Phương tu thời tam kỳ phổ độ

dong tam

New member
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy kết quả của một đời tu không phụ thuộc nhiều bởi tiền tài, vật chất hay trình độ tri thức mà tùy thuộc vào lòng chí thành cũng như lòng tin vào Thầy Mẹ và lý tưởng Đại Đạo. Như thế những loại hình công quả sẽ có giá trị hơn, đó là:

- Giáo dục tinh thần, nội tâm

Cứu người trong cơn bịnh, giúp người qua lúc đói rách, đó là một nghĩa cử bác ái từ thiện, có công đức âm chất. Nhưng nếu đem so sánh với những phương tiện đem cứu người qua cơn bịnh về tinh thần, khỏi cơn đói về tư tưởng thì lại càng có công đức và âm chất nhiều hơn...

Như vậy, việc đem đạo giúp đời hay cứu đời không phải chỉ có một phiến diện vật chất hoặc sức lực mà phải cần đến phần giáo dục tinh thần ở nội tâm lại càng quý giá vô cùng
.”
(Đức Vạn Hạnh Thiền Sư)

Lời nói khuyến thiện hay góp phần giáo dục để mọi người sống lương thiện và biết yêu thương chia xẻ từ vật chất đến tinh thần với người khác là một dạng công quả cao quý giá trị hơn cả vật chất. Tất nhiên những hình thức qua ngôn từ, sách vở giúp người giác ngộ để tiến bộ về tâm linh lại càng quý hơn nữa!

- Công Quả PHỔ ĐỘ CHÚNG SANH là căn bản

Thánh Ngôn Hiệp tuyển có ghi lại câu chuyện liễu đạo của một vị Tiền Khai Đại Đạo là Ngài Thượng Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương:

▪ “Thầy có để lời cho Thái Bạch Kim Tinh cầu rỗi, nhưng Người giận Tương không công quả, dâng Bộ Công Thiên thơ ra trống trải lắm, tại nơi Tòa mới cãi chối nỗi gì. Người nhứt định không dự đến…

Vậy trong hịch văn sớ tấu, các con phải thượng nơi Tòa Tam Giáo mà cầu rỗi cho nó thiệt hết lòng, rồi Thầy sẽ rỗi cho nó. Các con hiểu
.”

Vậy người tín hữu Cao Đài muốn được trở về phục lệnh dưới chân Thầy cần phải làm gì?

Tất nhiên, thí dụ trên cho thấy cần phải có Công Quả. Nhưng loại công quả nào mới thật sự góp phần để cho việc trở lại quê xưa thành hiện thực?

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem điều căn bản chánh yếu của công quả là gì.

▪ “Thầy hằng nói cùng các con rằng: Một trường thi công quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc thì phải đi tại cửa này mà thôi.

Thầy lại khuyên nhủ các con rằng: Thầy đã đến chung cùng với các con, các con duy có tu mà đắc đạo; phải đoái lại bá thiên vạn ức nhơn sanh còn phải trầm luân nơi khổ hải chưa thoát khỏi luân hồi, để lòng từ bi mà độ rỗi
.”

▪ “Như chư đệ muội đây, khi nhập đạo đến giờ, từ người chức sắc đến tín đồ kẻ thì độ được năm bảy vị, người cũng độ được một đôi chục vị, có vị cũng chẳng độ được một ai.

Chớ lúc còn cơ phổ độ thì những anh lớn của chư đệ muội trước kia, người độ cả số ngàn số muôn cũng có. Vì lẽ ấy, mà những bậc tiền bối quá vãng, ngày nay cũng đều được đắc quả Thánh Tiên cả thảy.

Lão nhắc đây để cho chư chức sắc cùng đạo tâm hiểu lẽ trọng yếu ấy mà lo độ nhơn sanh sống trong chung quanh mình. Nghĩa là trong gia đình thân tộc cũng chưa phải là hoàn toàn nhập vào đạo Thầy hết, nên phải ráng lập công phổ độ
.”
[Đức Lý Giáo Tông, Thánh Huấn Hiệp Tuyển 2 tr45]

Ơn trên dạy “Tu không phải độc thiện kỳ thân” nghĩa là không chỉ tu cho riêng mình. Thời Tam Kỳ này, công quả chánh yếu là phải góp phần “phổ độ chúng sanh” như lời trong bài kinh Ngũ Nguyện “Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai, Nhì nguyện phổ độ chúng sanh”.

Trên đường phổ độ, công quả có giá trị nhất là xây dựng và bồi đắp đức tin cho đồng đạo. Ơn Trên luôn nhắc nhở:

▪ “Các con liệu phương thế mà nâng đở đức tin của môn đệ cao lên hằng ngày. Ấy là công quả đầu hết.”

▪ “Lòng mong độ thêm người chưa biết Đạo phải song song với sự nuôi dưỡng đức tin đối với người bạn Đạo. Nếu vô tình hoặc cố ý để mất đức tin một người bạn Đạo lâu năm còn quan trọng hơn độ thêm năm, mười người khác nữa.”
 

dong tam

New member
- Làm với tinh thần “làm âm chất”

Đức Quan Thế Âm đã dạy:

Đừng nghĩ rằng phải có tiền ngàn, bạc muôn đem bố thí hoặc xây thất cất chùa lên cốt Phật hoặc in kinh mới gọi là công quả.

Khi thấy một thế nhân bị cảm gió nhức đầu, chịu khó bỏ ra 10 phút cạo gió bóp gừng không gọi là công quả hay sao? Thấy người bất hạnh đói rách khổ đau, bỏ ra một viên thuốc, một chiếc áo thừa, miếng bánh mì nguội dư không thể gọi là công quả hay sao? Tùy khả năng sở hữu tới đâu làm tới đó, nhưng phải làm với tất cả tấm lòng bác ái không gọi công không gọi danh
.”
[Đức Quan Âm, Vĩnh Nguyên Tự, 03 tháng Giêng Giáp Dần (25.01.1974)]

- Làm với lòng “chí thành”

Về phần thi công lập quả, không phải người có vật chất hiến cúng mà đặng công quả, không phải người dày công nhọc sức mà đặng lập vị. Cả hai đều do ở chỗ chí thành tâm linh mới kết quả được. Khi chí thành đã có thì tâm linh phát hiện tự nhiên, Đạo Lý sẽ do nơi ấy mà xuất phát cho người. Ví như Lương Võ Đế ngày xưa cất bảy mươi hai cảnh chùa, sao lại còn đài thành ngạ tử thì vật chất có ích chăng?
[Đức Lý Giáo Tông; Thiên Lý Đàn 01.02 Bính Ngọ (1966)]

Công quả được Ơn trên ví như việc xây nền đắp móng, còn xây dựng nên khung căn nhà là công trình. Đức Chí Tôn có dạy:

Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao.”

Làm âm chất là một khía cạnh của công trình.
 

dong tam

New member
1.4. Giá trị của Công quả:

- Công quả bằng vật chất có hệ số giá trị thấp nhất!

Tâm đã có, tâm phụng Đạo Trời,
Nhưng chưa rốt ráo tánh con người;
Dụng TIỀN hành đạo là phần phụ,
TÂM ĐỨC khéo khôn mới độ đời
.

Nói một cách khác, khi chúng ta dùng vật chất làm phương tiện để công quả thì phải sử dụng một số lượng khá lớn mới có thể có được công đức. Điều này có nghĩa là hiệu suất của vật chất không cao. Vì thế Ơn trên thường nhắc tích Lương Võ Đế cất 72 cảnh chùa mà không có công đức chi!

- Nhưng công quả bằng tinh thần lại có hệ số cao hơn

Cứu người trong cơn bịnh, giúp người qua lúc đói rách, đó là một nghĩa cử bác ái từ thiện, có công đức âm chất. Nhưng nếu đem so sánh với những phương tiện đem cứu người qua cơn bịnh về tinh thần, khỏi cơn đói về tư tưởng thì lại càng có công đức và âm chất nhiều hơn… Như vậy, việc đem đạo giúp đời hay cứu đời không phải chỉ có một phiến diện vật chất hoặc sức lực, mà phải cần đến phần giáo dục tinh thần ở nội tâm lại càng quý giá vô cùng.”
(Đức Vạn Hạnh TS)

Lời dạy ở câu cuối giúp chúng ta thấy có thể công quả bằng cách “thành tâm cầu nguyện” mặc dầu không có vật chất, sức lực hay trí tuệ.

Chư hiền đệ muội đã có duyên phúc được sinh vào chỗ tương đối an ổn, đã và đang tổ chức cuộc lễ triều kính Thiêng liêng là vì nhờ tâm đạo công đức chi nên cơ duyên hạnh phúc đã an bài cho được an ổn tiện bề tu thân hành đạo, hiến lễ. Vậy chư đệ muội hãy hướng tâm linh vào những nơi xa xôi, những vùng đất bất hạnh để cầu nguyện đưa điển lành trợ duyên cho những nơi ấy.”

- Mót bòn công quả:

▪ “Các con đã từng nghe Thầy dạy rằng: Công quả dầu nhỏ nhoi đến độ nào cũng là công quả, không mất đâu! Các con cố gắng mót bòn dành dụm trong khoảng đời tu học như con kiến tha mồi lâu ngày ắt đầy ổ đó các con.Đừng chễnh mãng, đừng lười biếng, đừng chấp nhất giận hờn với bạn đạo rồi bê trễ đường tu tiến của mình. Các con cũng đừng ngần ngại trước những công quả dầu là công quả nhỏ mà không làm, cũng đừng sợ sệt trước trở ngại dầu là trở ngại lớn mà không tiến. Chí tâm sẽ chí đạo, con nên đạo là chỗ đó nghe các con.”

