên soạn. Quyển này đã được Hội Thánh xem xét đồng ý và Ðức Quyền Giáo Tông ban hành kể từ ngày 12-7-1930 để áp dụng thống nhứt trong toàn đạo. Quí Chức sắc ở Cầu Kho không chịu áp dụng các nghi tiết mới ban hành, đòi để nhóm người trí thức, thông minh xét lại nên quí Ngài tự tách ra lập thành Chi phái, lấy Thánh Thất Cầu Kho làm trụ sở.

Trước đó, năm 1925, Ngài Đoàn Văn Bản đã thờ Đức Cao Đài theo sự hướng dẫn của Ngài Ngô Minh Chiêu. Do vị trí ở tại Sài Gòn nên đây là nơi giao tiếp của quý vị trí thức trong và ngoài Đạo.

"Nguyên ban đầu, mấy ông Trung, Kỳ, Cư Tắc, Sang, Hậu, Đức, Bản, Giảng mỗi đêm đều tựu lại khi ở nhà ông Trung (rue Testard Cho Lon), khi ở nhà ông Cư (rue Bourdais Saigon), khi ở nhà ông Bản (Cầu Kho) để cầu Thượng Đế giáng cơ dạy Đạo. Mà hễ mỗi lần có chư nhu đến xin nhập môn, Thượng Đế lại dạy phải đến Đại đàn Cầu Kho. Vì vậy mà nhà ông Bản thành ra một cái đàn lệ, rồi gọi là tiểu Thánh thất. Nhóm này gồm quý vị: Vương Quan Kỳ, Lê Văn Giảng, Huỳnh Văn Mới, Đoàn Văn Bản, Nguyễn Văn Phùng, Lương Văn Bồi, Nguyễn Phan Long, Huỳnh Trung Tuất, Hồ Vinh Quy, Lê kim Tỵ… .

Năm 1936, ông Đoàn Văn Bản hưu trí, về quê ở Tân Uyên (Sông Bé), giao Thánh thất lại. Sau này, ông Phan Thanh xây dựng lại thành Thánh Thất Nam Thành, nay ở đường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh. Nơi đây trở thành một Thánh Thất độc lập nên thường được các nhóm mượn làm trụ sở.

3. MINH CHƠN LÝ ( 1930 )

“ Cuối năm 1930, theo Đạo Nghị định thứ ba của của Đức Lý Giáo Tông, qui định các Chức sắc từ phẩm Phối Sư trở lên phải ở hẳn tại Tòa Thánh để hành Đạo. Phối sư Thái Ca Thanh ( Nguyễn văn Ca) lâu nay vẫn ở nhà tại Cầu Vỹ, Mỹ Tho, đi lên Tây Ninh khi có đạo sự cần thiết. Vì thế, ông Ca yêu cầu Ngài Thượng Trung Nhựt cho phép ông trở về gia đình trong 15 ngày để thu xếp việc nhà một lần cho tất cả, để rồi có thể tiếp tục trở lại Tòa Thánh và ở hoàn toàn cố định nơi đó. Ông Ca ở lại Cầu Kho trong vài tuần, nơi đó ông bị thay đổi hoàn toàn. Không nghi ngờ gì nữa, ông Ca được cố vấn sái quấy bởi những người bất phục tùng tại Cầu Kho, nhứt là bởi Cựu Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang, ông nầy tổ chức chống lại Ngài Thượng Trung Nhựt. Phần khác, ông Ca có nhiều sự buồn phiền trong gia đình (vợ và các con của ông không chịu theo Đạo Cao Đài, làm cho ông rất khổ sở), ông Ca sau đó không trở về Tòa Thánh nữa.”

( Trích từ chương “Nối tiếp niềm đau”, quyển Lịch sử Đạo Cao Đài của Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gobron )​


Ngài Ðốc phủ Nguyễn Văn Ca nhập môn vào Ðạo Cao Ðài năm 1926, được Ðức Chí Tôn phong phẩm Phối Sư Thái Ca Thanh. Ông Ca đóng góp nhiều công sức trong việc xây dựng tờ báo La Revue Caodaïste, bằng Pháp văn để truyền bá Ðạo Cao Ðài cho người ngoại quốc. Sau ông Ca theo Cơ bút của ông Trương Kế An (hiệu là Tuyết Vân Mặc Khách) nên ông Ca ở luôn tại Cầu Vỹ, Mỹ Tho, không về Tòa Thánh Tây Ninh, và không tuân mạng lịnh của Hội Thánh nữa, lập Cao Đài Minh Chơn Lý vào năm 1931. Một số Chức sắc hiệp tác với ông buổi đầu như: Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang, ông Cao Triều Phát, ông Nguyễn Ngọc Thiệu, ông Lê kim Tỵ. Cơ bút do ông Trương Kế An cầu, phong ông Ca làm Ðầu Sư Thái Ca Nhựt. Cũng trong năm nầy, cơ bút lại dẫn ông đi xa hơn nữa, qua các kỳ An Thiên Ðại Hội, gọi ông là Ðức Cửu Trùng Ðài. Từ đây, chưởng quản Hiệp Thiên Đài là Thiên Sư Nguyễn Văn Phùng cầu cơ sửa đổi hết cách thờ phượng và nghi lễ, thay Thiên Nhãn bằng Trái Tim và Thập ngũ Linh Ðăng, rồi giải thích Thánh Ngôn một cách lệch lạc, khiến cho không còn gì là chơn truyền của Ðạo Cao Ðài nữa. Phái Minh Chơn Lý ra kinh sách như kinh Tu chơn thiệp quyết, Chánh giáo thánh truyền, Chánh tà yếu lý, Giác mê khải ngộ. Các bài kinh nhật tụng bằng quốc ngữ: kinh xưng tụng Thầy, Mẹ, Tam giáo. Ông Ca lập cơ bút riêng, cơ bút này phong ông lên Đầu Sư. Cơ bút do các đồng tử Chơn tâm, Tường Khánh, Hòai Viên, Hạnh Ngọc chấp cơ lập Kinh cúng và canh cải nhiều điều.

