1- Huyền sử cây DIÊU CẦM (Hay là Đàn Cầm)
2- Đàn Sắc:
3- Đàn tranh (Thập lục Huyền Cầm)
4- Đàn Tỳ-Bà:
5- Đàn Nhị hay Đàn Cò:
6- Đàn Gáo:
7- Đàn kìm (còn gọi Nguyệt cầm hay là Đàn Nguyệt)
-------------- tiếp theo ---------------
8- Đàn Bầu (Độc Huyền Cầm)
Tiếng đàn Thanh-Tâm.
<TABLE id=AutoNumber28 style="BORDER-COLLAPSE: collapse" borderColor=#111111 cellSpacing=0 cellPadding=0 width=375 align=left border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top align=middle width="90%">
</TD><TD width="10%"> </TD></TR><TR><TD vAlign=top align=middle width="90%"> </TD><TD width="10%"> </TD></TR></TBODY></TABLE>
Gọi là
Đàn độc huyền Vì đàn này có một dây nên người ta gọi là đàn độc-huyền hay Độc-Huyền-Cầm. Đàn
Độc-huyền lại có tên là Đàn Bầu vì loa đàn làm bằng quả bầu khô cưa bớt phần tròn phía dưới (ngày nay, ở một vài nơi người ta dùng cái gáo dừa để làm loa đàn thay thế quả bầu, hoặc bằng gỗ cốt để tạo dáng).
Đàn Bầu có tên chữ là Độc Huyền Cầm:
Là nhạc cụ họ dây chi gẩy của dân tộc Việt. Đàn bầu có hai loại:
- Một loại làm đàn bằng thân tre.
- Một loại làm đàn bằng hộp gỗ.
Đàn thân tre: là đàn của những người hát Xẩm. Thân đàn làm bằng 1 đoạn tre hoặc bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm.
Mặt đàn là chỗ đã được lóc đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương.
Đàn hộp gỗ: là loại đàn cải tiến sau này, dùng cho các nghệ-sĩ chuyên nghiệp. Đàn hộp gỗ có nhiều hình dáng, kích thước khác nhau. Loại phổ biến nhất là loại hình thang có chiều dài khoảng 115 cm. Đầu lớn rộng 10 cm, cao 9 cm, đầu nhỏ rộng 8 cm, cao 7 cm. Mặt đàn cong làm bằng loại gỗ nhẹ, xốp như gỗ Ngô Đồng, gỗ Vông. Đáy đàn phẳng cũng làm bằng gỗ nhẹ, xốp có lỗ thoát âm. Thành đàn làm bằng một loại gỗ cứng như gỗ Trắc, Mun.
Về hình dáng và chất liệu của hộp cộng hưởng (tức thân đàn) của hai loại đàn có khác nhau, nhưng về cấu tạo, hai đàn hoàn toàn giống nhau.
Dây đàn có chiều dài chạy suốt thân đàn. Thuở xưa dây đàn làm bằng tơ tằm se thành sợi, về sau thay bằng dây sắt (kim-loại).
Nhìn chung: Thùng đàn rỗng, hình chữ nhật, có đầu lớn đầu nhỏ. Đầu lớn cao từ 14 đến 16 phân, rộng từ 12 đến 16 phân, còn đầu nhỏ cao từ 10 đến 11 phân và rộng từ 8 đến 10 phân .
Đàn độc huyền dài từ 80 phân đến 1 thước (có đàn dài đến 1 thước 20) làm bằng loại gỗ dày từ hai đến bốn ly (tức 0m,002 đến 0m,004), mặt đàn làm bằng cây Ngô đồng còn mặt kia (tức đáy đàn) bằng gỗ trắc. Trên mặt đàn ở một đầu, có cắm một thanh tre uốn cong (Có thể dùng sừng trâu vót mỏng) dài 50 phân (đôi khi dài 60 phân, đôi khi chỉ dài 15 phân thôi) .
Chính cái loa đàn được gắn trên thanh tre này. Ở đầu kia của thùng đàn có một thanh gỗ gắn xuyên qua hông của thùng để cột dây đàn.
Đàn độc huyền không có phím mà không có ngựa, chỉ có một dây bằng thép hay bằng đồng, được cột từ thanh tre xuyên qua mặt đàn và quấn vào thanh gỗ, nơi mà dây đàn xuyên qua mặt thùng có gắn một đồng tiền, một đồng xu hay một miếng xương, miếng ngà có khoét lỗ tròn ở giữa, mục đích để mặt đàn khỏi toét ra.