▪ “Công đức không nhỏ và phẩm vị thiêng liêng cho những ai công quả từng việc nhỏ đến việc thật tầm thường.”

Mót bòn nói lên đức tính kiên nhẫn, không chê việc nhỏ hay việc tầm thường, không so đo chỉ lựa chọn việc lớn hay việc làm cho mình được nổi danh mới làm. Mót bòn là sự phối hợp giữa công quả và công trình.

Công quả tùy theo tâm của người làm mà kết quả đạt được hoặc là “phước đức” hoặc là “công đức”.
. Khi tâm còn vọng tưởng hưởng lợi cho bản thân hay gia quyến thì chỉ có Phước đức.(còn mê)
. Cũng một công sức như thế nhưng nếu tâm vô cầu kết quả cho mình, gia quyến mình thì sẽ có Công đức.

Người hữu phước phải luân hồi đầu thai trở lại để được hưởng phước, chỉ trường hợp công đức mới mang lại giá trị siêu thoát tâm linh! Vì thế Thầy có dạy: “Do Công đức mà đắc đạo cùng chăng

Việc hành đạo là làm Công quả, còn việc tu thân chính là Công trình. Kết quả của Công quả sẽ là phước đức hay công đức lại liên quan đến Công trình. Như vậy công quả và công trình có luôn gắn kết chặt chẻ với nhau thì mới mang lại kết quả trên đường tiến hóa. Ơn trên dạy:

Nếu hành đạo mà không tu thân là thiếu căn bản lương thiện. Nếu tu thân mà thiếu hành đạo thì sự tiến hóa bị chậm trễ không biết ngần nào. Tu thân và hành đạo phải gắn liền nhau như gấm thêu hoa. Tu thân và hành đạo cần phải được hỗ tương nhau để tiến hóa.”

Ơn trên cũng dạy: “Công trình, công quả làm nền.”

Trong Tam Công, công trình là thành phần mà đại đa số tín hữu Cao Đài hiểu chưa đúng hoặc hiểu còn rất hạn chế nhưng nó lại có tầm quan trọng rất lớn ảnh hưởng đến kết quả của một đời tu. Vậy chúng ta hãy chuyển sang để tìm hiểu những khía cạnh cốt lõi của công trình.
 

dong tam

New member
2. CÔNG TRÌNH:

2.1. Định Nghĩa:

Công Trình là sự gia công, trì chí.

Ơn trên thường dạy: “Công trình luyện kỷ”. Đây là sự tu thân. Trong việc tu thân chúng ta phải thực hành các việc: trì giới, nhẫn nại và học hỏi.

“Kỷ” là mình, là ta. Còn “Luyện” là sự trui rèn, như luyện kim khí tức là phải trải qua quá trình “nung nhiệt” và “đập dũa” liên tục lâu dài! Nói cách khác đây là sự chịu đựng, vượt qua từ khảo nghịch đến khảo thuận, từ bên ngoài đến bên trong: đạo giáo, gia đình, bản thân.

Đức Quan Âm dạy:

Công trình đó là đào luyện trui rèn ý chí phàm tánh bản năng sinh tồn.

Đừng nói rằng mình ít oi về đạo đức, giáo lý, giảng dạy đó đây cho đời hướng thiện. Vậy chứ một cử chỉ nhỏ như tha thứ lỗi người, dằn cơn nóng giận để cảm hóa lòng người, gần đến giờ cúng thời (hoặc vào thiền công phu) hoặc đến ngày đi chùa thất, nghiệp trần dấy lên nêu đủ lý sự, nào mắc việc này bận việc kia, tại bần thần uể oải…

Hãy cố gắng cương quyết diệt những tư tưởng chủ bại đó, dứt khoát làm liền ý định đúng lý của mình rồi thì được việc ngay. Đó không là công trình đặng sao


2.2. Các hình thức Công trình:

Tương tợ 3 yếu tố của Lục Độ Ba La Mật:

Đức Quan Âm cũng đối chiếu Công trình trong Tam Công với Lục Độ Ba La Mật của nhà Phật là: “Trì giới, Nhẫn nại và Tinh tấn”.
 

dong tam

New member
- Giữ gìn giới luật:

Đức Thích Ca có hướng dẫn:

Vậy Hội Thánh (nay) cũng như giáo hội của Thế Tôn khi xưa phải cần nghiêm trì giới luật, vì có thực hành đúng theo giới luật, thì giáo hội hay Hội Thánh mới được vững vàng gương mẫu cho nhơn sanh kính phục.

Bởi vậy khi Thế Tôn tịch diệt rồi, có một Tỳ Kheo còn si mê trong vòng thất tình lục dục, nên thốt ra câu nầy: Thích Ca còn ở đời hay đem giới luật ra mà bó buộc chúng ta, làm cho mất hết quyền tự do của chúng ta. Nói cái nầy nên làm, cái kia không nên làm, làm cho ta khổ tâm vì giới luật quá. Từ nay trở đi chúng ta sẽ tùy theo ý muốn. Bởi câu ấy thấu đến tai Ca Diếp nên mới triệu tập các đệ tử của ta lại mà kết tập Tạng Kinh và Tạng Luật truyền lại cho đến hôm nay đó. Thì đây cũng là một gương cho Hội Thánh trong Đại Đạo nên nghiêm trì giới luật. Thế Tôn để đôi lời đạo lý giáo hóa khuyến thiện nhơn sanh tinh tấn trên đường tu học
.”
[Đức Thích Ca, Tiên Thiên Thánh Huấn quyển XI xb 1961 trang 15.]

Ơn trên cũng dạy:
Sửa mình trong sạch ấy là tu,
Gìn giữ giới qui cũng gọi tu.
Công quả, công trình cho xứng phận,
Cởi lần cái lớp của phàm phu
.

- Kiên nhẫn, trì thủ:

Cụm từ “kiên nhẫn” bao gồm cả hai đặc tính của hai quẻ Kiền và Khôn. “Đức kiên” tương ứng với cụm từ “tự cường bất tức” của quẻ Kiền, còn “đức nhẫn” tương ứng với tính “nhu thuận” của quẻ Khôn.

Đức Quan Âm dạy tiếp:

Vẫn biết rằng trong cửa thiện, người người đã góp công góp ý vào việc thiện, nhưng hãy xét lại mình có được trọn vẹn với hai chữ vô tư chưa? Hay còn hẹp hòi, hay còn chấp nhứt, hay còn vị kỷ, hoặc thiếu tình thương, hoặc làm để được tiếng đời ca tụng rằng mình là bậc hiền nhân quân tử. Xem lại mình có thật tâm bảo vệ và nuôi dưỡng sự hành thiện cho đến nơi đến chốn cùng chăng?(…)

Hay chỉ làm với mối từ tâm phát hiện nhứt thời, rồi một lúc nào đó vẫn còn đeo đuổi vì thể diện, vì nhân nghĩa, vì tai tiếng, vì cơ sở ràng buộc, tấn thối lưỡng nan, rồi hành sự với miễn cưỡng, được lúc nào hay lúc ấy.

Nếu khi gặp một vài thử thách nặng nề, rồi buông xuôi cho đại cuộc dở dang, rồi nêu hai tiếng "tại" và "bị" để biện hộ cho danh dự của mình
.” [Đức Quan Âm, Hoa Linh Nguyệt Điện , 14.8 Đinh Mùi (17.9.1967)]
 

dong tam

New member
- Học hỏi:

Là một khía cạnh để có sự “tinh tấn”. Thầy có dạy:

“Các con cũng nên lưu tâm, để hết công trình trí não lo lắng thì bước đường càng bữa càng tới, chẳng điều chi cản đặng. Duy có một điều là chư môn đệ và tín đồ xa khuất lời Thánh Giáo, nên phần nhiều để thì giờ mà chăm nom về nhơn sự.

Các Giáo Hữu phải lo lắng về phần thuyết đạo cho kịp và mỗi đàn lệ, phải trích ra một bài Thánh Ngôn dạy về đạo đức và đọc cho chúng sanh nghe, như vậy thì lời Thánh Giáo như còn vẳng bên tai các môn đệ, để giục bước đường của chúng nó chẳng sụt sè vậy.(...)

Tr... bạch: Con có ra đề hồi hôm nơi đàn Cầu Kho cho các Giáo Hữu làm bài thuyết đạo.
Phải! Như các Giáo Hữu nào bê trễ về phận sự và không quản đến lời Thầy, thì con hội chư Thánh, dâng sớ lên cho Lý Bạch phân đoán nghe!”

Một thí dụ: có một đạo tỷ được Ơn trên điểm danh nhắc nhở phải cố gắng thêm việc “học hành giáo lý” mặc dầu đã làm công quả khá nhiều.

“Phạm Thị Chua thuở giờ đã có,
Nhiều Quả công giúp đỡ phòng trù;
Nhưng con còn thiếu hạnh tu,
Học hành giáo lý, như mù đi đêm.”

Một số đạo hữu có hoàn cảnh không thuận tiện cho nên việc học nơi trường lớp bị hạn chế, từ đó có tâm lý e dè trong việc học hỏi giáo lý.

Chúng ta hãy tham khảo một kinh nghiệm sau:

“Giờ này Bạch Liên tôi đắc lịnh của Đức Diêu Cung giáng đàn báo tin. Vậy đàn trung an tọa, để Bạch Liên tôi có đôi lời cùng chư hiền muội.