Năm 1931, tại Mỹ Tho, đàn cơ phong Thánh rầm rộ, phong cho ông Ca làm Thái Đầu sư, phong Thánh cho tất cả quí vị đạo tâm, trí thức. Đây là chi phái đầu tiên tách khỏi Tòa thánh Tây Ninh nhưng sự canh cải ngày càng xa Pháp Chánh Truyền. Nguyễn văn Phùng nắm Hiệp Thiên Đài của chi phái này là một phù thủy, biết nhâm độn, có nhiều tham vọng nên các bậc trí thức bỏ đi.. Không còn thờ Thiên Nhãn mà thờ hình Trái tim và Thập ngũ Linh Đăng, nghi thức lễ bái, lễ phục đều khác hẳn nên có thể nói không còn gì là giống Đạo Cao Đài nữa. Ông Ca mất năm 1956. Sau 1975, Chi phái Minh Chơn Lý được cấp Pháp nhân ngày 14/3/2000 ( có độ 6.500 tín đồ, 1780 chức sắc ) .

4. TIÊN THIÊN ( 1932 )

Phái nầy do ông Nguyễn Văn Chính lập ra ở Sóc Sãi, Bến Tre. Nguyên ông Chính thọ phong Giáo Hữu Ngọc Chính Thanh tại Tòa Thánh Tây Ninh, nhưng ông không hành đạo, mà lo vẽ bùa chú và lập cơ bút riêng. Ông bị Hội Thánh cảnh cáo nhiều lần, và cuối cùng thì ông bị trục xuất vào năm 1930. Chi phái Tiên Thiên cũng có hai đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng nhưng lãnh đạo lại do Thất Thánh, có Thất Hiền phụ tá.

Thất Thánh gồm 7 ông: Phan Văn Tòng, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Thế Hiển, Lê Kim Tỵ, Trần Lợi, Nguyễn Bửu Tài, Trần Lợi, Nguyễn Tấn Hoài.

Thất Hiền gồm 7 ông: Lê Thành Thân, Nguyễn Phú Thứ, Lâm Quang Tỷ, Ðoàn Văn Chiêu, Phan Lương Hiền, Trương Như Mầu, Phan Bá Phước. Dự khuyết: Phan Thanh.

Ông Trần Văn Quế thì hiệp với đồng tử Liên Hoa (Ðàm Thi) lập nhiều Thánh Tịnh khác như: Trước Lý Minh Ðài ở Gia Ðịnh, Ngọc Minh Ðài ở Gò Vấp, Ngọc Tuyển Thánh Tịnh ở Long Thành, Biên Hòa. Phái này in nhiều kinh sách như Tiếng trống giác mê, Minh giáo thánh truyền, Thi văn diệu lý, Ngọc minh kinh, Diệu minh kinh, Bát bộ chơn kinh, Thánh đức chơn kinh.

Với sự giúp đỡ của ông Lê Văn Lịch, phái này thu hút các nhóm cơ bút của Minh sư, có 12 cặp đồng tử chính thức và những cặp phò loan phụ tá. Cơ bút phái Tiên Thiên phong cho ông Chính làm Ngọc Chưởng Pháp, ông Lê Kim Tỵ làm Thượng Chưởng Pháp, Phan Văn Tòng làm Thái Chưởng Pháp và Nguyễn Bửu Tài làm Thượng Đầu Sư, Nguyễn Tấn Hoài làm Ngọc Đầu sư…

Lúc ban đầu, trụ sở đặt tại Thánh tịnh Thiên Thai, Cái Bè, Mỹ Tho; sau lập Tòa Thánh Trung ương tại Châu Minh, Sóc sãi, Bến Tre nên còn gọi là Tòa Thánh Châu Minh. Phái Tiên Thiên giới hạn 72 Thánh Tịnh (không gọi Thánh Thất).

Đến 1939, ông Phan văn Tòng làm Giáo Tông. Từ 1945 đến 1954, Chi phái Tiên thiên tham gia kháng chiến trong Mặt trận Việt Minh và sau đó (1957- 1963) bầu ông Nguyễn Bửu Tài làm Giáo Tông thứ hai, ông Nguyễn văn Nguyên giữ chức Hộ Pháp. Phái này chỉ phục sức toàn trắng, dây sắc lệnh thường có 4 chữ Nho” Phụng thừa Thiên Mạng”. Có rất nhiều phẩm Đạo mới như sau Thất Thánh, Thất Hiền còn có Tam Hùng, Ngũ Hổ, Lục Long, Thất Mãnh… không hiểu ý nghĩa gì? Tất cả chức sắc đều luyện Châu, luyện Điển, luyện Pháp, luyện phù… Chi phái này tự nhận dưới cờ “Cao Đài cứu thế”, thiên về quốc sự.

Sau 1975, chi phái Tiên Thiên là chi phái đầu tiên được Nhà Nước công nhận tư cách pháp nhân, ngày 29/7/1995 ( có độ 80. 000 tín đồ, 147 thánh tịnh).

Chú thích:

1. Ngài Lê Văn Lịch sinh ngày 1.9. Canh Dần ( 14.10.1890) tại Long An, Cần Giuộc. Ngài tu theo Minh Đường. Đến ngày 26.4.1926, Đức Chí tôn phong cho Ngài làm Đầu sư, Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt. Từ tháng 1/1944 đến tháng 8/1945, Ngài bị Pháp lưu đày tại Côn Đảo. Sau đó, Ngài trở về quê nhà, lập các thánh sở tại Gò Công. Ngài mất mùng 2 tháng 9 Đinh Hợi ( dl 3.10.1947), di hài được an táng tại Vĩnh Nguyên Tự.