Bầu đàn làm bằng 1/2 vỏ quả bầu nậm (lấy đoạn núm thắt cổ bồng). Bầu đàn lồng vào giữa vòi đàn nơi buộc dây đàn. Bầu đàn có tác dụng tăng thêm âm lượng cho đàn. Ngày nay người ta tiện bầu đàn bằng gỗ và chỉ có tác dụng tạo dáng mà thôi.
Trục lên dây làm bằng tre (ở đàn tre) hoặc bằng gỗ (ở đàn gỗ). Trục lên dây nằm ở cạnh trong sát phía dưới thân đàn. Dây đàn luồn qua một lỗ nhỏ ở mặt đàn rồi sâu vào trục lên dây. Phía trước lỗ nhỏ có một ngựa đàn đỡ dây đàn (Xưa không dùng ngựa mà chỉ dùng đồng xu, còn nếu dùng đồng xu thì không dùng ngựa đờn)
Âm hưởng của Đàn Bầu nhỏ chỉ thích hợp với không gian yên tĩnh. Thưở xưa Đàn Bầu là nhạc cụ của những người hát rong (hát Xẩm). Về sau này Đàn Bầu đã tham gia trong các dàn nhạc Chèo, Tài Tử, Ngâm Thơ, tốp nhạc, nhóm nhạc và độc tấu. Có rất nhiều tác phẩm đã sáng tác riêng cho Đàn Bầu độc tấu.
Trong số những cây đàn một dây của các nước trên thế giới như đàn Tuntina của ấn Độ, Đàn Cung ở vùng Đông Phi, đàn Tushuen Kin (độc huyền cầm) của Trung Quốc.
Khi sử dụng đàn độc huyền, người ta dùng một miếng tre có đầu lớn đầu nhỏ để khảy và nhấn cái thanh tre để tạo ra những âm thanh khác nhau.
Không có cây đàn một dây nào phát ra cả một hệ thống âm bồi vừa có tính phổ cập, vừa có tính nghệ thuật cao như cây Đàn Bầu của Việt Nam
Đàn độc huyền đặc biệt ở chỗ mặc dù chỉ có một dây nhưng đàn được đủ mọi giọng đủ mọi bản nhạc.
Nguồn gốc Đàn bầu:
Thật ra Đàn một dây gọi là “Đàn Bầu”. Nhạc cụ hình cái bầu vì cái cần có nối một hình bầu để làm chỗ phát âm.
Nhạc cụ này, gốc ở Bắc-kỳ, nó được đưa vào Huế vào niên hiệu Thánh-Thái năm thứ 8 (1896) do một nhóm đi hát rong, mù, từ Bắc vào, tên là
hát xoan, hát Xẩm. Lúc đầu, người ta chỉ chơi nhạc cụ này để hòa tấu với các bài hát gọi là Xoan hay Xẩm và họ không hát các điệu của Huế.
Sau này không biết vị Tài-tử nào lại xếp Nhạc cụ này với 5 nhạc cụ thường hay dùng ở Huế.
Ngày nay, “Độc huyền” rất nhiều, đến tận các góc xa xôi nhất của các làng xóm, đi đâu cũng nghe “độc huyền” vì nhạc cụ này rất thô sơ, dễ làm và rẻ tiền. Với ba miếng ván dài độ 0m90, rông 0m15, người ta làm một cái thùng, ở mỗi đầu của thùng đặt một cái trục và buộc vào đó một sợi dây đồng, cột vào cái cần và đầu kia là một cái bầu, với một cây nhọn bằng tre, gảy rung dây.
Tư thế của nghệ-sĩ khác ngày trước và nay:
Ngày trước, khi mà nhạc cụ từ Bắc kỳ mới đưa vào, nghệ sĩ đặt nhạc cụ bên phải và ngồi nhẹ trên chiếc chiếu, chân trái đặt trên nhạc cụ để giữ, chân phải xếp lại như thế nào để cho đầu gối ấn vào ngực và bắt đầu gảy dây với đầu nhọn của miếng trúc từ trên xuống dưới.
Ngày nay, tư thế của nghệ-sĩ đều hơn. Nhạc cụ đặt trước người đàn ngồi, xếp bằng và chân phải đặt trên nhạc cụ để giữ, khi chơi lại đưa từ dưới lên trên dây.
Tóm lại: Tuỳ môi trường thích hợp, miễn nghệ-sĩ cảm thấy thoải mái để đưa khúc nhạc lòng hòa với tất cả mọi thứ nhạc cụ trong một dàn nhạc là thành công.
--------------------
PT/ st - Nữ Soạn-giả NGUYÊN-THỦY
Nhắc Tin :
Ước gì Tác giả cho ĐTDD hay Email để liên lạc học hỏi thì hay quá !
hay Huynh tỷ nào biết thì giúp đỡ. PT đa tạ !<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com

ffice

ffice" /><o

></o

>