Nầy chư hiền muội hướng đạo ôi! Bạch Liên tôi rất hân hạnh thấy chư Nhơn Thánh hội hiệp về đây dự lớp đông đủ, có phần thấy mình còn kém, bởi không biết chữ, nên xin nhắc lại. Khi Bạch Liên tôi còn xác thân hành đạo, lập công giữ gìn bản thể thì Bạch Liên tôi bất thành nhứt tự ký danh, mà được Ơn Trên ban phong phẩm Phối Sư và nhiệm vụ Học Viện Trưởng thì Bạch Liên tôi biết làm sao cầm bài giảng giải hay thuyết trình nghĩa lý chi chi.

Chỉ ngồi nghe gọi là chứng sự, từ lớp này sang lớp khác, chỉ như thế mà Bạch Liên tôi khai thông trí huệ, tinh thần cứng gắng uy tín đủ đầy, nên mới hoàn thành nhiệm vụ hữu hình trong cơ lập giáo độ đời. Và khi được “Huờn Chơn” cộng lại hai phần âm dương là Bạch Liên Chơn Tiên.”

Cụ thể, Đức Lê Đại Tiên dạy cho một đạo tỷ:

“Bùi Thị Tri là đồng nhi cũ,
Bận gia đình lam lũ sớm trưa;
Tuy gìn chay lạt muối dưa,
Nhưng về đạo lý thì chưa hiểu gì.
Ráng lo học phú thi Thánh giáo,
Nghĩa dưỡng nuôi lo báo hiếu ân;
Bốn thời cúng một dưỡng thần,
Để nhờ Thượng Đế điển ân hộ trì.”
 

dong tam

New member
Việc bắt đầu học Đạo không bao giờ trễ và cũng không khi nào chấm dứt vì “bể học mênh mông”. Càng học thì trí óc được mở mang, thấy những sai lầm hay khuyết điểm để sửa chữa và thấy những điều cần phải bồi bổ thêm để

- Thực hiện tình thương:

Nước sông kia vẫn nhớ về nguồn,
Tâm đạo con người chẳng dễ buông;
Cội rễ bao giờ xa vẫn đoái,
Công trình xây dựng bởi tình thương
. [Đức Đông Phương, Trúc Lâm Thiền Điện, 17.7 Tân Hợi (6.9.1971)]

Nếu như trong phần Công quả, điều quan trọng nhứt là “phổ độ chúng sanh” thì điều này lại càng được nâng cao hơn nữa khi chúng ta hiểu rằng “yêu thương sanh chúng” là hạnh cao quý thể hiện đức bác ái, từ bi.

“… nhìn vào bổn phận một tín đồ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, một đứa con thương yêu quí mến của Thượng Đế Chí Tôn, lại càng phải nghĩ đến lòng nhân ái trước nhứt. Lòng nhân ái có thể làm một phương linh dược chế ngự tất cả những gì muốn bộc phát nơi thân tâm của con người, lòng nhân ái cũng là một bản đồ cho người nhìn theo phương hướng ấy về đến Bạch Ngọc Kinh. Phải chăng nhân ái tức là thương yêu. Hễ thương yêu thì mọi việc đều khoan dung tha thứ.” [Đức Lê Đại Tiên, Ngọc Minh Đài, mùng 9 tháng 5 Đinh Mùi (16.6.1967)]

- Thực hiện “hòa ái”:

Một khía cạnh Công trình khác mà người tu phải rèn luyện là “chữ Hòa”.

Ngay từ khi mới lập đạo, Thầy đã dạy:

Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Đạo tức một Cha;
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau một chữ hòa
.”

Về mặt nhân sinh Thế Đạo, để góp phần mang lại hòa bình phát triển cho nhân loại, Đại Đạo Tam Kỳ có bổn phận xây dựng “thế nhân hòa” trên các mặt: kinh tế, chính trị, tôn giáo, v.v...

Còn với ai đã bước sang phần tu luyện thì:

Hòa là một món báu linh,
Là chìa khóa mở Ngọc Kinh bước vào
.” [Đức Chí Tôn, Đại Thừa Chơn Giáo bài Hòa Hiệp, 03.8 Bính Tý (1936)]
 

dong tam

New member
2.3. Giá trị của Công trình:

Rèn luyện công trình sẽ giúp cho chúng ta phát triển được cả hai mặt tác phong đạo hạnh và trí tuệ. Nhờ có học và hiểu đạo lý, mỗi người sẽ nâng cao ý thức trên đường tu thân và hành đạo. Khi đó, người tín hữu mỗi khi làm một việc gì sẽ có ý thức rõ: mục đích vì sao mình phải làm việc đó, phương cách nào sẽ mang lại hiệu quả tốt cho cả hai mặt nhân sinh và tâm linh của mình, mang lại uy tín cho tập thể, làm sáng danh Thầy danh Đạo, v.v...

▪ Đức Bảo Hòa dạy:

Tu học trước nhất là phải dồi trau đức hạnh, rèn luyện thân tâm, lễ nghi đúng phép, cung kính nghiêm trang, nói năng giữ gìn ý tứ, việc trái đạo chớ nên làm, lời vô ích đừng nói, tập ngồi, tập đứng, tập đi, có tôn ti trật tự, nói năng lễ độ, kính mến thương yêu, đừng buông thả như thuở ngoài đời ham bay ham nhảy, ham nói ham ăn. Dầu nơi chật hẹp mà lễ nghi giữ đủ, trật tự nghiêm minh, đứng ngồi đúng chỗ, nói năng đúng phép, đó là Đạo.

Trái lại, lễ nghi không học, trật tự không hành, nhỏ lớn không tôn, dầu chùa rộng nhà cao, nhìn vào cũng như cánh rừng hoang, cây cối um tùm, nhỏ lớn không phân, chông gai bù bịch, đó là vô Đạo. Trật tự hữu hình là giá trị của người tu, tác phong đạo hạnh là lớp đầu của người Tu sĩ, và cũng là kết quả của cấp lãnh đạo.

Có tác phong đạo hạnh thì được kẻ kính người mến, kẻ yêu người nể, và người ngoài hâm mộ mà noi theo, có lợi cho mình mà độ được người. Đó là đệ nhứt pháp môn. Vậy Thánh Nữ cũng khuyên con phải làm gương cho cháu, cháu phải siêng năng học tập, tập tánh nhẫn nại, kiên tâm, thì tu học mới kết quả
.” [Đức Bảo Hòa Thánh Nữ, Vĩnh Nguyên Tự, rạng 17.6 Đinh Tỵ (31.07.1977)]

▪ Đức Ngô Đại Tiên dạy:

Người ta đương chìm đắm nơi bể trần, dưới sự xô xát muôn lượn sóng trần, lòng mình có thương xô thuyền ra cứu không được người mà mình cũng bị chìm luôn một thể, vì thuyền ưởi, trống nan sổ chốt. Phải lo trét xảm cho kỹ mới đủ điều kiện cứu người, bằng hấp tấp vội vàng mà đem kẻ sống đến chỗ chết nghĩa là mình bị thuyền đắm phải chìm mà còn chìm cả thủy thủ nữa.

Thuyền ấy là gì? Đức hạnh đó.

Đức có đủ, nói người ta mới nghe, mà người có đức là người hay thương xót cứu sống muôn loài. Có hạnh là làm một việc gì, nói một lời gì, nghĩ một điều gì, cũng cân đo cẩn thận. Chư… đồ còn kém đức hạnh, phải tu cái đã…

Tu nghĩa là quy căn thức vào trong để cho tâm hồn được sáng sủa. Tu nghĩa là bồi bổ cái căn tính bị khuy khuyết chừa bỏ các lỗi lầm trái nghịch. Vậy muốn hành Đạo phải tu. Còn về việc… tịnh luyện là một việc khác, nghĩa là người Thiên ân Quyền Pháp hành Đạo là theo sứ mạng, tịnh luyện là tu tiến bản thân
.”
[Đức Ngô Đại Tiên, Thánh Truyền Trung Hưng 4, Tu Xá Phước Huệ Đàn, ngày 08.02 ĐĐ34 Kỷ Hợi (16.3.1959)]

Học và tập “thương yêu”, làm theo tình Tạo Hóa là vì đây là chìa khóa để mở cửa Bạch Ngọc Kinh:

Tình thương trên hết, cùng một ý nghĩa với tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỉ, xả. Tình thương sẽ cứu chuộc mọi nguồn tội lỗi, sẽ làm liều thuốc thần đơn trị lành mọi bịnh tình nhân loại. Tình thương là chìa khóa giải thoát con người ra khỏi bể trần tục lụy, là con đường đưa con người lên nấc thang tiến hóa. Ngôi vị chơn linh Tiên Phật được định giá bởi tình thương. Một tình thương cao thượng thiêng liêng sẽ giải quyết được vạn sự kiện của nhân sinh.” [Đức Vạn Hạnh Thiền sư, Minh Lý Thánh Hội, 05.9 Mậu Thân (26.10.1968)]

Kết quả có được trên đường hành đạo là nhờ vào đức hạnh yêu thương của mỗi người và tập thể. Nhờ lòng nhân ái và tình thương rộng mở, chúng ta mới thực hiện được “dung hòa” với mọi người cho dù khác biệt về màu da, sắc tóc, ngôn ngữ, chánh kiến, tôn giáo, v.v...