2.Ông Lê Kim Tỵ là một nhà thầu khoán có tài, người có danh vọng lúc bấy giờ, tính tình cương nghị. Khi ban sơ mới mở Ðạo tại Sài Gòn, ông Tỵ có đến hầu đàn, ông Nguyễn Trung Hậu phò loan. Ðức Chí Tôn cho ông 4 câu thi rồi viết tiếp: Tỵ họa bất như tỉnh phi. (nghĩa là: Tránh họa không bằng xét lại lỗi lầm của mình). Lui. (tức là Ðức Chí Tôn không thâu nhận ông Tỵ làm môn đệ). Sau, ông vào Đạo Cao Đài qua đàn cơ ở Long Thành. Ông về Mỹ tho cùng với ông Ca lập phái Minh Chơn Lý. Thời gian theo phái Tiên Thiên, ông được phong Thượng Chưởng Pháp. Ông mất năm 1948.

3.Ông Phan Văn Tòng, còn có tên Nguyễn Văn Dương ( 1881- 1945). Ông là một trong những người tài trợ cho phong trào Đông Du ở miền Nam. Sau, ông bị Pháp bắt và bị đưa đi biệt giam tại Quãng Châu- Trung Quốc. Tại đây, ông gia nhập vào Đảng Cộng sản Đông Dương, và hy sinh tại Vĩnh Long.

4.Ông Nguyễn Thế Hiển làm Hội đồng Quản hạt tỉnh Bến Tre, ủng hộ mạnh mẽ phong trào Đông Du. Sau khi phong trào này tan rã, ông cùng ông Tòng thành lập hệ phái Tiên Thiên. Ông mất năm 1945, tại Sóc Sãi, Bến Tre.

5. Ông Nguyễn Bửu Tài ( 1882- 1958) sinh tại Ba Tri, Bến Tre. Ông chuyên về tu đơn, sau có họat động trong phong trào Đông Du. Ông dựng một Thánh tịnh gọi là Tây Tông Vô Cực Cung ( coi Cao Đài Giáo ở Sàigòn là phía Đông xứ Nam kỳ )
( Trích từ “ Nhân vật hoạt động Đông Du ở Bến Tre” của Thông Thanh Khánh )​

5. BAN CHỈNH ĐẠO BẾN TRE ( 1934 )

Vì tranh quyền đoạt vị, hai ông Quyền Đầu sư Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang rời Tòa Thánh Tây Ninh về Bến Tre xây dựng chương trình “Chỉnh Đạo”.

Đại hội thành lập Ban Chỉnh Đạo được tổ chức ngày 14-10 Giáp Tuất (20-11-1934) tại Thánh thất An Hội (tỉnh Bến Tre) do Ngài Quyền Thượng Đầu Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG và Ngài Quyền Ngọc Đầu Sư LÊ BÁ TRANG. Ngày 18-11 Giáp Tuất (24-12-1934), nhóm đại hội thành lập Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo, bầu Ngài Quyền Đầu Sư Ngọc Trang Thanh làm Thượng Chưởng Pháp, bầu ba vị Chánh Phối Sư Ngọc Kinh Thanh, Thượng Lai Thanh và Thái Minh Thanh phụ trách hành chánh đạo.

Đại hội Vạn Linh từ 8 đến 11-01 Ất Hợi (11 đến 14-2-1935) lập Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo, bầu Ngài Nguyễn Ngọc Tương lên ngôi Giáo Tông. Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo đổi tên là Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ? (trên bảng hiệu các thánh thất hoặc trên giấy tờ thường dùng danh xưng là Hội Thánh dưới quyền ủng hộ của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương). Cũng trong ngày lễ nầy, ông Nguyễn Ngọc Tương phong chức cho Thập Nhị Thời Quân?

Lần cuối ông Nguyễn Ngọc Tương nhập đại tịnh 9 năm 81 ngày – suốt từ ngày 21 rạng 22-02 Nhâm Tuất (giờ tý ngày 07 rạng 08-4-1942) đến giờ tý 14 rạng 15-5 Tân Mão (17 rạng 18-6-1951). Từ việc góp tiền, chi tiền mua đất, vẽ hoạ đồ Tổ Đình, cứu trợ, v.v… lại thêm ảnh hưởng của cuộc chiến tranh chống Mỹ, làm rạn nứt Chi phái Ban Chỉnh Đạo Bến Tre nên sau năm 1968 phân hóa thành hai nhóm: Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo Bến Tre và Giáo Hội Cao Đài Ban Chỉnh Đạo Đô Thành.

Ngày 28-5-1970, nghị định số 378/BNV cho phép Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ – Giáo Hội Bến Tre được sinh hoạt hành đạo theo bản điều lệ.

Ngày 11-11 Nhâm Tý (1972) Giáo Hội Bến Tre – Hội Thánh Đô Thành ký kết thỏa ước liên giao hành đạo giữa các Hội Thánh tại thánh thất Tây Thành (Cần Thơ) quy tụ 18/20 chi phái đạo Cao Đài, bên trong có sự ngầm giúp của Mặt Trận Giải Phóng Khu Tây Nam Bộ để thành lập tổ chức liên giao 18 Hội Thánh Cao Đài. Sau ngày 30-4-1975, tại TP.HCM, Giáo Hội Bến Tre – Hội Thánh Đô Thành được tiếp tục hoạt động bình thường,

Những năm 1983-1984, Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo – Giáo Hội Bến Tre ở Đô Thành thực hiện việc công khai hóa huân chương kháng chiến hạng nhì do Nhà Nước thưởng cho Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo vào năm 1954.

Ngày 08-8-1997, Ban Tôn Giáo của Chính Phủ ký quyết định số 26/QĐ/TGCP công nhận tư cách pháp nhân của chi phái Cao Đài Ban Chỉnh Đạo. Tòa Thánh Bến Tre dùng thánh thất An Hội Bến Tre xây cất lại năm 1935 làm Tòa Thánh.

( theo Hà Văn Phủ & Nguyễn Văn Tài )​

Theo ông Nguyễn Thanh Xuân, Ban Tôn giáo chính phủ, Chi Phái Ban Chỉnh Đạo Bến Tre có độ 788.590 tín đồ và 2.970 chức sắc, 299 thánh thất.

Chú thích:

1.Ông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG ( 1881-1951) quê ở Bến Tre, học ở trường Chasseloup Laubat. Ông làm Tri huyện Châu Thành, rồi chủ quận Cần Giuộc. Năm 1925, ông nhập môn vào Đạo Cao Đài. Sau đó, ông làm Chủ quận Xuyên Mộc, Bà Rịa; tới 1931, ông phế đời về Tòa thánh Tây Ninh. Đến 1934, ông về Bến Tre lập Ban Chỉnh Đạo.

2. Ông LÊ BÁ TRANG ( 1878- 1936) quê ở Sađec, lên Saigòn hoc trường Chasseloup Laubat. Ra trường, ông làm thư ký tại dinh Tòan quyền, sau đó làm Chủ quận Thủ Đức, Gia Định rồi Chủ quận Châu Thành ( Chợ Lớn ), Chủ quận Vũng tàu và thăng lên Đốc Phủ Sứ. Ông nhập môn vào Đạo Cao Đài năm 1926, được Thiên phong Phối sư phái Ngọc. Năm 1929, ông xin nghỉ việc về Tòa thánh Tây Ninh. Ông được thăng lên Quyền Chánh Phối sư, rồi lên Quyền Ngọc Đầu Sư vào năm 1930. Ông mất ngày 30.5 Bính Tý ( 1936 ) tại Bến Tre.

Ông Tương và ông Trang có thế lực rất mạnh, lại được chánh quyền Pháp ủng hộ, nên hai ông tổ chức thuê bao gần chục chiếc xe đò đưa rất đông tín đồ của hai ông về Tây Ninh dự định sẽ dùng sức mạnh chiếm Nội Ô Tòa Thánh. Hai ông báo cho Ðức Quyền Giáo Tông biết ngày 20-1-Giáp Tuất (1934) hai ông về Tòa Thánh, vì nghĩ rằng phần thắng nắm chắc trong tay. Ðức Hộ Pháp tức cấp huy động tất cả người của Phạm Môn chia nhau giữ chặt các cửa vào Nội Ô Toà Thánh. Với sức kháng cự quyết liệt mạnh mẽ của công quả Phạm Môn, lực lượng của hai ông Tương và Trang phải chịu rút lui về Sài Gòn. Phạm Môn là tổ chức của những người tu chơn, không mang phẩm tước Chức sắc, tự làm ăn sinh sống để tu hành chớ không thâu nhận của thập phương. Phạm là Phật, không phải họ Phạm. Phạm Môn là Cửa Phật. Nhưng ông Nguyễn Ngọc Tương lại xuyên tạc là mang họ Phạm của Đức Hộ Pháp. 500 tu sĩ Phạm Môn giữ gìn chặt chẽ Tòa Thánh Tây Ninh, không cho nhóm của ông Tương Bến Tre chiếm Tòa Thánh, nên ông Tương rất oán hận Phạm Môn và Đức Hộ Pháp. Do đó mà có những lời vu cáo rất nặng nề. Qua cơn biến cố trong cửa Đạo, người làm đầu một Chi Phái ( xin miễn chỉ danh vì cũng là bậc Thiên-Phong có đại-công buổi đầu tiên khai Đạo ), lại mượn tay chính-quyền để trả thù trận thất bại vừa rồi. Nên sau vụ sóng gió trong cửa Đạo hôm ngày 20 tháng Giêng năm Giáp-Tuất (1934) lối 10 ngày, thì một số đông Anh Em Phạm-Môn bị bắt giam tại khám đường Tây-Ninh. ( Lược-sử Phạm-Môn )

6. MINH CHƠN ĐẠO ( 1934 )

Ngài Trần Đạo Quang, tên thật Trần Văn Quang, người quê Cai lậy, Tiền Giang, trước tu theo chi Minh Sư, chức Thái Lão Sư. Chi Minh Sư gốc ở Thiền tông, ảnh hưởng Tam giáo và phép tu có luyện đơn nấu thuốc. Ông được Đức Chí Tôn kêu qui hiệp về Đạo Cao Đài và phong chức Ngọc Chưởng Pháp. Đến 1929, vì bất đồng ý kiến nên ông trở về Linh Quang Tự và hoạt động với nhóm ông Ca ở Mỹ Tho.

Thấy Thiên sư Nguyễn Văn Phùng lộng hành nên ông về Rạch Giá xây dựng Thánh Thất Ngọc Sắc. Cùng bất đồng với Ông Ca, các ông Phan văn Thiệu, Cao Triều Phát về Bạc Liêu. Ông Trần Đạo Quang cùng Ông Cao Triều Phát lập phái Minh Chơn Đạo, ra đời với danh nghĩa “phản tiền vi hậu”, thay Hội Thánh Tây Ninh làm sáng tỏ Đạo Trời ? ( Cuồng Ngôn Loạn Ngữ.