Chư hiền đừng hướng tầm mắt mình vào một ảo tưởng mông lung về vị ngôi Thần Thánh mà quên mất con người chung quanh mình đang đau khổ vì bệnh họan, vì dốt nát, vì nghèo đói bởi thiếu tình thương mà tình thương là căn bản của tôn giáo đó chư hiền đệ muội. Bởi muốn như thế, ngay từ buổi đầu Đức Chí Tôn lập ra Tân Luật để nhắm vào đường hướng ấy.” [Đức Lý Giáo Tông, Tiên Thiên Minh Đức, Lễ Cửu Thiên Khai Hóa, 10.01 Nhâm Tý (1972)]

Công trình tu dưỡng mang lại kết quả là tác phong đạo hạnh sẽ gây được cảm tình với người, trí tuệ giúp cho có sự sáng suốt và kinh nghiệm để giải quyết các đạo sự thấu tình đạt lý! Những điều này càng được nâng cao lên nhiều hơn nữa khi chúng ta có thêm phần trí huệ của Công phu.

Luyện kỷ tối nan, huờn đơn thậm dị”. Công trình luyện kỷ hết sức khó khăn, cho nên khi đã làm được rồi sẽ là bệ phóng cho Công phu ít bị khảo đảo.
 

dong tam

New member
Sau đây chúng ta tìm hiểu về Công phu.

Chúng sanh có nhiều giai tầng căn trí, còn loài người cũng có nhiều giai tầng xã hội, từ phú quí vinh hoa đến bần hèn đói khổ... đều do căn nghiệp tu phước, tu huệ, những quá khứ kiếp của mỗi chơn hồn. Còn nói qua lãnh vực thiền định công phu tham thiền tịnh luyện, mỗi hành giả có được tu chứng đến đâu cũng đều do cái lý ấy mà ra.

Trong hàng đạo hữu thường khi nghe đến lãnh vực thiền định công phu tu luyện thì đã nghĩ ngay đến về tạo Phật tác Tiên, thoát thai thần hóa. Nghĩ như vậy cũng đúng, nhưng chỉ mới đúng có một phân nửa mà thôi, còn phân nửa là phải hiểu rằng đó là yếu tố căn bản để giúp cho hành giả một phương pháp dưỡng sinh tuyệt diệu nhưng rẻ tiền, chỉ dụng nhiệt tâm trì chí là đạt thành tu chứng.

Thứ nữa là nhờ pháp môn ấy để làm phương tiện chuyển hóa tâm hồn được thuần thành khả ái do không chấp, không câu, không nệ, không lự.

Hễ lòng người không chấp, không câu, không nê, không lự sẽ được phóng khoáng thuần thành thơ thái vui tươi, khoan dung từ ái, ôn hòa, phúc hậu. Đó là diện mạo của Thánh nhơn tại tiền.

Lão muốn đề cập thêm một khía cạnh nữa, đó là quan niệm thông thường, nhưng đa số trong giới người tu, đó là tu theo tài tử, nghĩa là hành giả bước chậm hoặc mau trên đường chơn đạo tùy theo sở hứng, sở thích hoặc vị kỷ, vị danh, hoặc thời giờ nhàn rỗi của mình.

Nhưng nào hay đâu sự tu thân hành đạo rất cần gắn liền với sự sống theo nhịp thở từng phút từng giây
.” [Đức Quan Thánh Đế Quân, Cơ Quan PTGL, 15.12 Giáp Dần (26.01.1975)]

Đức Đông Phương Chưởng Quản dạy:

Người tu thân hành đạo, ngoài phần công quả công trình để xây dựng nền tảng âm chất cho vững chãi, còn cần phải có thì giờ rèn luyện công phu. Chính phương diện này mới tạo được lâu đài. Đó là ngôi vị Tiên Phật hay phản bổn huờn nguyên cũng thế.”
[Đức Đông Phương, Minh Lý Thánh Hội, 09.01 Nhâm Tý (24. 02.1972)]
 

dong tam

New member
III. TÔ ĐIỂM THƯỢNG TẦNG KIẾN TRÚC CÔNG ĐỨC:

1. Định Nghĩa CÔNG PHU:

- Gắng sức chuyên trì theo thời gian, làm một việc (Công phu tu hành)

- Công phu thiền định: Gắng sức kềm tâm, dừng “tâm viên ý mã”, tỉ mỉ kiểm soát để đạt đến sự thanh tịnh.

Một hiền muội mắt hơi làn, xỏ kim không kiếng nhắm vào một chỗ để luồn sợi chỉ cho qua, có khi mất cả mười phút. Trong mười phút đó chắc chắn rằng tâm thanh tịnh không tưởng việc nào khác hơn là luồn sợi chỉ qua kim. Như vậy không gọi là Công phu được sao? Nhưng đó là thiền định vô ý thức.” [Đức Quan Âm, Vĩnh Nguyên Tự, 03.01 Giáp Dần (25.01.1974)]

2. Các hình thức Công phu:

Tại sao phải tu tịnh? Đức Quan Thế Âm dạy:

Tu tịnh là tích hay tồn cũng vậy. Vì chư hiền... tuổi đời đã cao, trên bước đường trần đã chung đụng với bao nhiêu việc phức tạp hằng ngày, đã làm hao nguơn tinh, tổn nguơn khí, tán nguơn thần. Vì vậy cần phải tu. Tu là sửa đổi, bồi bổ những gì đã mất đã hao. Do đó phải tu tịnh.

Tịnh không những chỉ tịnh khẩu mà còn tịnh nhiều phương diện khác: “Mục bất đỗ, nhĩ bất thính, khẩu bất ngôn, ý bất tưởng phi lễ chi sự”. Tịnh cũng có nghĩa là tích, tích là chứa. Có tích mới có tồn, có tồn mới quy phục được những hao mất. Vì vậy mà nói luôn “tu tịnh tích tồn
.”

Như thế vấn đề tịnh định là điều hết sức cần thiết nhứt là với những đạo hữu đã lớn tuổi, theo thầy theo Đạo đã lâu. Nhưng dù tu thuộc cấp nào thì người thực hành Công phu cũng phải cố tập giữ sao cho tâm được Thanh tịnh.

▪ “Điểm đích trước tiên của người tu luyện Công phu là lấy sự thanh tịnh làm tông...

Thanh tịnh là giữ cho tâm đừng xao, ý đừng động để noi theo cái lý vận hành của Trời Đất giáng thăng mà sống,.
..” [Đức Như Ý, Vĩnh Nguyên Tự 29.4 Nhâm Tuất (1982)]
 

dong tam

New member
2.1. Công phu ngoại: (tín hữu ăn chay 6 ngày/tháng)

Là hình thức Công phu ở bậc sơ khởi, mọi tín hữu đều được Ơn trên khuyến khích tập thực hiện.

Đầu tiên của công phu ngoại là cúng tứ thời, một việc tưởng chừng đơn giản nhưng thật ra không dễ làm tròn!

2.1.1. Cúng tứ thời

▪ “Công phu vốn nguồn sanh mạch cả,
Đức, trí, nhân tiếp họa nên hình;
Tứ thời vẹn giữ cao minh,
Nuôi hồn theo nhịp câu kinh tiếng lành.
Giờ phút Thiêng niệm danh Tiên Phật,
Cảm kích lòng, như khất, như xin;
Như dâng tất cả chân tình,
Như nguyền đến cửa Thần Linh thọ truyền.
Nhờ công phu con siêng học Đạo,
Nhờ công phu con bảo toàn căn;
Mới mong sửa đổi tánh hèn,
Mới thâu vọng tưởng, mới tăng an hòa
.” [Đức Chí Tôn, Kinh Tam Thừa Chơn Giáo, phẩm Tiểu thừa bài Tam Công (1960)]

▪ “Sự cúng lạy con nên sốt sắng,
Trừ nghiệp thân cho đặng tinh anh;
Kệ kinh miệng đọc lòng thành,
Để trừ nghiệp khẩu, khỏi sanh não phiền.
Con ngày đêm tâm thiền cầu nguyện,
Để diệt trừ vọng niệm ý tà;
Tứ thời trẻ ráng gần Cha,
Nhìn ngay Thiên nhãn thì là Thần gom
. [Đức Chí Tôn, Thánh Huấn Hiệp Tuyển 1 – 1961, trang 162]

Siêng cúng với sự tập trung cao độ, nương lời kinh để hiểu thấu lý, mắt chú nhìn Thiên nhãn trong lúc lòng thanh tịnh là phương pháp không dễ dàng thực hiện được một sớm một chiều. Trái lại cần phải nổ lực rất nhiều, phải buông bỏ hầu hết việc thế sự mới có điều kiện thời gian để thực hành. Một hình thức công phu ngoại khác đã được Đức Bảo Hòa Thánh Nữ hướng dẫn cho các tịnh viên là:

2.1.2. Công hạnh “biến mọi tình thức vọng niệm thành chơn thiện mỹ”

Nay chư Thiên ân và các con cháu đang trên đường Đại thừa thực hành Thiên đạo thì cần phải tu công hạnh làm trước. Con đường chứng đạo gần nhứt là con người hoàn mỹ trong đời sống xã hội nhơn sanh, sống giác ngộ vui tươi, sống ích nhơn lợi vật trong mọi hoàn cảnh, mọi phạm vi của mình. Đó là chứng đắc hiện tiền.

Sự chứng đắc này đòi hỏi một Công phu luyện kỷ thuần thành, không phải là chỉ đá hóa vàng, dời non lấp biển, mà chỉ cần biến mọi tình thức vọng niệm thành chơn thiện mỹ để làm tròn bổn phận một đời người, thì “tánh không” do đó mà phát hiện cho đến ngày nhập thế hư vô. Đó là sự chứng đạo của hàng Phật Tiên.”
[Đức Bảo Hòa Thánh Nữ, Vĩnh Nguyên Tự, 27.9 Nhâm Tuất (12.11.1982)]

Phải chăng đây chính là một trong những hình thức “Tồn Tâm Dưỡng Tánh” của Nho gia Thánh Đạo.