Thánh thất đặt tại Giồng Bốm, quận Phước Long (Bạc Liêu), có Tòa Thánh Ngọc Minh và Hội Thánh gồm ông Trần Đạo Quang, Chưởng quản Cửu Trùng Đài; Ông Cao Triều Phát, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài; Ông Nguyễn văn Thiệu làm Đầu sư. Phái này là hạt nhân của Cao Đài cứu quốc. Ông Trần Đạo Quang mất năm 1962. Sau năm 1975, phái này được công nhận pháp nhân sớm thứ hai, ngày 2.8.1996 .( có độ 30.000 tín đồ, 600 chức sắc, 47 thánh thất )

Chú thích:

Ông Cao Triều Phát (1889 - 1956), người Bạc Liêu và vào đạo do đàn cơ Minh Thiện của nhóm bác sĩ Trương Kế An ( 1930). Ông thành lập Đông Dương Lao động Đảng (1926), Ngoài Minh Chơn Đạo, ông còn thành lập Cao đài Đại Đạo Liên Đoàn (1936),Trung Hòa học phái, Thanh Niên Ðạo Ðức Ðoàn, Cao Đài Hiệp Nhứt (1945), Cao Đài cứu quốc (1948)… Các tổ chức này có thái độ chính trị rõ ràng, đứng hẳn về phía Việt Minh. Năm 1948, ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc và tự xưng Giáo Tông của Hội Thánh Cao Đài Duy Nhất miền Bắc. Ông là ủy viên thường trực của Quốc hội (khóa I), và ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ra Bắc hơn 1 năm thì ông mất. Ông và phái Minh Chơn đạo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, Huân chương Giải phóng.

B. Những Chi phái lúc sau:

7. CƠ QUAN TRUYỀN GIÁO TRUNG VIỆT ( 1933)

Là biến thể của phái Tiên Thiên, do ông Lê Kim Tỵ, dùng cơ bút và đồng tử phò loan riêng, tin rằng Đức Lý Giáo Tông giao phó sứ mạng “ phổ thông chơn Đạo” tại vùng miền Trung. Thánh Tịnh Đại Thanh buổi đầu là một trong số 72 Thánh Tịnh của phái Tiên Thiên, làm nơi tập luyện đồng tử và phát xuất truyền giáo, đa số là người Quãng Nam như Lê văn Liêm, Lê trí Hiển, Trần Công Bang, Thanh long Lương Vĩnh Thuật, Bạch hổ Trần Quang Châu… Nhóm này liên kết với nhóm Linh Quang Tự của ông Trần Đạo Quang, Minh Chơn Đạo của ông Cao Triều Phát, Vĩnh Nguyên Tự của ông Lê văn Lịch, Liên hòa Tổng Hội của ông Nguyễn Phan Long. Nhóm này lập Trung Hưng Bửu Tòa ( 1937), Trung Thành Thánh Thất tại Đà Nẳng (1938 ), phát triển ở các tỉnh miền Trung.

Sau Hiệp định Gènève (1954), chư tín hữu các nơi họp lại quyết định đưa cơ quan Truyền giáo lên hàng Hội Thánh, xây cất Trung Hưng Bửu Toà tại Đà Nẳng (1956) và lập cửu viện. Năm 1973, Chi phái này có hai vị đứng đầu là: Chánh Phối Sư Ngọc Quế Thanh (Trần Văn Quế) Chủ trưởng Hội Thánh, và Thanh Long Lương Vĩnh Thuật, Thanh tra quyền pháp, đại diện Hiệp Thiên Ðài. Ở miền Bắc, sau 1954, Chi phái Ban Chỉnh Đạo Bến Tre liên kết với nhóm này thành lập Cơ quan Truyền giáo Cao Đài Trung Bắc do ông Trần Văn Thới làm chủ tịch, Nguyễn Quang Châu làm phó chủ tịch.

Chi Phái Cao Đài Truyền giáo được cấp pháp nhân ngày 24.9.1996 ( có độ 10.500 tín đồ và 550 chức sắc, 61 thánh thất ).

Chú thích:

- Ông Trần Văn Quế, đạo hiệu Huệ Lương, giảng viên trường Đại học Văn khoa Sàigòn và đại học Vạn Hạnh, Trước đây ông nhập môn tại Thánh thất Phú hội, làng Phước long, Biên Hòa. Năm 1930, ông hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh và được phong Giáo Hữu. Được Đức Phạm Hộ Pháp cử làm Khâm Sai Bắc Tông Đạo. Trong thời gian dạy học ở trường Pétrus Ký ( 1928- 1944), ông kết giao với ông Đoàn văn Bản và thường hành đạo ở Thánh thất Cầu kho. Đến 1932, ông hợp tác với phái Minh Chơn Lý ở Mỹ Tho. 1937 ông tham gia Hội Thánh Tiên Thiên. Năm 1943, ông bị thực dân Pháp lưu đày Côn đảo vì tham gia Liên Đoàn Ái quốc hội. Đến 1945, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chánh tỉnh Biên Hòa.

Ông là người lãnh đạo cả 3 nơi:

- Ngọc Chánh Phối sư, chủ trưởng của Hội thánh Truyền giáo Cao Đài Đà Nẵng.

- Vĩnh Tịnh sư của Minh lý Thánh Hội.

- Tổng lý Minh Đạo của Cơ quan phổ thông giáo lý.

Điều này cho thấy có mối liên kết chặt chẻ giữa 3 Hội thánh: Minh Lý, Tiên Thiên, Truyền giáo và Cơ quan phổ thông giáo lý.