2.1.3. Tĩnh tâm

Đức Quan Thế Âm dạy tiếp:

Thay vì chăm chú vào mối chỉ lỗ kim, hãy chăm chú vào ngọn nhang ánh đèn Thái Cực, hoặc nhìn chăm chú vào Thiên Nhãn, đừng tưởng việc chi khác hơn. Đó cũng là khởi đầu cho động tác Công phu thiền định rồi vậy.” [Đức Quan Âm, Vĩnh Nguyên Tự, mùng 3 tháng Giêng Giáp Dần (25.01.1974)]
 

Tindo

New member
▪ “Sự cúng lạy con nên sốt sắng,
Trừ nghiệp thân cho đặng tinh anh;
Kệ kinh miệng đọc lòng thành,
Để trừ nghiệp khẩu, khỏi sanh não phiền.
Con ngày đêm tâm thiền cầu nguyện,
Để diệt trừ vọng niệm ý tà;
Tứ thời trẻ ráng gần Cha,
Nhìn ngay Thiên nhãn thì là Thần gom
.

Chào huynh dongtam
Đoạn Thánh Giáo huynh trích đăng trên Tindo đã học thuộc từ một tài liệu hay trang mạng nào đó không nhớ rõ, nhưng phần Tindo thuộc có nhiều điểm khác với nội dung huynh đăng tải:
Sự cúng lạy con nên sốt sắng,
Trừ nghiệp thân cho đặng tinh anh;
Kệ kinh miệng đọc lòng thành,
Để trừ nghiệp khẩu bởi sanh não phiền.

Hằng ngày con kiền thiền khẩn nguyện,
Chớ để tâm vọng niệm ý tà;
Tứ thời con ráng gần Cha,
Nhìn ngay Thiên nhãn thì là Thần gom
.

Rất mong huynh xem lại nội dung của đoạn Thánh Giáo trên để Tindo được rõ
 

dong tam

New member
Tinđo,

Quả thật Tindo rất tin ý!

Như dongtam đã đọc được, cả hai 2 đoạn Thánh giáo này tuy có đôi chỗ khác từ nhưng ý không thay đỗi.

Cả 2 đều có nguồn gốc từ những Thánh tịnh của Tiên Thiên. Vì thế chọn xuất xứ từ Thánh Huấn Hiệp tuyển thì đựoc "chánh danh" hơn.

Hiện tượng này đôi lúc chúng ta cũng bắt gặp ở vài bài thánh giáo khác. Thí dụ: Với câu "Một nước nhỏ nhoi trong vạn quốc" thì có Thánh giáo lập lại ghi "Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc"

Việc này gọi là "được ý quên lời".

Việc này gọi là "được ý quên lời"

hay câu "Bạch Ngọc từ xưa... Sang hèn trối kệ tâm là quý" thì có Đấng khi giáng cơ nhắc lại là "Sang hèn trối mặc tâm là quý", v.v...
 

dong tam

New member
Có một hình thức Công phu khác, ở mức cao hơn.

2.2. Công phu nội: Tâm pháp Đại Thừa

Trong hình thức này cũng có nhiều bậc từ thấp đến cao. Nhưng điều kiện căn bản vẫn là: đã nhập môn, ăn chay 10 ngày mỗi tháng ít nhất được 6 tháng.

Thiền là Tâm vô niệm, Định là dừng lại tất cả. Chỗ công phu nầy đòi hỏi hành giả phải ngày ngày tu tập...”

Việc Công phu vừa phải bền bỉ, tỉ mỉ vừa phải siêng năng không ngừng nghỉ, không gián đoạn.

Công phu Tâm pháp Đại Thừa Cao Đài là pháp Tiên gia, vì thế có điểm giống với Đại Thừa nhà Phật, là tham thiền và tịnh định.

Nhưng cũng có điểm khác biệt là có thêm phần tu luyện, dụng Thần vận Khí luyện đơn của Tiên gia.

2.2.1. Thiền: (Chánh niệm)

Khởi đầu của Công phu là tập điều thân, điều tâm và điều tức: tập điều chỉnh tư thế ngồi cho ngay thẳng cho yên định ít bị tê chân, tập làm chủ hạn chế việc tâm phóng ngoại, tập điều khiển hơi thở theo nhịp số.

Điều cốt yếu của người mới công phu tu luyện là phải đạt được trạng thái thân an trước tiên. Khi ngồi thiền thân có an thì thần mới định để vận khí lưu hành.” [Đức Đông Phương, Cơ Quan PTGL, rạng 5.5 Đinh Tỵ (20.6.1977)]

Có một điểm quan trọng khác nhưng rất ít người tu tịnh biết đến nên ít thực hành mặc dầu hình ảnh này thường xuyên nhìn thấy nơi các pho tượng Phật. Đức Thanh Hư Đạo Đức Chơn Quân có nhắc:

Phải từ từ, chẳng nên phóng tâm - Sắc diện phải tươi lên như sắp được một việc vui mừng.”

A. Tham thiền và Tịnh tọa:

Đây là vấn đề, bấy lâu nay chúng ta đã có sự hiểu còn hạn chế do trình độ học hiểu. Nghiên cứu Đại Thừa Chơn Giáo, chúng ta thấy đây là một yếu tố liên kết Công trình với Công phu. Đức Chí Tôn giải thích rất rõ:

Người tu hành cần nhứt là phép tham thiền đặng tầm cái lý đạo cao siêu của Tạo Công đặt bày trên mấy cõi Hư Linh ngõ cho thấu triệt đến cả cội nguồn nguyên thỉ. Không tham thiền định trí thì làm sao đoạt nổi Thiên cơ, hiểu điều mắc mỏ cho được?

Thế nên người tu, hay người không tu, mà muốn hoát thông sự vật, tham cứu uyên nguyên thì làm sao cũng phải tham thiền... chẳng gia công nghiên cứu, tham khảo suy tầm cho tận cùng đáo để, thì làm sao trực giác được cái nguyên lý của Đạo? Muốn đạt đến chỗ đó, mà còn phương pháp nào khác hơn "Tham Thiền" nữa đâu?

Không "tham thiền" thì làm sao mở mang trí hóa để đạt cho thấu cái lẽ hư vô huyền diệu? Nhưng phương pháp tham thiền rất là khó lắm. Trước hết cần phải chú cái tâm vào một tư tưởng nào cho cao thượng, rồi mới lấy cái tư tưởng thanh quang ấy mà nghĩ ngợi cho cùng, xét suy cho tột thì huệ tâm tự phát, trực giác tự khai, chừng ấy chơn lý mới hiện bày ra một cách rõ ràng minh bạch.

Nhưng hễ muốn tham thiền cho kết quả thì phải lo nhập định cho hẳn hòi. Nhập định là cốt để cho tâm thần an ổn, nghĩ ngợi hầu có sửa mình mà trừ khử các bịnh do trong cốt tủy và diệt xong cả mấy mối loạn của thất tình lục dục khiến xui khuấy rối đêm ngày. Rồi gom các tư tưởng vào nơi khối óc, đừng cho nó tưởng nhớ bá vơ những điều không tốt, lại ráng gắng công tập luyện nó sao cho dần dần trở nên thuần túy tinh anh. Mà phải nuôi cái tư tưởng ấy cho cao thượng trọn lành mãi mãi, đừng để ngoại vật lẫn vào báo hại với tâm hồn xao động…

Hễ nhập định đặng như vậy thì tham thiền mới thấy kết quả tốt đẹp phi thường
.”

Một khi đã định được và tham thiền thì dòng tư tưởng được tập trung không xa lìa trong bất cứ hoàn cảnh sinh hoạt nào của hành giả. Lúc bấy giờ dù đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, nghỉ, v.v... tất cả đều ở trong trạng thái thiền – tâm thanh tịnh tư duy hầu đạt đến chân lý giải đáp công án.

Từ cái nhân đưa đến cái quả, con người phải sáng suốt bình tĩnh vượt lên trên tất cả, sẳn sàng tiếp nhận và chế ngự mọi sự kiện ấy. Thế nên tham thiền là phương tiện quý giá nhứt để được phát huệ nhận chân mọi cội nguồn của sự kiện xảy đến hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, luôn luôn kiểm điểm nội tâm kềm chế lòng mình. Như đang đi trên chiếc cầu vồng bằng ván mỏng bắt qua đại dương không tay vịn.

Luôn luôn để một ít ngày giờ tham thiền, đóng vai trò quan tòa vượt lên trên mọi cá thể của mình, để nghiêm khắc phán xét công minh đừng dối lòng... có khách quan mới thấy chỗ sai chỗ nhược của mình
...”
[Đức Quan Âm, Minh Lý Thánh hội mùng 2.4 Kỷ Dậu (17.5.1969)]

B. Thể dục Công phu

b.1. Ngoại Công thể dục:

Bậc trung của Sơ Thiền là phần động thể dục

Này chư đệ! hãy... tịnh tâm nghe Bần Đạo giải về sự công dụng của Pháp Môn tương trợ tương quan giữa động và tịnh. Trước khi giải, Bần Đạo hỏi chư đệ có thuộc qua Pháp Ngoại Công Thể Dục hết chăng?...”

b.2. Thể dục Nội công:

Là bậc cao của Sơ thiền. Điều kiện để được lên cấp này là phải trường trai tuyệt dục, không còn có quan hệ luyến ái giao phối hậu thiên.
 
Sửa lần cuối:

dong tam

New member
2.2.2. Tịnh - Luyện: (tu Tánh luyện Mạng)

Đại Thừa Tâm pháp Tiên gia bên cạnh phần giống với Thiền tông nhà Phật là “tham thiền” để giải quyết “công án” riêng của mỗi hành giả thì cũng có điểm khác biệt, đây là phần tu luyện đơn. Trong phép tu tánh luyện mạng Cao Đài, việc tiếp nhận Thần của Đức Chí Tôn qua Thiên nhãn vẫn là mấu chốt để được đón nhận ơn Trời. Đây là một khía cạnh của Đại ân xá Kỳ Ba.

Con tu học đi về pháp lý,
Nghiệm giác đồ luyện kỷ đắc thông;
Mắt không để vướng trần hồng,
Mà đem nhãn tục ứng đồng nhãn chơn.
Tập xem thấy linh sơn cảnh tượng,
Luyện nhìn theo chìu hướng sắc Thiên;
Nguy nga tráng lệ hồn nhiên,
Của Thầy ban sẵn mối giềng lương sanh.
Ngày vui nhận điều lành trước mắt,
Giờ Công phu ngưỡng đặc ân linh;
Đoạn trừ nhãn dục thường tình,
Trưởng thành nhãn huệ an ninh đắc truyền
.”

Có hai phương cách tu Tâm pháp:

. Một là phương cách “Thượng thừa Tiệm giáo”, người tín hữu Cao Đài sẽ bước dần lên hướng đến tu giải thoát của pháp môn đại ân xá sau khi đã đắp nền Công quả và vượt qua các cấp tu với bước khởi đầu đã ăn chay 10 ngày mỗi tháng, ít nhất đã được sáu tháng, như qui định của Tân Luật.

. Hai là “Tối thượng thừa Đốn giáo”, cách này khi bước vào là đã phải trường trai tuyệt dục ngay.

A. Điều kiện căn bản: Trường trai tuyệt dục

Khi chánh thức bước lên cấp “Tánh Mạng song tu” giải thoát luân hồi sinh tử, việc tuyệt dục, cần được hiểu đúng mức như lời Thánh giáo Ơn trên đã dạy:

Nay chư Thiên ân và các con cháu đang trên đường đại thừa thực hành Thiên đạo thì cần phải tu công hạnh làm trước.(...) Sự sa đọa hay bị rớt gần nhứt của hành giả là tâm còn luyến ái, tâm còn vọng tưởng, tâm còn cố chấp.

. Tâm luyến ái thê nhi tôn tử làm mất thể thống người Thiên ân đã xuất gia. Nay sợ trược khí của người khác không dám đến gần mà vì lòng luyến ái lại vào chỗ ô uế sanh dục làm mất ánh Thiên quang của Huyền khiếu.

. Hay bị quyến rũ bởi tâm vọng tưởng danh vị lợi quyền làm cản ngăn bước tiến trên đường sứ mạng Đại Thừa.

. Tâm còn mê chấp hay phân biệt, ích kỷ hẹp hòi làm tổn thương tâm từ huệ của người tu
.”

Như thế “tuyệt dục” cần được hiểu đúng bản chất của nó: không còn có mối quan hệ phu phụ gần gũi hay lòng luyến ái thê nhi chỉ mới là điều kiện cần, còn điều kiện đủ phải được hiểu rộng hơn nữa: là sự vọng tưởng danh vị lợi quyền hay tâm còn mê chấp ta người, còn ích kỷ hẹp hòi tư hữu. Vì thế khi tu đến bậc này, cần phải “hiến thân” hoặc “xuất gia” chuyên lo hành đạo và tu luyện. Đức Như Ý dạy:

“Người tu hành phải thật chơn tu, nhắm vào mục đích giải thoát, đừng luyến tiếc sự vật hữu hình mà thoái hóa luân hồi. Đã gọi là vô thường thì có gì là trường cửu.

Giữ phương tiện cộng đồng thì chẳng hoài công. Ôm chầm tư hữu thì uổng sanh một kiếp...

Muốn độ đời cần vong kỷ, bố thí, trợ nghèo, giúp khó là phương pháp bảo toàn tự thân.”

Vậy người tu đúng với tinh thần Đại Thừa, cần hiểu rằng: bên cạnh việc buôn bỏ lợi danh quyền chức trong cả hai môi trường đời và đạo, còn phải vong kỷ bố thí cho tha nhân và hướng tới không còn tư hữu bất cứ thứ gì.

Tài liệu Đại Đạo Sử Cương của Hiền Tài Trần Văn Rạng thuộc Tòa Thánh Tây Ninh cung cấp cho chúng ta những thông tin xác nhận điều kiện khởi đầu để được đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thâu nhận vào nhập tịnh tu luyện ở Hội Thánh Tây Ninh:

Năm 1929, Đức Hộ Pháp lập Khổ Hiền Trang mở Phạm Môn cho những ai đủ cơ duyên vào tu luyện (phải để lại chức sắc áo mão ở ngoài). Những ai muốn vào nhập tịnh phải qua khâu xét chọn “cân Thần” của Đức Hộ Pháp. Chỉ có những người đạt tiêu chuẩn mới được thâu nhận.”

Nói theo ngôn ngữ Dịch học, để đạt đến “tuyệt dục” thì phải đạt đến “tâm vô vọng”. Có được như thế thì mới đạt được “Thiên Địa chi tâm” để huyền đồng cùng Trời Đất!

B. Hình thức thực hành:

Theo nguyên lý của Đạo là sự biến dịch của âm dương, trong dương có âm và trong âm có dương, nên các pháp thực hành từ thấp đến cao của các cấp Đạo pháp Công phu đều đi đúng theo nguyên lý này.

Phương pháp thực hành bao giờ cũng song song hai hình thức tịnh và động:

. hình thức “tịnh” là “tọa thiền hành công”, tuy dáng vẻ hình tướng bên ngoài cho thấy hình thức là ngồi im lặng nhưng bên trong có sự vận công dụng Thần dẫn Khí.

. hình thức động là “thể dục nội công” sau khi đã tọa thiền. Kết quả chỉ đến khi người thực hành đạt tới sự định tâm, Thần Khí đi đôi.

Những động tác thể dục nội công giúp cho cơ thể có sự vận động sau một thời gian ngồi yên tọa công để giúp cho máu huyết lưu thông điều hòa, khử trược lưu thanh đồng thời kết quả cũng giúp hành giả tăng cường thể trạng, đề phòng được nhiều loại bệnh về nội tạng nếu hành công có kết quả.

C. Không khinh thường Đạo pháp

Trước khi bước vào Sơ thiền Tâm pháp, đạo hữu cần hiểu rõ để xây đắp nền tảng vững vàng:

Nay chư đệ muội muốn vào hàng Thiên Đạo, xin vào lớp dự bị để học tu, phải thông qua giới điều qui luật.
- Trước biết có thân phải báo đáp ơn sanh dưỡng, xử tròn nhiệm vụ làm người.

- Biết có tâm này phải chí thành giác ngộ, có ý chí kiên trì giải thoát để vào đường Thiên Đạo.

Đó là điều kiện tối thiểu để bước vào hàng dự bị và tiến lên hàng Thiên Đạo.

Bần Đạo mở lòng bác ái cho chư hiền đệ hiền muội có thời gian để kiểm điểm thân tâm, cố gắng thực hành lời dạy trên để bước vào hàng Thiên Đạo. Bằng chưa thì hãy tạm dừng chân và cố gắng tiếp tục rèn luyện xem xét thân tâm để làm tròn bổn phận rồi sẽ bước sau.

Chớ nên vì sở thích, ham muốn riêng tư, dễ duôi mà phạm tội.

Chư hiền đệ hiền muội! Ơn Thiên bủa khắp, cửa Đạo thênh thang, thuyền pháp sẳn sàng rước đưa người giác ngộ, chớ vội bước sang ngang e rằng lọt vào lòng đáy sâu biển khổ. Bần Đạo dầu mở lòng tận độ, nhưng cũng không thể dùng thần thông quảng đại mà phạm luật Thiên Điều
.”

Người tu ở bậc thượng thừa, siêng năng trì hành đầy đủ thì công đức rất lớn như ý nghĩa chữ “Đại thừa” là cổ xe lớn. Nhưng nếu ngược lại, có sự biếng lười, sẽ bị tội nặng như lời Thánh giáo sau:

▪ “Trái lại đã đi vào Đại Thừa Thiên Đạo mà còn chểnh mảng lười biếng xem nặng việc đời mà lãng quên việc đạo, tâm còn tính so đo, tranh luận thị phi, chấp ta chấp người, tiêu cực cầu an, quên đi lòng bác ái vị tha trước nỗi khổ đau của vạn loại. Các tánh xấu đó còn ẩn núp trong tâm của người tu thì dầu có khoát bên ngoài mấy lớp áo đạo nhưng hành động cử chỉ vẫn lộ ra bên ngoài không thể nào che giấu được. Như thế vị… đó vừa lừa dối mình mà dối cả Thần Thánh, dối cả người đời, thì tội phải chịu nặng gấp 3 lần người chưa học đạo.”

▪ “Trên đường tánh mạng song tu, nếu là một hành giả có quyết tâm giải thoát thì phải luôn luôn bước tới không ngừng nghỉ, nếu dừng bước là thối bộ.