8. TAM QUAN CẦU KHO (Phái Chơn lý Cầu Kho):

Gọi đầy đủ là Hội Thánh Trung Ương Trung Việt, trụ sở đặt tại Tam Quan, quận Hoài Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Nguyên đầu năm 1927, hai ông Nguyễn Hữu Phương và Nguyễn Hữu Hào, ở Bình Ðịnh vào Sài Gòn nhập môn theo Ðạo Cao Ðài tại Thánh Thất Cầu Kho, rồi trở về Bình Ðịnh âm thầm truyền bá Ðạo Cao Ðài tại đây. Số người theo Ðạo càng lúc càng đông nhưng bị nhà nước khủng bố vì vua Bảo Ðại cấm Ðạo Cao Ðài. Trải qua nhiều cuộc khủng bố, hết lớp nầy tới lớp khác, Ðạo Cao Ðài nơi đây cũng phát triển, năm 1937 chính thức ra đời Cao Đài Cầu Kho_ Hội Thánh Trung Việt Tam Quan. Đến năm 1956 mua được một mẫu đất tại Tam Quan, khởi xây dựng Thánh Thất, giấy phép ký ngày 21-9-1956, và làm lễ khánh thành gọi là Ðại Hội An Thiên Khánh Thành Hội Thánh ngày 15-3-Canh Tý (1960). Chi phái này được cấp pháp nhân ngày 28-4-2000. ( có độ 9.000 tín đồ và 230 chức sắc, 33 thánh sở )

9. BẠCH Y CHƠN LÝ &. BẠCH Y LIÊN ĐOÀN CHƠN LÝ ( 1936)

Buổi đầu, nhóm này từ Chi phái Minh Chơn Lý tách ra và kết hợp với các vị ở phái Tiên Thiên. Trụ sở đặt tại Thánh thất Mông thọ, Rạch giá, Kiên Giang. Các ông Tô Bửu Tài, Trương Minh Tòng lập Hội Thánh Bạch y và chủ trương mặc áo trắng, bịt khăn đóng trắng. Sau 1975, nhiều chức sắc và tín đồ được trao tặng huân chương, huy chương. Pháp nhân công nhận ngày 8-7-1998 ( có độ 4.000 tín đồ, 88 chức sắc, 14 thánh sở ).

Ngoài ra sau này còn có những nhóm, chớ không hội đủ điều kiện thành một chi phái vì một chi phái phải có chức sắc, Thánh Thất, hành đạo và truyền đạo.

** LIÊN HÒA TỔNG HỘI ( 1936 )

Cao Đài Đại Đạo Liên Hòa Tổng Hội, gọi tắt là Liên Hòa Tổng Hội, một tổ chức kết hợp các tổ chức khác như Hội Trung Hòa, Đại Đạo Liên Đoàn, Liên Hòa Hội, Tam Kỳ Phổ độ Liên Đoàn… Một đàn cơ tại Thánh tịnh Trước Lý Minh Đài ở Phú Thọ, Chợ Lớn do ông Nguyễn Phát Trước, tức Tư Mắt làm chủ, do đồng tử Liên Hoa chấp cơ dạy ông Nguyễn văn Kiên ở Minh Chơn Lý, ông Đoàn văn Bản cùng ông Trần văn Quế lập Cao Ðài Ðại Ðạo Liên Ðoàn, nhằm mục đích qui nhứt các chi phái của đạo Cao Ðài, đặt trụ sở tại Thánh Thất Cầu Kho. Hoạt động chẳng bao lâu, một đàn cơ khác, cũng tại Trước Lý Minh Đài dạy chấm dứt nhiệm vụ của Liên đoàn, giao sứ mạng mới cho ông Nguyễn Phan Long, ông Đoàn văn Bản, ông Trần văn Quế thành lập Liên Hoà Tổng Hội. Cộng tác có bác sĩ Trương Kế An, ông Phan Trường Mạnh, ông Vương Quang Kỳ, ông Lê văn Lịch, ông Lê kim Tỵ, ông Nguyễn Bửu Tài, ông Cao Triều Phát…Tổ chức này không phải chi phái, không lập Hội Thánh, chương trình hoạt động của Liên Hòa Tổng Hội chia làm 2 thời kỳ:

- Ra đời để làm trung gian cho các chi phái hàn gắn gây lại tình hòa ái.

- Khi các chi phái thực lòng hòa hiệp rồi thì Tổng Hội sẽ giải tán.

Tổ chức này qui định sau 12 kỳ đại hội, gọi là đại hội Long Vân, nếu chưa thống nhất được các Giáo hội sẽ tự giải tán. Long Vân đệ nhứt tổ chức tại Trước Lý Minh Đài năm 1935 và Long Vân đệ thập nhị tổ chức tại Minh Kiến Đài (Hạnh Thông Tây, Gia Định) năm 1940.

Ngày 7/8/1938 trong ngày đại hội của Cao Ðài Tổng Hội, có một bài thánh giáo xác nhận Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Ðài. Tập san "CAO ÐÀI GIÁO LÝ" do Thánh Thất Cầu Kho phát hành số 8 nơi trang 339 có viết như sau:" Cuộc hội hợp của 12 chi hội Long Vân do Nguyễn Phan Long triệu tập có tánh cách và chủ đích quá khích. Sự chống đối Tòa Thánh Tây Ninh khiến cho nhà đương quyền chú ý theo dỏi và nghi ngờ sẽ có rối loạn. Vì lẽ ấy cơ sở Ðạo, Thánh Thất và Tòa Thánh bị chánh quyền ra lịnh đóng cửa và tịch thâu tất cả sổ sách văn khố đạo và chánh quyền bắt tín đồ điều tra.