Càng tới càng thấy khó khăn hơn, như học trò lên lớp, như thí sinh vào trường. Nếu sơ tâm ắt bị đánh rớt. Nhưng cái rớt của trường đời còn có thể ngồi lại 1 năm để rồi thi lại, còn đối với trường đạo có khác một điều: hễ lên thang Đại Thừa mà rớt thì phải bị xuống.

- Lần thứ nhứt phải tắm gội ba năm.
- Lần thứ hai phải nhơn lên ba nữa tức là 9 năm mới phục hồi được.
- Nếu phải bị lần thứ 3, người hành giả sắp đến đích mà bị rớt thì không được nhơn lên nữa, mà phải đợi đến thất ức niên sau mới có cơ hội phục hoàn chánh vị.

Đó là nói hàng nguyên nhân có căn trí, có công phu dày dặn. Còn hàng hóa nhân mà biết giác ngộ tu công luyện kỷ cũng được ban ơn tiến hóa hoặc vào Thượng Nguơn Thánh Đức để tu thêm, hoặc chứng quả vào hàng Nhơn Tiên, Địa Tiên, Thần Tiên
,...”

Như vậy, người đã bước lên hàng Công phu Đại Thừa phải ý thức không còn để tâm bị vướng bận vào “danh, lợi, quyền” ở ngoài đời cũng như trong tôn giáo. Chỉ xem đây là những phương tiện tạm dùng trên đường lập công bồi đức chứ không phải là mục đích của người tu.
 

dong tam

New member
3. Lợi ích của Công phu:

3.1. Giúp giữ gìn sức khỏe, tăng tuổi thọ

Công phu là một hình thức khử trược lưu thanh hữu hiệu cho cơ thể. Đây là hình thức điều hòa trạng thái cân bằng âm dương cho ngũ tạng lục phủ. Đồng thời qua sự định tâm giúp mang lại sự tập trung năng lượng tiềm ẩn của cơ thể tạo nên sức mạnh cao nhất về vật chất và tinh thần vào một thời điểm. Và nhờ thế gia tăng tuổi thọ:

Chí Thành, hiền đệ công phu tuy chưa đạt kết quả rốt ráo, nhưng cũng giúp cho hiền đệ thêm tuổi thọ. Bần Đạo rất khen ngợi tinh thần trách nhiệm và công phu của hiền đệ.”

Khoa học ngày nay qua một số thí nghiệm đã xác nhận một số giá trị to lớn mà sự công phu thiền định mang lại và được áp dụng vào việc phục hồi sức khỏe về trí tuệ cho những nhà nghiên cứu khoa học.

3.2. Giúp tăng trưởng trí huệ

Vài đoạn Thánh giáo sau đây giúp cho chúng ta biết thêm một khía cạnh khác về những ích lợi của công phu.

▪ “Cười... Hiền đệ hiểu như vầy: Phương pháp tham thiền tịnh luyện là phương tiện thiết yếu giúp cho phần nghiên cứu viết lách được dễ dàng thông suốt. Còn trái lại như hiền đệ đã gặp là bởi tham thiền hành pháp chưa đúng mức.”

▪ “Hiểu đạo nơi đây chẳng những do sự học hỏi từ kinh điển, Thánh Ngôn Thánh Giáo mà lại còn hiểu do nơi tham thiền nhập định phát huệ tâm linh. Đó là hiểu về nội tâm.”

3.3. Là hình thức Công đức to lớn

3.3.1. Công phu mang lại giá trị Công đức cao tột

Nhờ có khả năng giải kiếp nạn chúng sanh vừa có thể giúp vong linh Cửu Huyền được siêu thăng vào cõi tịnh độ.

Muốn chống thiên tai sát kiếp chỉ cần phát tâm công phu thiền định. Tọa công ngồi tại đạo tràng mà phóng tinh thần gieo rải thiện duyên kết hợp với huyền linh ân điển xua đầy sát khí. Tư tưởng càng mãnh liệt, hung sát tự khắc thối lui. Thiền định càng thâm càng giải phóng cứu người càng dễ.

(...) Trong lúc tai biến, động loạn xáo trộn trên hoàn cầu là một cơ hội cho đạo hữu phát tâm gieo tư tưởng sự sống tình thương đến những nơi có tai biến, kết quả rất lớn mà tiến đạo rất mau. Tu một lúc cũng bằng tu trọn đời. Dầu tu trọn đời mà không gặp cơ duyên cũng không bằng tu một ngày có cơ hội
.”

Đức Mẹ cũng dạy tương tợ:

Giờ phút mà con tịnh định Công phu, chính là giờ phút cứu cánh tinh thần người sống, linh hồn người chết. Giờ phút ấy rất quan trọng đó con.

Ngày nào con bước chân đến nơi khổ nạn chúng sanh, đưa tay phổ tế, là ngày giờ ấy con đem được tình thương của Mẹ chan rưới cho mọi người và chính Mẹ đã ngự ở lòng các con
.”

▪ “Bần Đạo mừng chư hiền đệ hiền muội. Hôm nay Bần Đạo dành cho chư hiền đệ một đặc ân hoan hỉ là đưa các đạo hữu về gặp mặt hàn huyên nhắc nhở đạo sự. Đó không phải vì tình riêng hay lý tư, mà đó là muốn nung nấu tinh thần tu luyện của chư đệ ngày càng thêm dõng mãnh để tiến đến chỗ đạt đạo.”

3.3.2. Từ cấp Tham thiền nhập định trở lên, kết quả Công phu góp phần rút ngắn lộ trình tiến hóa tâm linh.

Trễ một giờ là mất một năm tiến hóa.”
 

dong tam

New member
3.4. Công phu chỉ được thuận lợi và phát huy được tính hữu hiệu khi có nền tảng vững chắc:

3.4.1. Của Công quả và Công trình


Đã có lần Đức Ngô nhắc:

▪ “Bạch Lương Ngọc! Hiền đệ công phu kết quả nhưng công quả công đức còn ít, phải cố gắng bồi đắp thêm kẻo trễ.”

Ngay từ khi mới lập Đạo, Đức Chí Tôn đã nhắc:

▪ “Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện Đạo. Thầy nói cho các con biết nếu Công quả chưa xong thì không thể nào các con luyện thành đạo đâu mà mong.

Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy, thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao
.”
[Đức Chí Tôn, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển 1, đàn 05 Mars 1927]

▪ Một tiền bối tu học hành đạo ở Ngọc Điện Huỳnh Hà tên Huỳnh Văn Phuông tự tu luyện theo Đại Thừa Chơn Giáo. Khi đau ốm, vị này kiên quyết không uống thuốc đúng như pháp tu của Chiếu Minh, vẫn quỳ cúng Thầy, cơn đau dữ dội khiến ông đỗ gục xuống quy vị. Sau khi đắc Chí Tâm Thánh Vị (Đại Thánh), chơn linh về đàn nhắc nhở gia quyến và bỗn đạo cố gắng làm thêm nhiều công quả chứ đừng như ông mãi lo tu luyện nhưng còn thiếu công quả nên chưa được ngự vào ngôi Tiên!

3.4.2. Của cuộc sống lành mạnh trước đó phù hợp với phương pháp vệ sinh dinh dưỡng khoa học để có sức khỏe tốt đẹp hầu tạo duyên thuận lợi cho việc công phu sau này!

Đức Lý Giáo Tông có dạy:

Sang đến giai đoạn tu huệ là lên bực từ trung thừa đến thượng thừa và tối thượng thừa, đòi hỏi phải khép mình trong giới luật và các điều kiện cần thiết cho phương diện tịnh luyện.
Trải qua giai đoạn hai phần tu phước và tu huệ đó, tuy phần hành của mỗi người đều phải làm đúng qui tắc, nhưng cơ thể của mỗi người không đồng đều giống nhau về chỗ hậu thiên hữu chất.

Sự mạnh yếu khỏe bệnh tất cả đều do một phần khoa học và một phần nghiệp quả của thể xác.
Thế nên có nhiều người được mạnh khỏe từ giai đoạn này bước qua giai đoạn khác một cách dễ dàng vì nghiệp thân đã ít bị vương mang. Trong lúc đó cũng có người nghiệp thân quá nặng không đủ sức cung phụng cho hành giả bước lên đoạn đường thứ hai
.” [Đức Lý Giáo Tông, CQ Phổ Thông Giáo Lý 15.01 Tân Hợi (10.02.1971)]

Còn Đức Đông Phương giải thích thêm:

Như chư hiền đệ muội đã thấy, hầu hết những người vào trường đạo pháp đều là những người vương mang nhiều bịnh hoạn, bộ máy rất tinh vi đã bị sử dụng rất nhiều trên quãng đường cát bụi trong đời sống nhân sanh, những bộ phận nhỏ bị hư hỏng khuyết mòn. Nhưng trong lúc say sưa tham dục còn ai có thì giờ nghĩ đến nó.

Con tuấn mã đã chùn chân khi vượt qua cửa sổ, người chợt tỉnh mới trở về đạo pháp. Mọi hoạt động của sở dục được từ từ dừng lại vào lúc công phu tham thiền tịnh định, hành giả mới thấy hối tiếc vì đã tự phá sản, của cải quí báu mà Thượng Đế chia cho đã bị hao hụt mất mát quá nhiều. Muốn tiết kiệm để bồi bổ lại là một việc rất khó, vì giữ của quí báu là việc khó, đánh mất tìm lại dễ gì đâu! Nhưng cần, cần người hành giả phải lập chí hăng hái như lúc hăng hái vào đời mới cứu vãn linh hồn còn đang bao bọc bởi lớp vô minh dày đặc khắc khoải đợi chờ
.” [Đức Đông Phương CQ, Cơ Quan PTGL, 15.11 Quí Sửu (9.12.1973)]
 

dong tam

New member
3.5. Giúp phục hồi Tiên Thiên khí, ảnh hưởng đến thời gian đắc vị vô vi nhanh hay chậm

Có 2 vị liễu đạo với khoản thời gian gần nhau. Đó là Ngài Giáo Sư Thượng Còn Thanh (thuộc Ban Chỉnh, Đầu Họ Thánh thất Bình Hòa – Bình Thạnh - Gia Định) cha đạo trưởng Chí Tín và Ngài Hoàng Ngọc Tạo - Minh Tra đầu tiên của Cơ Quan.

Câu chuyện về những lời tâm sự của chư vị liên quan đến việc hành đạo công quả và công phu cho chúng ta thêm một kinh nghiệm trên đường lập công bồi đức:

▪ Chơn linh Giáo Sư Còn nói:

Khi hồn lìa khỏi xác mới biết được những gì hữu ích thiết yếu và những phương tiện nào giúp đỡ cho linh hồn nhiều nhứt. Nhưng khi biết được thì sự đã muộn rồi.

Tuy vậy Tệ Huynh cũng thấy cần thuật lại nơi đây để chư hiền đệ hiền muội sau nầy khỏi hối tiếc như Tệ Huynh trên bước đường tu thân hành đạo. Kể từ ngày thoát xác đến nay, phải còn cần mấy tháng nữa nơi hồng trần, Tệ Huynh mới được ban phong vào hàng Thánh vị.

Ước gì trước kia Tệ Huynh được điểm đạo sớm thì hôm nay không còn phải lo tu luyện thêm nữa. Mặc dầu Hoàng Ngọc Lão Hữu tuy phẩm vị thấp hơn Tệ Huynh, nhưng đã được ban phong thiệt thọ rồi, là nhờ may mắn được điểm đạo khi còn sanh tiền
.” [Chơn linh Thượng Giáo Sư Lê Văn Còn, Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 14.02 Mậu Thân (12.3.1968). Sau đắc vị Minh Đức Đạo Nhơn (Đại Thánh)]

▪ Còn Đức Đô Thống Quản Địa Thần nói:

Mặc dầu khi buổi xuân thời chưa có Công quả đạo đức là bao, nhờ lòng chánh trực ngay thẳng với thời gian ngắn sau cùng được giác ngộ vào Cơ Quan hành đạo cùng với tâm nguyện cũng như lòng phát nguyện của hiền nương và các con.

Hơn nữa, gặp Tam Kỳ đại xá mà Bổn Thần được chứng vị, chưa phải vội đầu thai trong thời kỳ nầy, để có cơ hội lập thêm công, bồi thêm đức trong buổi Hạ Nguơn cuối cùng nầy
.”
[Đô Thống Quản Địa Thần - Minh Tra Hồng Phước, Thánh tịnh Ngọc Minh Đài 15.4 Mậu Thân (1968). Sau được thăng lên Giác Minh Tôn Thánh.]

Qua đây chúng ta thấy Ngài Thượng Còn Thanh nhờ công quả hành đạo sâu dày với vai trò chức sắc ở địa phương độ dẫn nhơn sanh nên kết quả được chấm vào phẩm vị Đại Thánh. Nhưng thời điểm Ngài được sắc phong thiệt thọ vẫn phải chậm hơn Ngài Minh Tra Hồng Phước vì Giáo Sư Còn lúc ở thế gian chưa học và hành Tâm pháp nên còn phải cần thêm một thời gian tu luyện ở cõi trên cho đến khi phục hoàn chơn dương mới đắc vị.

Tóm lại, Công phu cũng theo lý âm dương, trong dương có âm và trong âm có dương. Nên có hình thức Công phu ngoại và hình thức Công phu nội. Động và tịnh hòa lẫn cùng nhau: có định tâm và có suy tư sâu lắng, có ngồi thiền trầm lắng nhưng cũng có thể dục nội công. Thấy bề ngoài tuy ngồi yên lặng nhưng bên trong lại vận khí tu luyện hay thấy bên ngoài tay chân vận động thể dục nhưng tâm phải định được thần thì mới có kết quả.

Này chư đệ! hãy đồng an tọa, tịnh tâm nghe Bần Đạo giải về sự công dụng của Pháp Môn tương trợ tương quan giữa động và tịnh. Trước khi giải, Bần Đạo hỏi chư đệ có thuộc qua Pháp Ngoại Công Thể Dục hết chăng?

Trước khi (hành pháp Ngoại công) phải thiền định, điều tâm dẫn Khí cho Thần Khí giao hội, đem điển lực vào đôi tay để xoa mặt, xoa đầu. Khi Thần vận chuyển Khí ra đến đôi bàn tay, tức thì lấy chỗ diệu dụng đó mà xoa mặt, xoa đầu, nhưng Thần vẫn không lìa để điều chỉnh các bộ phận ở nơi đầu được yên ổn, cho quang khiếu lưu thông
...” [Đức Đông Phương CQ, Tt Bình Hòa, 23.08 Nhâm Tý (30.09.1972)]

Tất cả đều phải trong trạng thái thanh tịnh, tập trung chánh niệm rồi tiến tới vô niệm để đạt “tánh không”. Vì thế Ơn trên luôn nhắc:

Thường ngày công phu mà mình chất chứa tánh tự kiêu thì cũng không mong đắc Chánh quả được, bất quá đắc một vị Địa Tiên đó thôi.

Vậy muốn cho hoàn toàn thì ráng tập cho biết trừ các điều xấu xa, tập thường ngày tầm Chơn lý, kiếm hiểu huyền vi, răn mình hằng bữa, đó là đường chánh sáng láng cứ lo bước tới
.”

Nhờ vậy “kết quả rất lớn mà tiến đạo rất mau” nên hành giả Công phu tu luyện có thể đạt đến mức có “Thánh thai” thoát ra khỏi vòng luân hồi sanh tử, tức là đã đạt đến mức “Thiên Địa chi tâm”.
Vì thế Thiêng liêng nhắc đi nhắc lại:

Sớm chiều tịnh định gia công,(Công phu)
Thiếu nền âm chất khó hòng vị ngôi.(Công trình)
Chung sức nhau tô bồi Công quả,
Bước hành trình một dạ sắt đinh;(Công trình)
Công phu, Công quả, Công trình,
Ba Công đầy đủ chơn linh phi đằng
.”
 

NguyenVanUt

New member
Tịnh luyện hiểu trong thời Tam Kỳ là con đường thứ ba Đại Đạo, nghĩa là người đắc đạo được thoát xác nhẹ nhàng mà về lễ triều Chí Linh nơi Ngọc Hư Cung, nói vậy nhưng ở thế mấy ai đặng phước ấy?
Cửu nhị ức Nguyên Nhân lãnh lịnh xuống thế độ đời nhưng đã bị bụi mờ của cõi trần ai che lấp, không còn biết đâu là đường về quê xưa cảnh củ là chốn tiêu diêu của miền cực lạc. Vì cớ cho nên Thầy khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để cứu vớt là vậy.
Chúng ta cũng phải nương theo Tam Kỳ phổ độ mà được siêu thăng thượng giới, chúng ta đã làm gì được cho Thầy cho Đạo mà luận bàn về tịnh luyện, như vậy có ích chi, xin đừng mơ mộng diễn vong thêm cho nhọc trí, hãy luôn luôn nhớ rằng : cho dù vị Đại La Thiên Đế xuống trần mà không tu cũng không quy hồi cựu vị được, bấy nhiêu đó thì cũng đủ biết công quả là trọng hệ thế nào rồi, cái quan trọng là phải độ người trước, không cứu vớt người mà học tịnh luyện đặng đạt thành "đắc đạo" có phải phi lý chăng?
 

Tindo

New member

Chúng ta cũng phải nương theo Tam Kỳ phổ độ mà được siêu thăng thượng giới, chúng ta đã làm gì được cho Thầy cho Đạo mà luận bàn về tịnh luyện, như vậy có ích chi, xin đừng mơ mộng diễn vong thêm cho nhọc trí, hãy luôn luôn nhớ rằng : cho dù vị Đại La Thiên Đế xuống trần mà không tu cũng không quy hồi cựu vị được, bấy nhiêu đó thì cũng đủ biết công quả là trọng hệ thế nào rồi, cái quan trọng là phải độ người trước, không cứu vớt người mà học tịnh luyện đặng đạt thành "đắc đạo" có phải phi lý chăng?
Chào huynh NguyenVanUt
1.Huynh phải bỏ cái từ "chúng ta" ở trên đi nha. Trong "chúng ta" ấy có nhiều huynh, tỷ đã dày công giúp Thầy, giúp Đạo Thầy nhờ con đi trước theo rước đứa đi sau.
Ví dụ: Với chủ đề này huynh dongtam đã và đang rước Tindo đó. Tùy duyên hóa độ thôi, duyên của huynh khác với duyên của Tindo nên cùng một chủ đề nhưng huynh dongtam chỉ rước được Tindo cùng các huynh, tỷ đồng duyên mà không thể rước được huynh NguyenVanUt
2.cái quan trọng là phải độ người trước
Câu này huynh cần phải suy nghĩ lại.
Cứu người trước phải cứu mình
Dạy người trước phải giữ mình sạch trong

Ví dụ: Huynh không biết bơi thì huynh có thể cứu được người sắp bị chết đuối không? Một người mù có thể dẫn đường cho người đui đi được không?
Phải độ mình rồi mới độ người được
 

Facebook Comment

Top