Chú thích:

Ông Nguyễn Phan Long (1889- 1960), học tại trường Albert Sarraut Hà Nội, sau đó du học Pháp. Năm 1919, ông cùng với Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo và một số trí thức người Việt quốc tịch Pháp thành lập ra Đảng Lập hiến Đông Dương. Đồng thời, ông còn giữ chức Nghị viên Hội đồng quản hạt Nam Kỳ. Tuy có thời gian mở trường dạy học, nhưng hầu hết cuộc đời ông gắn liền với nghề báo. Ông từng làm chủ nhiệm các báo: La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương), L'Echo du Việt Nam (Tiếng vọng Việt Nam), Đuốc Nhà Nam. Tháng 7 năm 1949, ông tham gia nội các Bảo Đại. Tháng 1 năm 1950, ông được chỉ định làm Thủ tướng .

Theo quyển hồi ký của ông Lương Vĩnh Thuật, ông Quế và ông Long được phong Giáo sư tại Hội Thánh Minh Chơn Lý, Định Tường.

** THÔNG THIÊN ĐÀI ( 1934 )

Do các ông: Bác Sĩ Nguyễn Văn Nhã, Lê Quang Hộ, Quách Văn Nghĩa, Cẩm Đình, Quãng Vân và Huệ Chương ( ông Thân ), Ngươn Ngọc (ông Đức) là hai con của Ngài Bảo Văn Pháp Quân lập nên. Thánh Thất phái này đặt tại Đông Sơn, tổng Hoà đồng thượng ( Gò Công).

** TUYỆT CỐC ( 1934):

Do hai ông Nhuận và Điền trước làm công quả tại Toà Thánh, kéo thêm một số người xuống tóc, mặc áo dài, không ăn ngũ cốc chỉ ăn rau. Họ tự phong chức phẩm và lên ngồi bảy cái ngai đã được Chí Tôn trấn Thần dành riêng cho Giáo Tông, Chưởng Pháp và Ðầu Sư. Khi bị bắt xuống khỏi bảy ngai, họ điên loạn miệng sùi bọt ú ớ kêu Trời Phật tha tội. Họ còn đến dinh Thống soái Nam kỳ đòi trả nước Nam lại, bị Tây bắt bỏ nhà thương điên.

** TAM KỲ NGUYÊN NGUYÊN BẢN BẢN ( 1935 )

Trụ sở đặt tại Tân An, Long An lập nên do 5 vị Thiên sư của phái Minh Chơn Lý tách ra do nhóm quí ông Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Văn Phấn và nhiều vị nữa. Phái này đã đi đến chỗ siêu hình siêu tướng về cách thờ phượng, trên Thiên bàn không có hình tượng dấu hiệu gì cả.

** TRUNG HÒA HỌC PHÁI

Do các ông Cao Triều Phát, Phan lương Hiền, Phan Trường Mạnh chủ trương, với mục đích qui tụ các thanh niên, hành đạo theo thuyết Trung, Thứ của Nho giáo.

** NỮ CHUNG HÒA - NỮ ĐẠO HÒA MINH - NỮ PHÁI LIÊN ĐOÀN

Nhóm Nữ Chung Hòa, do bà Ngọc Nhiên Hương và bà Lê Ngọc Trinh thành lập, nhóm nầy từ chi Minh Tân đi ra để qui tụ nữ phái, cầu cơ học đạo.

Nhóm Nữ Đạo Hòa Minh do phái Tiên Thiên lập. Nữ phái Liên đoàn do Cơ quan truyền giáo Trung việt lập.

** CAO THƯỢNG BỬU TÒA

Được xây cất tại Bạc Liêu, còn gọi là Tòa Thánh Hậu giang, do ông Trần văn Tìa, đạo danh Chơn Sắc chủ trương.

Chú thích: Các vị đứng đầu 5 chi phái: Minh Chơn Đạo, Tiên Thiên,Chiếu Minh Long Châu, Bạch y Liên đoàn chơn lý và Cao thượng Bửu Tòa họp lại thành lập tổ chức Liên Giao I để lãnh đạo tín đồ trong đấu tranh ( 1955 ). Đến 1972, các chi phái tổ chức Liên Giao II thông qua qui ước 7 điểm:

- Đoàn kết bảo vệ tự do tín ngưỡng, chống khủng bố các Thánh Thất, Thánh tịnh

- Bảo vệ các tu sĩ, không được bắt đi lính.

- Giúp đỡ lẫn nhau, chống khủng bố, bắt bớ.

- Không tham gia chính trị hay quân sự chống lại tổ quốc, dân tộc.

- Vận động đồng đạo, đồng bào vùng lên, phá thế kềm kẹp, cứu Đạo, cứu mình.

- Phát động phong trào cầu nguyện hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh

- Không thể thống nhứt với Tòa Thánh Tây Ninh, vì Tây Ninh đi ngược lại với tôn chỉ, mục đích cứu khổ nhơn sanh của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (???) ( CAO THƯỢNG BỬU TÒA một chi phái Phá Đạo, lời Tác giả )

( Trích từ” Người Nam bộ và tôn giáo bản địa” của Phạm Bích Hợp )​

** TÂY TÔNG VÔ CỰC

Do ông Nguyễn Bửu Tài lập nên trụ sở đặt tại Thánh Tịnh Tây Tông Vô Cực Cung ở làng Chẹt Sây (Kiến Hoà). Phái này cũng như phái Tiên Thiên gồm những người trường trai, tuyệt dục, ly gia, cắt ái, chuyên luyện kim đơn theo lối xưa.

** TÒA THÁNH NHỊ GIANG

Đặt tại Châu đốc ( An Giang)

** TÒA THÁNH TIỀN GIANG

Đặt tại Thánh Tịnh Minh Kiến Đài thuộc làng Hạnh Thông Tây quận Gò Vấp (Gia Định).

** CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ

Theo ông Đỗ Vạn Lý, nhóm này được thành lập sau hết, với mục đích phổ thông và phổ biến một giáo lý Cao Đài thuần nhứt và thống nhứt các chi phái một cách gián tiếp, coi đó như là kết quả đương nhiên của chương trình phổ thông một giáo lý thuần nhứt mà tất cả toàn Đạo phải chấp nhận (???..) Ban thường vụ một Tổng lý, một Hiệp Lý, một Tham Lý làm chánh sách và vạch đường lối, còn Tổng thư ký là người chấp hành. Cơ quan có nhiệm vụ trong 20 năm kể từ 1965.

Theo ông Đinh Văn Đệ, vào năm 1962, Ơn Trên dạy thành lập Ban Phổ thông Giáo lý trong tổ chức Cơ quan Cao Đài Thống nhứt. Lúc ban sơ, trụ sở đặt tại chùa Minh tân, Vĩnh Hội, Sàigòn; lấy tên là Cơ quan Liên giao hành Đạo. Nội bộ Cơ quan Cao Đài Thống Nhứt bất đồng quan điểm về việc chuyển hướng này. Sang năm 1963, thành phần thuận tùng thánh ý tách về đãi lịnh tại Thiên lý đàn, và sau đó được Thiêng liêng ban ơn thành lập và khai mạc Văn phòng Phổ thông Giáo lý tại 165, đường Cống Quỳnh, Sàigòn vào ngày 14-01 Ất tỵ (15-02-1965).Cơ quan này còn thành lập tổ chức Nữ chung hòa, Thanh Thiếu niên Đại Đạo.

Về mặt sứ mạng, cơ quan Phổ thông Giáo lý không thuộc chi phái, không thuộc Hội thánh, cũng chẳng phục vụ riêng tôn giáo nào, mà phục vụ cho “cuộc quy hợp cuối cùng của tam nguơn hạ thế, không riêng cho nội bộ Cao Đài, mà phải toàn cả vạn giáo đồng quy nhất lý.”??? (Đức Lý Giáo tông, 09-5 Canh Tuất, 08-10-1970)

Cũng theo đàn cơ của Cơ quan này, Đức Diêu Trì Kim Mẫu dạy Nữ chung hòa có trách nhiệm với “toàn thể nữ giới đó đây, bất luận lưỡng đài, trong và ngoài Đạo”(???). (15-4 Mậu Thân, 11-5-1968)

Cơ quan lập thêm danh hiệu Thanh thiếu niên Phổ thông Giáo lý (15-7 Bính Ngọ, 30-8-1966), đặt dưới quyền lãnh đạo vô vi của Cao Triều Phát. Cơ quan này được nhận Pháp nhân ngày 2.8.2000.
( theo Thiên Vương Tinh Đinh văn Đệ )​

Chú thích:

Ông Đinh Văn Đệ sinh năm 1924, là Điệp viên U4 của Đảng Cộng Sản Việt Nam cài vào Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp trường Võ bị Đà lạt. Sau 1963, ông lần lượt giữ chức thị trưởng Đà lạt, tỉnh trưởng Tuyên Đức, tỉnh trưởng Bình Thuận, chủ tịch ủy ban quốc phòng của Hạ viện Việt Nam Công Hòa. Sau 1975, ông được thưởng Huân chương chiến công hạng nhất ( 1997).
( báo Xưa và Nay 2008 )​

** THIÊN LÝ BỬU TÒA

Do bà Bạch-Diệu-Hoa Chưởng Quản , người lãnh đạo tinh thần của Thiên-Lý Bửu-Tòa, có tên thật là Nguyễn Thị Minh Châu. Khi còn ở Việt-Nam, bà bắt đầu tu tịnh từ năm 31 tuổi, sau thọ thêm pháp của phái Chiếu-Minh ở Thánh-Ðức Tổ-Ðình Cần-Thơ... Thiên-Lý Diệu-Ðàn đã được phôi thai trong thời gian đầu tiên (1975, 1976), vị này tự thông công tiếp điển qua Cơ bút. Việc điều hành đạo sự và hành chánh do một Hội Ðồng Quản Trị (nhiệm kỳ 4 năm) đảm nhiệm gồm Chánh hội trưởng, hai Phó hội trưởng, Thủ bổn, Tổng thư ký và các ban. Ðến ngày Rằm tháng 10 năm Kỷ Mùi (4-12-1979) chính thức đổi danh Thiên lý Bửu Tòa.

Danh xưng ở trên chữ Thiên-Lý Bửu-Tòa trong các văn kiện trước đây là "Ðệ-Nhị Thiên-Khai", sau đổi thành "Huỳnh-Ðạo Thiên-Khai" Nhóm này chủ trương “ Đại đồng và Hiệp nhứt”.

Chú Thích : ??? là dấu của tác giả bài viết này để đánh dấu những phần do chi phái tự bịa đặt ra, không xác thục.
<!-- / message --><!--Chi hien chu ky 1 lan duy nhat trong 1 topic--><!-- sig -->
 
Kính Huynh TRUNG NGÔN ;

Người tu Chiếu Minh chỉ dám xem mình là một nhánh nhỏ của Cao Đài Đại Đạo chứ không dám xem mình là Thánh , nên không có Hội Thánh Chiếu Minh. Đạo phục của người tu Chiếu Minh giống với đạo phục của ban trị sự ( áo rộng trắng khăn đóng đen ) . Ý của Đức Ngô là bảo họ phải lo tu , sửa trị chính bản thân của mình thật hoàn hảo trước đã .

Cám ơn huynh ngoaitondonghiep ; ....rất thích mấy lời nầy :....mong mỏi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.
......tại tăng đồ không kiếm chơn lý mà hiểu.

Ta cũng cho chư tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền.
Kính.
 

Facebook Comment

Top